|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#101
|
|||
|
|||
|
Ngày 7 tháng Tư 1942
Một ngày rất nặng nề. Chuyện bắt đầu từ sáng sớm. Ni-cô-lai I-va-nô-vich đến báo tin: " trong khu nhà tập thể của sinh viên đã phát bệnh thương hàn". Nhà tôi một người khổ sở, ngồi ì ra đấy. Lúc nào anh cũng lo những việc như thế xảy ra. Nhưng trước đó thì I-va-nô-vna đến bảo chồng chị chết rồi. Tôi đưa cho chị một ít bánh mì ( để đi đổi lấy quan tài). Thế là chị ra đi, không đốt lò. Một đồng chí công nhân trang hoàng nhà cửa của học viện đến giúp tôi nhóm lò. Anh làm việc ở đây suốt ngày: Treo những tấm rèm cửa và ngăn căn phòng. Tôi nấu ăn cho anh ta. Ve-ra đem những đồ hộp ở nhà bếp đến cho chúng tôi, ngày mai cô sẽ tản cư theo học viện. Làm thay cô là cô Nhu-ra bị đói quá và tôi phải đưa chao cho cô ta ăn ngay. Chị U-li-a Mar-cô-vna đến với một tay bị gãy. Tôi mời chị uống chè. U-li-a mar-cô-vna, giáo sư, nhà hóa học sinh vật, cách đây ít lâu bị trượt chân ngã ở ngoài phố. Chị bị gãy một cánh tay, nhưng rồi sau lại vui lên. Chị không muốn đi tản cư cùng với sinh viên. Bây giờ thì chị có tất cả lý do để không đi nữa. Nhà tôi đói lả đã về. Cho anh ăn cơm trưa. Cô bé Ve-ra đến chào để đi, cô ta cũng đói, tôi cho cô ăn cháo. Chốc nữa Ma-ri-et-ta xanh xao, mệt mỏi và đói khát sẽ đến. Rồi lại đến nhà tôi cũng đói. Nhưng dẫu sao tôi vẫn làm việc được. Gian buồng này của chúng tôi trước kia là lớp học vẫn còn treo biểu đồ của nhà tôi: Công tác của người thầy thuốc ở nông thôn, tỷ lệ trẻ con chết trong mấy tháng đầu của chúng nó. Căn buồng rất rộng. Chúng tôi chỉ ở một phân chỗ gần lò sưởi thôi. Còn một nửa bên kia xếp bàn ghế, bảng, mực, đồ dùng học tập của lớp học. Nhưng trong cái hành lang của chúng tôi vẫn còn những lớp học hiện đang hoạt động . Bây giờ ở đấy đã ấm áp rồi, nhưng về mùa đông ngồi học ở đó giáo sư và sinh viên ( đều mặc áo khoác da cả) quây tròn quanh lò sưởi. Có một lần vào lúc sâm sẩm tối một ngày tháng Giêng nhân đi lại trong hành lang, tôi thấy một cô sinh viên ở lại một mình, áp người vào cái lò sưởi chỉ còn hơi âm ấm. hai tay cô ôm lấy cái lò, áp trán vào đấy. Cô ngồi như thế mắt nhằm nghiền, rồi lại đến sát cửa sổ lạnh giá. Chút ánh chiều tà lọt qua khe cửa. Rồi cô tiếp tục đọc sách. Cùng một ngày tháng Giêng ấy nhưng không phải vào lúc hoàng hôn mà là đêm khuya lắm rồi, tôi phải cầm ngay cuốn từ điển bách khoa toàn thư Xô-Viết để tra chữ " Lê-nin-grát". Tôi chạy xuống phòng bên dưới để tìm trong tủ sách nơi để quyển từ điển. Tôi bước vào phòng thấy hai trực nhật: Một nam và một nữ sinh viên. Anh sinh viên đang ngồi cạnh lò sưởi. Cô ta ( lúc đầu tôi không nhận ra sinh viên này là nữ) có bộ mặt bủng beo, mặc chiếc áo khoác da của nam giới, đầu đội mũ, mặt cận thị đeo kính, đang ngồi học bài chuẩn bị thi dưới ánh sáng ngọn đèn dầu. Ma-ri-et-ta nói với tôi rằng ngay ngày hôm ấy cô sinh viên bé nhỏ này đã chôn căt cả cha lẫn mẹ ông bố chết tước mấy ngày, song bà mẹ cô ta nói: " Thong thả hãy chôn, chờ mẹ chết rồi đem chôn một thể". Rất cần nước, thế mà mãi đến nay vẫn chưa có. Bao nhiêu thời gian bỏ ra nhưng vẫn không tìm thấy chỗ hỏng. Hoặc là đóng băng ( tuy tuyết đã tan rồi) hay là bị đạn nổ cắt đứt. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
sad angel (23-09-2010) | ||
|
#102
|
|||
|
|||
|
Ngày 18 tháng Tư 1942
Một ngày đầy lo âu và náo động. Cả đêm học viện chuẩn bị để tản cư. Chúng tôi chuẩn bị ra ga tiễn nhưng đến phút cuối cùng thì không được đi vì xe hỏng. Thế là chúng tôi không chào tạm biệt Ni-cô-lai I-va-nô-vich, A-lê-na và cả mọi người. Những bức thư của tôi do đó mà cũng không nhờ họ mang đi gửi được. Trông dáng nhà tôi thật là đáng sợ, anh đi lại khó nhọc lảo đảo. Nhưng cái đáng nhất là khuôn mặt anh. Tôi chưa hề thấy sắc mặt con người lại như thế, một màu vàng xám tro với đôi gò má xương đỏ. Tôi thương anh quá, đến ứa nước mắt |
|
#103
|
|||
|
|||
|
Ngày 9 tháng Tư 1942
Đêm yên tĩnh và một ngày yên lặng ( về mọi mặt) bắt đầu. Học viện giống như một tổ ong bị bay mất một nửa. Trong các lớp học của bộ môn chúng tôi không có lấy một người. Chị Ep-phơ-rô-xi-ni-a về chôn cất chồng. Nhà tôi chống gậy, nhấc từng bước chân mọt cách khó khăn đi xuống thang gác. vắng lặng. Bên ngoài cửa sổ là một ngày màu xám. Chỗ nào cũng có nước, mọi thứnhư chảy tan ra. Thậm chí có một con chim nhỏ nhảy trên cành cây cũng quay cái đầu bé tí như một cái gì không yên phận. Tiếng nó kêu trong im vắng lọt qua cửa kính. Tuyết nằm kia đang hấp hối hơi thở cuối cùng. Nhà tôi nói rất hay rằng mùa xuân này trong những sinh vật còn sống sót ở Lê-nin-grát chỉ có thực vật là no nê, bởi vì chỗ nào cũng có nước. Chiều tối hôm qua, vợ chồng tôi đến khu nhà tập thể của anh em sinh viên nơi đang bị bệnh thương hàn. Nhà tôi không cho tôi vào. Thế là tôi đi dạo để chờ anh ra. Tôi qua cầu Grơ-na-đa rồi quay trở lại. Bộ mặt thành phố trông đến thương tâm. Phố xá vắng tanh những đổ nát, những chiếc sân nứt nẻ, những bức tường đổ mất một nửa treo trong vắng lặng, những bãi hoang đầy nước. Những hàng người cô độc một mùa xuân nhếch nhác đang đi qua. Hôm qua Lê-li-a và In-na đã đi tản cư trong chuyến xe cuối cùng trước khi băng tan trên hồ La-đô-ga. Bà mẹ chi đã chết rồi. Chị Ma-ri-et-ta bảo là ở nhà ga người ta có cảm giác hình như cả thành phố tìm cách thoát đi trước khi hồ La-đô-ga băng tan. Mấy chữ " băng hồ La-đô-ga" mới trừu tượng làm sao, khi vào hồi đầu tháng Năm năm ngoái chúng tôi ra về từ nhà hát rực sáng, ấm áp và tràn đầy âm nhạc, nơi U-li-ra-nô-va đóng Ju-li-et và Ba-la-lin trong vai Đôn-Ki-sốt mới nhộn làm sao!. Ra khỏi nhà hát say sưa vì nhạc, ấm lên vì những động tác tuyệt đẹp, chúng tôi rét cóng đang đứng chờ xe điện, người nào cũng mặc áo bông, đứng quay lưng về chiều gió. Chung quanh mọi người nhắc lại câu: "Băng trên mặt hồ La-đô-ga đang tan cho nên trời lạnh". Và trong chí tưởng tượng của tôi hiện ra một tảng băng sặc sỡ như trong vũ kịch, tắm trong ánh sáng, trong rực rỡ đang trôi trên những làn sóng xanh. Còn bây giờ thì... Ban ngày Rất có thể đến sáng sớm ngày kia tôi sẽ đáp máy bay đi Mát-xcơ-va. Bao nhiêu là việc. Bây giờ tôi là nhà văn của Lê-nin-grát. Sao mà tôi muốn viết bản trường ca |
|
#104
|
|||
|
|||
|
Ngày 10 tháng Tư 1942
Nửa đêm tôi tỉnh giấc vì một nỗi kinh sợ và nỗi buồn suýt làm tim tôi như ngừng đập. Nhà tôi đi lê từng bước, trông anh mà phát sợ, thay đổi rất nhanh. Công việc của bệnh viện ngày càng xấu đi. Bây giờ lại đang có một căn bệnh thương hàn. Cũng may đấy là một trường hợp duy nhất. Có lẽ rồi bệnh ấy sẽ qua đi thôi. Nhưng cũng có những tin vui. Những chuyến xe đi hồ La-đô-ga mà chúng tôi hằng lo lắng đã sang tới bờ bên kia từ lâu rồi. Họ có thể tin được là họ sẽ không trở lại nữa. Điều mà họ rất sợ. (Tôi nghe hình như lò sưởi của chúng tôi đã cháy. Chị Ép-phơ-rô-xi-ni-a đi chôn cất chồng mãi vẫn chưa về). Trong bệnh viện vẫn như trước kia không có nước. Không có biểu đồ hệ thống dẫn nước (trên nhà máy nước thành phố cũng không tìm ra). Những người quản lý của chúng tôi đâm thọc vào mọi chỗ, mọi vòi nước, đốt nó lên bằng mấy giọt dầu quý. Và sau đó mới rõ rằng đốt chỉ vô bổ mà vấn đề là không có nước. Còn làm thế nào được nữa! Việc này thật giống như khi không tìm thấy tĩnh mạch mà cứ tiêm bừa vào thân thể người ta. Trên bàn của tôi có một quả địa cầu nhỏ, quà tặng của một người bạn. Trước đây tôi rất muốn có quả địa cầu này nhưng tìm mãi không ra. Trên vòng tròn nam cực của quả địa cầu bao nhiêu kinh, vĩ tuyến tập trung ở đấy (cả mùa đông, nó nằm trong khu nhà tập thể bị bắn sập). Tôi lấy bút chì đỏ vẽ "kinh tuyến" của riêng tôi. Song khi nào tôi có thể gặp lại nói ? Ôi! tôi làm sao biết được. Hôm qua tôi chỉ viết được hai đoạn thơ. Ýnghĩ rằng ngày mai tôi có thể ở Mát-xcơ-va rồi đối với tôi hình như chỉ là ảo tưởng. Trong ảo tưởng thôi sao. Nhưng có lẽ đúng hơn hết là không phải ngày mai. |
|
#105
|
|||
|
|||
|
Ngày 13 tháng Tư 1942
Hiện nay mọi người đều chú ý vào chiếc máy điện nhỏ. Nếu nó chạy được thì nhà giặt sẽ tan hết băng và phòng điện quang sẽ làm việc, không có cái này thì bệnh viện sẽ không phải là bệnh viện… Nếu cái máy chạy được… nhưng nó lại không chạy. Không chỉ toàn bộ phận kỹ thuật mà cả đồng chí bí thư khu ủy khu phố là Gi-gan-xki; kỹ sư điện cũng tham gia vào chữa cái máy điện nhỏ này. Ngày ấy ông cũng đến chỗ chúng tôi. Hàng ngày qua cửa sổ, tôi thấy một đoàn người vẻ lo lắng đi về phía sân chỗ đặt là ở trong căn nhà nhỏ, trong đó để cái máy phát điện bị hỏng. |
|
#106
|
|||
|
|||
|
Ngày 15 tháng tư 1942
Tôi vẫn ở đây. Vì đường bay không làm việc-mýa bay không bay được. Vắng lặng trong thành phố và ở mặt trận cũng im ắng. Công việc tản cư của bệnh viện đã xong xuôi. Việc di chuyển trên băng hồ La-đô-ga đã trở lên nguy hiểm rồi. Bây giờ chúng tôi hoàn toàn bị cắt đứt khỏi lục địa. Băng đã tan, mà nước thì không có. Tôi bị mất ngủ, vắng lặng như đè nặng lấy tôi. Ngay cả tiếng súng cũng hầu như ngừng hẳn, ít nhất cũng tại khu phố chúng tôi. Ngay máy bay của chúng ta cũng không bay nữa. Chắc là do đường bay. Chợp tối, tôi cùng Ma-ri-ét-ta đi dạo trên cầu Grơ-na-đa đi qua khu nhà tập thể đau thương (trước kia là trại lính nơi thi sĩ Bờ-lốc đã sống. Ở đấy đã sạch sẽ lắm rồi. Từng đống rác đổ xuống sông nằm trên mặt băng sông Nê-va. Chỉ lúc băng tan là nước sẽ mang rác rưởi ra ngoài biển khơi. Hôm qua lần đầu tiên tôi đọc những mẩu chuyện huyền bí của Bai-rơn qua bản dịch của Bu-nin. Tuy về hình thức tất cả những cái này chắc là hoàn toàn không phải như vậy nhưng về bản chất tôi tin rằng rất đúng. Và điều này là vĩ đại. |
|
#107
|
|||
|
|||
|
Ngày 18 tháng Tư 1942
Thời kỳ theo dõi bệnh thương hàn đã qua rồi. Bệnh không thể xảy ra nữa. Cô sinh viên bị bệnh đã khỏi. Nhà tôi cho rằng (trước kia anh đã nghĩ như thế) đây không phải là bệnh thương hàn. Hôm nay tôi và Ma-ri-ét-ta đến khu tập thể của sinh viên để kiểm tra vệ sinh ở đó. Trong những hành lang trước kia vẫn dải thảm và đặt bàn ghế đan bằng mây, bây giờ chống trải và lạnh cóng. Có một chỗ còn treo chiếc hàn thử biểu như chế giễu mọi người. Chúng tôi bước vào một phòng đúng lúc sinh viên đang chặt chiếc bàn tròn bằng gỗ hồng. Một chiếc chân bàn đang cháy trong lò sưởi. Một sinh viên đang nhóm lò. Một sinh viên khác ngồi trước cửa lò, trên một cái bàn tròn đặt ngay dưới sàn, đang đọc to bài học. Anh chị em sinh viên đang chuẩn bị thi tốt nghiệp. Người nào cũng mặc áo khoác lông, đầu đội mũ. Rát nhưng ánh nắng mặt trời chiếu vào những gương mặt xanh xao, gầy guộc và đã từ lâu không rửa. Thế nhưng kết quả kỳ thi lại rất tốt. Đấy là điều kỳ lạ. Chúng tôi đi tìm người quản lý khu nhà tập thể cũng là một sinh viên đã tốt nghiệp. Thấy anh ta trong một căn phòng tương đối ấm cúng, chất đầy những đồ đạc. Ngồi cạnh lò sưởi, anh ta không mặc áo khoác mà chỉ mặc một chiếc áo bông thôi. Anh quản lý chậm rãi đưa những ngón tay đã lạnh cóng lên chữa đồng hồ. Trên mặt bàn bầy những cái bánh xe con, mấy cái đinh ốc nhỏ, bộ kim đã tháo rời ra. Anh quản lý này bị bệnh thiếu máu. Chắc là anh ta đã kiệt sức vì những cái hành lang kia, vì bàn ghế bị phá hủy mà anh ta không còn sức để trông nom nữa. Và anh ta chỉ còn cách là ẩn mình trong cái xó tĩnh mịch này với vài ba cái bánh xe con bên cạnh lò sưởi, dưới ánh nắng mùa xuân. Nhưng rồi anh ta cũng trả lời tất cả các câu hỏi của chúng tôi. Anh còn cho chúng tôi biết là sinh viên định tìm cách giặt giũ quần áo. Trên đường về chúng tôi đi trên băng con sông Car-rơ-pốp-ca giữa hai bờ trên mặt sông là những đống tuyết và rác rưởi. May mà người chúng tôi nhẹ. Dưới chân chúng tôi, bên dưới lớp băng này tôi cảm thấy có nước chảy rồi. Mọi vật đều rực rỡ, chói lọi. Lạnh của băng thấm qua giày vào chân. Nhưng mắt lại chói chang vì ánh sáng. Giồng như trầm mình vào một bể tắm băng và ánh nắng. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
sad angel (23-09-2010) | ||
|
#108
|
|||
|
|||
|
Ngày 19 tháng Tư 1942
Chúng tôi đến vườn bách thảo Các đồng chí Chi-khô-mi-rôp và Cur-na-cốp đãn chúng tôi đi thăm khắp vườn và chỉ cho chúng tôi xem những cây cọ đã chết. Tôi rất ân hận là không ngắm chúng khi chúng còn sống. Mà chủ nhật nào tôi cũng chuẩn bị đến ! Trên một căn nhà của viện thực vật, trên bức tường đá của một ngôi nhà có một vạch đen. Đó là mực nước của thời kỳ nước lũ đáng sợ năm 1824 (cái năm Pu-skin viết "chàng kị sĩ bằng đồng"). Mực nước của "năm tai họa 1941" thì lại cao hơn mực nước trước kia rất nhiều. Nó ở trên đầu chúng tôi, trên ngọn cây cọ. Những cây cọ đã chất kia. Đồng chí Chi-khô-mi-rốp kể cho chúng tôi nghe về một loại hành rất hiếm, mà có người đói đã đào trộm nấu cháo ăn. Một người đã bị bắt quả tang tại chỗ can tội. Anh ta mang hành trong cái túi đeo mặt nạ phòng độc. Nhưng có phải đấy là "tội phạm" vào cái mùa đông như mùa đông này không! Lý thú là câu chuyện của Chi-khô-mi-rốp về cuộc "chống tăng" vào tháng Chín 1941. Có thể chuyện xảy ra vào cái ngày mà chúng tôi bị một đoàn xe vận tải hỗn độn cản đường ở góc phố Pê-sốt-snai-a và đại lộ Áp-chê-ca Đó một ngày mà thành phố Lê-nin-grát bị tập kích. Cho đến bây giờ chúng tôi mới biết rõ chuyện đó. Thì ra đó là một đội xe tăng của quân ta bị máy bay địch đuổi đánh phải tìm chỗ nấp. Xe tăng đã đến cổng vườn bách thảo. Chiếc nọ bám sát chiếc kia để chạy vào vườn. Chỉ một lát thôi là một số cây quý, chẳng hạn như cây hắc dương nổi tiếng do vua Pi-ốt đại đế trồng sẽ chết mất. Chi-khô-mi-rốp không kể nguy hiểm xông ra nhưng đội trưởng không nghe và cứ tiếp tục cho xe chạy vào vườn. Chi-khô-mi-rôp hét lên: -Cái vườn trồng hai trăm năm mà các anh phá hủy nó chỉ trong vài phút ! Câu nói đó kích động đồng chí đội trưởng. Hình như anh ta nghĩ đến hai trăm năm dài đằng đẵng kia nên anh dừng xe lại. Dừng lại trong lúc tiến lên có nghĩa là phải lùi. Quay lại các chiến sĩ lái xe của mình, đội trưởng ra lệnh. -Quay lại, vị trí này không thích hợp ! Thế là xe tăng rút ra khỏi vườn, đỗ trên bờ sông Nê-va, chỗ có những cành cây cao rủ xuống che nấp. Chúng tôi đi xem gian phòng lớn trưng bầy những mẫu thực vật. Đây là nơi trưng bầy những tiêu bản thực vật lớn nhất thế giới. Trong đó có năm triệu loại thực vật. Trên tường treo những biểu đồ các loại gió: Gió nóng, gió bãn, những cơn bão sương mù quay quanh địa cầu. Tôi đến bên một cái tủ, cầm lấy một tập cây (thật là kỳ lạ !) thì đây là một loại thực vật thời thơ ấu của tôi, cây Cổ phùng ở vùng biển Hắc-hải. Chúng có rất nhiều loại, có tới mấy chục loại. Thật là một dịp hiếm có. Thật là một dịp hiếm có, trong số năm triệu thực vật này tôi bỗng gặp lại người bạn thời thơ ấu. Theo tiếng la-tinh thì loại cây Cổ phùng của chúng tôi có cái tên rất kêu " Arteemisia inodorata" có nghĩa là "loại cỏ không thơm". Thực ra cái tên đó không đúng. Loại cỏ ấy có mùi hương. Có điều là hương của nó không ngào ngạt như các loại Cổ phùng khác. Tôi cứ đứng mãi bên cây đó. Tôi về nhà mang theo tập 1 của bộ sử Viện thực vật. Người mệt nhưng rất hài lòng. |
|
#109
|
|||
|
|||
|
Ngày 22 tháng Tư 1942
Mat-xcơ-va. Tôi ở Mát-xcơ-va. Hôm qua đáp máy bay về đây. Ở Pháp thành phố Run-an với những tuyệt tác kiến trúc thời trung cổ bị thiêu hủy hoàn toàn, thư viện Tua với hai triệu rưỡi sách quý bị cháy. Nhà thơ Rem vừa được phục hồi lại bị phá hủy lần thứ hai. Đối với bọn phát xít hình như nhà bảo tàng và thư viện cũng nguy hiểm như đại bác và xe tăng. Ở Pa-ri vừa có danh sách những quyển sách bị cấm. Nó có thể dùng làm tập tóm tắt giáo trình văn học hiện đại: Trong ấy có những tác phẩm các nhà văn lớn nhất ccủa Đức và Pháp. |
|
#110
|
|||
|
|||
|
Ngày 23 tháng Tư 1942
Tôi đánh điện cho biết " Nhà giặt, phòng điện quang đã làm việc" |
|
#111
|
|||
|
|||
|
Ngày 25 tháng Tư 1942
Mát-xcơ-va. Mệt không thể tả được. Tôi trìu mến nhớ lại chiếc ghế bành da của tôi cạnh cửa sổ trong sân của bệnh viện ở Lê-nin-grat. Tôi rất lo cho nhà tôi. Nhận được bức điện của Gian-na trong đó đứa con gái khốn khổ của tôi mơ ước là tôi sẽ đến Tri-xtô-pôn hay là nó đến chỗ tôi. Công việc văn chương của tôi rất thuận lợi. Nhưng ngày 24 ở Lê-nin-grat bị đánh phá rất dữ, điều đó dằn vặt tôi nhiều. Hôm qua đến chỗ nhà văn E-ren-bua. Tôi nhớ lại Pa-ri xa xôi trẻ trung. Buồng ở khách sạn, máy đánh chữ, sự ấm cúng của sự xê địch. Thoải mái. Ê-ren-bua làm việc rất hăng. Ban ngày viết ba bài báo vào buổi tối uống một cốc rượu rót từ một chiếc bình pha lê rất đẹp, hút xì gà với một khúc tàn tro màu xám xanh rất dài… Rồi sau đó đến báo "Sao đỏ" viết bài hoặc nghe Ghét-bên-xơ chửi anh về giòng dõi Do thái qua Đài phát thanh. Đến 2 giờ sáng anh mới về nhà. Và sáng mọi việc lại bắt đầu như thế. Bây giờ tôi cũng ở khách sạn. Căn phòng của tôi rất không tiện. Không có nước, lạnh kinh người. Nóc nhà bị giột, bị đóng băng. Và cái chính là không có thang máy. Do đó mà tôi ở khách sạn y như một người nước ngoài. Ê-ren-bua tặng tôi một huy hiệu "Nước Pháp tự do", giống con tem trên nền xanh có một chữ cái la-tinh màu đen, chữ "V" (Victoire-Chiến thắng) ở góc bên phải của chữ cái này là một cái mào đỏ của con gà trống Gô-loa. |
|
#112
|
|||
|
|||
|
Ngày 15 tháng Năm 1942
Mát-xcơ-va Tôi cảm thấy viết về Mát-xcơ-va rất khó. Vì nó khác Lê-nin-grat. Mà có thành phố nào giống Lê-nin-grat không? Chỉ có ở đây tôi cảm thấy đối với tôi nó rất thân thiết, gần gũi. Tôi muốn sống trong thành phố, chia xẻ số nhập của nó, cống hiến toàn bộ sức lực của tôi cho nó. |
|
#113
|
|||
|
|||
|
Ngày 22 tháng Năm 1942
Lê-nin-grat Trên đường từ Mát-xcơ-va về đây, máy bay chúng tôi có đỗ lại Khơ-vôi-nôi một lát. Lập tức có ô-tô chở dầu xăng đến và chiếc "Du-gơ-lát: của chúng tôi chĩa ngay cái vòi cao-su ra. Ánh nắng chiều màu ngọc thạch rót xuống rừng thông. Rừng mùa xuân tỏa ra một mùi hương khô và mạnh làm ta không thể không thưởng thức món ăn trong suốt này. Chúng tôi bay qua hồ La-đô-ga chỉ có bảy phút. Hồ không còn băng nữa. Chỉ ở chỗ nào có bọt thì còn ít băng đang trôi. Máy bay lượn vòng trên sân bay Xmôn-nưi rồi hạ cánh. Và sự im lặng đặc biệt không tả được của thành phố bị bao vây chuyển ngay chúng tôi từ không khí Mát-xcơ-va sang Lê-nin-grat. Không có một chiếc ôtô con nào. Chiếc ô-tô vận tải đến chở bưu kiện từ máy bay đưa chúng tôi về thành phố. Ô-tô đó chở luôn cả chúng tôi đi. Khi ôtô chạy trên đường lát nhựa một đội tuần tiễu đã xem xét chúng tôi rất kỹ. Chúng tôi đi qua phố Bgi-ép-ca bị tàn phá. Từng đường phố hiện lên trước mắt chúng tôi. Trời mát, có lúc có mưa phùn, đêm trăng. Chị lái xe xin chúng tôi một ít đường đem về cho đứa con nhỏ của chị. Nhưng đáng tiếc là chúng tôi chỉ có thuốc lá và một ít bánh mì. Nhà tôi đang ngủ khi tôi gõ cửa ở hành lang. Anh liền đưa ngay cho tôi những tặng phẩm quý báu do "Hội Chữ thập đỏ" Tân-tây-lan gửi tặng tôi mà anh vẫn giữ nguyên. Vật chính là cái hộp lớn đặt ở giữa, trong đó có những viên kẹo màu vàng, đỏ, nâu lấp lánh, lộng lẫy và sạch sẽ thế kia mà ăn thì tiếc . Nhưng trong đó không có cái gì khác ngoài đường và những chất hóa học. Còn mật thì rất tốt. Giờ đây tôi phải làm việc nhiều hơn nữa để bù cho thời gian đi Mat-xcơ-va. Ở đây nhiều cuộc gặp gỡ, nhiều cảm tưởng. Ngày qua đi mà tôi không nhớ nữa. Thật khó mà quen với cái điều là có thể đi trên đường phố mà không sợ. Người ta nghe chuyện Lê-nin-grat rất mê say, hỏi đủ thứ về thành phố này mà không biết mỏi. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
sad angel (23-09-2010) | ||
|
#114
|
|||
|
|||
|
Ngày 23 tháng Năm 1942
Một chị thanh niên công nhân viết thư cho bạn gái ngoài mặt trận về việc thu dọn mùa xuân ở Lê-nin-grat: "Đến ngày mồng 1 tháng Năm này thành phố của chúng ta sẽ chói lọi như một viên đá quý." Bức thư viết tiếp " Mình tập hợp một số chị em lại và nói với họ: " Này các bạn trong trường hợp hiện nay, chúng ta không chỉ làm đúng mức mà phải làm vượt mức". Khu vực bệnh viện của chúng tôi cũng được quét dọn rất sáng sủa, ngăn nắp, đến nỗi không nhận được ra nơi này nữa. Người ta bảo còn sạch hơn hồi chiến tranh. Chỗ để những đống rác trước kia thì nay biến thành vườn ra rồi. Cái nhà ăn một tầng của sinh viên bây giờ đổi thành "Nhà ăn bồi dưỡng". Hiện nay khu phố nào cũng có mấy cái nhà ăn như thế. Những con người xanh xao, kiệt sức, yếu ớt (bệnh thiếu chất dinh dưỡng cấp hai rồi) lle bước vào đấy, chói mắt vì ánh nắng xuân. Hình như chính họ cũng ngạc nhiên là họ còn sống sót. Khi họ ngồi xuống nghỉ, họ xắn quần, vén tay áo lên cho mặt trời chiếu vào. Nắng chữa bệnh xấu máu. Nhưng ở Lê-nin-grát còn có một loại người không đi lại được, cũng không cử động được nữa (họ mắc bệnh thiếu chất dinh dưỡng cấp ba). Họ nằm liệt ở những căn phòng lạnh giá suốt mùa đông, những nơi mà bây giờ mùa xuân cũng không đủ sức len đến được. Những thầy thuốc trẻ tuổi, những sinh viên các trường Đại học Y khoa, các nữ y tá phải đến những ngôi nhà như thế. Những người ốm nặng phải đưa đến bệnh viện. Bây giờ chúng tôi có gần hai nghìn chiếc giường mới đặt ở những ngôi nhà này, ngay trong phòng trước kia là sản khoa: Trẻ con sinh ra quá ít, hầu như không có nữa. |
|
#115
|
|||
|
|||
|
Ngày 24 tháng Năm 1942 Lại đến thăm chị em Men-đê-lê-va là viện nhi khoa ở khu phố Vư-bor-xki. Khu phố trải qua nhiều đau đớn ! Thực vậy, cái học viện này ở vào chỗ thật vô cùng nguy hiểm: bên trái là nhà máy sản xuất mìn, bên phải là doanh trại bộ đội. Và ngay cạnh đấy là cái cầu nối con đường sắt đi Phần-lan. Tất cả những cái đó đều là mục tiêu cả. Men-đê-lê-va có ba chị em đều đã đứng tuổi cả rồi. Cả ba người đều là bác sĩ, đều tốt nghiệp ở trường Đại học Y khoa số 1 ra cả. Người chị cả Giô-ri-Ar-lô-vna là một vị viện trưởng lớn tuổi đã làm việc lâu năm ở học viện nhi khoa này. Học viện này chính là con đẻ của chị, là tác phẩm của chị. Viện này là một thành phố nhỏ, y như trường Đại học Y khoa số 1 của chúng tôi. Ở đây nuôi dưỡng những em bé rất béo khỏe, chữa cho một số em ốm. Chính học viện đã tự túc làm ra những thứ nước hoa quả cho các em ăn. Giúp ý kiến cho các bà mẹ và đào tạo những bác sĩ nhi khoa. Tại đây có phòng chữa bệnh lao phổi, ở đây có em sau một thời gian ngắn lại lành, khỏe đến nỗi bà mẹ đến mà không nhận ra, còn suýt ta thán là đã trả nhầm đứa bé. Đó là những học viện trước khi xảy ra chiến tranh. Nhưng bấy giờ phòng khám và chữa bệnh vẫn còn làm việc. Tuy thức ăn bằng sữa thì rất bị hạn chế. Tất cả các khoa một ngày chỉ được có hai trăm gam kem sữa. Họ phân phối đúng là tính từng giọt. Ngoài ra còn có sữa đậu nành và sữa bột pha nước thêm vào. Ấy thế mà nhiều cháu bé trông khỏe khắn. Có đứa trông rất hồng hào. Cháu Ác-ca-sa Phê-đô-tốp mùa đông gầy yếu và không nhúc nhích đến nỗi người ta đã làm sẵn tờ giấy khai tử. Đứa bé hình như không còn hy vọng gì sống được nữa. Bây giờ thằng bé ấy đã hồng hào béo phính ra và giọng thì to hơn ai hết. Du-ra Dô-lô-tôi cũng khá lắm rồi. Mẹ nó chết ngay khi sinh nở. Bố nó ở ngoài mặt trận, viết về những bức thư tạ ơn. Trong những căn phòng của trẻ con sang sủa. bàn ghế chia làm ba cỡ (theo ba lứa tuổi): bé tí, bé và bé vừa. Hệt như trong truyện cổ tích. Chúng tôi đến vào buổi sáng. Đêm qua khu vực học viện bị pháo kích rất dữ dội. những ngọn cây dương liễu như bị dao cắt ngang. Những thanh thép trên nóc nhà cũng bị bắn gãy bay từng mảnh cắm vào cành cây. Hơn ba nghìn mét vuông kính cửa sổ vừa lắp sau trận pháo kích trước, bây giờ bay đi hết. Trong một gian dài hai màu trên tường treo các bức chân dung Qui-vi-ê, Vôn-te, Bo-na-pac, Niu-tơn,Rut-xô, Đác-uyn và những người khác nữa. Trong ngôi nhà này toàn là trẻ em đẻ thiếu tháng. những trẻ em này có đứa phải nuôi trong thẩu đựng rượu đệm đầy lông cừu, có đứa nuôi trong ống tay áo bông. Trong viện có một khoa độc nhất chuyên nghiên cứu về trẻ con đẻ thiếu tháng. Có một thằng bé khi mới đẻ ra chỉ nặng có sáu trăm năm mươi gam. Chụp ảnh nó nằm cạnh cái bình sữa, cái bình sửa còn to hơn nó. Khi đầy tuổi tôi đã được giải nhất trong cuộc thi trẻ em khỏe. Người ta dùng cái ống nhỏ với cái phễu bằng thủy tinh để cho trẻ em thiếu tháng ăn. Cái ống ấy được đưa thẳng vào dạ dày đứa bé tới một đoạn dài nhất dịnh. Khoảng cách rất ngắn, nhưng nếu sâu hơn thì không được vì sẽ xảy ra bệnh vàng da. Phòng thí nghiệm ở đây (phát đạn đại bác rơi ngay cạnh) đang thu dọn. Người ta mang đi những dụng cụ vỡ, quét những mảnh vụn, chùi những lớp bụi dày cộm. Thế mà tất cả những thứ này vừa mới được sắp đặt lại sau một mùa đông rất rét. Về mùa đông, trong phòng thí nghiệm nhiệt độ xuống mười độ âm. Không thể nào làm việc được. Do đó mà phòng thí nghiệm được chuyển sang một căn buồng nhỏ có lò sưởi để sưởi các chất phản ứng dễ bắt lạnh nhất. Phòng thí nghiệm về mùa rét còn lo lọc từ dầu gai do học viện dự trữ được bằng phương pháp hóa học (180 kilô-gam) thành mỡ để phân phối cho những người công tác ở bệnh viện dùng làm thức ăn. Bây giờ đây đang chuẩn bị tu sửa lại. và tôi nghĩ những người làm việc ở đây có chuyển số mỡ đã lọc rồi thành dầu gai không. Trong lúc pháo kích không một đứa bé nào bị thương. Chúng được đưa xuống hầm với những cái đệm bé tí của chúng. Bỗng đèn tắt và trong lúc nằm trong bóng tối chúng nói luôn miệng: " Chúng cháu ở đây, đừng giẫm lên nhé". Ngày đêm hôm đó, cũng ở trong một căn phòng trú ẩn có ba đứa trẻ ra đời: hai gái một trai. Vich-to nặng hai cân rưỡi. Những chiến sĩ tập ném lựu đạn gỗ trên cánh đồng Mác. Sau đó họ lại cầm cuốc vỡ đất để trồng rau. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
sad angel (23-09-2010) | ||
|
#116
|
|||
|
|||
|
Ngày 2 tháng Sáu 1942
Viện sĩ Cơ-rát-côp-xki, nhà nghiên cứu phương Đông không đi khỏi Lê-nin-grát, không chịu rời những bản thảo Ả-rập. Ông đã nói: " Chúng sẽ chết mất nếu không có tôi !" Và ông ta cũng không nghĩ rằng ông cũng sẽ có thể chết nếu ở lại với các bản thảo ấy. |
|
#117
|
|||
|
|||
|
Ngày 4 tháng Sáu 1942
Hôm nay cùng với Gác-sin đến nhà cụ I-li-in, một người vẽ đồ biểu đã già. Cụ đã là nhà nghiên cứu tiền cổ, chủ nhiệm bộ môn Tiền cổ học Viện bảo tàng. Bước vào căn phòng nhỏ của cụ ở tầng dưới của Viện bảo tàng có cửa sổ mở về phía sông đào, tôi cảm thấy một sự rụt rè kì lạ. Tôi cảm thấy tôi lại trở thành một cô nữ sinh nhỏ và thầy gọi tôi lại cạnh bản đồ bảo phải chỉ các nhánh của sông Von-ga. nhưng may là chuyện ấy không xảy ra. Chuyên môn của I-li-in không phải là sông ngòi mà là đồi núi. Thì ra núi trên bản đồ, là một điều quan trọng và khó khăn nhất. Cụ đã 86 tuổi. Cụ mắc bệnh liệt nửa người, đang lấy một tay nâng đầu.Song nửa người bên trái không bị liệt, hình thể cụ cho đến bây giờ vẫn rất đẹp. Cụ là một người có một sắc đẹp hiếm có. Giáo sư I-li-in cho chúng tôi biết rằng cụ được chuyển đến ngôi nhà này ngay từ khi thành phố Lê-nin-grát mới bắt đầu bị bao vây, ngày nào người ta cũng mang đến một bó củi lấy từ những dự trữ quý nhất của Viện bảo tàng. Trên bàn làm việc của cụ luôn có điện sáng. Đó là điện bắt từ chiếc quân hạm đậu ngay cạnh viện bảo tàng. Tôi hỏi giáo sư I-li-in, bộ môn Tiền cổ học do cụ chủ trì hiện nay ở đâu. Cụ trả lời rằng bộ môn đó đã tản cư đi ngay từ khi thành phố bị bom đạn uy hiếp. -Thế tại sao cụ ở lại?-Tôi hỏi -Còn đi đâu được? Tôi đã 86 tuổi. Già rồi. Nhưng những thứ tôi sưu tập thì trẻ mãi. Điều đầu tiên mà tôi nghĩ là về những thứ đó. Sau đó, cụ thêm là người ta đến đề nghị cụ tản cư nhiều lần. Người ta đến đón, cưỡng bức cụ đi. Nhưng cụ đều cự tuyệt. Bởi vì cụ có một sưu tập Tiền cổ nước Nga không nhiều, nhưng rất quý, và cụ đã tặng cho Viện bảo tàng rồi. Cần phải chỉnh lý nó lần cuối và bây giờ cụ đang làm việc đó. Khó khăn lắm cụ mới đứng dậy khỏi cái ghế dài bằng gỗ bạch dương và với bàn tay run run mở một cái ngăn kéo ở bàn làm việc. Trong ngăn kéo có một tập báo, trên đó xếp thành hàng những đồng tiền cổ và huy chương. Trong đó có một loại đồng bạc rất nhỏ, chỉ bằng cái vẩy cá, một trong những đồng rúp đầu tiên của nước Nga. Tôi chú ý đến một đồng năm hào màu vàng ra muộn hơn đồng rúp kia nhiều. Cụ I-li-in nói cho tôi biết cái đồng năm hào bạc này nằm cạnh đồng tiền bằng đồng. Và bạc rất dễ bị cảm nhiễm giống như loại kim khí thông thường khác. Chỉ có vàng ròng là không bao giờ chịu ảnh hưởng bất cứ thứ gì mà giữ nguyên chất của mình. Lúc từ giã, cụ lại một lần nữa ca tụng văn phòng nhỏ của cụ, trong đó cụ cố ý không mắc loa truyền thanh vì cụ không muốn nghe tiếng còi báo động máy bay, để tránh hồi hộp. Ở viện bảo tàng ra về chúng tôi lặng lẽ đi trên bờ sông đầy ánh sáng. Chúng tôi nhìn thấy một chiếc quân hạm, ( không biết có phải chiếc quân hạm đã cung cấp điện vào nhà giáo sư I-li-in không?) cạnh những khẩu pháo cao xạ có mấy chiến sĩ hải quân đầu đội mũ sắt. Đằng xa tàu điện nằm im lìm trên cầu. Bờ sông vắng lặng. Chúng tôi nghĩ ngay là đang có báo động. Lúc ở nhà cụ I-li-in, chúng tôi không biết vì không có loa truyền thanh. Tôi đã viết cho báo nước ngoài một bút ký về cụ I-li-in. tên bài đó là " Vàng ròng". |
| Được cảm ơn bởi: | ||
sad angel (23-09-2010) | ||
|
#118
|
|||
|
|||
|
Ngày 12 tháng Sáu 1942
Hôm qua, lúc đã khuya. Vợ chồng chúng tôi đi dạo. Những quả cầu màu bạc nhẹ lâng lâng ẩn vào bầu trời màu hồng tái và hình như tan ra trong ấy. Dọc theo vườn bách thảo cạnh sông Nê-va, những cây bồ đề đã nở hoa. Mùi hương thơm của hoa át hẳn mùi thối rũa của những rác rưởi chưa được dọn sạch. Bên kia sông ca-rơ-pốp-ca, trong một ngôi nhà gỗ nhỏ gần trụ sở đội cảnh sát có tiếng hát của những đĩa hát chiến lợi phẩm. những cô gái cảnh sát nhoài người ra ngoài cửa sổ để nghe nhạc. Về đến nhà, vừa bước vào sân, chỗ gần nhà ăn của sinh viên, chúng tôi nghe tiếng đài phát đi bản tin cuối cùng: Nước ta và nước Anh ký hiệp ước hữu nghị hai mươi năm, đồng chí Mô-lô-tốp đang trên đường đi Luân-đôn, tin về quyết định mở mặt trận thứ hai. Đoạn cuối cùng của bản tin giờ chót chúng tôi nghe ở Ban phòng không. Ở trong góc nhà treo những mặt nạ phòng độc giống như những cái túi đi săn, trên tường là những bức vẽ những loại bom. Trên bàn chỗ để bút là một quả bom cháy loại nhỏ bị mất một mảng trông rất kỳ quặc để trong cái ống cứu hỏa màu đỏ. Một quả đạn đại bác 80 ly rơi vào khu vực chúng tôi chưa nổ, đặt trên chiếc bàn nhỏ trong góc tường. Bên cạnh quả đạn đó là một mảnh của một quả đạn kểu mới có sáu bộ phận. Qua quả đạn này người ta có thể thấy bọn Đức đã suy nghĩ, nghiên cứu cách giết người như thế nào. Chẳng lẽ lại không có một hạnh phúc như thế này sao: Một buổi sáng loài người tỉnh dậy không còn bọn Hit-le nữa !. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
sad angel (23-09-2010) | ||
|
#119
|
|||
|
|||
|
Ngày 13 tháng Sáu 1942
Nghe bài hát bắt đầu: " Cô dâu có một con bò…" |
|
#120
|
|||
|
|||
|
Ngày 14 tháng Sáu 1942
Những quả cầu phòng không giống như những gương mặt khổng lồ. Trong dàn nhạc ở nhà hóa nhạc những người kéo vi-ô-lông thứ hai nhận loại phiếu thực phẩm loại hai vì thế không chịu đựng được, chết cả rồi. Bây giờ ở đấy là những người mới. |
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Cuộc phong tỏa Leningrad - Alexander Werth | danngoc | Lịch sử chiến tranh | 55 | 21-08-2011 05:58 |
| Tìm các cựu LHS Trường ĐH Công nghệ Leningrad | hungmgmi | Chúc mừng - Chia sẻ - Giúp đỡ | 8 | 24-09-2010 23:16 |
| Leningrad giữ vững thành đồng (K.A.Merexcop) | Phạm Việt Hùng | Ký ức chiến tranh | 3 | 27-05-2010 14:44 |
| Đài tưởng niệm những anh hùng bảo vệ Leningrad | hungmgmi | Mỹ thuật - Nhiếp ảnh | 1 | 23-05-2009 15:46 |
| 65 năm ngày bắt đầu vòng vây Leningrad | Nina | Lịch sử nước Nga | 15 | 29-11-2007 17:37 |