|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#21
|
||||
|
||||
|
Sau câu chuyện của tôi, cụ Mi-nhi-xa ôn lại cho bà con nghe quãng đời đã qua của mình, kể lại cuộc đời đắng cay và nghèo khổ của cụ. Cụ kể đến chồng, đến các con cụ, mà giờ đây chỉ còn lại một mình Mác-dan-sa, con trai cụ, người công nhân máy kéo của nông trường.
Để làm tan bầu không khí trầm lặng sau câu chuyên của mẹ, Mác-dan-sa cầm đàn gió kéo một baì. Một người bắt giọng hát, tất cả chúng tôi hát theo. Từ ngày đến đây tôi chưa hát lần nào. Bây giờ nghĩ lại mà buồn cười, tôi không hát vì sợ người ta bảo : “Ồ ! Bác sĩ gì mà lại hát như một cô con gái ấy ”. Nhưng ở nhà cụ mi-nhi-xa tôi đã hát và cảm thấy thân mật, gần gũi hơn. Hát xong, chúng tôi lại nhảy những điệu nhảy dân tộc. Ngoài đường bà con tò mò nhìn chúng tôi qua cửa sổ. Nhảy chán, chúng tôi ngồi nghỉ. Trong lúc yên lặng, Máp-tu-kha hỏi mấy người bạn ngồi bên : - Bác Ca-me, cháu Pha-tư-ma nhà bác bây giờ ở đâu ? - Thế ra bác chưa biết à ? Cháu làm nữ cán bộ nông học ở vùng Bu-in nhã. - Còn bác, sao bác không nói chuyện đi ? Cháu Sam-xi-mua nhà bác là gì ? - Cháu là kỹ sư. Nó làm việc ở Ca-dan. - Thế còn cháu Kha-li-xa nhà bác ? - Cháu đang học ở Mát-xcơ-va. Tốt nghiệp ra cháu sẽ làm ở toà án. - Còn bác Di-gan-sa, bác suy nghĩ gì thế ? Sao bác cứ đứng ngoài ấy ? Vào trong này! Hay bác không có chuyện gì nói ? Di-gan-sa không trả lời ngay. Nghe hỏi, bác khẽ mỉm cười rồi đằng hắng như muốn nói : “ Bác Máp-tu-kha, cám ơn bác đã chú ý đến tôi ”. Một lát sau bác mới trả lời chậm rãi và chắc chắn : - Có. Di-gan-sa cũng có chuyện nói với bà con đây. Mai-si-ca con gái tôi, là nữ công nhân lái máy kéo nổi tiếng khắp liên bang chúng ta. Xin hết a. Máp-tu-kha gật đầu nói : - Đúng, bác nói đúng lắm. Bây giờ bà con đã rõ ở xã ta có những người nhà nông học, là bác sĩ, kỹ sư, là chánh án, là những công nhân lái máy kéo... Những điều đó chỉ có ở Liên bang Xô-viết chúng ta. Trên thế giới còn nhiều nước khác nữa. Ở đây công nhân, nông dân sống hoàn toàn khác. Tôi có ý kiến đề nghị đồng chí bác sĩ kể chi chúng tôi nghe một vài tin ở các nước khác. Anh I-sken-đe. Tôi đã từng quen diễn thuyết, nhưng vấn đề ở đây không phải là diễn thuyết. Máp-tu-kha vừa nói xong, hàng chục nét mặt chăm chú chờ đợi câu chuyện của tôi. Đầu đuôi thế này, cách đây không lâu, tôi có đưa cho Map-tu-kha xem một mẩu chuyện cắt ở báo ra. Mẩu chuyện trích trong quyển sách của một nhà văn ngoại quốc đi du lịch bên nước Nhật. Tài liệu ấy đã nói lên một cách hùng hồn những bất công của xã hội : “ Một bản hợp đồng ký kết giữa chủ một nhà chứa với người gái điếm...Trong bản hợp đồng ghi rõ người con gái nếu vì đời sống vật chất quẫn bách, được sự đồng ý của cha mẹ hoặc những người thay mặt cho cha mẹ, đã trở thành người gái điếm, thì trên cơ sở ấy, người chủ nhà chứa... sẽ cho vay trước... một số tiền... nhưng trong thời hạn nhất định... người gái điếm phải trích tiền “ lợi tức kiếm được trong khi tiếp khách mà trả dần ” Tôi đã đọc cho bà con nghe bản hợp đồng kỳ quặc ấy. Nghe xong, mọi người thở dài. Tôi còn cho bà con biết chỉ riêng vùng A-u-ma-rơ người ta đã ký với nhau 7 000 bản hợp đồng loại đó và theo báo chí tư sản cho biết thì tính đến hôm nay ở Nhật có 50 353 gái điếm đã chính chức đến đăng ký. Bọn phát xít thưòng bảo người đàn bà : “ Nhiệm vụ của mày là làm vợ chứ không phải là học, không phải là tham gia công tác xã hội. Chỗ của mày là bếp, là nhà thờ, là buồng ngủ ” Anh I-sken-đe, tôi thu thập được rất nhiều tài liệu đáng chú ý ấy. Tôi soạn ra và xếp riêng vào một tập. Trong đó có những baì cắt ở báo, những bài chép lại trong sách, có cả tài liệu nói đến những người đàn bà bất hạnh của xã hội tư sản. Tôi thu nhập cả tài liệu nói về những phị nữ vĩ đại được mọi người biết tên tuổi, như tiểu của bà Co-rúp-xcai-a, đồng chí Cơ-la-va Xét-kin và nhiều người khác nữa, những người đã hiến dâng cả cuộc đời cho cách mạng. Trong đó còn có tài liệu nói về các nữ bác học, nữ phi công, các chị kỹ sư, văn sĩ. Ba trăm trang trong tập sưu tầm, ghi chép của tôi đều là những sự việc có thật mà hiện nay các nhạc sĩ đương sáng tác những bài hát để ca ngợi. Tôi đọc lại những trang sách ấy luôn, đó là chỗ yếu của tôi. Anh đừng ngạc nhiên. Có nhiều người thích sưu tầm nhiều loại tiền, các loại tem, thì tôi, tôi thích ghi chép những tài liệu nói lên lòng dũng cảm của phụ nữ Xô-viết. Trong cuộc họp mặt ở nhà cụ Mi-nhi-xa, tôi đã kể cho mọi người nghe tất cả những chuyện ấy. Tôi không cố ý tô hồng sự việc, mà sự việc tự nó nói lên một cách giản dị như bản chất của nó. Bà con nghe rất thấm thía. Nghe xong, trong khoé mắt nhiều người còn ngấn lệ. Thật là sung sướng khi mỗi người đều thấy con đường tiến. Tôi, người con gái Tác-ta nghèo khổ đã lớn lên từ địa vị hèn kém đến chỗ có học thức.
__________________
Ласковый Май |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
huong duong (20-08-2010), Vania (22-07-2010) | ||
|
#22
|
||||
|
||||
|
Anh I-sken-đe, anh có nghe đấy không, tôi đã giành được chỗ đứng của mình trong cuộc sống. Tôi đã tự giành lấy. Thật không hiểu cuộc đời của tôi, của hàng triệu người phụ nữ cùng cảnh ngộ như tôi, sẽ ra sao, nếu chính quyền Xô-viết đã không cổ vũ, và chỉ cho chúng tôi con đường sống.
Tôi đã thấy niềm vui chân thật ở nhà cụ Mi-nhi-xa. Phải, chúng tôi không sung sướng sao được khi kiểm điểm lại thấy mình đã hiểu biết hơn và đạt nhiều thành tích. Anh I-sken-đe, giá anh hiểu được niềm vui sướng của tôi khi thấy bạn bè, những người thân thích sống có hạnh phúc. Tôi muốn cho khắp thế giới, cho toàn thể nhân loại biết cuộc sống lớn mạnh đầy hạnh phúc của phụ nữ Xô-viết. Anh I-sken-đe. Một chuyện rất đặc biệt đột ngột xảy ra, đã thay đổi hẳn cuộc sống của tôi, làm gián đoạn bức thư viết cho anh. Bức thư sẽ bị bỏ dở và cũng như những bức thư trước đã viết cho anh từ lâu, nó không được gửi đi. Một hôm, vừa khám xong cho các bệnh nhân, tôi đang sửa soạn ra về thì có tiếng gõ cửa. Một chị bước vào phòng. Đó là bạn tôi, đồng chí bác sĩ của nhà nghỉ. Chị hỏi tôi : - Cậu đã được nghe tin gì chưa ? - Chưa. - Ồ, vậy thì mình kể cho cậu nghe nhé. Nhất định cậu phải ngạc nhiên lắm- muốn cho tôi hồi hộp, sung sướng, chị ngừng một lát rồi tiếp – Anh ấy mới đến nhà nghỉ mình đấy. Anh ấy hẹn sẽ đến gặp cậu đấy. Tôi sửng sốt quá đến nỗi đánh rơi chiếc hàn thử biểu cầm trong tay. Chiếc hàn thử biểu rơi xuống đất vỡ tan. Người tôi bỗng lạnh run lên. “ Anh ấy nào ? Ai ? Vê-li hay I-sken-đe ? Tôi sẽ gặp ai đây ? Sẽ nhìn thấy ai ?” - Trông kìa, đầu óc đã rối lên vì sung sướng rồi. Thôi thôi tao về đây, tao về đây, chẳng làm phiền mày đâu. Sắp được gặp chồng rồi, cứ buồn đi - chị mắng yêu tôi rồi ra về. Tôi ngồi lại một mình suy nghĩ : “ Không, không phải I-sken-đe. Đối với anh ấy thế là hết và hết mãi. Hơn nữa ở nhà nghỉ chẳng ai biết I-sken-đe thì có gì đáng sợ ? Ta sẽ gặp, sẽ nói chuyện, việc gì mà xúc động. Nhưng nếu Vê-li thì sao ? Biết nói gì đây ? Biết cắt nghĩa thế nào cho các con, cho những người quen thuộc ? Xáu hổ chưa ! Ôi ! Nhục nhã ” Đầu tôi choáng váng vò quá xúc động. Tôi quyết định về nhà rồi muốn ra sao thì ra. Nhưng cánh cửa vừa mở, thì Vê-li đã đứng trước mặt tôi : - Chào chị Ga-li-a. Tôi vào được chứ ? - Vâng, mời anh vào. Vê-li bước vào phòng. Tôi nhận thấy ngay Vê-li đã cứng rắn, đã lớn lên và thay đổi rất nhiều. Chỉ có đôi mắt là vẫn như xưa. Nét mặt Vê-li rạng rỡ vì sung sướng. Anh nói như reo lên : - Ga-li-a, có ai ngờ qua bao nhiêu năm chúng ta lại gặp nhau ở đây ! - Không biết trả lời thế nào, tôi chỉ khẽ nói : - Vâng... Vê-li hoạt bát hỏi tôi : - Thế nào, chị có khoẻ không ? Chị vẫn chưa quên tôi đấy chứ ? Còn tôi, tôi luôn nhắc tới trường bổ túc công nông, đến những buổi liên hoan của chúng ta và nhắc đến chị... Những phút đầu tiên ấy đi qua. Vê-li bỗng hỏi đùa : - Sao chị không mời tôi về nhà ư ? Cho uống nước và giới thiệu với gia đình chứ... Tôi đứng im, không biết nói gì và làm gì. Đưa Vê-li về nhà ư ? Các con tôi sẽ lập tức reo lên sung sướng : “ A ! Bố đã về !” . Vê-li sẽ thấy ảnh anh trên tường. Nhưng từ chối thì không tiện. Hơn nữa cuộc gặp gỡ lại đột ngột, thân mật và thú thực với anh, tôi không muốn phải xa Vê-li ngay. Đối với tôi, Vê-li như một người bạn rất gần, như người ruột thịt. Hai chúng tôi ra khỏi bệnh viện mà tôi vẫn chưa quyết định. Một phút sau, chợt nảy ra ý nghĩ, tôi bèn bảo Vê-li : - Anh có trông thấy chiếc nhà trắng kia không? Nhà tôi đấy. Anh đừng giận nhé, sau giờ làm việc tôi phải rửa ráy mặt mũi và ăn mặc lại một tí. Mười phut sau mời anh lại chơi nhé. Tôi chờ anh. Vê-li đồng ý ngay. Trở về nhà, tôi cho hai đứa trẻ vào rừng hái quả, trải lại khăn bàn và thay quần áo. Mấy tấm ảnh tôi quyết định để nguyên như cũ. Trên bàn, ấm nước đang reo, Vê-li gõ cửa bước vào. Anh bắt tay tôi mọt lần nữa. Nhìn căn phòng khắp lượt anh khen : - Khá lắm, nhà chị chẳng kém gì ở thành phố. Tôi không rời đôi mắt Vê-li. Mấy chiếc ảnh đập vào mắt anh. Anh nhìn rất ngạc nhiên, lần thứ hai rồi thứ ba, nhưng im lặng. Đến lúc chúng tôi ngồi uống nước thì câu chuyện trở nên thân mật hơn. Vê-li bắt đầu kể : - Ga-li-a, ở nhà nghỉ bà con cho biết nhà tôi làm việc ở A-đrát. Nghe nói tôi rất ngạc nhiên. Người ta nói chắc chắn đến nỗi tôi phải tin câu chuyện quái lạ ấy và muốn tìm hiểu xem thực hư ra sao. Rất có thể trên đường đi, trong các nhà nghỉ vẫn thường xảy ra những việc tình cờ như vậy. Gặp nhau, người ta rất dễ làm quen, kết bạn với nhau và kể cho nhau nghe những thầm kín của tâm tư, mặc dầu rồi lại xa nhau để chẳng bao giờ gặp lại nữa. Trong trường hợp này cũng thế, tôi cho rằng hẳn có chuyện gì đây. Người ta nhầm tôi vơi một người nào đấy. Tôi chẳng muốn làm phật ý ai nên quyết định đến thẳng đây. Nhưng khi đồng chí bác sĩ nhà nghỉ kể cho tôi nghe về chị, tả hình dáng chị và nói tên là Ga-li-a, thì tôi rất đỗi ngạc nhiên. Tôi phải thốt lên “ Ga-li-a là vợ tôi ”. Suốt đêm đó tôi không ngủ. Tôi cho rằng người ta đã nhầm vì tên họ của chúng tôi giống nhau. Tôi suy nghĩ, phỏng đoán và cuối cùng phải đến đây, Ga-li-a, thú thực, tôi rất sung sướng khi nghe nói Ga-li-a là vợ tôi dù đó chỉ là sự nhầm lẫn. Nhưng đến đây, tôi lại thấy chiếc ảnh tôi ngồi chụp chung với chị và các cháu. Nhìn thấy rõ ràng mà tôi không dám tin ở đôi mắt tôi nữa. Ảnh ai đấy ? Người đẻ sinh đôi với tôi ư ? Anh ấy tên là I-sken-đe kia mà, nhưng đồng thời người ngồi trong ảnh kia lại là chồng chị. Thế là thế nào ? Tôi thật không hiểu.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#23
|
||||
|
||||
|
Vê-li im lặng. Anh nói những điều đó với tất cả sự ngạc nhiên nhưng không hề tỏ ra giận dữ hay không bằng lòng
Còn tôi ? Anh I-sken-de, tôi thiết tưởng anh có thể đoán được dễ dàng tâm trạng của tôi lúc đó. Tôi bảo Vê-li : - Tôi và I-sken-đe bỏ nhau đã lâu rồi, từ ấy đến nay tôi sống có một mình và cũng chưa lấy ai. Mặc dầu nói như thế không đúng lắm vì người đàn ông ngồi trong ảnh kia vẫn được coi là chồng tôi. Hơn nữa, các con tôi vẫn gọi anh là bố. - Nhưng người ấy là ai ? - Anh. Vê-li hết sức ngạc nhiên nhìn tôi, hỏi lại : - Tôi ? - Vâng. Anh. Tôi đã tìm thấy ảnh anh chụp ngày ở trường bổ túc công nông trong tập sách cũ. Vê-li cười. Cái cười không được tự nhiên lắm. Anh bảo tôi: - Thế nghĩa là ở nhà nghỉ trọ đã không nhầm khi nói Ga-li-a là vợ tôi ? - Vâng, chính thế. - Nhưng tôi không hiểu sao câu chuyện lại như vậy ? Suy nghĩ một lát, tôi cương quyết bảo Vê-li : - Nếu chuyện này làm phiền anh và khiến anh không an tâm, thì ngay bây giờ tôi xin bỏ mấy tấm ảnh kia đi và sẽ đến nhà nghỉ tuyên bố với mọi người là họ đã nhầm rồi anh không phải là chồng tôi. Nhưng anh nghỉ ở đây có một tháng. Vậy, nếu có thể, xin anh đừng biến tấm hài kịch này thành bi kịch. Đối với anh , câu chuyện thực vớ vẩn, nhưng với tôi nó quan trọng hơn nhiều. Tôi xin anh cứ để nguyên câu chuyện như đã xảy ra. - Thế nghĩa là ... - Nghĩa là khi nào nói đến chuyện gia đình, thì .... Vê-li ngắt lời tôi - Nhưng tôi chưa có vợ, chưa có gia đình. - Tôi muốn nói là khi nào nói đến tôi và các con tôi – Tôi trả lời Vê-li và đột nhiên thấy sung sướng khi biết anh chưa có vợ Vê-li thân mật mỉm cười - Vậy tôi phải làm gì ? - Anh cứ bảo rằng tôi, Ga-li-a, là vợ anh. - Nhưng câu chuyện đầu đuôi ra sao ? Chị hãy nói cho tôi biết. Tôi không hiểu gì cả. Tôi bảo anh : - Anh Vê-li, tôi rất tiếc không thể làm vừa lòng anh vì nếu trả lời thẳng câu hỏi của anh, tôi đau lòng lắm. Chỉ có một điều muốn nói là xin anh cứ giữ thế cho. Mặc dầu như một vài người đàn ông thầm nghĩ, tôi đã “ con bế con bồng ”. Tôi thực không muốn làm các con tôi phải đau khổ. Tôi xin anh đừng bắt tôi phải nói gì với anh trong suốt tháng này và được gọi anh là chồng. Anh Vê-li, tôi sẽ không làm phiền anh đâu. bằng không thì một trong hai chúng ta phải lập tức rời khỏi đây. Vê-li bảo tôi : - Không, chẳng ai phải đi đâu cả. Tôi xin đồng ý. Nhưng hẳn chị hiểu tôi ? Tôi muốn biết rõ bằng cách nào tôi đã trở thành người chồng của chị chứ ? Thế nghĩa là người ta cưới vợ cho tôi vắng mặt tôi? - Anh Vê-li, anh đừng hỏi nữa. Tôi đã bảo, tôi không nói gì đâu. Thế được chứ? Anh có bằng lòng không? - Vâng... - Rất cám ơn anh. Tôi cảm kích bắt tay Vê-li rồi kể cho anh nghe về Ca-đri-a và Ra-pha-en, đề nghị anh năng đến với chúng tôi như về nhà, về với những người ruột thịt. Ngày nào Vê-li cũng đến chơi. mấy đứa trẻ chóng làm quen anh. Chúng chạy đến đón anh và reo lên vui sướng: “ Bố ơi, bố!” Những lúc chúng tôi đi làm, Vê-li đưa chúng vào rừng tìm nấm, hái hoa quả. Nhân dịp này các đồng chí ở phòng Y tế huyện bảo tôi: - Chị Ga-li-a, gần đến mùa gặt rồi, chị xin nghỉ đi. Anh ấy lại mứi về, lúc này mà đi chơi thì nhất, không nay mai lại bận... Tấy nhiên tôi đồng ý. Chúng tôi có dịp gặp nhau luôn và lâu hơn. Chiều chiều chúng tôi cùng nhau đọc sách và ôn lại thời sinh viên. Căn phòng của tôi tràn ngập những niềm vui. Vê-li không có lúc nào, không có cái gì tỏ ra giống nhiều người đàn ông khác. Tôi bắt đầu lo sợ cho mình vì cảm thấy đã thực sự yêu Vê-li. Nhưng thế là hết! Giờ phút chia ly đã đến! Lòng buồn man mác! Chỉ có điều là Vê-li không giữ được lời hứa. Mỗi lần, mỗi chiều đến chơi, Vê-li khéo léo bắt chuyện và cứ yêu cầu tôikể chuyện cho anh nghe đầu đuôi tại sao anh lại trở thành chồng tôi. Tôi phải hứa với anh ấy: - Tôi sẽ kể sau, tôi sẽ kể sau. Tôi đã hứa sẽ kể với Vê-li hôm anh ấy lên đường. Nhưng ngày ấy cũng không còn xa nữa. mai Vê-li đã đi rồi. Biết giải thích cách nào đây? Biết kể sao cho hết với Vê-li. Không có lẽ, không có lẽ đó chỉ là ý nghĩ, cái ý nghĩ không bao giờ thành sự thật. Không, không! Nếu thế anh ấy đến đây làm gì? Con người tốt và kiên trì quá. - Ga-li-a, Vêli nửa đùa nửa thật bảo tôi- Ga-li-a ạ, thì đã sao, nếu chúng ta chính thức trở thành vợ chồng? Nếu chúng ta lấy nhau?- Ngừng một lát, anh tiếp, nói thật với Ga-li-a, tôi không phải tình cờ đã đến đây, tôi đến thăm Ga-li-a, Khi còn ở Ca-dan tôi có gặp I-sken-đe, tôi cố nén lòng giận I-sken-đe và tìm cách để chúng ta gặp nhau. Qua I-sken-đe, tôi được biết Ga-li-a không sống chung với hắn ta nữa. Được tin, tôi vừa sung sướng, vừa đau xót. Sung sướng vì Ga-li-a đã thoát được con người bạc bẽo ấy, nhưng đau xót vì lúc nào cũng áy náy, lo ngại cho Ga-li-a. Tôi biết, thiếu người bạn trăm năm bên mình, Ga-li-a đau khổ lắm. Nhưng tôi, tôi có thể chia sẻ đau khổ cùng Ga-li-a, tôi có thể sống bên cạnh Ga-li-a. Tôi không thể tha thứ cho mình một lần nữa vì thái độ rụt rè, thiếu cương quyết. Ga-li-a, trước kia tôi không bao giờ dám bày tỏ tình yêu với Ga-li-a, mà cả lần này tôi cũng không dám nói thật rằng tôi đến đây chính vì Ga-li-a. Chỉ vì tôi không muốn làm Ga-li-a phải phiền muộn. Hơn nữa cũng chẳng có tin tức gì của Ga-li-a cả. I-sken-đe chỉ cho biết hai người đã li dị nhau và Ga-li-a hiện ở A-đrát chứ có nói gì nữa đâu, nhưng bây giờ... Ga-li-a tôi không đi đâu nữa, Ga-li-a sẽ là vợ tôi, Ga-li-a nghĩ sao?
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#24
|
||||
|
||||
|
(Tiếp theo và hết) Tôi im lặng. Tôi thấy yêu Vê-li nồng nàn, sâu sắc hơn ngày yêu anh rất nhiều. Nhưng tôi sợ cái quá khứ của tôi sẽ làm phiền chúng tôi. Tất cả những gì đã xảy ra trong quá khứ là vì tôi. Tôi e rằng vì thế mà quan hệ giữa Vê-li và tôi sẽ bị tổn thương. Các con tôi, cuộc sóng của anh với tôi, tất cả những cái đó có thể khiến Vê-li không an tâm,sẽ làm trở ngại cho tình cảm của hai người. Tôi thựuc không muốn làm như vậy. Ngày mai Vê-li đã lên đường. Hôm nay hết hạn nghỉ, ngày đầu tiên tôi đi làm. Đầu óc rối lên. Cầm cái gì cũng đánh rơi, làm đổ. Lúc nào cũng nghĩ đến Vê-li. Ngày mai anh ấy đã đi rồi. Không! .. Không! Vê-li sẽ không đi!... Anh I-sken-đe, tôi không còn hào hứng viết tiếp cho anh nữa, tôi muốn bỏ ngay bức thư này đi và bắt đầu bức thư khác với lời lẽ khác: “ Anh Vê-li, em yêu anh, chúng ta sẽ yêu nhau trọn đời, không còn là chồng, là vợ trên lời nói, trong câu chuyện bịa đặt của em, trong ước mơ thầm kín của em nữa...” Anh I-sken-đe, Vê-li đang ngồi ở phòng bên, tay tôi run lên không sao viết được, Vê-li vừa vảo tôi: - Ga-li-a, ngày mai tôi phải đi, nhưng tôi không muốn rời khỏi đây. Tôi không thể xin nghỉ thêm một tháng, tôi muốn ở lại đây mãi mãi, Ga-li-a, tôi muốn biết... Tôi yêu Ga-li-a, Em quyết định đi! thuộc quyền em tất cả. Tất cả Ga-li-a quyết định. - Anh Vê-li, anh cho suy nghĩ một lát - tôi nói với Vê-li và đến ngồi đây, ngồi một mình ở đây, sống những phút cuối cùng của cuộc sống cô đơn. Tôi ngồi viết nốt lá thư này. Tôi không còn gì nói với anh nữa, anh I-sken-đe. Tôi biết rằng những bức thư này chẳng bao giờ đến tay anh. Vê-li đang ngồi ở phòng bên.Tý nữa tôi sẽ đến với Vê-li, đưa cho anh ấy xem tất cả những gì đã viết cho anh, những bức thư không gửi này, để anh ấy đọc và tự quyết định. Tôi sẽ đến với Vê-li, trao cho anh ấy những bức thư này, niềm tâm sự của tôi, những đắng cay của đời tôi và tôi cũng sẽ trao cho anh ấy cả cuộc đời tôi nữa... Anh I-sken-đe, từ biệt anh. Hình ảnh cuối cùng của anh cau có và giận dữ đang bị xoá nhoà trong tim tôi. Vê-li đang chờ ở phòng bên. Tôi sẽ đến với anh ấy, nói cho anh ấy biết tôi yêu anh ấy như thế nào. Vê-li đối với tôi thân thiết xiết bao. Tôi sẽ bảo rằng không có anh ấy, đời tôi không còn hạnh phúc, tôi không đủ nghị lực xa anh ấy, không còn gì sung sướng hơn được sống với Vê-li. Anh Vê-li, chờ em một tý. Em xong rồi đây, một tý nữa thôi, trang thư cuối cùng, giọt đắng cay cuối cùng, những phút cuối cùng của cuộc sống cô đơn... Em thong thả từ biệt cái quá khứ hiện đang đứng trước mặt, nhưng tương lai đã gõ cửa ngoài kia rồi. Em nghe rõ tiếng đập cửa, rõ tiếng chân bước lại gần. Em sung sướng đứng dậy, chạy lại đón lấy. Anh Vê-li, em đến với anh đây. Em yêu anh! 1955
__________________
Ласковый Май |
| Có 7 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (21-07-2010), htienkenzo (22-07-2010), hungmgmi (21-07-2010), huong duong (20-08-2010), Thanhxuan1974 (21-07-2010), Vania (22-07-2010), Xamova (22-07-2010) | ||
|
#25
|
||||
|
||||
|
Xong! Tuyệt vời, cảm ơn sự đóng góp cần mẫn, âm thầm của bạn Siren cho NNN. Nhớ có hôm một nhóm ọp ẹp gọi điện rủ đc đi, thì nhận được câu trả lời:"Em đang ngồi gõ lại truyện để đưa lên NNN".
Hy vọng kho tư liệu sách của NNN sẽ ngày càng dày thêm, với sự đóng góp của các bạn!
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#26
|
||||
|
||||
|
Chưa xong, sếp ơi! trên tay em đang còn cuốn khác là "Hеотравленное письмо" (Bức thư không gửi) của Валерий Осипов (Valeri Oxipov), sách do nhà xuất bản Ngoại văn - Tủ sách song ngữ phổ thông in năm 1987, dịch giả Đoàn Tử Huyến. Nếu sếp hô: "ném đá"
__________________
Ласковый Май |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Thanhxuan1974 (21-07-2010), Xamova (22-07-2010) | ||
|
#27
|
|||
|
|||
|
Có hôm buồn mình có tập dịch một chuyện cũng là "Bức Thư không gữi câu chuyện rất xúc động ...các bạn cùng xem cho vui..."
Неотправленное писмьо Две недели мы ждали самолета в маленьком якутском поселке. Нас было четверо : три геолога и один журналист. Всем надо было срочно летать в город. Утром мы приходили на берег реки , служивщий аэродромом, а поздно вечером отправлялись ночевать в дом радиста. В один из таких вечеров мы неожиданно заговорили о самопожертсвовании.Мнения разделились. Один говорил ,что пожертвовать собой человек может только в том случае, когда он ясно видит цель, во имя которой отдает жизнь. Другие утвеждали, что самопожетвование- это результат не сознательного действия а эмоцоннального потрясения. Особенно горячо защищал вторую точку зрения. Молодой геолог, парень лет двадцати пяти с бледным худым лицом и большими голубовато- серыми глазами. Пожилой геолог ( его фамилия Тарьянов) сначала, казалось бы , совсем не интересовался нашим разговором. Но потом, когда молодой геолог стал что-то горячо кричать , Тарьянов тихо сказал: - Одну минуту... Мы все с интересом посмотрели на него. - Я не буду спорить ни с кем из вас. Я просто хочу рассказать вам одну исторю, которая как , мне кажется , имеет отношение к вашему сегодняшнему разговору. Тарьянов достал из сумку какую-то старую тетрадь. BỨC THƯ KHÔNG GỮI Dịch từ tiếng Nga Suốt hai tuần chúng tôi chờ máy bay ở một ngôi làng nhỏ miền I-a-cút . Nhóm gồm 4 người , ba nhà địa chất và một nhà báo Tất cả đêu phải bay gấp vào thành phố. Buổi sáng chúng tôi phải ra bờ sông , phục vụ sân bay , còn đến chiều tối thì về ngủ ở nhà một người thông tin viên.. Vào một chiều như thế đột nhiên chúng tôi bắt đầu tranh luận về hiện tượng tự sát.Ý kiến không thống nhất. Một phía thì cho rằng người ta chỉ tự kết liễu đời mình khi nhận rõ mục tiêu và mình hiến dâng cuộc sống. Phía kia thì cho rằng con người tự sát không phải là hành động cố ý mà do đột biến tâm thần . Trong đó nhiệt tình ủng hộ ý kiến thứ hai là một chàng trai độ 20 tuổi có khuôn mặt gầy gò, nhợt nhạt và đôi mắt to màu xanh xám. Một anh địa chất lớn tuổi tên là Ta-ria nôp lúc đầu có vẽ không quan tâm gì đến câu chuyện của chúng tôi., nhưng sau đó khi nghe chàng thanh niên kia nóng mặt cãi cọ thì anh nói nhỏ nhẹ: - Cho xin một phút … Chúng tôi chăm chú nhìn anh ta. - Mình sẽ không tranh luận với ai trong số các bạn. Mình chỉ muốn kể cho các bạn nghe một câu chuyện, và có lẽ theo mình phần nào liên quan đến câu chuyện và các cậu tranh luận hôm nay.. Anh lấy từ trong cái túi ra một quyển vở đã cũ Два года назад во время больших осених дождей потерялся отряд геологов. Их долго искали , но безрезультатно. А весной местные жители- якуты – нашли замерщего человека. Это был начальник отряд, геолог Костя Сабинин. Он и сейчас стоит у меня перед глазами , как живой ,- высокий добродушной , с карими веселыми глазами, со светлой бородой. Костя Сабинин был человеком редкой души –Прямой, чесный, открытый, замечательный товарищ, верный друг, способный геолог, умница. Якуты нашли на груди у Сабинина пакет, в котором была карта открытого им месторождения алмаза и писмьмо к жене Кто-то перепечатал письмо на машинке. Костья писал письмо жене долго – несколько месяцев. Это было последное, бесконечное письмо. « ... Вера, дорогая ! Как мы сейчас далеко друг от друга.! Я знаю, что ты волнуешь за меня , за мою беспокойную жизнь Мы мало бываем вместе. Мне хочется сделать для тебя что-то хорошое и доброе именно сейчас, когда ты спишь в далекой Москве, а я лежу с малчаливыми геологaми на Север. Мы будем искать алмазы в вечной мерзле ( miền đông giá ), среди балот ( đầm lầy ), под холодными полярными звездами и думать о тех, кто ждет нас. Hai năm về trước trong thời gian những trận mưa lớn mùa thu đội thăm dò địa chất đã bị mất liên lạc . Ngưòi ta tìm kiếm họ rất lâu nhưng tuyệt vọng. Vào mùa xuân thì những người dân I-a-cút ở địa phương gặp một xác người . Đó là người đội trưởng Kô-chi-a Xa bi-nhin. Giờ đây anh ấy còn đứng trước mặt tôi như còn đang sống . Một con ngời cao ráo, nhân hậu với đôi mắt vui vẻ màu tro và bộ râu màu sáng. Anh Kô-chi-a là một người có tâm hồn hiếm có: thẳng thắn, thật thà , rộng lượng- là một người đồng chí tuyệt vời, người bạn thuỷ chung, nhà địa chất có năng lực , nói chung là con người thông minh. Những người I-a-cút thấy trên ngực áo anh một bọc giấy, trong đó có bản đồ mỏ kim cương do đội anh tìm ra và một bức thư viết cho vợ. Ai đó đã đánh máy bức thư. Anh viết cho vợ bức thư trong nhiều tháng và bức thư vẫn chưa có đoạn kết. “ Ve ra yêu quý…! Giờ đây chúng ta đang ở xa nhau nghìn trùng ! Anh biết rằng em đang lo nghĩ về anh, về cuộc sống không yên của anh. Chúng ta ít được ở gần nhau. Ngay chính lúc này đây anh thật muốn mang lại cho em một điều gì đó thật tốt đẹp, khi em đang nằm ngủ ở thủ đô Ma-xơ-cơ-va xa xôi còn anh thì nằm giữa những cán bộ địa chất trầm ngâm tận phương Bắc này. Các anh sẽ tìm kiếm kim cương trên miền băng giá vĩnh cửu, giữa các vùng đầm lầy, dưới những vì sao Bắc cực lạnh lẽo và mong nhớ về những người đang chờ đợi mình .. còn nữa .... |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Hồng Lĩnh cho bài viết trên: | ||
|
#28
|
|||
|
|||
|
Через много-много дней мы выйдем из тайги – бородатые, грязные, усталые. Мы вернемся с победой – я в этом уверен.
Но это будет еще очень не скоро .А пока.. Жди. И верь в нашу победу.» « ...Верочка, здравствуй! Не сердись на меня, но получилось так, что письмо, написанное в самолете, я не отправил с летчиками. Оно осталось у меня, и вот уже две недели я ношу его по тайге. Я не знаю, когда ты получишь письмо, но я все же продолжаю писать тебе, не могу без этого. Верочка, это письмо я привезу тебе зимой сам- все равно раньше оно не дойдет до тебя. Когда я приеду, я не буду ничего тебе рассказывать. Я молча войду в твою комнату и отдам тебе письмо. Ты будет читать , а я буду сидеть и смотреть на тебя, на твое лицо, на твои волосы, на твои руки. Ты прочитаешь письмо, все поймешь. Я буду писать тебе об всем – о нашей работе, о наших трудностях, о наших маленьких радостях. Мы ищем здесь алмазы. Мы долны найти месторождение и нанести его на карту. После нас сюда придут строители. Они построят шахту и поселок. Ну, спи Верочка! Счасливых тебе снов...» Sau nhiều, nhiếu ngày nữa các anh sẽ trở về từ rừng Tai-ga, với dáng điệu mệt mỏi, bẩn thỉu, râu ria đầy cằm..Nhưng các anh sẽ về cùng thắng lợi- anh vững tin vào điều này. Nhưng điều đó sẽ còn rất lâu. Còn bây giờ…tạm nghỉ em nhé .. Hãy chờ đợi và vững tin vào thành công của các anh” “… Chào em..Ve-ra bé bỏng của anh..Đừng giận anh vì chưa nhận được thư mà anh viết trên máy bay. Anh không gữi bức thư đó theo những phi công . Nó còn chỗ anh và suốt hai tuần liền nó cùng anh rong ruổi trong rừng Tai-ga. Anh không biết bao giờ thì em sẽ nhận được thư, nhưng anh cứ tiếp tục viết hoài cho em, bỏi vì anh không thể không viết được.Vera yêu !. Lá thư này anh sẽ tự tay mang về cho em vào mùa đông vì bằng cách nào nó cũng không về sớm hơn được . Khi về đến nhà anh sẽ im không nói gì hết và lẳng lặng đi vào phòng và trao cho em lá thư..Em sẽ đọc, còn anh thì ngồi ngắm nhìn em, ngắm nhìn khuôn mặt, mái tóc, đôi bàn tay…. Đọc lá thư rồi em sẽ hiểu… Anh sẽ viết cho em của anh về tất cả- về công việc, về những khó khăn, cả về những niềm vui nho nhỏ Các anh đang tìm kiếm kim cương. Các anh phải tìm được mỏ kim cương và vẽ nó lên bản đồ.Sau đó những người thợ xây dựng sẽ đến đây, họ sẽ dựng mỏ, và lập ngôi làng nhỏ Thôi..ngủ đi Ve ra yêu dấu ! Những giấc mơ hạnh phúc sẽ về với em đêm nay ...” « Я совсем забыл рассказать тебе о членах нашего отряда. Нас четверо. Сначала расскажу о Сергее, о нашем рабочем. Сергей- коренной житель тайги.Он самый старший из нас и самый опытный.Он- невысокого роста, лицо у него всегда задумчивое, не веселое. Сергей все умеет.И плот ( cái bè) сделать и обед сварить, и места для отдыха найти. Мы без него как без рук. В тайге роль рабочего в отряде геологов особенна велика . Часто бывает так, что с молодыми неопытными работает рядом старый рабочий. Он помогает им во всем. Я пишу об этом , потому что наблюдаю подобную ситуацию каждый день . Ведь два других члена нашего отряда- Герман и Таня третий год после окончания института вместе с геологами ищет алмазы. Для тайги это небольшой срок, Сергей заботится о них, учит их Уже поздно пора ложиться .Завтра утром рано вставать.Спокойной ночи.» « Начали работать на ручье. Это самоя ностоящая река – ширина метров двадцать, глубина метра три, но мы зовем ее ручей ( здесь реками называют только такие гиганты , как Лена) “ Anh quyên chưa giới thiệu cho em về các thành viên trong đoàn.Các anh có 4 người.. Trước hết kể về người công nhân-Anh Xec –gây . Anh ta chính gốc người ở rừng Tai-ga. Anh ấy là người nhiều tuổi nhất và giàu king nghiệm nhất.Dáng người anh ta không cao còn nét mặt luôn tư lự và ít vui vẻ. Anh ấy biết làm mọi thứ, từ chế tạo bè mảng đến nấu nướng và tìm chổ nghỉ ngơi cho đoàn . Không có anh ấy thì đoàn anh đúng như là không có tay vậy. Ở rừng tai- ga vai trò của người công nhân đối với những người địa chất là vô cùng quan trọng.. Thường là bên cạnh những nhân viên địa chất trẻ tuổi có một người công nhân kinh nghiệm cùng công tác. Anh ta sẽ giúp sức trong mọi việc. Anh viết về việc này vì anh đã quan sát những hoàn cảnh tương tự xảy ra hàng ngày.Dẫu là có hai người :đó là anh Gec-man và chị Ta-nhia sau khi tốt nghiệp đại học đã cùng các nhà địa chất tìm kim cương năm này là sang năm thứ 3 . Ở rừng Tai-ga thì khoảng thời gian đó chưa phải là dài . Anh Xec gey lo lắng và dạy dỗ cho họ. Đã muộn rồi . đến lúc em cũng cần đi nghỉ. Mai còn phải dậy sớm. Chúc em ngủ ngon nhé! “ “ Các anh bắt đầu thăm dò trên một con suối. Đó thật sự là một dòng sông. rộng 20 mét và sâu 3 met.nhưng các anh vẫn gọi là suối.( ở đây những con sông khổng lồ như sông Lê na người ta mới gọi là sông) Пока все идет хорошо, только вот погода плохая. Солнца не видно почти совсем, идет мелький дождь. Одежда наша конечно, мокрая. Герман предлагает назвать ручей , на котором мы работаем , « Ручем Сабинина».Я предложил назвать его « ручьем Веры»- ручьем веры в наше общее дело, в наш успех. Ребята помолчали и согласились. Конечно, они поняли, что я имел в виду тебя Герман и Таня тут же написали заявление в министерство геологи, и в будущем году на всех картах Якутии должна появиться новая река « Вера» « Верочка ! Радость ! Вчера Сергей нашел алмаз. Да, да, ностоящий алмаз! Писать некогда. Спим всего три-четыре часа.» « Верочка! Победа! Вчера мы начали работать вместе с Таней и сразу же нашли алмазную- голубую землю, а в ней алмазы. По случаю победы был приготовлен праздничный обед. Герман сказал, что считает свою жизнь прожитой не зря, так как принимал участие в полезном для человечества открытии. Таня засмеялась. Таня и Герман все- таки совсем дети. ... Итак , месторождение найдено, мы нанесли его на карту. Вера! Ты помнишь тот солнечный день в Lúc này mọi việc tiến triển tốt đẹp cả, chỉ có điều là thời tiết quá xấu. Mặt trời hầu như chẳng ló mặt bao giờ, lại có cả mưa phùn nữa. Tất nhiên là quần áo bọn anh bao giờ cũng ướt nhèm. Gec –man thì đế nghị đặt tên con suối mà bọn anh đang thăm dò là “ suối Xa-bi-nhin “ Còn anh thì gợi ý đặt tên suối là “ Suối Ve-ra -Hy vọng” . Các bạn nhất trí nhưng im lặng. Tất nhiên là họ biết rằng anh cũng có ý muốn lái tên em vào đó. Gec-man và Ta-nhia đã viết kiến nghị về bộ địa chất và năm tới trên tất cả các bản đồ của vúng I-a-cút sẽ xuất hiện một dòng sông mới mang tên “ Sông Vera-Hy vọng “” “ Vera bé bỏng dể thương của anh! Niềm vui của anh! Hôm qua Xec –gây đã tìm thấy kim cương rồi . Thật! Thật! Kim cương chính hãng ! Không còn thời gian viết nữa. Chỉ ngủ vài ba tiếng thôi” “ Ve-ra yêu quý ! Thắng rồi ! Hôm qua các anh cùng làm việc với Ta-nhia và tìm thấy mẫu đất chứa quặng kim cương màu xanh da trời . Nhân dịp thành công này các anh chuẩn bị một bữa tiệc trưa . Gec-man nói rằng những ngày qua của cuộc đời anh ta thật không uổng phí vì đã đóng góp công sức vào phát minh có ích cho loài người. Ta-chia thì cười . Hai bạn ấy còn trẻ con lắm. …Thế là mỏ quặng đã được phát hiện.Các anh đã ghi nó lên bản đồ. Ve-ra này, em phải nhớ cái ngày sáng chói .. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Hồng Lĩnh cho bài viết trên: | ||
|
#29
|
|||
|
|||
|
день в веселом южном городе, когда мы встретились с тобой и поняли,что не можем друг без друга. Тогда я сказал тебе, что хочу сделать в жизни что ни-будь очень большое, что ни-будь очень полезное и нужное для моей Родины.
И тогда же ты ответила мне,что,именно , за это любишь меня, разлука всю жизнь будет спутницей нашей любви. Теперь разлуке конец! Той разлуке, когда мы не виделись долгие месяцы, теперь ее больше не будет. Вера, я нашел то , что я искал. Ты знаешь, я не шел по жизни легкими путями.Я всегда говорил, что ностоящая жизнь – это борьба, это преодоление трудностей. В глухой якурской тайге , я искал свое счастье. Мое счастье не для всех. Оно трудное. И еще мое счастье – это ты. Я знаю, что из трудных походов я вернусь к тебе. И я всегда иду к тебе, через моря и горы, через леса и реки, и за минуту , проведенную с тобой , я готов идти годы и годы... Тарьянов перестал читать, закурил. Мы сидели молча. - А что было дальше? - спросил , наконец, молодой геофизик. Тарьянов посмотрел на всех и снова взял письмо.+ Trong cái thành phố náo nhiệt miến Nam khi anh gặp em và chúng ta chợt nhận thấy rằng không thể thiếu nhau được nữa . Khi đó anh có nói với em rằng trong đời anh muốn làm một việc gì đó thật lớn lao, việc gì đó thật có ích cho Tổ quốc Và em đáp lại anh rằng , chính điều đó đã làm cho em yêu anh và sự chia ly xa cách sẽ luôn đồng hành cùng tình yêu hai đứa trên mọi nẻo đường đời Giờ đây chia ly sắp đến hồi kết thúc. Sự chia lìa mà ta phải chịu đựng có khi hàng nhiều tháng trời sẽ không trở lại nữa đâu em ơi. Ve-ra ơi. Anh đã thấy cái anh cần tìm. Như em biết đấy, con đường anh đi không phải dễ dàng. Anh luôn nói rằng cuộc sống chân chính đó là cuộc đấu tranh và vượt qua những khó khăn. Trong rừng rậm Tai- ga miền I-a-cút anh đã tìm thấy hạnh phúc của mình . Hạnh phúc đó không phải ai cũng giành được . Nó khó khăn gian khổ. Và anh còn một niềm hạnh phúc nữa- đó chính là em. Anh biết rằng sau những chuyến đi anh sẽ lại trở về với em.Và anh luôn tìm đường đến với em dù núi ngăn biển chặn, dù phái qua rừng , qua sông vì mỗi phút được sống bên em anh sẵn sàng đi hết năm này sang năm khác… Ta-ria-nốp ngừng đọc , hút thuốc. Chúng tôi ngồi im lặng. - Sau đó thì thế nào - cuối cùng thì đến lượt cậu địa vật lý lên tiếng hỏi . Ta-ria-nốp nhìn một lượt khắp mọi người, sau đó đọc tiếp «... Добрый день Вера! Я давно не писал. Случилось огромное несчастье. Вот, уж, действительно , от радости до беды только один шаг. Мы нанесли на карту план месторождения и стали спускаться вниз по « ручью Веры» на лодках. Отсюда до места встречи с самолетом было не далеко, около двух сот километров. Ночью мы поставили на берегу « ручья Веры» палатки, поужинали и легли спать. Погода в этот вечер была обыкновенной . Мы сильно устали и нестали переносить из лодок в палатку продукты и радио. Конечно, это была ошибка и в первую очередь моя, как начальника отряда. Никто из нас не услышал, как начался сильный осений дождь. Первым проснулся Сергей. Было 6 часов утра. Сергей разбудил всех нас.Из пататок нельзя было выйти. Мы сидели и смотрели на стену воды, падавшую перед нами. - Лодки! – вдруг закричал Сергей. Мы посмотрели на берег – он был пуст.На том месте, где стояли наши лодки, был вышедший из берег ручей. Это был не ручей, а бурная горная река . По реке плыли огромные деревья. Мы побежали вниз по берегу реки. Может быть мы еще найдем наши лодки. И действительно недалеко от берега мы увидели меджу деревьев одну из наших лодок. Там были продукты, рация – это было наше спасение. Сергей пошел по деревям к лодке. И тут произошло несчастье. Сергей упал в воду.+ Ve- ra yêu quý ! Lâu rồi anh không viết. Đã xẩy ra một tai hoạ khủng khiếp. Đúng là từ sung sướng đến đau khổ ngắn không đầy gang Các anh đưa mỏ quặng lên bản đồ và về xuôi theo suối “ Vera” trên những chiếc ghe.Từ đây đến chỗ đổ của máy bay không xa chỉ độ 200 km Buổi tối các anh dựng lều bên suối Ve ra , ăn tối và đi nghỉ. Thời tiết chiều hôm đó cũng bình thường như mọi hôm.Vì quá mệt nên bọn anh không mang từ thuyền về lều thực phẩm và bộ đàm. Tất nhiên đó là một sai lầm và anh với tư cách trưởng đoàn phải nhận trách nhiệm trước hết.Không ai nghe được cơn mưa dữ dội mùa thu bắt đầu khi nào. Xec gây tỉnh dậy đầu tiên. Lúc đó là 6 giờ sáng.Cậu ta đánh thức tất cả mọi người. Không thể đi ra khỏi lều . Bọn anh ngồi nhìn nước dâng lên thành lều ngay trước con mắt mình. - Ghe! Cái ghe. Đột nhiên Xec gây thét lên. Khi các anh nhìn ra bờ suối –nó đã trống không . Nơi neo ghe một con suối đã đánh bạt bờ .Đó không còn là suối nữa mà là một con sông chảy xiết.Những cây lớn trôi trên sông. Mọi người chạy dọc theo sông về phía dưới. Có thể hy vọng còn tìm thấy những chiếc ghe. Và đúng là bọn anh nhìn thấy cách bờ không xa có một chiếc ghe ở giữa các xác cây. Trong dó là thực phẩm và chiếc bộ đàm -Cứu cánh của đội. Xec gây lần theo các xác cây đến ghe . Nhưng điều không may đã xẩy ra , anh bị té nhào xuống nước . Страшно закричали Таня и Герман. Мы бросились в воду. Но Сергея ни где не видно. По реке плыли огромные деревья. Так мы остались в трем в глухой Якуской тайге.. Без проводника, без карт, без компаса, без рации – все унесла вода. У нас семнадцать банок коцервов, одно ружье, палатка. Вот так-то, Вера. Спокойной ночи. Когда вместе читать письмо, я все – таки вспомню этот вечер. Его нельзя будет не вспомнить...» « ...Здравствуй Вера ! Мы идем по тайге. Мы решили, пока есть концервы и силы , надо идти. Хуже всего сидить и ждать. В нашем положении, лучше всего надеяться только на себя. Мы идем на юг. Думаю. До первых больших холодов успеем выйти из тайги. Ребята мои – молоцы, хотя у Германа по-моему, температура. Тане тяжело, но она не показывает этого, смеется, шутит. Нам холодно. Пища плохая. Все время чувствется голод. А идти еще неизвестно сколько.» « Сегодня прочитал то, что написал вчера, и стало стыдно.Дела наши идут отлично. + Ta-nhi-a và Gec- man thét lên kinh hoàng.Các anh cùng nhào xuống nước nhưng không còn nhìn thấy cậu ta đâu. Những xác cây khổng lồ cứ trôi trên sông. Các anh còn lại ba người trong rừng tai- ga héo lánh miền I-a-cút trong trường hợp như vậy đó. Không người dẫn đường, không bản đồ, không địa bàn và mất cả bộ đàm. Tất cả nước cuốn đi hết. Tài sản các anh còn là 17 hộp thức ăn, một khẩu súng săn và một chiếc lều… Tình cảnh là vậy đó Ve-ra ạ. Chúc em ngủ ngon. Khi nào đọc lại lá thư thế nào anh cũng phải nhớ lại buổi chiều hôm nay . Một buổi chiều không được phép quên…” “… Chào em Ve-ra! Các anh đang đi trong rừng tai-ga. Bọn anh quyết định khi còn đồ hộp và sức khoẻ , cần phải đi. Tệ nhất là ngồi chờ đợi. Hoàn cảnh các anh lúc này tốt nhất là hy vọng vào chính bản thân mình. Các anh đang đi về phía Nam . Dó là anh nghĩ thế. Hy vọng đến đầu mùa lạnh ra được khỏi rừng . Các đồng nghiệp đều là những người giỏi dang dù Gec- man có bị sốt. Ta-nhi-a cũng yếu nhưng không để lộ ra ngoài , cố cười đùa . Bọn anh bị lạnh, thức ăn tệ lắm . Khi nào cũng cảm thấy đói . Còn đường đi thì không biết đoạn cuối ở đâu” “ Hôm nay đọc lại những gì vừa viết hôm qua, và cảm thấy xấu hổ. Mọi việc của các anh đều tốt đẹp |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Hồng Lĩnh cho bài viết trên: | ||
|
#30
|
|||
|
|||
|
Сегодня я убил птицу, сварили суп. Гeрман поймал двух рыб - тоже сели. Силы восстановленны сразу на несколько дней»
« Сегодня новая беда. Герман упал и, наверное сломал ногу . Мы сделали ему палку. Он идет с трудом. Tаня, глядя на него, вытижает слезы. Замечательная она девушка! « Думаю, что завтра мы совсем не сможем отправиться в пусть.У Германа, по-моему, тангрена. Предлагаю такой план: Таня берет все вещи – это теперь килограмов двадцать, а я буду нести Германа. Таня соглашается, Герман ничего не отвечает. Сечас мы собираем с Таней в лес на охоту. Герман просит у меня бумагу. Не знаю, зачем, она ему нужна...» « То, что произошло вчера ночью, нельзя описать. Даже, я сорокалетний человек, даже я плакал. Ночью у шел Герман. Мы спали. Утром, когда мы поснулись, его уже не было. На стене палатки была записка. Вот она: « Константин Петрович! Я должен сделать так. Здесь протая арифметика – лучше умереть одному, чем троим. Hôm nay anh bắn được một con chim, và nấu xúp . Gec - man câu được hai con cá cũng làm thức ăn.Lập tức sức khoả phục hồi cho một vài ngày.” “ Hôm nay Lại gặp tai hoạ. Gec-man bị ngã và hình như gãy chân. Các anh sắm cho anh ấy chiếc gậy. Anh đi khò khăn . Ta – nhia thì nhìn bạn mà tay lau nước mắt. Bạn ấy thật là mộ cô gái tuyệt vời “ “ Anh nghĩ là ngày mai chắc hẳn không lên đường được nữa. Géc – man hình như bị hoại tử. Anh định kế hoặch là Ta-nhia mang hết các thứ đồ đạc , lúc này khoảng 20 kg, còn anh thì cõng Gec- man . Ta- nhia thì đồng ý, còn Gec – man không trả lời gì cả. Lúc này anh cùng Ta – nhia sắp đi săn trong rừng. Gec – man xin anh tờ giấy. Không biết anh ta xin làm gì. “ “ Những gì xẩy ra đêm qua không tài nào ghi lại được. Ngay đến cả con người đã 40 tuổi đầu như anh. Thậm chí anh đã khóc.Ban đêm Gec – man đã bỏ đi. Các anh đang ngủ. Buổi sáng khi tỉnh dậy thì không thấy anh ta đâu. Trên tường lều anh ta để lại bút tích thế này: Anh Côn – xơ – tan – chin ! Tôi đành phải làm vậy . ở đây chỉ cần phép tính đơn giản – thà chết đi một người trong chúng ta còn hơn là cả ba cùng chết Я ухожу. Не ищите меня. Герман ... Вы долны обязательно дойти – ведь карту месторождения ждут. Берегите Таню.» « Германа искали два дня. Все поиски безрезультатины. На третий день мы пошли дальше. Таня идет молча. На нее, конечно, уход Германа произвел очень тяжелое впечатление. Какой трагический маршрут! Две человеческие жизни потеряны. Да , дорогой ценой, купленно открытие алмазов... Сегодня Таня через 7 тысяч шагов потеряла сознание и упала. Она страшно похудела. Наверное, силы ее кончились. А ведь она ни разу не попросила меня идти медленнее. Я взял ее на руку и понес. У костра я дал ей чай, накормил и положил спать, Сейчас, Вера, сижу и пишу тебе. Кажется, пришла зима. Сегодня впервые по – ностоящему холодно.» « С утра идет снег, и мы не выходим из палатки. Таня просит меня, чтобы я рассказал о тебе, Вера, о том, какие у тебя волосы, глаза, добрая ли ты. Таня просит, что бы , я рассказал ей , как мы впервые встретились, кто первый заговорил о любви... Я рассказываю ей , а она слушает и плачет. Потом вдруг заволновалась: не потерял ли я карту. Я показал ей, и она успокоилась . Таня спит. Я ухожу в тайгу на охоту» +++ Tôi ra đi trước. Xin đừng đi tìm tôi…Gec – man… Nhất thiết chúng ta phải về đến đích vì mọi người đang chờ tấm bản đồ. Hãy chăm sóc Ta – nhi - a” “ Các anh tìm Gec – man suốt hai ngày liền. Nhưng mọi sự tìm kiếm đều vô vọng. Sang ngày thứ 3 thì hai người tiếp tục đi. Ta - nhi-a đi không nói gì. Sự ra đi của Gec – man tất nhiên mang lại cho cô sự hụt hẫng rất nặng nề. Bi đát làm sao cuộc hành trình này! Hai mạng người đã bỏ lại. Việc tìm ra kim cương phải đổi bằng một cái giá thật là đắt đỏ. Hôm nay sau khi bước được 7 nghìn bước thì Ta – nhia ngất xỉu. và ngã xuống. Cô ta gầy đi một cách thê thảm. Hình như sức lực của cô đã cạn kiệt. Cũng đúng thôi vì chưa bao giờ cô ấy yêu cầu anh đi chậm lại. Anh phải dìu cô ta đi. Bên cạnh đống lửa anh pha cho cô li trà , cho ăn và đặt nằm ngủ .Và Ve - ra ơi bây giờ là lúc anh ngồi viết cho em đây . Hình như mùa đông đã về rồi. Hôm nay cái lạnh thật sự đã đến.” Tuyết rơi từ sáng , và bọn anh không ra khỏi lều.Ta - nhia yêu cầu anh kể về em, về mái tóc, về đôi mắt. Cô hỏi em có hiền không. Cô ta muốn biết lần đầu mình gặp nhau ra sao, ai là người tỏ tình trước… Anh kể và cô ta thì nghe và khóc … Đột nhiên sau đó Ta - nhia lo lắng về tấm bản đồ . Anh đưa cho cô ta xem và yên lòng trở lại Ta - nhia đã ngủ .Anh vào rừng săn con gì đây.” « Вера, Вера...Какой это ужасный год ... Сколько смертей, сколько прекрасных людей потеряно только за полтора месяца. Не могу писать, мешают слезы... Вчера я долго в тайге. Когда я вернулся Таня не было. Она оставила записку: « Дорогой Констатин Петрович ! Я ухожу. Так надо. Нашу алмазную карту ждут. Кто-то из нас должен выжить. И выжить долны вы, самый сильный. Если бы не мы с Германом, вы давно бы вышли из тайги. Вы жертовали собой ради нас, теперь пора жертовать нам. Герман полнял это раньше, я – позже -. Не ишите меня. В моем мешке – одна банка консервов. Не забудьте. Прощайте. Таня . “ Милый Константин Петрович ! И еще . Bы обязательно должны дойти до Веры. Ведь вы так любите ее. Мы с Германом тоже любили друг друга. Мы хотели пожениться, но теперь , что говорить об этом... Наша жизнь, наше счастье не получились.. Пусть у вас получиться ... Обязательно дойти до нее... И еще одна просьба : Константин Петрович , напишите моей маме. Все Таня..» Я искал ее целый день, но не нашел. Теперь моя жизнь не принадлежит мне, Вера. Я должен выжить и донести карту.» + “ Ve -ra ơi …Thật là một năm kinh hoàng . Đã xẩy ra bao nhiêu cái chết , chỉ sau một tháng rưởi bao con người tuyệt vời đã xa ta Anh không tài nào viết nỗi nữa. Hôm qua anh ở rừng khá lâu. Khi trở về thì Ta-nhi-a không thấy dâu nữa. Cô ta chỉ để lại dòng chữ này: “ Anh Côn- xơ- tan- chin yêu quý ! Em đi đây. Cần phải vậy. Người ta đang mong chờ bản đồ mỏ kim cương của chúng ta .Ai đó trong chúng ta phải sống sót để trở về. Và người cần sống chính là anh , con người có sức khoẻ nhất . Nếu không vướng víu em và Géc-man thì anh đã ra được khỏi rừng lâu rồi. Anh đã hy sinh mình vì chúng em, bây giờ đến lượt chúng em phải liều mình .Géc- man hiểu điều ấy sớm , còn em thì muộn hơn. Đừng tìm em nữa nhé. Trong túi của em có một hộp thức ăn. Nhớ đấy. Tạm biệt anh .Ta - nhi-a . Anh Côn – xơ – tan - chi yêu quý- còn điều này nữa.. nhất thiết anh phải về được chỗ chị Ve –ra , vì anh yêu chị ấy đến mức như vậy . Em và anh Xec – gây cũng yêu nhau và muốn thành vợ thành chồng , nhưng cuộc sống và niềm hạnh phúc đã không được toại nguyện. Cầu mong cho anh chị gặp may mắn hơn . Nhất quyết anh phải đến được chổ chị ấy đấy . Em nhờ anh thêm một việc , viết tin cho mẹ em với nhé. Ta – nhia .” Anh tìm bạn ấy cả ngày nhưng chẳng thấy đâu.Bây giờ anh không còn là của riêng anh nữa. Anh phải sống để mang tấm bản đồ trở về.” |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Hồng Lĩnh cho bài viết trên: | ||
|
#31
|
|||
|
|||
|
« Верочка! Иду к тебе. Сегодня сделал сорок тысяч шагов. Это почти двенадцать километров.
Вокруг меня огромные деревья. Сильная природа. Но человек тоже силен. Он силен духом . Он отдает другу свои консервы, свой дух, свою жизнь и этим продолжает жить в других, этим он бессмертнее всякой природы» « Сегодня прошел пятьдесят три тысяч шагов. Я дойду . Это мой долг, а долго надо выполнять. Так, как выполнили долг Герман и Таня. В нашей профессии часто бывает так, что долг требует жизнь... Я иду и иду по тайге. Тайга – мой враг, она взяла у меня троих моих товарищей. Я не сдамся. Слышишь, тайга! Не сдамся!» « Вера, сeгодня весь день я думал о своей жижни. Удалась ли она. Наверное, да... Я выбрал одно дело и, кажется довел его до конца . Не так важно, что физически будет со мной, - я все таки нашел алмазы в России. Да алмаз...Я долго искал тебя. Десять лет я шел к тебе в тайге. Ты долго лежал в земле. А страна голодала, строила, воевала. “ Ve-ra . Anh đang đến với em đây.Hôm nay anh bước được 40 nghìn bước , như vậy là thêm được 12 cây số nữa rồi .Xung quanh anh là những gốc cây khổng lồ Thiên nhiên thật dữ tợn. Nhưng con người cũng mạnh mẽ lằm Con người mạnh mẽ bởi tâm hồn . Họ giành cho nhau thức ăn, nghị lực và cả cuộc sống của bản thân và bằng những cử chỉ như vậy họ tồn tại vĩnh hằng trong trong đồng loại , bằng những nghĩa cữ đó họ mạnh hơn mọi thế lực tự nhiên” “ Hôm nay anh bước thêm 53 000 bước Anh phải về cho bằng được, đó là nghĩa vụ .Đã là nghĩa vụ nhất thiết phải hoàn thành.như Gec-man và Ta-nhia đã hoàn thành nghĩa vụ của họ . Trong cái nghề của các anh nhiều khi để hoàn thành nghĩa vụ của mình con người phải đổi cả mạng sống Anh cứ đi, cứ đi trong rừng tai- ga. Rừng tai – ga là kẻ thù của anh Nó đã cướp đi của anh ba người bạn . Anh không đầu hàng.!Em có nghe anh nói không . Không đầu hàng ! “ Ve-ra ơi. Hôm nay suốt ngày anh suy nghĩ về cuộc đời mình. Nó có thành đạt hay không…Hình như ..đã thành ..Anh lựa chọn một công việc và đã theo nó đến kết quả dù có hao tổn sức lực cũng không quan trọng đối với anh vì anh đã phát hiện ra kim cương cho nước Nga. Ôi kim cương.. Ta đã đi tìm ngươi lâu rồi , từ 10 năm trước ở rừng tai – ga . Mày giấu mình trong lòng đất còn đất nước thì nghèo đói , xây dựng, chiến đấu… И вот я нашел тебя. Нашел первым... Я открыл твою тайну, алмаз. Я остал один, ты почти уничтожил меня. Герман, Таня, Сергей ушли из жизни, но они все равно продолжают жить.Они ушли для того, чтобы я мог идти дальше. Чтобы карта месторождения могла двигаться вперед, к людям.Ты видел когда-нибудь такую эстафету, алмаз? Когда один человек передает другому свою жизнь? Нет, нет, я должен дойти ради них троих ,не имею права падать. Мы все равно победим тебя, алмаз Слышишь? Нас четверо. По – прежнему четверо» « Может быть это моя последная запись... Нет, не последняя. Я еще жив. Часто, сплю, лежа на снегу. Мне снятся города – большие новые города в тайге. В этих городах стоятся белые дома, по улицам бегаю дети и медленно ходят влюбленные. Да, алмаз, наша борьба с тобой идет к концу. Ты все равно проиграл. Сюда придут люди. Они придут за мной. Они будут искать меня и найдут карту. Они построят здесь город, и мы встретимся в этом городе – Сергей, Герман, Таня и я . Мы пойдем по его улицам до центальную плошадь и останемся там. Навсегда.» Thế là ta đã phát hiện ra mày Phát hiện đầu tiên tao đã tìm ra bí mật của mày kim cương ạ. Bây giờ đây chỉ còn lại mình tao. Mày đã hại tao. Gec-man. Ta – nhia ? Xec – gey đã phãi từ giã cuộc đời? nhưng các bạn ấy vẫn sống . Họ hy sinh để nhường tao đi tiếp để cho tấm bản đồ mỏ có thể về phía trước, đến tay mọi người . Hỡi kim cương, đã khi nào ngươi nhìn thấy một cuộc tiếp sức như vậy chưa ? Khi mà người này trao lại cho người kia mạng sống ? Không ! Không ! Tao phải đi vì ba người đồng chí. Tao không được quyền gục ngã. Thế nào chúng tao cũng chiến thắng mày . Kim cương .Mày có nghe tao nói không ? Chúng tao vẫn là 4 anh em như ngày nào .Vẫn bốn anh em !. “ Có thể đây là lưu bút cuối cùng của anh… Không.! Không !. Anh còn sống . Khi ngủ anh hay nằm trên tuyết. Anh nằm mơ về những thành phố, những thành phố mới to lớn trong rừng Tai – ga . Trong những thành phố đó người ta xây những ngôi nhà màu trắng, có trẻ nhỏ chạy trên đường, còn những cặp tình nhân thì lửng thững dạo chơi… Đúng rồi kim cương ơi. Cuộc chiến của chúng tao với mày đã đến hồi kết . Cuối cùng thì mày cũng thua cuộc. Con người sẽ đến đây. Họ đến vì tao. Họ sẽ tìm tao và tìm ra tấm bản đồ.Họ sẽ xây ở đây một thành phố và trong thành phố này chúng tao cả Xec – gây, Ta – nhia, và Gec – man sẽ cùng tụ tập. Chúng tao sẽ cùng nhau đi về quảng trường trung tâm và ở lại .Ở lại vĩnh viễn ….. « ...Последний раз проверил карту. Она на груди. Прощай Вера. Обязательно найти адрес Таниной матери.. Напиши ей.. и про Германа тоже...» « Тому, кто найдешь меня первым...Сначала карта...немедленно передать геологам. Проща..... .... Жить хочеться , В...» Тарьянов прочитав последний лист. Мы не заметили , как пролетела ночь. - Костю нашли якуты. Они передали все Костины бумаги геологам. Сейчас там, где Сабинин открыл месторождение алмазов, идет большое строительство .Строит город алмазоград. Четыре улицы названы в городе именами участников сабининского маршрута. Есть проест памятника. Над ним работает несколько молодых скульпторов. Хотят поставить его над рекой в двух километрах от города. Чтобы видно было издалека “ Lần cuối cùng kiểm tra tấm bản đồ . Nó ciòn trên ngực . Tạm biệt Ve – ra. Nhất thiết tìm cho bằng được địa chỉ của mẹ Ta – nhia . Viết giùm cho mẹ cô ta và cả về Gec – man …” “ … cho ai thấy xác tôi đầu tiên… Trước hết tấm bản đồ… lập tức chuyển dùm những nhà địa chất . Tạm … muốn sống … ở… Ta – ria - nốp đọc tờ cuối cùng. Chúng tôi không biết là đêm đã qua. Những người I- a cút tìm thấy Cô – chia Họ chuyển tất cả tài liệu của anh cho các nhà địa chất . Hiện nay nơi Cô – xơ – chin tìm ra mỏ kim cương- một công trường lớn đang hoạt động , đang mọc lên thành phố kim cương. Tên của đội thăm dò Ca – bi – nhin được đặt theo tên của 4 thành viên trong đội . Đã có dự án về tượng đài . Những kiến trúc trẻ đang xây dựng. Họ muốn đặt trên bờ sông cách thành phố 2 km để từ xa mọi người có thể chiêm ngưỡng họ Giàn khoan số 10 19/9/2007 Dịch từ bản tiếng Nga |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Hồng Lĩnh cho bài viết trên: | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|