|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#1
|
|||
|
|||
|
Phụ mục Nhạc cổ điển là một nơi ... có lẽ là quá yên tĩnh và quá nghiêm túc trong box Âm nhạc nói riêng, và NNN nói chung. Tuy nhiên, như một triết gia nổi tiếng đã nói - Không có gì thuộc về con người lại xa lạ với tôi, thực tế thì trong nhạc cổ điển vẫn có những giây phút dành cho nụ cười...Đó là lý do để Nina mở chủ đề này.
Và vì chủ đề này nằm ở diễn đàn http://diendan.nuocnga.net/, nên đương nhiên là các bài viết trong chủ đề này phải có liên quan đến nước Nga, văn hóa, ngôn ngữ Nga ở mức độ dù nhiều hay ít. Vì nó là thư giãn, nên khuôn khổ không chỉ đóng khung ở cổ điển, mà crossover cũng được chấp nhận. Đại loại như vậy, hy vọng được các thành viên NNN và các bạn đọc không đăng nhập ủng hộ. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#2
|
|||
|
|||
|
Và mở đầu chủ đề này, Nina xin giới thiệu một clip КВН với tựa đề "Три тенора" (3 tenor, ngắn gọn là vậy), được trình bày năm 2000 КВН là viết tắt của các chữ Клуб Весёлых и Находчивых - Câu lạc bộ những người vui vẻ và nhanh nhạy. Đó là trò chơi hài hước, trong đó các đội của các trường đại học, nhà máy vv thi đấu trong việc đưa ra các câu trả lời hài hước cho các câu hỏi, ngẫu hứng với các chủ đề đã cho, trình diễn các hoạt cảnh hài hước tự biên, vv. Có lẽ trò chơi "SV-96" hay cái gì đó tương ứng ở Việt Nam là cùng ý tưởng lớn gặp nhau với КВН, à quên, КВН ra đời từ năm 1957 (theo http://www.amik.ru/page/4.html) Tiết mục "Ba tenor" là tiết mục của đội "Парни из Баку" - Các chàng trai đến từ Bacu. Về bối cảnh - năm 2000 là năm mà ba tenor thực (Pavarotti, Domingo, Carreras) rất nổi tiếng (hình như trong thời gian tồn tại của nhóm này, lúc nào họ cũng nổi tiếng), họ biểu diễn ở nhiều nước. Do đó Pavarotti tổ chức các show diễn "Pavarotti and Friends" tương tự, nhưng mang đậm tính crossover hơn, thương mại hơn. Trong các buổi biểu diễn này, và không chỉ trong các buổi đó, bài hát "Caruso" do Pavarotti trình bày đã trở nên hết sức nổi tiếng. Ngoài ra, thời đó thì giọng ca opera/pop Nicolai Baskov cũng đang được lăng xê ở Nga với những từ có cánh như "Giọng ca vàng nước Nga", "Tenor thứ tư" vân vân. Tuy nhiên, thực tế thì thời gian đã cho thấy, Baskov đã không trở thành một tenor của sân khấu opera đúng nghĩa, và đương nhiên, không thể so sánh với ba tenor nói trên. Hoàn cảnh đã xong, bây giờ mời các bác theo dõi tiết mục hài hước đã giới thiệu |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#3
|
|||
|
|||
|
Nhân tiện, để thuận tiện theo dõi, xin cắt dán phần lời hát của các ca sĩ vào đây (theo http://www.amik.ru/Article/1/11388.html)
Эльчин Азизов - он же Лучано Паваротти: Меня зовут Лучано Паваротти И я всемирно известный тенор. У меня большой репертуар, Но больше всего мне нравится эта песня. И хотя я знаю, что её поют все, кому не лень И что она всем сильно надоела, Я все равно решил спеть её для вас сегодня... Анвар Масуров - в образе Пласидо Доминго: А меня зовут Пласидо Доминго И я тоже всемирно известный тенор, Раньше мне нравилась эта песня, Но потом я узнал, что она всем сильно надоела, А раз эта песня всем сильно надоела, То она мне тоже перестала нравиться, Но всё равно я решил спеть её для вас сегодня... и Азер Мамедзаде - в образе Хосе Каррераса: Меня зовут Хосе Каррерас, Я тоже всемирно известный тенор, И эта песня мне надоела ещё раньше, Чем она всем надоела. Но мои друзья захотели эту песню спеть, И мне не захотелось из-за этого с ними ссориться... Và cái đoạn hát trước khi họ lấy hơi thổi bay Baskov ![]() Нам хватит голосов, И не учи отцов, как петь, БаскОв! А хочешь помогать, На заднем плане можешь станцевать. Нет, лучше стой! Молчи! А лучше полотенце принеси! |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Thật ra thì clip sau có rất ít liên quan đến nhạc cổ điển - tầm bắn đại bác vài ngày là tới à. Liên quan thì có lẽ - có nhắc đến Mozart, Salieri, Bach, Vivaldi, Grig, Gluck, có vang lên chút chút giai điệu của Symphony N 40 của Mozart. Nhưng mà xem nó khá vui.
Đây là tiết mục trong chương trình "Голубой огонёк", một tiết mục đón năm mới năm 2003. Hai ca sĩ - diễn viên chính là Igor Nikolaev và Igor Krutoi - hai nhạc sĩ nổi tiếng của show-bis Nga các năm gần đây. Nikolaev đóng vai Mozart, còn Krutoi đóng vai Salieri. Có lẽ cũng cần nhắc đến truyền thuyết về việc Salieri đầu độc Mozart, điều là cơ sở của vở kịch "Моцарт и Сальери" của A.S. Pushkin, mà sau đó Rimsky-Korsakov soạn thành vở opera cùng tên. Và bây giờ, mời các bác thưởng thức clip Để thuận tiện cho việc giải trí, em xin cắt dán lời hát của bài hát trên. Phần in nghiêng là lời hát của Salieri. Моцарт и Сальери ( Дуэт с Игорем Крутым на музыку "Айсберга", "Привет-пока", "Пяти причин", "Шарманки" и 40-ой Симфонии) -От чего скажи Сальери настоящим музыкантам Типа нас, Вивальди, Баха платят меньше, чем попсе? -Потому что, милый Моцарт мало просто быть талантом надо знать ещё три ноты, три, запомни, а не семь. А мы с тобой про это всё время забываем Сонаты пишем фуги, да разве ж их поймут? -О мир, что так коварно бездарностью отравлен -Спасибо, что напомнил, давай-ка по чуть-чуть! -Ну, что ж за нас! -Пока-пока, развязка уж не далека -Ты о какой развязке, а? -Развязке языка. -Всё так мой друг имей ввиду, первый я в историю войду -Почему, мой друг, позволь узнать? -Есть на то причин, примерно пять!!! Первая Сальери это ты А вторая все мои хиты -Ну а между первой и второй, ты сперва допей потом допой. -Ест причины три, четыре, пять, впрочем Бог с ним, дай тебя обнять -Выпьем за наличие причин у двоих талантливых мужчин ! -О жизнь композитора странная штука -О чувственность Грига -О виденье Глюка -О вечная битва высокого с низким -За первое место по проданным дискам -А мы с тобой Сальери совсем не продаёмся -Увы! Не продаёмся с тобою брат ни как -Но мы ж с тобой имеем диплом консерваторский -Видать в консерватории чего-то там не так -Ну что, пока...пельки? пока, пускай рассудят нас века -Не понял я, а как же яд? В какой бокал я клал? -Знаешь крутой мой товарищ Сальери, я всё-таки в лучшее капельку верю и мы зазвучим ещё модно и стильно, повсюду -Причём в основном на мобильных -Алло? -Алло -Нет, жив пока -Мы тут на встрече Огонька -Сидим и пьём? -Нет не поём, ведь тут попса кругом -Поп-звёзды с годами состарятся -Состарятся. -На них Муз-тв не позариться. -Позарится !!! -Но глыбой в веках остаётся великий Сальери -И Моцарт. -Да, к стати, по поводу яда. Вот этого было не надо.... -Шучу, шучу!!! Я жив пока -Несёт нас времени река -Переживёт пускай она века вечная му-зы-ка ! Thay đổi nội dung bởi: Nina, 23-11-2010 thời gian gửi bài 23:05 |
|
#5
|
|||
|
|||
|
À, em quên chưa chú thích đoạn này - nó có vẻ hơi khó hiểu:
-Потому что, милый Моцарт мало просто быть талантом надо знать ещё три ноты, три, запомни, а не семь. Vấn đề là ở chỗ, những năm 199x có một cô ca sĩ tên là Angelica Varum (Анжелика Варум), cô này có một bài hit tên là "La la fa" - tên của ba nốt nhạc. Và đó là lý do cho truyện tiếu lâm: "Angelica Varum chỉ biết có ba nốt nhạc". |
|
#6
|
||||
|
||||
|
Trích:
Trích:
Một số thể loại trong âm nhạc cổ điển. Bagatelle Bagatelle là một khúc nhạc ngắn, điển hình là cho piano và thường có tính nhẹ nhàng, êm dịu. Cái tên bagatelle có nghĩa đen là "vặt vãnh", như một sự ám chỉ đến tính vô tư của khúc nhạc. Bagatelle được biết đến sớm nhất với tên đó là do François Couperin(1668 – 1733) sáng tác. Ông là nhà soạn nhạc đáng kính người Pháp thời kỳ Baroque, đồng thời là nghệ sỹ chơi organ và harpsichord. FrançoisCouperin được biết đến như “Couperin vĩ đại” để phân biệt ông với cácthành viên khác của gia đình Couperin tài năng về âm nhạc vì nghệ thuật diễn tấu bậc thầy của ông trên đàn organ và harpsichord. Tác phẩm choharpsichord thứ mười của ông có một khúc rondeau được lấy tiêu đề là Les bagatelles (Những khúc bagatelle). ... Ballade Trước hết chúng ta cần phải phân biệt rõ hai thuật ngữ Ballad (phát âm làBAL-led, trọng âm rơi vào âm tiết thứ nhất) và Ballade (phát âm là Bah-LAH-tah, trọng âm rơi vào âm tiết thứ hai). Ballad là một bài ca có cấutrúc tự nhiên đơn giản, thường ở hình thức kể chuyện hay diễn tả. Một ballad thường có một vài đoạn có cấu trúc tương tự và có thể có một đoạn điệp hoặc không. Nói cách khác, ballad là một câu chuyện, thường là một bài tường thuật hoặc bài thơ, được ngâm hoặc hát lên. Bất cứ hình thứcchuyện nào cũng có thể được kể như là một ballad, chẳng hạn như những miêu tả mang tính lịch sử hay chuyện thần tiên theo hình thức đoạn. Nóthường rút gọn lại, luân phiên giữa các dòng theo nhịp 3 và 4 (nhịp ballad) và các vần lặp lại đơn giản, thường kèm theo một đoạn điệp. Nếu ballad dựa trên đề tài chính trị hay tôn giáo thì có thể là một bài tụng ca (hymn). ... Barcarolle Barcarolle (thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Pháp, tiếng Ý là barcarola,barcarole) là một bài hát dân gian mà những người chèo thuyền đáy bằngở Venice vẫn hát hoặc một tác phẩm âm nhạc được soạn theo phong cáchnày. Trong âm nhạc cổ điển, hai barcarolle nổi tiếng nhất là barcarole"Belle nuit, ô nuit d’amour" trích trong opera Les contes de Hoffmann(Những câu chuyện của Hoffmann) của Jacques Offenbach và barcarolleOpus. 60 viết cho piano solo giọng Pha thăng trưởng của Frédéric Chopin. ... Cantata Cantata là một thể loại thanh nhạc cổ điển với đặc điểm trang trọng hoặccó tính anh hùng, tính trữ tình; gồm một số tiết mục hoàn thiện viết cho hợp xướng, độc xướng và dàn nhạc giao hưởng. Thể loại cantata có sựgần gũi với thể loại oratorio. Tuy nhiên giữa hai thể loại này cũng có những điểm khác biệt, đó là khuôn khổ của cantata không lớn lắm và không diễn tả một câu chuyện kịch, mà chỉ có một số tiết mục dựa trên một đề tài. Cấu trúc của cantata khá phong phú, có thể gồm nhiều chương hoặc chỉcó một chương, có thể viết cho hợp xướng và dàn nhạc, mà cũng có thể cho độc xướng và hợp xướng lẫn độc xướng. Lời ca trong cantata có thể không có sự phát triển mang tính chủ đề nhất định nhưng cũng có bản được phát triển với sự phối hợp bằng chủ đề rõ ràng. ... Concerto 1/ Giới thiệu chung: Concerto là một thể loại âm nhạc với đặc trưng gồm có 3 chương, cho 1 hay nhiều loại nhạc cụ độc tấu với dàn nhạc. Cái tên “Concerto” lần đầutiên được sử dụng ở Ý vào cuối thế kỷ 16 nhưng mãi đến khoảng năm1600 vào đầu thời kì Baroque ở Ý, nó mới trở nên phổ biến. Đầu tiên Concerto và Concertato là sự pha trộn của các loại nhạc cụ giàu màu sắc hoặc các giọng hát hoặc cả hai được áp dung rộng rãi ở những bản nhạc mang màu sắc thần thánh hoặc trần tục, đuợc gọi là một nhóm các nhạc cụ hoặc ca sỹ kết hợp với nhau hoặc cả hai. Một nhóm có thể được xem như một thể thống nhất nhưng pha trộn toàn bộ những âm thanh tương phản nhau được đặt ở vị trí này hoặc ở vị trí khác. “Phong cách Concerto”này được phát triển bởi nhà soạn nhạc người Ý Claudio Monteverdi(1567 - 1643), đặc biệt trong tập thứ 5 của 8 tập nhạc Madrigal (1605 -1638). Chịu ảnh hưởng một phần từ Monteverdi, nhà soạn nhạc ngườ iĐức Heirich Schülz cũng áp dụng phong cách mới này cho các tác phẩm nhạc tôn giáo Đức. Ý nghĩa của Concerto được tiếp tục sử dụng vào thếkỷ 18 khi nhiều bản cantata tôn giáo của Johann Sebastian Bach cũng được đề là Concerto. ... Etude Etude hay Study (tiếng Pháp: étude ; tiếng Đức: etüde, studie ; tiếng Ý:studio) là một đoạn khí nhạc, thường có một độ khó nào đó và thường hay dành cho một nhạc cụ dây có bàn phím, với mục đích chính là để khai thác và hoàn thiện một mặt nào đó của kỹ thuật biểu diễn nhưng cũng vẫn có được sự hứng thú về âm nhạc. Mặc dù etude một thời được coi như một bài tập (Pháp: exercice; Đức: Übung; Ý: essercizio), thuật ngữ về sau này thường chỉ một ô nhịp hay đoạn ngắn được lặp lại một cách tự do, có thể được thay đổi trên các thang âm khác hoặc trên các giọng khác nhau. Sự khác biệt được minh họa bằng Studien op.3 (1832)của Schumann, tác phẩm được mở đầu bằng Übungen ngắn, dựa trên những độ khó về kỹ thuật có trong chính các etude. ... Nocturne Nocturne: Dạ khúc: 1. (tiếng Ý notturno): thế kỉ 18, một tác phẩm dànhcho một vài nhạc cụ thường gồm nhiều chương. 2. một tiểu phẩm trữ tình nhỏ thường dành cho piano độc tấu do nhà soạn nhạc người Ireland JohnField sáng tạo ra vào đầu thế kỉ 19 và được Frederic Chopin kế thừa và đưa lên đỉnh cao. ... Prelude 1/ Giới thiệu chung: Prelude (khúc dạo đầu) là một khúc nhạc ngắn, thường không có hìnhthức nội tại đặc biệt, có thể đóng vai trò là một sự giới thiệu cho những chương nhạc tiếp theo của một tác phẩm mà thường dài và phức tạp hơn.Nhiều prelude có một ostinato (một motif hay một câu nhạc được lặp đi lặp lại nhiều lần với cùng một giọng) tiếp diễn suốt từ đầu đến cuối,thường là ở nhiều nhịp và giai điệu khác nhau. Chúng cũng có tính ngẫu hứng ở một mức độ nào đó trong phong cách. Prelude có thể liên quan đến overture, đặc biệt là những prelude trong một vở opera hay một oratorio. ... Romance Thuật ngữ romance (tiếng Tây Ban Nha : romance/romanza, tiếng Ý :romanza, tiếng Đức Romanze, tiếng Pháp : romance, tiếng Nga : романс)có một lịch sử dài hàng thế kỉ. Bắt đầu là những ballad mang tính kểchuyện ở Tây Ban Nha, đến thế kỉ 18 nó đã được áp dụng đối với những tác phẩm trữ tình không chỉ viết cho giọng hát mà còn cho nhạc cụ. Romance, với hàm ý “lãng mạn, thơ mộng” (theo từ điển Grove Music),có thể là một tác phẩm viết cho giọng hát và phần đệm khí nhạc, đôi khiáp dụng cho những tác phẩm khí nhạc, thậm chí cho một chương của một tác phẩm lớn (ví dụ như chương hai violin concerto của Ludvig van Beethoven, chương hai piano concerto No. 20 giọng Rê thứ (K.466) củaWolgang Amadeus Mozart...) ... Serenade Trong âm nhạc, một serenade (hay đôi khi là serenata) với ý nghĩa phổ biến nhất của nó là một tác phẩm âm nhạc hoặc là một buổi biểu diễn âm nhạc để thể hiện sự kính trọng, tôn vinh ai đó. Có ba loại serenade trong lịch sử âm nhạc. ... Sonata I.Giới thiệu: Sonata (sonare trong tiếng Ý với nghĩa đen là “phát ra âm thanh”) là mộtthể loại tác phẩm âm nhạc cổ điển viết cho một hay nhiều nhạc cụ. Thuật ngữ sonata cũng chỉ hình thức âm nhạc đặc trưng của chương nhạc thứ nhất trong các sonata thế kỉ 18 và các thể loại có liên quan. Từ giữa thế kỉ 18, thuật ngữ sonata thường được sử dụng cho các tác phẩm có khuôn mẫu ba hoặc bốn chương viết cho một hoặc hai nhạc cụ, như trong pianosonata (cho piano độc tấu) hoặc violin sonata (cho violin với bè đệm đàn phím). Có các thuật ngữ khác ngoài sonata được sử dụng cho các tác phẩm bố trí theo khuôn mẫu sonata nhưng được soạn cho những kiểu kết hợp nhạc cụ khác ; chẳng hạn như sonata cho dàn nhạc được gọi là giao hưởng, sonata cho nhạc cụ độc tấu cùng dàn nhạc được gọi là concerto vàsonata cho tứ tấu đàn dây được gọi là tứ tấu đàn dây. ... Suite (Tổ khúc) Suite (tổ khúc) là một bộ các tác phẩm khí nhạc được sắp xếp theo thứ tự nhằm để biểu diễn riêng một mạch. Trong thời kỳ Baroque, tổ khúc là một thể loại khí nhạc bao gồm một số chương có cùng điệu thức, một vài hay tất cả dựa trên các hình thức và phong cách vũ khúc (các thuật ngữ khác dành cho nhóm các vũ khúc thời Baroque gồm có Partita, Overture,Ordre và Sonata da camera). Việc ghép đôi các vũ khúc ít nhất cũng đã có từ thế kỷ 14 nhưng các nhóm tác phẩm được gọi là tổ khúc được biết đến sớm nhất là suyttes de bransles của Estienne du Tertre (1557). Tuy nhiên chúng chỉ tạo thànhchất liệu thô cho một chuỗi các vũ khúc hơn là một chuỗi thực sự đượcchơi trên thực tế. Phần lớn các nhóm vũ khúc từ những năm 1840 tới cuối thế kỷ đó đều là những cặp tác phẩm, một điệu pavan hay passamezzo đi cùng một điệu galliard hay saltarello. Sự thôi thúc ghép nhóm kiểu tổ khúc có vẻ như bắt nguồn từ nước Anh tại thời điểm bước ngoặt thế kỷ,với William Brade và Giovanni Coprario, nhưng xuất bản phẩm đầu tiên của nhóm các tác phẩm kiểu tổ khúc với tư cách là các tác phẩm được ghép lại một cách đồng bộ là Newe Padouan, Intrada, Däntz undGalliarda (1611) của Peuerl mà bốn vũ khúc trên tiêu đề trở đi trở lại trong mười ‘suite’ được thống nhất bằng điệu thức và chất liệu chủ đề.Banchetto musicale (1617) của Schein bao gồm 20 chuỗi paduana,gagliarda, courente, allmande và tripla được thống nhất một cách tương tự. ... Variation (Biến tấu) Variation (Biến tấu) là một hình thức trong đó các cách trình bày một chủ đề được biến đổi hoặc đưa ra theo các cách sắp xếp có sự thay đổi.Trong thế kỷ 18 và 19 chủ đề thường được trình bày trước, tiếp theo làmột số biến tấu, do đó mà có cách diễn đạt 'theme and variations' (chủ đề và các biến tấu). Trong thế kỷ 16, các vũ khúc được sử dụng nhiều làm cơ cấu cho các biến tấu. Nghệ thuật này đạt tới một thời kỳ phát triển cao ở Tây Ban Nha thế kỷ 16 trong các tác phẩm cho vihuela và đàn phím của Cabezón và những người khác. Những người chơi đàn virginals (một nhạc cụ có bàn phím, hình vuông, không có chân) ở nước Anh cuối thế kỷ, đáng chú ý làBull, Farnaby, Gibbons và Byrd, cũng nổi trội và ảnh hưởng đến các nhà soạn nhạc lục địa, đặc biệt là Sweelinck và Scheidt. ... http://www.scribd.com/doc/30338282/M...%91i%E1%BB%83n Và một thể loại rất quan trọng trong âm nhạc Cổ điển là: Giao hưởng. Giao hưởng( Symphony) Đó là một khúc nhạc khá lớn gồm 3 phần khác nhau về tính cách, mỗi phần phản ảnh những mặt cụ thể của nội dung vở nhạc kịch. -Phần 1: Nhanh, súc tích- thể hiện những hình tượng long trọng có tính chiến đấu. -Phần 2: Chậm- gắn liền với chất trữ tình: ở đây nghe thấy âm điệu cảm động của những Aria trữ tình Trong phần 3, ta nhận rõ sinh hoạt diễn ra trong hoạt động nhảy múa nhanh nhẹn và nhẹ nhàng. Có thể bắt đầu bất kỳ một vở nhạc kịch nào bằng khúc mở đầu như thế: vì, như một quy tắc, chúng ta đều thấy trạng huống trong mỗi phần của sơ đồ: hùng dũng-trữ tình-cảnh sinh hoạt. Mặt khác bị ràng buộc với những chi tiết của chủ đề, âm nhạc trong khúc mở đầu vang lên với mức độ tương đối khái quát. Do giao hưởng trong nhạc kịch có gia trị nghệ thuật độc lập, người ta bắt đầu đem diễn tấu ngoài nhà hát nhạc kịch. Chẳng bao lâu sau đến một bước mới tiếp theo- các nhà soạn nhạc sáng tác giao hưởng để biểu diễn. ... (Trích " Dành cho những người nghe nhạc Giao hưởng"- Nhà Xuất bản Âm nhạc Leningrad 1967. Người dịch: Nguyễn Cửu Vỹ- Hiệu đính: Ca Lê Thuần.) Do đó, theo tôi nghĩ, Giọng ca, Độc xướng, Hợp xướng, Nhạc cụ... chỉ là một/những phương tiện-hình thức để chuyển tải, trình bày những nội dung có tính chủ đề trong âm nhạc Cổ điển. Thiển nghĩ cá nhân: Sau này, thể loại Giao hưởng phát triển và thông thường có cấu trúc 4 chương. Chỉ một vài trường hợp đặc biệt (hoàn cảnh, ý tưởng tác giả...) thì mới có cấu trúc khác. -Bản Giao hưởng số 8- "Unfinished"- "Dang dở" của Frank Schubert: có 2 chương. -Bản Giao hưởng số 6- "Pastoral"- "Đồng quê" của Ludwig van Beethoven: có 5 chương. Riêng bản Giao hưởng số 9- "Ode To Joy" của Beethoven, ở chương cuối- chương 4 lại có sự sáng tạo và chuyển biến khi đưa khúc Coral do Dàn Hợp xướng trình bày. Giới nghiên cứu âm nhạc nhận định đây là đỉnh cao trong quá trình phát triển của thể loại Giao hưởng. Theo tôi được biết (trong thời gian sửa Đồ án tốt nghiệp từ người thầy đã từng học và làm việc ở CHDC Đức), với những bản nhạc hay bản Giao hưởng có tính đồ sộ, hoành tráng như bản Giao hưởng số 9 Beethoven, người ta đã thiết kế hệ thống trần của Nhà hát Giao hưởng rất kỹ lưỡng và tuân thủ các kết quả của tính toán và thực nghiệm. Hệ thống trần có thể được nâng lên hay hạ xuống, có thể xoay các tấm trần để làm sao đem đến cho người nghe những âm trầm nhỏ nhất, có độ vang (echo) đúng tiêu chuẩn tùy theo từng đoạn, phân đoạn, chủ đề, chương... ở từng vị trí chỗ ngồi trong khán phòng. Nhất là những vị trí hạn chế ở các dãy đầu, góc cuối dưới ban công hay bên trên những Cac lô.
__________________
Không ai, không điều gì được phép bị lãng quên! Thay đổi nội dung bởi: htienkenzo, 21-01-2011 thời gian gửi bài 09:41 Lý do: Bổ sung thêm ý |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn htienkenzo cho bài viết trên: | ||
|
#7
|
||||
|
||||
|
Trong Suite "Bốn mùa" của Trai-cốp-xki có Barcarolle (nếu em không nhầm thì là tháng Tám). Bác ngocbaoruss có đĩa này không, cho bà con thưởng thức để đỡ nhớ mùa hè trong những ngày giá buốt đi!
__________________
SCENTIA POTENTIA EST! Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 21-01-2011 thời gian gửi bài 13:25 Lý do: Lỗi chính tả |
|
#8
|
||||
|
||||
|
Trích:
__________________
...và ta biết một điều thật giản dị, càng xa Người ta càng thấy yêu hơn... |
|
#9
|
||||
|
||||
|
Trích:
http://www.mediafire.com/file/147mvq...Barcarolle.mp3 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Мужик (21-01-2011) | ||
|
#10
|
||||
|
||||
|
@bác TLV:
Ngày đẹp ông nội hiện ra Hướng dẫn đao loát Bài ca chèo thuyền
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Được cảm ơn bởi: | ||
htienkenzo (21-01-2011) | ||
|
#11
|
||||
|
||||
|
Trích:
![]() The Seasons ( For piano, Op. 37 ) 01. By the Hearth (January) 02. The Carnival (February) 03. Song of the Lark (March) 04. Snowdrop (April) 05. White Nights (May) 06. Barcarolle (June) 07. Reaper's Song (July) 08. The Harvest (August) 09. The Hunt (September) 10. Autumn Song (October) 11. On the Troika (November) 12. Christmas (December)
__________________
...và ta biết một điều thật giản dị, càng xa Người ta càng thấy yêu hơn... Thay đổi nội dung bởi: ngocbaoruss, 07-08-2012 thời gian gửi bài 10:31 Lý do: Sửa link nhạc |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn ngocbaoruss cho bài viết trên: | ||
|
#12
|
|||
|
|||
|
Đây là một phim hoạt hình có cái tên rất ngắn gọn và gợi cảm «Пиф-паф, ой-ой-ой! (Pif Paf Oi Oi Oi!). Tuy nhiên, mình không muốn bài viết về phim này chìm trong box Điện ảnh, nên để nó ở đây, cũng nhờ nội dung có liên quan (vâng, không lạc đề đâu ạ). Phần cuối của phim này nhại những cứng nhắc, lối mòn trong opera, và "giải thích", tại sao nhà soạn nhạc ở đây không đạo nhạc, dù có thể nghe rất nhiều mô-tip của Tchaikovsky, Bizet ở đây.
Ngoài ra clip này cũng là một minh họa rất trực quan - ca sĩ opera phải có bề ngoài thế nào, di chuyển trên sân khấu và hát ra sao. Đang cố gắng hoàn thành bài viết để chào mừng ngày 01/04, nên để tạm cục gạch ở đây, mong được sự đóng góp, chứ hoàn toàn không mong muốn những bài viết thiếu thiện chí. Trước hết mời các bác xem đoạn trích phần cuối của phim, nếu bác nào có nhã ý, xin các bác cho cảm nhận nhé! |
|
#13
|
|||
|
|||
|
Tình hình là mình đang ấp ủ ý tưởng làm phụ đề tiếng Nga hoặc/và tiếng Việt cho phim này, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu (hỏi bên chủ đề sub chẳng ai quan tâm trả lời thắc mắc giúp). Hiện tại phim gốc thì đang download chưa xong, phần text thì cũng cần phải edit cho phù hợp với âm thanh phát ra từ phim. Tóm lại, tình hình là có thể kịp có sản phẩm chào mừng ngày 01/4, ai quan tâm thì chờ, ai không quan tâm thì ... thôi.
Phần lời tiếng Nga cho đoạn clip trên (có thể còn vài chỗ chưa chính xác, nếu ai thấy nhắc giúp nhé!) Пиф-паф, ой-ой-ой! Часть 5. Опера Автор текста: Энтин Юрий Почему я как композитор-оперник тяготею к классике? Это у меня с детства. В детстве я очень любил играть в классики. Ребенком я любил пить чай, естественно, с пирожными, и лучше всего с безе — отсюда сублимация ассоциаций детства тяготение к Чайковскому, к Бизе…Как сказал классик: «Надо брать музыку у народа и только обрабатывать её» — так я и делаю. Поэтому, когда сегодня берешь у композитора — это, собственно говоря, берешь у народа, берешь у народа — берешь у себя, и главное, чтоб музыка была твоя, и кто говорит — плагиат, я говорю — традиция. Хор: Ой ты, травушка-мурава, луговая, Ой ты, заячья сторонушка родная... Мы уверены, что поздно или рано, Выйдет зайчик погулять на поляну. Раз, два, три, четыре, пять... Вышел! Заяц: Я вышел в лес гулять, Мне боязно, мне страшно, Моя душа предчувствием полна, Моя душа предчувствием полна, Душа полна... Хор: Предчувствия его не обманули. Охотник: Так вот вы где, Вас мне и надо. Вы съесть изволили Мою морковь! Хор: Какой позор, какой позор Наш заяц - вор! Наш заяц - вор! Какой позор, какой позор Наш заяц - вор! Наш заяц - вор! Заяц: Неправда Хор: Правда Заяц: Правда? Хор: Правда! Заяц: Я не ел морковь! Охотник: К барьеру! Заяц: К барьеру! Хор: Сейчас прольется чья-то кровь, Сейчас прольется чья-то кровь, Сейчас прольется чья-то кровь, Сейчас прольется, прольется... Заяц: Ах, неужели навсегда Закроются мои косые очи! Хор: Сейчас свершится и прольется... Заяц: И не увижу я тебя, Моя любовь, Моя любовь - Охотник: Сейчас, сейчас! Заяц: Моя любовь - Моя морковь! Навек я твой, Моя морковь! Охотник: Сейчас, сейчас... Сейчас... Сейчас... Хор: Пиф-паф! Ой-ой-ой-ой-ой-ой! Охотник: Умирает зайчик мой! Ха-ха-ха-ха! Хор: Ой, ой, ой, ой, ой. Заяц: Принесут меня домой, Окажуся я живой... Хор: И еще неоднократно Выйдет зайчик погулять! И еще неоднократно Выйдет зайчик погулять! |
|
#14
|
|||
|
|||
|
Pif-paf, ôi-ôi-ôi!
Phần 5. Opera Tác giả phần lời: Yuri Entin Tại sao tôi – một nhạc sĩ opera lại ngả về cổ điển? Điều này tôi đã quen từ thời thơ ấu. Thời thơ ấu, tôi rất thích đóng vai các nhà cổ điển. Khi còn bé, tôi rất thích uống trà, tất nhiên là có chai, có cốc, có ly, ăn kèm bánh ngọt, và thích nhất là với kem baiser – (beze) – chính vì thế mà có sự thăng hoa những ấn tượng, cảm xúc thời thơ ấu, sự quan tâm, ngả về Tchaikovsky, Bizet… Như một nhà soạn nhạc cổ điển đã nói: “Cần phải lấy âm nhạc từ nhân dân, và chỉ xử lý âm nhạc thôi” – thì tôi làm y như thế. Vì vậy, khi ngày nay tôi lấy nhạc của một nhà soạn nhạc – thì thực tế mà nói, tôi lấy nhạc của nhân dân, còn lấy nhạc của nhân dân, tức là lấy nhạc của chính mình, điều quan trọng nhất, là làm sao để âm nhạc là của bạn, còn nếu ai mà nói – đạo nhạc, thì tôi nói – truyền thống. Dàn hợp xướng: Ôi, trảng cỏ thân yêu, trảng cỏ Ôi, chốn này thỏ sống thân quen Chúng tôi tin rằng sớm hay muộn, Thỏ sẽ ra ngoài đi dạo. Một, hai, ba, bốn, năm ... Đã bước ra rồi! Thỏ: Tôi đi dạo trong rừng, Tôi sợ, tôi sợ hãi Tâm hồn tôi đầy các linh cảm bất an Tâm hồn tôi đầy các linh cảm bất an Tâm hồn tôi đầy … Dàn hợp xướng: Những linh cảm không lừa anh ấy. Thợ săn: À, hóa ra ngài ở đây, Tôi đang cần ngài. Ngài đã dám ăn cà rốt của tôi! Dàn hợp xướng: Ôi thật xấu hổ, ôi thật xấu hổ Thỏ của chúng ta là kẻ trộm Thật xấu hổ, thật phiền muộn Thỏ: Vu khống Dàn hợp xướng: Sự thật Thỏ: Sự thật ư? Dàn hợp xướng: Sự thật! Thỏ: Tôi không ăn cà rốt! Thợ săn: Nào đấu súng! Thỏ: Nào đấu súng! Dàn hợp xướng: Ngay bây giờ máu của ai đó sẽ đổ, Ngay bây giờ máu của ai đó sẽ đổ, Ngay bây giờ máu của ai đó sẽ đổ, Ngay bây giờ sẽ đổ, sẽ đổ... Thỏ: Ôi, không lẽ Đôi mắt xiên của tôi sẽ nhắm lại vĩnh viễn! Dàn hợp xướng: Bây giờ chuyện ấy sẽ xảy ra và sẽ đổ… Thỏ: Và tôi sẽ không được nhìn thấy em, Tình yêu của tôi, Tình yêu của tôi - Thợ săn: Bây giờ, bây giờ! Thỏ: Tình yêu của tôi - Cà rốt của tôi! Tôi mãi mãi là của em, Cà rốt của tôi! Thợ săn: Bây giờ, bây giờ ... Bây giờ ... Bây giờ ... Thợ săn: Pif-paf! Thỏ: Ôi-ôi-ôi-ôi-ôi-ôi! Thợ săn: Chú thỏ của tôi chết rồi! Hà-ha-ha-ha! Dàn hợp xướng: Ôi, ôi, ôi, ôi, ôi. Thỏ: Người ta đem tôi về nhà Hóa ra tôi vẫn còn sống ... Dàn hợp xướng: Và sẽ còn nhiều lần Thỏ sẽ ra ngoài đi dạo! Và sẽ còn nhiều lần Thỏ sẽ ra ngoài đi dạo! |
|
#15
|
|||
|
|||
|
Dù là thư giãn, nhưng bài viết sau đây cũng không dành cho những ai có thần kinh nhạy cảm yểu điệu thục nữ mong manh dễ vỡ vân vân. Mình đã cảnh báo trước, cho nên sẽ không chịu trách nhiệm về hậu quả.
Hơn nữa, mình cũng phải nói ngay từ đầu, rằng đây là một sáng tác của Modest Mussorgsky, mà nhà soạn nhạc này đã qua đời từ năm 1881 rồi, nên không thể liên quan gì đến bất kỳ thành viên nào của NNN. Mình nói thế, để nếu ai đó có cảm thấy bị động chạm thì mình nói trước là mình không chịu trách nhiệm. Đây là một tác phẩm hài hước mà Mussorgsky viết để chế giễu các nhà phê bình của "Nhóm Khỏe" (Могучая кучка - nhóm các nhạc sĩ cổ điển Nga thời nửa sau thế kỷ 19, thành phần chính của nhóm gồm có Balakirev, Cui, Mussorgsky, Borodin và Rimsky-Korsakov - những nhạc sĩ xuất sắc thời kỳ đó). Nguyên lý cơ bản trong âm nhạc của nhóm - tính dân tộc và tính nhân dân trong chủ đề sáng tác, trong việc sưu tập, ghi chép lại những bài hát dân ca và những hình ảnh, truyền thuyết dân gian, và đã đưa tính dân tộc và tính nhân dân vào các tác phẩm của mình, đặc biệt là trong opera. Vì vậy nên Nhóm Khỏe được khá nhiều "nhà phê bình không ưa". Và Mussorgsky đã dùng tác phẩm "Rajok" - Раёк để chế nhạo các nhà phê bình ấy. Đây là một tiểu phẩm khá chua cay, và những người được nhắc đến đều nhận ra mình cả... Xin giới thiệu tác phẩm này qua phần trình bày của giọng bass Yevgeny Nesterenko
|
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
kingfisher (02-01-2014), ngocbaoruss (03-08-2012) | ||
|
#16
|
|||
|
|||
|
Lần đầu tiên xuất hiện trên sân khấu
Tất nhiên đây là giai thoại, và giai thoại thì chưa chắc đã có thật, hơn thế, giai thoại còn có tính chất chuyển từ vĩ nhơn này sang vĩ nhơn khác. Chuyện kể là, hồi ấy Fedor Shaliapin là diễn viên quần chúng chủ chốt của nhà hát opera. Anh được giao vai diễn không lời - vai một đức hồng y, vai này phải long trọng đi ngang qua toàn bộ sân khấu cùng với đoàn tùy tùng. Tất nhiên là Shaliapin rất hồi hộp. Anh giải thích rất kỹ cho bọn diễn viên quần chúng cấp dưới ngớ ngẩn của mình về trách nhiệm của họ, và trong thâm tâm thì hình dung - cả khán phòng sẽ dán mắt say mê ngưỡng mộ vào cuộc diễu hành hoành tráng của họ. - Hãy đi theo tôi, và tất cả làm theo tôi! - anh hạ lệnh cho đoàn tùy tùng và bước ra sân khấu. Nhưng mới bước được một bước thì do hồi hộp mà Shaliapin vấp phải gấu áo choàng đỏ dài của hồng y, và ngã ra sàn! Đoàn tùy tùng của đức hồng y thì nghĩ là - kịch bản là thế, và cũng ngã! Diễn viên quần chúng chủ chốt cố gắng một cách anh dũng để đứng dậy, thoát khỏi cái vạt áo choàng, nhưng vô ích. Thế là vẫy vùng vướng víu trong trang phục hồng y, anh bò lồm cồm trên toàn bộ quãng đường ra khỏi sân khấu! Và đoàn tùy tùng cũng lặp lại toàn bộ hành trình này. Khán giả thì cười lăn cười bò. Còn ngôi sao vĩ đại tương lai của opera Nga thì vừa mới ra sau cánh gà đã bị ông đạo diễn điên tiết nắm cổ áo, đá đít cho một trận và ném ra khỏi cánh gà. ![]() |
|
#17
|
||||
|
||||
|
Cảm ơn những bài viết trong post nầy ....You're all legend ...
|
|
#18
|
|||
|
|||
|
|
![]() |
| Bookmarks |
|
|