|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#9
|
|||
|
|||
|
Quỷ biển Caspian
Loại Ekranoplan có phương thức bay trong hiệu ứng bề mặt (tác dụng của không khí từ cánh máy bay lên mặt đất), có nghĩa là nó lướt đi trên một lớp đệm không khí nằm trên một bề mặt khoảng 10-30 feet. Mặc dù loại Ekranoplan có tốc độ cao, nhưng chúng không thể bay như các loại máy bay thông thường khác, vì nó có đôi cánh rất ngắn. ![]() Một số lượng nhỏ thuộc loại này đã được sản xuất thử nghiệm tại Scandinavia ngay trước khi thế chiến hai bùng nổ. Đến những năm 1960, loại hình công nghệ này bắt đầu được cải tiến, phần lớn là do công đóng góp của Rostislav Alexeev người Nga và Alexander Lippisch người Đức. Họ làm việc độc lập trên công nghệ GEV (Tàu bay trong hiệu ứng không khí trên mặt đất) và họ đi theo các giải pháp khác nhau. Alexeev tiến hành nghiên cứu nền tảng về thiết kế tàu biển, trong khi đó Lippisch đi sâu về mặt thiết kế hàng không. Sự ảnh hưởng của Alexeev và Lippisch vẫn còn vang dội cho đến tận ngày nay trên các loại xe GEV mà chúng ta hiện vẫn đang được nhìn thấy. ![]() Alexeev nguyên là trưởng phòng thiết kế tàu cánh ngầm của trung ương (CHDB), đây vốn là một trung tâm nghiên cứu và phát triển tàu chạy trong hiệu ứng không khí giữa bề mặt cánh máy với mặt đất của Nga. Tiềm năng về quân sự của loại tàu này đã được nhận ra ngay từ đầu, và Alexeev nhận nhiệm vụ hỗ trợ dự án, còn nguồn tài chính thì do nhà lãnh đạo Xô Viết Nikita Khrushchev cung cấp. Dự án này dẫn đến sự ra đời của "Quỷ biển Caspian", một loại Ekranoplan quân sự 550 tấn. Trước khi Ekranoplan ra đời, đã có một vài chiếc nguyên mẫu có người lái và không người lái được chế tạo, chúng có trọng lượng lên đến 8 tấn. ![]() Chương trình ekranoplan của Nga tiếp tục thực hiện, và dẫn đến sự hình thành loại ekranoplan thành công nhất, đó là loại A-90 Orlyonok 125 tấn. Có một vài chiếc A-90 Orlyonok được đưa vào sử dụng trong hải quân Xô Viết từ năm 1979 đến 1992. Năm 1987, loại Ekranoplan thuộc lớp Lun có trọng lượng 400 tấn được chế tạo để làm tàu phóng tên lửa. Lớp Lun thứ hai được đổi tên là Spasatel, đây là một loại tàu cứu hộ, nhưng chưa được hoàn thành. ![]() Loại tàu này vốn do Liên Xô phát triển nhằm mục đích sử dụng làm tàu vận chuyển quân sự tốc độ cao, và được đặt căn cứ hầu hết trên biển Caspian và biển Đen. Chiếc lớn nhất có thể vận chuyển được hơn 100 tấn hàng hóa. Sự phát triển của những chiếc Ekranoplan còn được sự hỗ trợ của Dmitri Ustinov, bộ trưởng quốc phòng Liên Xô. Kế hoạch ban đầu là có khoảng 120 chiếc Ekranoplan (thuộc lớp A-90 Orlyonok) sẽ trang bị cho hải quân Liên Xô. Con số này về sau được giảm xuống còn ít hơn 30 chiếc, kế hoạch dự định là xe triển khai những chiếc này cho các hạm đội Baltic và Biển Đen. Nhưng đến khi nguyên soái Ustinov từ trần vào năm 1985, và bộ trưởng quốc phòng mới, nguyên soái Sokolov lên thay, ông đã ra lệnh dừng cung cấp ngân sách cho chương trình này. Do vậy chỉ có 3 chiếc A-90 Orlyonok được đóng (với loại thân tàu được thiết kế lại) và một chiếc Ekranoplan thuộc lớp Lun vẫn còn tại một căn cứ hải quân ở Kaspiysk. ![]() Có hai vấn đề chính mà những chiếc Ekranoplan của Xô Viết phải đối mặt là sự kém ổn định theo chiều dọc, và cần phải có sự điều hướng thật chính xác hơn. ![]() Từ khi Liên Xô tan rã, những chiếc Ekranoplan do nhà máy đóng tàu Volga chế tạo tại Nizhni Novgorod. ![]() Công nghệ GEV phát triển từ những năm 1980 là được thiết kế thành những chiếc tàu thu nhỏ hơn, để dành cho giải trí và các thị trường vận chuyển hành khách. Đức, Nga, và Mỹ đã cung cấp hầu hết những mặt súc tiến để phát triển loại hình này ở các nước như Úc, Trung Quốc, Nhật, và Đài Loan. Ở các nước này, loại tàu nhỏ 10 chỗ ngồi được thiết kế và chế tạo. Những thiết lớn khác như phà, và vận tải hạng nặng cũng đã được đề xuất, tuy nhiên chưa có sự phát triển xa hơn về loại này. ![]() Sau khi Liên Xô tan rã, những chiếc Ekranoplan loại nhỏ sử dụng cho phi quân sự được tiếp tục phát triển. CHDB đã phát triển ra một loại 8 chỗ ngồi Volga-2 vào năm 1985, còn bộ công nghệ và vận tải của Nga thì tiến hành phát triển một phiên bản nhỏ hơn mang tên Amphistar. ![]() Ở Đức, Lippisch cũng được ông Collins đề nghị thiết kế cho công ty Collins Radio Company của Mỹ một loại tàu có tốc độ cao. Lippisch đã nhận lời và thiết kể một loại tàu mang ký hiệu X-112, đây là một thiết kế mang tính chất cách mạng, nó có đôi cánh liền hình tam tam giác ngược và phần đuôi hình chữ T. Loại tàu này thực sự đã chứng tỏ là một thiết kế rất ổn định và có hiệu quả mỹ mãn khi hoạt động trong hiệu ứng bề mặt, và nó cũng đã rất thành công trong những lần bay thử nghiệm. Ông Collins quyết định dừng dự án và bán sáng chế cho một công ty của Đức là Rhein Flugzeugbau (RFB). Có sáng chế này trong tay, công ty Rhein Flugzeugbau tiếp tục tiến hành phát triển thêm các mẫu mã mới. Loại tàu hai hàng cánh Hanno Fischer tiếp quản RFB và chuyển nó thành một công ty riêng của mình với tên gọi Fischer Flugmechanik. Chiếc Airfisch 3 hai chỗ ngồi của họ sau đó được phát triển thành một chiếc hành khách 6 chỗ ngồi, đây cũng là một thiết kế rất thành công của họ. Loại tàu này, với ký hiệu FS-8 ngay sau đó đã được công ty Flightship liên doanh giữa Úc- Singapore sản xuất. Khi công ty tan rã, thì loại tàu này cũng không còn được sản xuất nữa. Họ tiếp tục nghiên cứu một dự án với sự cộng tác của trường đại học Duisburg-Essen, để tiến hành phát triển một loại Cano bay. Gunther Jorg ở Đức, cũng đã phát triển một loại tàu theo công nghệ GEV với hai cánh được đặt thành một hàng song song – loại Jorg-II. Jorg-II là loại tàu thứ ba có người lái mang tên Tandem Airfoilboat, thiết kế này được phát triển trong thời gian ông còn làm tư vấn tại Nam Phi. Tàu Tandem Airfoil-Flairboat này được xây dựng dưới tên gọi là "Skimmerfoil", nó vốn là một thiết kế đơn giản và có giá thành thấp, tuy nhiên nó không được đưa vào sản xuất vì có liên quan đến các vấn đề thương mại của người chủ công ty cũ. Theo Tin Tức Hàng Đầu Moskva |
| Bookmarks |
|
|