Trở về   Nước Nga trong tôi > Nước Nga > Lịch sử nước Nga

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #21  
Cũ 26-11-2007, 01:33
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Karl trở về nước

Nga và Ottoman ký kết Hòa ước Adrianople, khiến cho Karl XII không thể lưu lại Đế chế Ottoman lâu hơn nữa. Karl quyết định giấu tung tích trong chuyến trở về. Ngày 20 tháng 9 năm 1714, ông cải trang lên đường, mang hộ chiếu với tên giả. Ông không dừng lại nơi nào quá một giờ, ít khi qua đêm trong quán trọ mà thích ngủ trên một xe đưa thư. Đến đêm 10 tháng 11, ông về đến Stralsund. Sau 15 năm đi vắng, vua Thụy Điển đã trở về lãnh thổ thuộc Thụy Điển. Chuyến đi tạo nên một chuyện thần kỳ. Trong vòng không đến 14 ngày, nhà vua đã di chuyển gần 2.100 kílômét, tức 160 kílômét mỗi ngày - mức độ thần tốc thời bấy giờ.

Karl lưu lại Stralsund, ra lệnh gửi quân và pháo tăng viện. Hội đồng Nhiếp chính không thể cưỡng lệnh của nhà vua giờ đã đặt chân lên lãnh thổ thuộc Thụy Điển, nên gửi đến 14.000 quân. Đúng như Karl dự đoán, vào mùa hè 1715 liên quân Phổ–Đan Mạch–Saxony gồm 55.000 người tấn công Stralsund.

Đường tiếp tế cho thị trấn là qua biển Baltic. Nếu hải quân Thụy Điển tải đến đủ quân nhu và đạn dược, Karl có thể cầm cự đến mùa thu. Nhưng hải quân Đan Mạch xuất hiện giao chiến với hải quân Thụy Điển, rồi có 8 chiến hạm lớn của Anh trợ lực, khiến hạm đội Thụy Điển phải rút về. Khi đường biển bị cắt đứt, việc thất thủ Stralsund là không tránh khỏi. Ngày 22 tháng 12 năm 1715, Stralsund đầu hàng.

Trước đó, Karl đã rời đi trên một chiếc thuyền nhỏ, rồi được một chiến hạm Thụy Điển đưa về chính quốc. Bốn giờ sáng ngày 24 tháng 12 năm 1715, sau 15 năm và 3 tháng vắng bóng, nhà vua Thụy Điển đặt chân trở lại trên đất nước của ông.

Vị vua Karl cứng đầu đã trở về Thụy Điển tạo dựng một đoàn quân mới, rồi sau đó dẫn quân đi đánh Đan Mạch. Vì một cơn giông làm mặt băng bị vỡ, ông chuyển hướng đi đánh miền nam Na Uy, lúc này còn là một tỉnh của Đan Mạch. Ông chiếm được thành phố Kristiania (hiện nay là thủ đô Oslo của Na Uy), nhưng phải rút quân về vì thiếu hàng hậu cần.

Mùa thu 1716, trong khi liên minh Anh, Hà Lan, Đan Mạch và Nga chuẩn bị đánh Thụy Điển bằng hải quân, Karl chia quân ra trấn giữ và củng cố các pháo đài. Nhưng ngày 17 tháng 9, thình lình Pyotr tuyên bố bãi bỏ cuộc tiến công vì cho rằng đã quá muộn, phải hoãn đến năm sau.

Không biết liệu việc đổ bộ được bãi bỏ hẳn hay là chỉ được dời qua mùa xuân năm sau, suốt mùa đông 1716 Karl XII lưu lại Lund, ở mũi cực nam của Thụy Điển, đối diện với Đan Mạch ở bờ biển bên kia. Cuối cùng, nhà vua sống và làm việc ở đây trong gần hai năm.

Nhiều người Thụy Điển xem việc ông trở về nước là điều bất hạnh. Từ ước vọng vinh quang cho đất nước và nền thương mại phồn thịnh, họ đã chuyển qua khát khao hòa bình. Karl XII biết thế, nhưng giải thích với em gái Ulrika: "Tôi không chống lại hòa bình. Tôi chỉ mong một nền hòa bình có thể duy trì được trong lâu dài. Đa số các nước đều muốn Thụy Điển suy yếu hơn lúc trước. Chúng ta phải dựa trên thực lực của chính mình trên hết."

Trong mùa hè 1718, khi đại sứ của hai bên Thụy Điển và Nga đang đi đi về về mang theo các đề xuất và phản đề xuất cho các vòng đàm phán hòa bình, karl không hề có ý định hòa hoãn với Nga. Đối với Karl đàm phán chỉ là để kéo dài thời gian nhằm đảm bảo Nga sẽ không tấn công chính quốc Thụy Điển, để ông rảnh tay hành quân nơi khác.

Khi hoạch định chiến lược của mình, Karl nhận ra rằng Nga quá mạnh, nên ông không thể trực diện đánh bật Nga ra khỏi các lãnh thổ đã bị Nga chiếm. Ông muốn đánh gục Đan Mạch trước qua ngả Na Uy, rồi sẽ tính đến Bắc Đức. Từ vị trí được củng cố này, ông định dẫn quân đi đánh Nga lần nữa.

Cuộc tấn công cuối cùng của Karl XII

Vào tháng 8 năm 1718, Karl dẫn 43.000 quân Thụy Điển tiến công mục tiêu đầu tiên là Na Uy. Đến tháng 11, đại quân tiến đến pháo đài vững chắc Frederiksten. Karl điều đại pháo đến, và cuộc vây hãm bắt đầu.

Sau bữa tối ngày 30 tháng 11, Karl đi ra con hào ở tuyến đầu để thị sát công tác đào hào mà quân Thụy Điển thực hiện mỗi đêm để lợi dụng bóng tối tránh hỏa lực từ trong pháo đài. Khoảng 9:30 giờ tối, Karl đang ở trong một con hào sâu cùng với vài sĩ quan, rồi quyết định leo lên phía trên bờ hào để thị sát, để lộ đầu và ngực ông trong tầm đạn súng của Na Uy lúc đó đang bắn chung quanh. Các sĩ quan tùy tùng đang đứng trong con hào, đầu của họ ngang với chân của Karl, cảm thấy lo lắng, nhưng không ai dám lên tiếng ngăn cản, biết rằng làm như thế nhà vua sẽ càng trở nên khinh suất hơn. Karl đứng như thế một hồi lâu trong khi các sĩ quan tùy tùng bàn nhau làm thế nào khuyên ông bước xuống. Nhưng nhà vua vui vẻ nói "Đừng có sợ," rồi vẫn đứng như thế mà quan sát.

Thình lình, những người đứng bên dưới trong con hào nghe một tiếng động, "như viên đá ném mạnh xuống bùn." Sau đó, họ không thấy Karl có cử động gì khác, cánh tay ông đã thõng xuống. Thế rồi, một sĩ quan nhận biết việc gì đã xảy ra, kêu lên: "Chúa ơi! Nhà vua trúng đạn rồi." Một viên đạn súng nòng dài đã chui vào bên trái mang tai, xuyên qua sọ rồi trổ ra bên phải của đầu, giết chết Karl ngay lập tức.

Hai ngày sau, các tướng lĩnh Thụy Điển ra lệnh hủy bỏ cuộc tiến công. Các xe goòng tiếp vận – trong số đó có một chiếc mang thi thể của Karl XII – lăn bánh qua các ngọn đồi để quay về. Sau khi đã đi vắng khỏi chính quốc Thụy Điển trong 18 năm, cuối cùng Karl đã vĩnh viễn trở về nước.

Nhà vua đã đi vắng quá lâu và gây ra quá nhiều gánh nặng chiến tranh đến nỗi thần dân Thụy Điển không thương tiếc ông.

Riêng kỳ phùng địch thủ của Karl XII thì khác. Khi nghe tin báo cái chết của Karl, Pyotr Đại đế đẫm nước mắt thốt lên: “Charles thân yêu, ta thương xót cho ông xiết bao!” Rồi ông ra lệnh cho triều đình Nga để tang trong một tuần.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #22  
Cũ 26-11-2007, 01:34
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Đại Phái bộ Sứ thần

Đại Phái bộ Sứ thần (tiếng Nga: Великое посольство) là cách sử gia gọi một phái bộ sứ thần đông đảo của nước Nga (gồm hơn 250 người) mà vào năm 1697 Pyotr Đại đế dẫn đi thăm viếng thăm chính thức Anh, Đan Mạch, Roma, Hà Lan, Brandenburg và Venice (theo kế hoạch ban đầu), đi vắng khỏi Nga trong 18 tháng.

Nguyên do

Có lý do nghiêm túc về mặt ngoại giao cho Đại Phái bộ Sứ thần. Pyotr Đại đế muốn tái xác nhận – và nếu có thể củng cố – liên minh chống Đế quốc Ottoman. Ông hy vọng sẽ đánh xuyên qua được eo biển Kerch để thông ra Biển Đen. Để làm được điều này, ông cần đồng minh đáng tin cậy: Nga không thể một mình chống lại Ottoman. Hoàng đế Louis XIV có thể gây chiến tranh với Đế quốc Habsburg, nên có thể muốn hòa hoãn với Ottoman. Để củng cố liên minh, Đại Phái bộ Sứ thần cần thăm viếng thủ đô của các nước đồng minh: Warsaw, Vienna và Venice. Họ cũng cần thăm viếng Hà Lan và Anh để tìm sự ủng hộ. Đại Phái bộ Sứ thần còn cần tìm nguồn nhân lực, mua vũ khí và trang thiết bị cho hải quân Nga.

Các đại sứ của Pyotr Đại đế có thể tự thực hiện những mục tiêu nghiêm túc trên. Nhưng ông muốn đi vì muốn học hỏi. Ưu tư dai dẳng của ông là xây dựng lực lượng hải quân hùng mạnh, và ông biết rằng Hà Lan và Anh có chuyên gia đóng tàu giỏi nhất thế giới và Venice có kỹ thuật vượt trội trong ngành đóng thuyền ga-lê.

Quyết định giấu tung tích chủ yếu là để ông được tự do. Ông ghét nghi lễ rườm rà nếu đi với tư cách quân vương. Bằng cách cử những đại sứ lỗi lạc, ông đảm bảo phái bộ sẽ được đón tiếp trọng vọng; bằng cách giả vờ không có mặt, ông được tự do né tránh thời giờ vô ích của nghi lễ. Khi trọng thị phái bộ, chủ nhà cũng trọng thị Sa hoàng, ông có thể tự do đi lại.

Tổ chức

Sa hoàng nước Nga cử Đô đốc Francis Lefort người Thụy Sĩ cầm đầu Đại Phái bộ Sứ thần với chức vụ Đại sứ thứ nhất. Hai đại sứ kia là người Nga: Fyodor Alekseyevich Golovin, Tổng đốc Siberia, và Prokofy Voznitsyn, Tổng trấn Bolkhov. Đi theo ba Đại sứ là 20 nhà quý tộc và 35 “tình nguyện viên” trẻ, được cử đi học các ngành đóng tàu và hàng hải. Nhiều người trong số này là bạn hữu của Pyotr Đại đế từ thời niên thiếu. Ngoài ra, còn có người hầu, tu sĩ, thư ký, thông dịch viên, nhạc sĩ, ca sĩ, đầu bếp, người đánh xe ngựa, binh sĩ cảnh vệ... Và trong hàng ngũ là một thanh niên có vóc người thật cao mà người khác chỉ gọi anh là Pyotr Mikhailov. Nếu thành viên nào của đoàn gọi anh theo cách khác, hoặc tiết lộ tông tích của Sa hoàng, người đó sẽ bị tử hình. Ngày 20/3/1697, Đại Phái bộ Sứ thần lên đường, quá cảnh ở Tỉnh Livonia của Thụy Điển.

Đến Brandenburg

Phái bộ đến Công quốc Courland, với thủ phủ Mitau cách Riga 50 kí-lô-mét về phía nam. Pyotr Đại đế đi trước bằng thuyền đến Königsberg, thành phố của Công quốc hùng mạnh Brandenburg, và Công tước Frederick III đích thân đón tiếp ông.

Trong các cuộc đàm phán, Frederick III mong muốn tái xác nhận mối liên minh cũ mà Sa hoàng Alexei đã tạo dựng với Brandenburg để chống lại Thụy Điển, nhưng Pyotr Đại đế không muốn làm việc gì có thể gây hấn với Thụy Điển, vì vẫn còn trong tình trạng chiến tranh với người Thổ. Cuối cùng, hai vị quân vương đồng ý hỗ trợ lẫn nhau để chống kẻ thù chung. Frederick cũng yêu cầu Sa hoàng ủng hộ chiến dịch của ông nhằm đưa ông lên làm vua.

Ở Hà Lan

Kế đến, Pyotr Đại đế quyết định đi Hà Lan. Ở Nga, Pyotr Đại đế thường nghe nói đến địa danh Zaandam. Thành phố này, cách Amsterdam 16 kí-lô-mét về hướng bắc, được cho là nơi đóng những con tàu tốt nhất trên cả nước Hà Lan. Qua nhiều năm, Pyotr Đại đế đã nung nấu mong muốn được viếng thăm và học nghề đóng tàu ở Zaandam. Bây giờ, ông muốn lưu lại Zaandam suốt mùa thu và mùa đông để học đóng tàu.

Pyotr Đại đế đi đến xưởng đóng tàu tư nhân Lynst Rogge để xin việc làm, khai tên là Pyotr Mikhailov. Ông làm việc một cách vui sướng, luôn hỏi han người quản đốc tên gọi của mọi thứ ông trông thấy. Nhưng dù ông muốn giấu tung tích, bí mật cũng bốc hơi nhanh chóng. Không bao lâu, tung tích của vị “thượng khách” được xác định rõ ràng. Nhưng ông vẫn muốn giấu hành tung. Ông từ chối lời mời chiêu đãi của các thương nhân hàng đầu của Zaandam, của thị trưởng và hội đồng thành phố. Ông trả lời rằng không có nhân vật quan trọng nào hiện diện; Sa hoàng chưa đến.

Nhưng có thêm nhiều người đến muốn xem mặt Sa hoàng nước Nga. Không thể nào làm việc trong một xưởng đóng tàu rộng mở và cũng không thể thong dong đi lại trong thành phố, nên kế hoạch lưu lại vài tháng bị rút lại còn một tuần sống ở đây. Việc học nghề dự kiến ở Zaandam phải chuyển đến Amsterdam.

Phái bộ Nga được đón tiếp theo nghi lễ hoàng gia, được cấp bốn thuyền buồm lớn và nhiều cỗ xe ngựa để tùy tiện sử dụng. Những nhà lãnh đạo của thành phố thấu hiểu tầm quan trọng của phái bộ này về tiềm năng thương mại với nước Nga trong tương lai, nên trọng thị họ một cách đặc biệt.

Pyotr Đại đế và vị Thị trưởng Witsen đàm luận với nhau mỗi ngày, và ông hỏi làm thế nào có thể làm việc một cách yên tĩnh để học nghề đóng tàu, trong khi bị bao quanh bởi người tò mò lạ mặt nhìn chăm bẳm như thế? Witsen có ngay một đề xuất. Pyotr Đại đế đến làm việc trong những xưởng của Công ty East India, được bao bọc chung quanh bằng tường rào và không cho phép người ngoài xâm nhập. Ngày hôm sau, hội đồng quản trị công ty biểu quyết để chấp nhận “một nhân vật cấp cao muốn giấu tung tích” vào làm việc trong xưởng, và để tạo thuận tiện, dành riêng ngôi nhà của một đốc công để ông có thể đến ở và làm việc mà không bị quấy rầy. Hơn nữa, để hỗ trợ ông trong việc học nghề đóng tàu, hội đồng quản trị ra lệnh đặt ki một tàu khu trục mới, để ông và tùy tùng có thể tham gia và quan sát kỹ thuật của Hà Lan ngay từ lúc khởi công.

Ba tuần lễ đầu là thu thập và chuẩn bị các loại gỗ cùng những vật liệu khác. Để trình bày cho Pyotr Đại đế thấy chính xác phải làm thế nào, phía Hà Lan bày ra mọi mảnh vật liệu trước khi đặt ki. Khi mỗi mảnh được ghép vào vị trí của nó, con tàu được lắp ráp nhanh chóng, dài 30 mét, và Pyotr Đại đế nhiệt tình làm việc trong mỗi công đoạn của nó.

Mỗi ngày, Pyotr Đại đế đi đến xưởng lúc bình minh, vác trên vai các món đồ nghề giống như những công nhân khác. Ông không cho phép có sự đối xử phân biệt nào giữa ông và họ, và nhất quyết không nhận câu xưng hô theo tước hiệu nào. Trong giờ rảnh rỗi, ông thích ngồi trên một súc gỗ, trò chuyện với thủy thủ hoặc thợ đóng tàu hoặc bất cứ ai gọi ông là “Thợ mộc Pyotr” hoặc “Anh Pyotr.” Ông tảng lờ hoặc quay đi hướng khác khi có ai gọi ông là “Bệ hạ” hoặc “Ngài.” Khi có hai nhà quý tộc Anh đến để mong được nhìn thấy Sa hoàng làm việc như một công nhân, người đốc công, để chỉ ra ai là Pyotr Đại đế, gọi đến ông: “Thợ mộc Pyotr, sao không đến giúp các bạn?” Không nói một lời, Pyotr Đại đế bước qua, ghé vai dưới một súc gỗ mà vài người đang cố sức nâng lên để đặt vào đúng vị trí.

Pyotr Đại đế hài lòng với căn nhà dành riêng cho ông. Vài người tùy tùng ngụ chung với ông theo cung cách như công nhân bình thường. Phía Hà Lan dàn xếp cung cấp cho ông củi và thực phẩm, rồi để ông tự lo liệu. Tự tay Pyotr Đại đế nhóm bếp và nấu thức ăn cho mình như một thợ mộc giản đơn.

Bên ngoài xưởng đóng tàu, tính hiếu kỳ của Pyotr Đại đế là vô bờ. Ông muốn chính mắt mình được nhìn thấy mọi thứ. Ông đi viếng nhà máy chế biến, xưởng cưa, xưởng se sợi, nhà máy giấy, cơ xưởng, viện bảo tàng, vườn thực vật và phòng thí nghiệm. Ở mỗi nơi, ông hỏi “Cái này để làm gì? Nó vận hành như thế nào?” Ông gặp gỡ kiến trúc sư, nhà điêu khắc, kỹ sư... Ở Delft, ông đến gặp Nam tước von Coehorn, chuyên gia xây công sự nổi tiếng, để học kỹ thuật xây pháo đài.

Vài lần ông đến viếng giảng đường và phòng thí nghiệm của Fredrick Ruysch, Giáo sư cơ thể học nổi danh toàn Châu Âu. Ông trở nên chú tâm đến khoa giải phẫu đến nỗi thấy khó mà ra về; ông muốn ở lại và quan sát thêm. Ông dùng bữa tối cùng Ruysch, lắng nghe lời tham mưu của Giáo sư về cách chọn lựa bác sĩ giải phẫu để mời về phục vụ cho lục quân và hải quân Nga. Pyotr Đại đế bị lôi cuốn vào môn cơ thể học và sau đó tự xem mình có trình độ như y sĩ giải phẫu. Dù sao đi nữa, ông có thể hỏi, có mấy ai ở Nga được cơ hội học với Giáo sư Ruysch nổi tiếng?

Trong những năm về sau, Pyotr Đại đế luôn mang theo người hai chiếc hộp: một đựng dụng cụ toán học để kiểm tra đề án xây dựng đệ trình lên ông, và hộp kia đựng dụng cụ giải phẫu. Ông ra lệnh báo cho ông biết ca giải phẫu đáng để ý gần đó, và khi ông hiện diện, ông thường làm trợ lý và tiếp thu kỹ năng tiểu giải phẫu. Gia nhân của ông khi đau yếu thường giấu ông vì sợ Sa hoàng sẽ xuất hiện bên giường bệnh với chiếc hộp dụng cụ giải phẫu để ngỏ lời – và thường là bắt họ phải chấp nhận – cho ông làm công việc giải phẫu trên người họ.

Ở Leyden, ông đến thăm Tiến sĩ Boerhaave nổi danh, phụ trách một vườn thực vật phong phú, cũng là giảng viên môn cơ thể học, và khi Boerhaave hỏi ngày giờ vị khách muốn đến thăm, Sa hoàng chọn sáu giờ sáng hôm sau. Ông cũng đến xem phòng thí nghiệm giải phẫu học của Boerhaave và say mê xem xét một xác người.

Ở Delft, ông đến thăm nhà thiên nhiên học nổi tiếng Anton van Leeuwenhoek, người phát minh kính hiển vi. Pyotr Đại đế hỏi chuyện ông này trong hai giờ đồng hồ và nhìn qua món thiết bị kỳ diệu qua đó Leeuwenhoek đã khám phá ra tinh trùng.

Vào lúc rảnh rỗi ở Amsterdam, ông thơ thẩn đi bộ trong thành phố, đi đến khu chợ ngoài trời Botermarket, xem thợ nhổ răng hành nghề bằng dụng cụ khác thường mà ông học hỏi và sau này thí nghiệm với gia nhân. Ông học cách vá quần áo của mình, và từ người đóng giầy học cách đóng một đôi dép cho riêng ông.

Quan sát sự phồn vinh của Hà Lan, Pyotr Đại đế tự hỏi làm thế nào dân tộc của ông, với đồng cỏ và rừng bao la, lại sản xuất chỉ đủ nuôi sống họ; trong khi ở Amsterdam lại có thể tích lũy của cải nhiều hơn cả đất nước Nga bao la. Pyotr Đại đế nhận thức lý do: thương mại, nền kinh tế dựa trên hải hành, sự làm chủ đội thương thuyền. Ông nhất quyết lao mình vào việc tạo dựng những điều kiện như thế cho nước Nga. Một lý do khác là sự phóng khoáng về tôn giáo. Vì nền thương mại quốc tế không thể phát triển trong môi trường học thuyết hoặc định kiến tôn giáo hẹp hòi, Hà Lan của đạo Tin lành đi theo con đường phóng khoáng nhất về tôn giáo thời bấy giờ. Óc tò mò của Pyotr Đại đế bị kích thích từ không khí phóng khoáng về tôn giáo này. Ông đến viếng nhiều nhà thờ Tin lành ở Hà Lan và hỏi han các giáo sĩ nhiều điều.

Pyotr Đại đế được may mắn vì Vua William của nước Anh tình cờ có mặt tại Hà Lan khi Đại Phái bộ Sứ thần đến. Pyotr Đại đế tha thiết muốn gặp gỡ vị vua mà ông hằng ngưỡng mộ. Buổi gặp gỡ hoàn toàn trong riêng tư và không nghi lễ – là cách thức hai vị quân vương đều thích. William không đáp ứng lời của Pyotr Đại đế yêu cầu tham gia liên minh giữa những người Cơ đốc giáo chống quân Thổ theo Hồi giáo. William còn đang đàm phán hòa bình với Pháp và không muốn tham gia chiến tranh ở miền Đông, kẻo lực lượng của ông bị phân chia và Louis XIV chớp thời cơ ở phương Tây.

Đại Phái bộ Sứ thần sẽ trình thư ủy nhiệm và phát biểu chính thức với triều đình Hà Lan. Vì Nga không có đại sứ quán thường trực ở nước ngoài, thành phần đông đảo trong phái bộ và nghi lễ đón tiếp họ là những vấn đề rất quan trọng đối với Pyotr Đại đế. Ông muốn nghi lễ phải thật long trọng, và đây là một sân khấu rất thuận lợi. Những chính khách và nhà ngoại giao tiếng tăm nhất của các cường quốc Châu Âu đang có mặt ở đây để tiến hành hoặc quan sát các cuộc đàm phán hòa bình; bất kỳ chuyện gì xảy ra ở đây sẽ được họ ghi nhận kỹ càng và báo cáo về mọi thủ đô và mọi quân vương ở Châu Âu.

Pyotr Đại đế nói với Witsen rằng ông muốn giấu tung tích khi đi cùng phái bộ để quan sát xem họ được đón tiếp như thế nào. Yêu cầu này khiến cho Witsen khó chiều theo, nhưng từ chối càng khó hơn. Dọc con đường từ Amsterdam đến The Hague, Pyotr Đại đế luôn nhìn thấy những điều mới lạ. Khi đi ngang một cối xay gió, ông hỏi: “Cái này để làm gì?” Khi nghe trả lời rằng đây là quạt gió dùng để cắt đá, ông tuyên bố: “Ta muốn xem nó.” Cỗ xe dừng lại, nhưng cửa vào quạt gió bị khóa. Ngay cả trong đêm tối, khi đi qua một cây cầu, Pyotr muốn xem xét cách xây dựng và đo kích thước. Cỗ xe dừng lại lần nữa, người ta mang đèn bão đến để soi sáng cho ông đo chiều dài và chiều rộng của cây cầu.

Vào ngày các đại sứ Nga được dẫn vào triều kiến, Pyotr Đại đế ăn vận như là một người sang trọng của triều đình. Witsen đẩy ông vào một căn phòng nhỏ kế bên phòng khánh tiết, từ nơi đây qua một khung cửa sổ nhỏ ông có thể quan sát và nghe tất cả. Ông thấy mọi người luôn quay nhìn ông và nghe tiếng thì thầm truyền đi rằng Sa hoàng nước Nga đứng ở phòng bên. Quá khổ sở, ông yêu cầu Witsen ra lệnh cho các thành viên của triều đình Hà Lan quay mặt về phía khác khi ông đi qua. Witsen cho ông biết là mình không thể ra lệnh cho họ vốn là những nhà lãnh đạo của Hà Lan, nhưng ông sẽ ngỏ lời yêu cầu. Họ đáp rằng họ phải đứng dậy với sự hiện diện của Sa hoàng và không chấp nhận việc quay lưng về phía Sa hoàng. Khi nghe nói thế, Pyotr Đại đế che giấu mặt ông trong bộ tóc và bước nhanh xuyên qua gian phòng và đi xuống những bậc cầu thang.

Trong thời gian lưu lại The Hague, Pyotr Đại đế vẫn giấu tung tích, chỉ tiếp xúc riêng các chính khách Hà Lan nhưng từ chối bất kỳ sự công nhận nào ngoài công cộng. Phái bộ Nga chỉ thành công hạn chế. Hà Lan không thiết tha việc gây chiến với Ottoman. Vì đang bị nợ nần chồng chất sau cuộc chiến tranh với Pháp và cần xây dựng lại hải quân, Hà Lan cũng không thể giúp đóng tàu chiến cho Nga theo như yêu cầu.

Ngày 16/11, chín tuần sau khi đặt ki, chiếc tàu khu trục đã sẵn sàng để hạ thủy, và trong buổi lễ này, Witsen thay mặt cho Thành phố Amsterdam trao tặng con tàu làm món quà biếu cho Sa hoàng nước Nga. Quá cảm động, Sa hoàng ôm hôn ông Thị trưởng, và lập tức đặt tên cho con tàu là Amsterdam. Sau đó, chở đầy các món trang thiết bị mà Pyotr Đại đế mua ở Hà Lan, con tàu trực chỉ đến Arkhangelsk. Pyotr Đại đế còn cảm thấy hãnh diện hơn khi người đốc công trình cho ông tờ giấy chứng nhận người thợ có tên Pyotr Mikhailov đã làm việc trong xưởng đóng tàu trong bốn tháng, là một thợ đóng tàu có năng lực và đã nắm vững khoa học về kiến trúc hải quân.

Tuy thế, Pyotr Đại đế cảm thấy khó chịu về những gì ông đã học ở Hà Lan. Đó chỉ là khá hơn nghề thợ mộc một chút, áp dụng vào việc ghép nối các mảnh gỗ để tạo nên một con tàu. Pyotr Đại đế muốn học chuyên sâu hơn đến những bí mật trong khoa thiết kế; trên thực tế, ông muốn đi vào ngành kiến trúc hải quân. Ông muốn có những bản vẽ được soạn thảo một cách khoa học, có toán học kiểm soát, không phải là công việc thủ công tinh vi với búa và rìu. Ông cần một phương pháp thiết kế nào đó mà người chưa từng đóng tàu bao giờ có thể được chỉ dẫn, thông hiểu và nhân rộng một cách dễ dàng. Ông quyết định đi Anh để học thêm về ngành đóng tàu.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #23  
Cũ 26-11-2007, 01:35
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Ở Vương quốc Anh

Ngày 7/1/1698, sau gần 5 tháng lưu lại Hà Lan, Pyotr Đại đế và một đoàn tùy tùng nhỏ bước lên soái hạm H.M.A. York của Phó Đô đốc Ngài David Mitchell, tư lệnh hạm đội, đi viếng thăm Vương quốc Anh. York là chiến hạm lớn nhất mà Pyotr Đại đế đã từng bước lên cho đến lúc này, và trong chuyến đi 24 giờ đến Anh, ông chú tâm quan sát những hoạt động trên con tàu. Mặc dù thời tiết xấu, Sa hoàng luôn đứng trên boong tàu suốt cuộc hải hành, liên tục hỏi han.

Ngày 23/1, Pyotr Đại đế đi đến Điện Kensington để mở đầu chuyến viếng thăm chính thức Vua William III của Vương quốc Anh. Mặc dù hai người không bao giờ trở nên thân thiết với nhau – có khoảng cách quá lớn giữa một Sa hoàng 25 tuổi hồ hởi, thô lỗ và độc đoán so với một vị vua cô đơn, mệt mỏi và u uất – nhưng William cũng chú ý đến Pyotr Đại đế. Ngoài ấn tượng đối với tính sinh động và tò mò của Pyotr, ông không khỏi cảm thấy hãnh diện vì Pyotr tỏ ra ngưỡng mộ ông, và thấy vui thêm vì Pyotr có thái độ thù địch với Louis XIV vốn là kẻ đối đầu với ông. Đối với Pyotr, tuổi tác và cung cách của William khiến cho tình thân hữu khó phát triển, nhưng Sa hoàng vẫn tiếp tục tôn trọng người anh hùng gốc Hà Lan của mình.

Tất cả nghi thức của Pyotr Đại đế ở London gói gọn vào một chuyến viếng thăm Điện Kensington. Thời giờ còn lại, Pyotr đi khắp London như ý muốn, thường là đi bộ ngay cả vào những ngày lộng gió, vẫn muốn giấu tung tích. Cũng giống như khi ở Hà Lan, ông đi thăm viếng cơ xưởng, nhà máy, liên tục hỏi han các vật vận hành như thế nào, lúc nào cũng muốn thu thập bản vẽ và tiêu chí kỹ thuật. Ông mua một đồng hồ bỏ túi và nán lại để học cách tháo ra và lắp lại những bộ phận tinh vi.

Khi không làm việc ở xưởng đóng tàu, Pyotr Đại đế đi tham quan London và các vùng phụ cận. Ông đến thăm Đài Thiên văn Greenwich và bàn luận về toán học với các chuyên viên thiên văn hoàng gia. Ông đến thăm Tháp London, lúc ấy là vừa là kho vũ khí, vừa là vườn thú, bảo tàng và Xưởng Đúc tiền Hoàng gia là nơi ông để ý nhất. Thán phục chất lượng của đồng tiền Anh và kỹ thuật tinh xảo, ông trở lại vài lần. Không may cho ông, giám đốc Xưởng Đúc tiền Hoàng gia, Isaac Newton, lúc ấy đang làm việc ở trường Trinity College, Cambridge. Pyotr Đại đế có ấn tượng với việc cải tổ hệ thống đồng tiền mà Newton góp phần. Lúc ấy, người Nga có thói quen đưa đồng tiền lên răng cắn một ít lớp bạc ở cạnh, vì thế Anh đã đúc đồng tiền có cạnh răng cưa để giúp đồng tiền được lưu hành lâu dài hơn. Hai năm sau, khi Pyotr Đại đế cải thiện các đồng tiền Nga hay bị móp méo, ông áp dụng kỹ thuật của Anh.

Trong thời gian lưu lại Anh, Pyotr Đại đế luôn tìm kiếm nhân tài để phục vụ nước Nga. Ông đã phỏng vấn nhiều người, và cuối cùng chọn được khoảng 60 người Anh đi theo ông về Nga. Trong số này, có một đốc công đóng tàu, một kỹ sư thủy lợi sau này nhận công tác xây kênh Volga-Don, và một giáo sư toán học sau này được giao nhiệm vụ mở Trường Toán học và Hải hành ở Mat-xcơ-va.

Ngày 2/3, Pyotr Đại đế càng thêm cảm kích William III khi tiếp nhận món quà của vua Anh, chiếc thuyền buồm Royal Transport (Vận chuyển Hoàng gia). Ông đi trên thuyền này ngày hôm sau, và sử dụng nó mỗi khi có thể thu xếp thời giờ. Thêm nữa, William III ra lệnh thuộc hạ cho Pyotr Đại đế được tự do xem tất cả những gì ông muốn xem về hải quân Anh. Đỉnh cao của việc này là khi Pyotr Đại đế được mời dự khán cuộc tập trận của hạm đội Anh. Pyotr Đại đế vô cùng sướng thỏa, cố quan sát và ghi chú tất cả. Đây là ngày trọng đại đối với một người trai trẻ mà chưa đầy 10 năm trước lần đầu tiên mới thấy một chiếc thuyền buồm.

William III mời Pyotr Đại đế đến dự khán một phiên họp của Nghị viện Anh. Không muốn bị mọi người nhìn, Pyotr Đại đế chọn chỗ ngồi gần một cửa sổ gần hành lang trên cùng. Việc này khiến một người khuyết danh có câu nhận xét lưu hành khắp London: “Hôm nay, tôi đã thấy một cảnh tượng hiếm hoi nhất thế giới: một quân vương ngồi trên ngai và một quân vương khác ngồi trên nóc.” Pyotr Đại đế lắng nghe cuộc tranh luận, và tuyên bố với tùy tùng rằng, tuy không chấp nhận việc nghị viện giới hạn quyền lực của quân vương, ông vẫn thấy “điều hay là được nghe thần dân phát biểu một cách trung thực và cởi mở với vua của họ. Đây là điều chúng ta nên học từ người Anh.”

Ngày 18/4, Pyotr Đại đế chào từ giã Vua William III, và ngày 2/5 ông rời nước Anh trên chiếc Royal Transport.

Pyotr Đại đế tìm thấy nhiều điều làm cho ông vui thích ở Anh: tính thực tiễn, triều đình và chính phủ làm việc có hiệu năng, những buổi thảo luận về hải quân và pháo binh, diễn tập hải quân... Vua William III đã mở mọi cánh cửa, đã cho Pyotr Đại đế đi đến bất cứ nơi nào ông muốn; đã cho dự khán diễn tập hạm đội, cho phép đoàn Nga được tiếp xúc với mọi người và ghi chú. Pyotr Đại đế cảm kích và có lòng tôn trọng cao nhất không những đối với thiết kế và kỹ thuật đóng tàu của Anh, mà đối với nước Anh nói chung.

Piotr trở về với Đại Phái bộ Sứ thần ở Hà Lan và thấy hàng đống vật liệu, vũ khí, dụng cụ chuyên ngành, trang bị hải quân... đang chờ để được mang về nước. Quan trọng hơn, phái bộ đã tuyển được 640 người Hà Lan, trong số đó có Phó Đô đốc Cornelius Cruys và một số sĩ quan hải quân (cuối cùng, Cruys thuyết phục được 200 sĩ quan hải quân đi theo ông), và thêm thủy thủ, kỹ sư, kỹ thuật viên, thợ đóng tàu, bác sĩ y khoa và chuyên viên các ngành nghề khác. Bên Nga phải thuê 10 chiếc tàu để chuyên chở tất cả về nước.

Ở Thánh chế La Mã

Ngày 15/5/1698, Đại Phái bộ Sứ thần và Pyotr Đại đế rời Amsterdam để đến Vienna, thủ đô của Thánh chế La Mã tức Đế quốc Áo. Các đại thần Áo nhất quyết cho rằng Hoàng đế của họ không thể công khai đón tiếp một Sa hoàng giấu tung tích, nhưng Lefort kiên trì giúp đạt đến thỏa thuận cho một cuộc hội kiến riêng.

Cuộc hội kiến diễn ra trong Cung điện Favorits bên ngoài thành phố. Đúng theo cách giấu tung tích, Pyotr Đại đế được dẫn qua một cửa nhỏ của khu vườn, đi lên một cầu thang xoắn. Lefort đã dặn dò kỹ lưỡng nghi thức: hai quân vương sẽ đi vào một phòng khánh tiết dài cùng một lúc qua hai cửa đối diện rồi đi chầm chậm để gặp nhau đúng ở điểm giữa phòng, gần cửa sổ thứ năm. Không may là, khi Pyotr mở cánh cửa và trông thấy Leopold, ông quên mất lời dặn, sải dài bước chân tiến đến, tiếp cận Hoàng đế ở cửa sổ thứ ba. Cả triều thần Áo há hốc miệng: nghi lễ không được tôn trọng! Nhưng khi hai quân vương cùng tiến vào một nơi riêng tư để hội đàm, triều thần đều nhẹ nhõm mà thấy rằng Sa hoàng nước Nga hết mực tỏ lòng kính trọng Hoàng để của họ. Cuộc hội kiến thật ra chỉ là trao đổi những lời chào hỏi và kéo dài 15 phút.

Trong hai tuần lưu lại Vienna, Pyotr Đại đế vẫn giữ tư thái vui vẻ và tôn trọng. Ông đến thăm Hoàng hậu, các công chúa và cố gắng tỏ ra dễ chịu. Ông ôn tồn từ chối số tiền triều đình Áo cung ứng cho chi phí của phái bộ Nga. Ông cho là số tiền này quá cao đối với “ông bạn quý” sau khi đã chịu gánh nặng chiến tranh; ông chỉ nhận một nửa. Các đại thần Áo thấy ông là con người khiêm tốn. Các đại sứ nước ngoài nói đến “tư cách tinh tế và thanh nhã” của ông.

Dù cho bao vẻ thân thiện bề ngoài, chuyến đi của Pyotr Đại đế đến Vienna thất bại về mặt ngoại giao. Phía Nga đã mong Áo tiếp tục cuộc chiến mạnh hơn chống quân Ottoman. Thay vào đó, Nga phải nỗ lực ngăn chặn Áo chấp nhận đề nghị hòa bình của Ottoman có lợi cho Áo nhưng thiệt cho Nga. Hơn nữa, cái bóng của Louis XIV vẫn bao trùm phía Tây. Áo cần thoát ra phía Đông để lo đối phó với ông này. Bên duy nhất không hài lòng với triển vọng hòa bình là Pyotr Đại đế. Ít nhất, Hoàng đế hứa rằng ông sẽ tham khảo với Sa hoàng trước khi ký vào bất cứ hòa ước nào. Đây là điều tốt nhất mà Nga có thể đạt được.

Trở về Nga

Ngày 15/7, lúc chuẩn bị lên đường đi Venice, chuyến thư từ Moskva mang đến tin tức đáng lo: bốn lữ đoàn Cấm vệ, khi được lệnh di chuyển từ Azov đến biên giới Nga–Ba Lan, đã tạo phản và đang tiến về Moskva. Lập tức, Pyotr Đại đế quyết định bãi bỏ chuyến đi Venice, trở về ngay để đối diện với bất cứ điều gì đang chờ đợi ông ở đó.

Ngày 19/7, Pyotr Đại đế rời Vienna lên đường đi ngày và đêm, chỉ dừng lại để dùng bữa và thay đổi ngựa. Ông vừa đến Cracow thì nhận được tin tức mới nhất. Shein đã trấn áp được quân phản loạn. Pyotr Đại đế cảm thấy nhẹ nhõm, và định quay đầu đi Venice như chương trình dự kiến. Nhưng ông đã về được nửa đường, ông đã vắng mặt một năm rưỡi, và ông muốn làm nhiều việc ở Moskva. Ông tiếp tục hướng về đông nhưng đi chậm lại, ghé ngang Rawa. Ở đây, lần thứ nhất, Sa hoàng gặp một nhân vật khác thường, là người sẽ can dự sâu xa vào các cỗ máy ngoại giao và quân sự của Pyotr Đại đế và của nước Nga. Đó là Augustus, Elector của Công quốc Saxony, nay cũng là Vua Ba Lan nhờ sự ủng hộ của Hoàng đế ở Vienna và của Sa hoàng. Augustus thuyết phục Nga cùng liên minh với Ba Lan để đánh Thụy Điển.

Ngày 5/9/1697, Đại Phái bộ Sứ thần về đến Moskva; kế hoạch đi Rome và Venice không thực hiện được vì cuộc nổi loạn của Cấm vệ Nga.

Đánh giá kết quả

Dù cho mục đích của Pyotr Đại đế xem chừng hạn hẹp, tác động của chuyến đi là vô cùng rộng lớn. Pyotr Đại đế trở về Nga với quyết tâm cải tổ đất nước theo đường hướng của Tây Âu. Nước Nga cũ, bị cô lập và khép kín, sẽ vươn ra Tây Âu và tự cởi mở với Tây Âu. Ảnh hưởng đi theo vòng tròn: Tây Âu ảnh hưởng đến cá nhân Pyotr Đại đế, cá nhân ông ảnh hưởng mạnh mẽ đến nước Nga, và nước Nga một khi đã hiện đại hóa sẽ có tầm ảnh hưởng mới và mạnh hơn đến Tây Âu. Vì thế, đối với cả ba – Pyotr Đại đế, nước Nga và Tây Âu – Đại Phái bộ Sứ thần là một điểm ngoặt.

Theo ý đồ củng cố khối liên minh để chống Ottoman, phái bộ đã thất bại. Ở mọi nơi đi qua, Pyotr Đại đế đều cảm nhận cái bóng ảnh hưởng của Louis XIV bao trùm. Chính vị Hoàng đế Pháp này, chứ không phải Hoàng đế Ottoman, đã khiến cả Châu Âu phải kiêng dè. Nước Nga bị bỏ mặc để một mình tự quyết định đánh hoặc đàm với Ottoman, vì thế không có chọn lựa nào khác hơn là phải hòa hoãn với Ottoman.

Tuy nhiên, theo mục đích thực dụng, Đại Phái bộ Sứ thần thành công đáng kể. Họ đã tuyển mộ trên 800 người Tây Âu có năng lực để phục vụ nước Nga. Nhiều người ở lại Nga lâu dài, đóng góp phần quan trọng vào công cuộc hiện đại hóa nước Nga và để lại tên tuổi của họ vĩnh viễn ghi vào lịch sử của triều đại Pyotr Đại đế.

Quan trọng hơn là ấn tượng sâu sắc và lâu dài mà Tây Âu đã gây cho chính Pyotr Đại đế. Tính hiếu kỳ đã lôi cuốn ông vào nhiều lĩnh vực mới. Ông đã học hỏi từ mọi điều mắt thấy tai nghe qua đó tái xác nhận điều ông đã nhận ra trước đây: về mặt công nghệ nước Nga đi sau Tây Âu cả hàng mấy thập kỷ, có lẽ hàng thế kỷ.

Tự hỏi làm thế nào tình trạng này xảy ra và có thể làm gì để chấn chỉnh, Pyotr Đại đế đã đi đến kết luận rằng những thành tựu về công nghệ ở Tây Âu là do sự giải phóng đầu óc của con người. Ông nắm bắt được rằng thời kỳ Phục hưng và Phong trào Cải cách, không hề ảnh hưởng đến Nga, đã phá vỡ những trói buộc của giáo hội có từ thời trung cổ và tạo nên môi trường trong đó tranh luận độc lập về triết lý và khoa học được nẩy nở và những cơ sở thương mại đa dạng được triển khai. Ông hiểu rằng những trói buộc như thế vẫn còn hiện hữu trong giáo hội Chính thống ở Nga, được củng cố bằng lối sống và truyền thống dân quê đã tồn tại hàng mấy thế kỷ. Pyotr Đại đế dứt khoát quyết định phải phá vỡ những trói buộc ấy khi ông về nước.

Chỉ có điều là Pyotr Đại đế đã không nắm bắt được – hoặc có lẽ ông không muốn nắm bắt – những hệ lụy về mặt chính trị của khía nhìn mới này về con người. Ông đi phương Tây không phải để học “thuật trị quốc.” Dù cho ở các xã hội Tin lành Tây Âu, ông trông thấy nhan nhản những quyền con người về công dân và chính trị được thể hiện trong các hiến pháp, đạo luật nhân quyền và nghị viện, ông không muốn trở về nhằm san sẻ quyền hành với thần dân của ông. Trái lại, ông trở về không những chỉ với quyết tâm thay đổi đất nước ông, mà còn với niềm tin rằng nếu nước Nga cần được cải tổ, chính ông sẽ là người vừa hướng dẫn vừa thúc đẩy thay đổi. Ông sẽ cố gắng đi đầu; nhưng nếu giáo dục và thuyết phục không đủ mạnh, ông sẽ ra tay lèo lái – và nếu cần sẽ dùng roi vọt – cho đất nước bị tụt hậu tiến lên.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #24  
Cũ 26-11-2007, 01:35
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Fyodor Matveyevich Apraksin

Fyodor Matveyevich Apraksin (tiếng Nga: Фёдор Матвеевич Апраксин), dưới triều Pyotr Đại đế là Đại tướng, Đô đốc Hải quân người Nga đầu tiên, Tổng đốc Azov, Hiệp sĩ Huân chương Sankt-Andrew, Bá tước, Ủy viên Hội đồng Cơ mật, Thượng Nghị sĩ; và dưới triều Nữ hoàng Ekaterina I là Ủy viên Hội đồng Cơ mật Tối cao.

Cá tính

Apraksin là người chân chất, hăng hái, rất hãnh diện, không thích bị ai kể cả Sa hoàng sỉ nhục. Apraksin phục vụ Pyotr Đại đế qua nhiều cương vị, nhưng ông thích nhất là phục vụ trong hải quân – một điều hiếm thấy trong số quần thần của Pyotr. Apraksin luôn giữ mối quan hệ với Pyotr dựa trên sự pha trộn giữa tự trọng và cẩn thận. Trong triều đình, một khi đã xác định điều gì là đúng, ông vẫn tiếp tục biện luận chống lại Sa hoàng cho đến khi quân vương cất tiếng đe dọa ông mới thôi. Nhưng trên mặt biển, Apraksin không muốn nhân nhượng Pyotr, luôn làm trái lời đến mức trêu tức quân vương, tuy sau cùng ông thưa bẩm với Pyotr: “Trong khi với tư cách Đô đốc mà biện luận với Hoàng thượng về sự hiểu biết của một tư lệnh hạm đội, tôi sẽ không nhân nhượng; nhưng nếu Ngài lấy tư cách Sa hoàng để sai khiến thì tôi sẽ biết nhiệm vụ của mình.”

Có lúc Sa hoàng hạ lệnh đưa một nhóm tu sĩ trẻ ở Moskva vào Học viện Hải quân ở Sankt-Peterburg, rồi bắt họ đi đóng cọc trong công cuộc đào Kênh Moika. Apraksin cảm thấy bất mãn vì danh dự của giới quý tộc bị xúc phạm, đi đến Moika, cởi ra bộ quân phục đô đốc cùng với Huân chương St Andrew treo lên một cái cột, rồi làm việc đóng cọc cùng với nhóm trai trẻ. Pyotr Đại đế đi đến và ngạc nhiên hỏi: “Làm thế nào mà một đại tướng-đô đốc như ông lại đi đóng cọc?” Apraksin trả lời: “Thưa Hoàng thượng, những lao công này là cháu họ, cháu nội ngoại của tôi. Thế thì tôi là ai và tôi có quyền gì mà được hưởng đặc ân?”

Chiến công

Khi vua Thụy Điển Karl XII dẫn quân bắt đầu tiến công vào đất Nga trong Đại chiến Bắc Âu, Apraksin chỉ huy 24.500 quân trấn giữ Thành phố Sankt-Peterburg. Tướng Lybecker của Thụy Điển mang quân vượt qua Sông Neva phía thượng nguồn của Sankt-Peterburg định uy hiếp thành phố này. Tuy nhiên, ở đây ông này nhận được tin sai lạc do Apraksin gài vào rằng Sankt-Peterburg được bố phòng quá chắc chắn, nên thay vì tấn công thành phố, ông dẫn quân đi một đường vòng về phía nam và tây qua vùng đồng ruộng của Ingria. Nga áp dụng chiến thuật tiêu thổ kháng chiến, khiến cho chẳng bao lâu quân Thụy Điển cạn lương thực, và họ phải giết ngựa để ăn thịt. Không có đại pháo, Lybecker không thể công hãm các thành phố, và sau khi lang thang khắp tỉnh Ingria mà không làm được việc gì, cuối cùng ông dẫn quân đến bờ biển gần Narva, nơi có một đội thuyền Thụy Điển có thể tiếp nhận người nhưng không đủ sức chở ngựa. Sáu ngàn con ngựa bị giết hoặc bị cắt gân chân để không cho quân Nga sử dụng, và đoàn thuyền Thụy Điển về đến Vyborg ở Phần Lan. Lực lượng của Lybecker đã đi một vòng quanh thành phố Sankt-Peterburg mà không đạt được gì, còn bị mất 3.000 quân. Đó là nhờ công của Apraksin.

Mùa xuân 1710, sau chiến thắng vang dội của Nga ở trận Poltava. Apraksin được phái dẫn 18.000 quân công phá Vyborg. Thị trấn này là một pháo đài quan trọng và là điểm tập kết cho quân Thụy Điển để đe dọa Sankt-Peterburg. Ngày 13/6/1710, thị trấn Vyborg với 154 sĩ quan và 3.726 quân trú phòng Thụy Điển rơi vào tay Apraksin.

Mùa xuân 1713, Apraksin được cử làm Tư lệnh chiến dịch ở Biển Baltic, dẫn đến chiến thắng quan trọng đầu tiên của hải quân Nga trong trận hải chiến Hangö.

Với đội thuyền ga-lê đổ bộ binh sĩ từ điểm này sang điểm khác, quân Nga tuần tự tiến công dọc bờ biển Phần Lan hướng về phía tây. Mỗi khi Tướng Thụy Điển Lybecker dàn lực lượng của ông ở một vị trí phòng thủ cẩn mật nào đó, thuyền ga-lê Nga chi việc đi vòng qua ông, chèo vào một bến cảng ở nơi khác rồi đổ lên đội quân còn sung sức vì không phải đi bộ, cùng với pháo và hàng hậu cần. Lybecker không thể làm gì khác hơn là phải rút lui.

Đầu tháng 5, hàng chục tàu Nga chở đầy binh sĩ xuất hiện ngoài khơi Helsingfors (hiện nay là Helsinki, thủ đô của Phần Lan). Đối mặt với hàng ngàn quân Nga thình lình tiến vào từ ngoài biển, quân trú phòng chỉ có thể đốt rụi hàng hậu cần của họ mà rút lui. Đến mùa hè 1713, quân Nga đã chinh phục toàn miền nam Phần Lan.

Nhưng trên mặt biển, Thụy Điển vẫn giữ ưu thế: chiến hạm của họ có thể trụ lại và sẵn sàng sử dụng đại pháo bắn tan tác thuyền ga-lê của Nga. Thuyền ga-lê chỉ có cơ hội nếu dụ chiến hạm Thụy Điển vào gần bờ rồi xông ra đánh khi lặng gió. Đây là trường hợp mà Pyotr lợi dụng trong trận hải chiến Hangö vào tháng 8/1714.

Khi chuẩn bị cho chiến dịch hải quân năm 1714, Pyotr Đại đế đã gia tăng gần gấp đôi hạm đội Baltic. Tháng Năm, 20 chiến hạm và gần 200 thuyền ga-lê đã sẵn sàng. Ngày 22/6/1714, 100 thuyền ga-lê dưới quyền chỉ huy của người Venice và Hy Lạp có kinh nghiệm ở Biển Địa trung hải, chèo đi Phần Lan với Apraksin làm tư lệnh và Pyotr làm tư lệnh phó. Trong nhiều tuần, hạm đội Nga không dám tiến quá Mũi Hangö kẻo chạm trán với hạm đội Thụy Điển gồm 16 chiến hạm, 5 tàu khu trục và một số thuyền nhỏ hơn dưới quyền Đô đốc Wattrang, lãnh nhiệm vụ ngăn chặn sự xâm nhập đến Đảo Aland và bờ biển Thụy Điển.

Trong nhiều tuần, hai bên đều ở vào thế bế tắc. Wattrang không muốn giao chiến gần bờ, và thuyền ga-lê của Nga không muốn hứng chịu đạn pháo của Wattrang ngoài khơi, nên neo lại cách Hangö 10 kí-lô-mét về hướng đông. Cuối cùng, ngày 4/8, chiến hạm của Wattrang tiến đến, và khi thấy đông đảo thuyền Nga, trở ra biển khơi. Thuyền ga-lê của Nga vội đuổi theo, hy vọng bắt kịp vài chiến hạm địch khi gió ngưng thổi. Nhưng phần lớn chiến hạm Thụy Điển chạy thoát được.

Sáng hôm sau, điều mà phía Nga chờ đợi cuối cùng đã đến: gió ngừng thổi, biển lặng, và trên mặt nước phẳng lì như gương là một phân đội chiến hạm Thụy Điển dưới quyền của Đô đốc Ehrenskjold. Lúc bình minh, 20 thuyền ga-lê Nga vội rời vùng biển cạn dọc bờ, tiến đến đội chiến hạm Thụy Điển đang bất động. Tối hôm ấy, lực lượng của Apraksin gồm trên 60 thuyền ga-lê luồn vào giữa hạm đội Thụy Điển và bờ biển rồi tiến ra khơi giữa hai phân đội của Wattrang và Ehrenskjold. Để ẩn náu, Ehrenskjold rút phân đội của ông vào một vịnh hẹp, các chiến hạm nối đuôi nhau dàn thành hàng ngang từ bờ này sang bờ kia. Ngày hôm sau, với chiến hạm Thụy Điển bị cô lập, Apraksin sẵn sàng tấn công. Đầu tiên, ông phái người lên soái hạm của Thụy Điển để ra điều kiện cho Ehrenskjold đầu hàng trong danh dự. Ehrenskjold từ chối, và cuộc chiến bắt đầu.

Đấy là cuộc chiến kỳ lạ giữa loại tàu chiến cổ xưa và loại hiện đại. Thụy Điển vượt trội về hỏa lực đại pháo và kinh nghiệm chiến trường của thủy thủ đoàn, nhưng Nga chiếm ưu thế về số lượng tàu và quân số. Thuyền ga-lê có tính cơ động hơn, trên boong đầy lính bộ binh, đổ xô đến, lúc đầu hứng chịu tổn thất vì đạn pháo, áp sát rồi đổ quân qua chiến hạm Thụy Điển. Thật ra, Apraksin chỉ huy giống như tướng lục quân hơn là đô đốc hải quân. Hai giờ chiều 6/8/1714, ông phát động đợt đầu tiên gồm 35 thuyền ga-lê. Bên Thụy Điển chờ cho họ đến gần rồi khai hỏa đạn pháo khiến cho thuyền Nga phải lui về. Đợt tấn công thứ hai gồm 85 thuyền ga-lê cũng bị đẩy lui. Rồi Apraksin ra lệnh toàn hạm đội 95 thuyền Nga đánh tổng lực vào bên trái của hàng các chiến hạm nối đuôi nhau của Thụy Điển; quân Nga tràn lên, một chiến hạm Thụy Điển bị lật vì lượng người quá lớn trên boong. Khi hàng chiến hạm Thụy Điển đã bị một lổ hỗng, thuyền Nga chèo qua rồi rẽ qua tấn công hai bên, lần lượt đánh hạ từ chiến hạm này qua chiến hạm khác. Cuộc chiến kéo dài ba giờ đồng hồ với tổn thất nặng cho mỗi bên. Cuối cùng, hạm đội Thụy Điển bị khuất phục, 361 người tử trận và trên 900 bị bắt làm tù binh. Ehrenskjold cũng bị bắt, cùng với soái hạm của ông và 9 thuyền nhỏ khác.

Hangö là trận thắng đầu tiên của hải quân Nga, và Pyotr luôn xem đấy là sự kiện đã minh chứng cho những năm gian khổ gây dựng nên hạm đội, và là chiến thắng có tầm quan trọng ngang với Trận Poltava.

Năm 1719, Nga mở chiến dịch tấn công chính quốc Thụy Điển để thúc ép đàm phán chấm dứt chiến tranh. Chiến thuật cũng giống như khi đánh Phần Lan lúc trước: sử dụng thuyền ga-lê chở bộ binh đến vùng biển cạn, nơi mà chiến hạm không thể đến được. Apraksin là tư lệnh của hạm đội Nga gồm 180 thuyền ga-lê và 300 thuyền đáy bằng, được 28 chiến hạm hộ tống.

Mùa hè năm ấy, hạm đội Nga đạt thắng lợi. Ngày 4/6, 7 chiến hạm của Nga chận đánh 3 tàu nhỏ hơn của Thụy Điển và bắt giữ cả 3 tàu này. Dù có sự hiện diện của hạm đội Anh gồm 16 chiến hạm, Pyotr dẫn một số chiến hạm lớn nhất của Nga hợp cùng hạm đội của Apraksin với 30.000 quân đánh phá vùng bờ biển phía đông của Thụy Điển trong 5 tuần. Apraksin phái một lực lượng Cossack tiến đánh Stockholm, nhưng họ bị chặn lại. Một lực lượng hải quân Thụy Điển gồm 4 chiến hạm và 9 tàu khu trục trú đóng trong cảng Stockholm khiến thuyền ga-lê của Nga không thể tiến vào. Apraksin chia lực lượng tàu Nga thành từng nhóm nhỏ đánh phá dọc bờ biển phía Nam, đốt phá thị trấn, nhà máy và xưởng lọc sắt, và bắt giữ một số tàu của Thụy Điển chở quặng sắt rồi mang số tàu này về Nga. Trong một xưởng đúc đại bác, quân Nga tịch thu được 300 khẩu pháo chưa kịp gửi đi cho quân đội Thụy Điển. Thêm một cuộc tấn công của Nga vào Stockholm, nhưng lại bị đánh bật ra.

Cùng lúc, một lực lượng khác của Nga đánh phá và gây tổn thất tương tự cho vùng bờ biển của Thụy Điển phía Bắc, phá hủy nhà máy, kho tàng, và đốt phá 3 thị trấn. Quân Nga tịch thu và mang về một lượng lớn quặng sắt và nông sản, và ném xuống biển hoặc đốt phần không thể mang theo.

Mùa hè 1720, trong khi hạm đội Anh được phái đến với danh nghĩa dàn xếp hòa bình đang biểu dương lực lượng ngoài khơi, thuyền ga-lê của Apraksin đi vòng và một lần nữa tiến đánh bờ biển Thụy Điển. Một lực lượng gồm 8.000 quân kể cả Cossack đổ bộ và xâm nhập vào đất liền đến 45 kí-lô-mét mà không gặp sức kháng cự nào, thỏa sức đốt phá thị trấn và làng mạc Thụy Điển. Một phân đội gồm 2 chiến hạm và 4 tàu khu trục của Thụy Điển cố đuổi kịp 61 thuyền ga-lê của Nga, nhưng cuối cùng cả 4 tàu khu trục đều vướng đá ngầm và bị bắt.

Đầu năm 1715, có thư nặc danh tố cáo một số cận thần của Pyotr Đại đế kể cả Apraksin liên can đến tham nhũng, và một cuộc điều tra rộng lớn được thực hiện. Apraksin không bị trừng phạt do công trạng trong quá khứ và cũng vì lý lẽ biện hộ là ông thường đi chinh chiến xa nên không biết gì về những việc làm của thuộc hạ.

Đến năm 1719, Apraksin cùng với Aleksandr Danilovich Menshikov bị kết tội biển thủ, bị xử tịch thu mọi đất phong và tước vị, nhận lệnh phải trả lại thanh gươm và bị quản thúc tại gia để chờ Pyotr phê duyệt bản án. Pyotr thoạt đầu ký duyệt, rồi ngày sau trong sự ngạc nhiên của nhiều người, hủy bỏ bản án vì xét công trạng trong quá khứ. Cả hai được phục hồi mọi tước vị và tài sản, chỉ phải trả tiền phạt nặng. Sa hoàng không thể cai trị mà thiếu hai người.

Đưa Ekaterina lên ngôi

Ngày 23 tháng 1 năm 1725, khi bệnh tình trở nặng và Pyotr Đại đế nhận Phép thánh Cuối cùng, Apraksin là một trong số 3 cận thần được tin tưởng nhất được triệu đến giường bệnh để nhận những lời dặn dò cuối cùng của Pyotr.

Trong khi Pyotr Đại đế đang hấp hối, các cận thần của ông chuẩn bị chọn người lên kế vị. Nhóm cận thần gốc gác là dân thường đi lên cảm thấy sẽ bị mất mát nhiều nếu giới quý tộc cũ nắm quyền trở lại, nên họ cùng nhau quyết định ủng hộ Ekaterina. Biết rõ rằng các lữ đoàn Cảnh vệ sẽ có tiếng nói cuối cùng, họ đã điều các lữ đoàn này vào đóng quanh hoàng cung. Nơi đây, Cảnh vệ được nhắc nhở rằng Ekaterina đã đi theo họ và người chồng trong các chiến dịch quân sự. Mọi khoản tiền lương còn thiếu Cảnh vệ được thanh toán nhanh chóng trên danh nghĩa Nữ Hoàng đế. Các lữ đoàn Cảnh vệ đều trung thành với Pyotr Đại đế, và Ekaterina được họ yêu mến, vì thế với những lời dẫn dụ và cách đãi ngộ họ sẵn lòng ủng hộ.

Ngay cả với những bước thận trọng như thế, việc lên ngôi của Ekaterina vốn trước đó là một cô gái quê gốc Litva, người tình và cuối cùng người vợ thứ hai của Pyotr, không phải là chắc chắn. Một ứng viên khác là Đại Công tước Pyotr Alekseevich, con trai của Hoàng thái tử Aleksei. Theo truyền thống của Nga, với tư cách là cháu nội của quân vương tạ thế, anh này có quyền trực tiếp thừa kế ngai vàng, và đa số trong giới quý tộc, tăng lữ cùng dân thường đều xem anh là người kế vị hợp pháp.

Cuộc chạm trán xảy ra vào đêm 27 ngày 1 năm 1725, chỉ vài giờ trước khi Pyotr Đại đế qua đời, khi Thượng viện và những nhà lãnh đạo cấp cao của đất nước nhóm họp để quyết định việc kế vị. Trong khi họ đang thảo luận, một số sĩ quan của hai Lữ đoàn Cảnh vệ Preobrazhenskoe và Semyonovsky, trước đó đã lẻn vào phòng họp, lên tiếng ủng hộ Ekaterina. Cùng lúc, một hồi trống nổi lên phía dưới khiến các chính khách bước ra cửa sổ để nhìn xuống. Họ thấy các đội ngũ của Cảnh vệ đang dàn chung quanh hoàng cung. Hoàng thân Buturlin, chỉ huy doanh trại Sankt-Peterburg và là một thành viên của phe quý tộc, trở nên giận dữ và hỏi tại sao quân sĩ tụ tập ở đây mà không có lệnh của ông.

Vị tư lệnh Cảnh vệ cứng cỏi đáp: “Thưa Ngài, chúng tôi làm theo mệnh lệnh của phu nhân quân vương, nữ hoàng Ekaterina, mà Ngài, tôi và tất cả thần dân trung thành đều phải tuân lệnh lập tức và vô điều kiện.” Các binh sĩ, nhiều người đẫm nước mắt, hô lên: “Cha chúng ta đã chết, nhưng mẹ chúng ta vẫn còn sống.” Trong hoàn cảnh như thế, Apraksin cất lời đề nghị tôn Ekaterina là Quân vương chuyên chế với mọi quyền hạn như vị Hoàng đế phu quân. Lời đề nghị được chấp thuận nhanh chóng.

Sáng ngày sau, Ekaterina bước vào. Bà vừa cất tiếng nức nở rằng mình bây giờ là “quả phụ và kẻ mồ côi”, thì Apraksin quỳ xuống trước mặt bà và tuyên cáo quyết định của Thượng viện. Mọi người trong gian phòng đều tung hô, và binh sĩ Cảnh vệ bên ngoài phụ họa theo. Một bản tuyên cáo ngày hôm đó thông báo cho đế quốc Nga và cả thế giới biết rằng vị quân vương mới là một phụ nữ, Nữ hoàng Ekaterina I .

Một năm sau khi Pyotr Đại đế qua đời, Hội đồng Cơ mật Tối cao được thành lập gồm sáu thành viên (trong đó có Apraksin), có quyền lực gần như là quân vương, kể cả quyền ban hành nghị định.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #25  
Cũ 26-11-2007, 01:35
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Boris Petrovich Sheremetev

Bá tước Boris Petrovich Sheremetev (tiếng Nga: Борис Петрович Шереме́тев hoặc Шере́метьев, 1652–1719), là một Nguyên soái của Nga, cũng có tước hiệu boyar. Ông là một trong những nhà chỉ huy quân sự tận tụy và đắc lực nhất cho Pyotr Đại đế. Ông lớn hơn Pyotr Đại đế hai mươi tuổi, là hậu duệ của một trong những dòng họ lâu đời nhất, nhưng từ thời trai trẻ Sheremetev đã là người chống lại cung cách Nga xưa cũ.

Sheremetev là một trong những người đầu tiên được trao tặng Huân chương St Andrew, huân chương cao quý nhất của vương triều Nga do Pyotr Đại đế thiết lập, qua đó người được thưởng huân chương cũng được phong làm Hiệp sĩ của Nga.


Công trạng ban đầu


Trong cuộc phản loạn của Cấm vệ năm 1682, có lẽ nhờ tư cách cá nhân Sheremetev được cử tiếp xúc và đán phán với Cấm vệ, tuy cuối cùng đổ máu vẫn xảy ra.

Trong chiến dịch đánh Azov lần thứ nhất năm 1689 dưới chế độ Phụ chính của Công chúa Sophia Alekseyevna, Sheremetev chỉ huy một cánh quân bị quân Tatar tấn công, và chịu cùng thất bại của chiến dịch này. Nhưng ông vẫn được cử giữ chức vụ Tư lệnh Quân khu miền Nam để ngăn chặn sự xâm nhập và cướp phá của quân Tatar từ Hãn quốc Crimea. Sau khi Sophia bị lật đổ, Pyotr vẫn trọng dụng ông, và cho ông tiếp tục giữ chức vụ đó.

Trong chiến dịch đánh Azov năm 1695 dưới triều Pyotr Đại đế, Sheremetev chỉ huy một cánh quân gồm 120.000 binh sĩ, phần lớn là nông dân được động viên theo cách truyền thống mỗi mùa hè. Mục đích của cánh quân này là để ngăn chặn kỵ binh Tatar tấn công cánh quân của Pyotr Đại đế trước mặt Azov, và cắt đứt sự liên lạc giữa Crimea và các tỉnh của Đế chế Ottoman về phía tây, do đó sẽ ngăn chặn kỵ binh Tatar bắt tay với quân Ottoman ở vùng Balkans. Chiến dịch Azov này thất bại, nhưng cánh quân của Sheremetev, hoàn toàn do sĩ quan Nga chỉ huy, đã thành công đáng kể dọc sông Dnepr. Cùng với kỵ binh Cossack của Ivan Stepanovych Mazepa, đội quân của Sheremetev đã tràn ngập hai pháo đài của quân Thổ, khiến quân Thổ trong hai pháo đài khác cũng phải rút lui. Điều này giúp Nga kiểm soát được một vùng rộng từ sông Dnepr xuống gần đến Biển Đen. Nhưng thành công của Sheremetev không thể cứu vãn thất bại của Pyotr, vì cánh quân "kiểu phương Tây" bị thiệt hại nặng nề.


Trong chiến tranh với Thụy Điển

Trong trận Narva, Sheremetev dẫn 5.000 kỵ binh phi tuần tiễu ở hướng tây để dọ thám sự xuất hiện của quân cứu viện Thụy Điển. Khi quân Thụy Điển tấn công chiến hào của quân Nga, Sheremetev không thể điều động kỵ binh dưới quyền chống trả. Những kỵ binh này phần lớn là giới quý tộc Nga và dân Cossack thiếu kỷ luật, trở nên hoảng hốt ngay cả trước khi bị tấn công. Nhìn thấy quân Thụy Điển hùng hổ xông đến, quân Nga quay đầu chạy, cố tìm đường tẩu thoát.

Sau trận thua nhục nhà nãy của Nga, Pyotr Đại đế cố vực dậy tinh thần của quân Nga. Ông viết cho Sheremetev: "Chúng ta không nên mất tinh thần vì phận rủi của chúng ta. Ta ra lệnh phải tiếp tục những gì chúng ta đang làm. Chúng ta không thiếu người; các con sông và đầm lầy đã đóng băng. Ta không muốn nghe lý do bào chữa nào."

Sau trận Narva, Pyotr Đại đế phong Sheremetev làm Tổng Tư lệnh mới của Quân đội Nga được tập trung lại và tái trang bị. Trong hai năm, 1695 và 1696, khi Pyotr dẫn quân tấn công Azov, Sheremetev thực hiện chiến dịch khuấy rối nghi binh ở hướng tây, chiếm được các pháo đài của Tatar ở hạ lưu sông Dnepr.

Sheremetev dẫn quân đến đánh xứ Livonia, được 7.000 quân Thụy Điển bảo vệ dưới quyền chỉ huy của Wolmar Anton von Schlippenbach, và vào tháng 1 năm 1702, giành được một chiến thắng quan trọng. Quân Thụy Điển đã rút vào khu trú đông khi Sheremetev xuất hiện với 8.000 bộ binh và kỵ binh trong trang phục mùa đông được 15 khẩu pháo yểm trợ. Trong trận chiến kéo dài 4 giờ, bên Nga không những đã đuổi quân Thụy Điển ra khỏi doanh trại mùa đông, mà còn gây 1.000 thương vong theo như Thụy Điển nhìn nhận (phía Nga tuyên bố gây thương vong 3.000 và nhìn nhận bị thiệt hại 1.000).

Quan trọng hơn theo ý nghĩa tượng trưng, quân Nga bắt được 350 tù binh Thụy Điển và giải họ về Moskva. Khi nhận được tin, Pyotr Đại đế vô cùng sướng thỏa, thốt lên: "Cảm ơn Thượng đế! Cuối cùng chúng ta đã có thể thắng Thụy Điển." Ông thăng Sheremetev lên nguyên soái (người thứ nhất được phong nguyên hàm này trong quân đội Nga). Ở Moskva, chuông nhà thờ đổ dồn, đại bác bắn chào mừng. Pyotr tổ chức yến tiệc lớn trên Quảng trường Đỏ và ra lệnh bắn pháo bông. Khi tù binh Thụy Điển đến, Pyotr tổ chức đoàn diễu hành để dẫn họ đi vào thành phố. Tinh thần của người Nga, đã xuống thấp từ trận Narva, bây giờ bắt đầu lên.

Mùa hè kế tiếp, tháng 7 năm 1702, Sheremetev lại tấn công Schlippenbach ở Livonia, và lần này đội quân 5.000 người của Thụy Điển bị đánh gần như tan tành: 2.500 thương vong, 300 bị bắt cùng với pháo và cờ xí. Bên Nga bị mất 800 người.

Sau trận này, quân cơ động của Schlippenbach không còn xuất hiện, và cả vùng Livonia xem như bỏ ngỏ ngoại trừ các căn cứ cố định Riga, Pärnu và Dorpat. Quân dưới quyền của Sheremetev tự do tung hoành khắp nơi, đốt phá làng mạc và thị trấn, bắt đi hàng ngàn dân thường.

Mùa thu năm 1702, Pyotr Đại đế ra lệnh cho Sheremetev và Fyodor Matveyevich Apraksin hội quân với ông và quân Cảnh vệ nhằm kiểm soát toàn diện hồ Ladoga bằng cách chiếm lấy pháo đài Thụy Điển ở Nöteborg, nơi hồ Ladoga chảy vào sông Neva.

Nöteborg là một pháo đài kiên cố, khởi đầu được xây vào thế kỷ 14. Bằng cách khống chế cửa sông, nó kiểm soát mọi con đường thương mại từ Biển Baltic đi lên hồ Ladoga và qua hệ thống sông ngòi để vào trong đất liền. Bên nào kiểm soát Nöteborg sẽ kiểm soát con đường thương mại kéo dài đến phương Đông. Khi bị Thụy Điển chiếm vào năm 1611, nó là rào chắn giữa đất Nga và Biển Baltic. Bây giờ, bức tường thành dầy và sáu tháp công sự của nó được trang bị với 142 khẩu đại bác. Đội quân trấn giữ chỉ có 450 người, nhưng dòng nước chảy xiết khiến cho tàu thuyền khó tiếp cận ngay cả khi không có đạn pháo rơi lên đầu.

Cuối cùng, quân Nga chiếm được Nöteborg. Pyotr Đại đế vô cùng vui sướng với việc đội quân mới và những khẩu pháo mới làm từ chuông nhà thờ Nga chiếm pháo đài quan trọng đầu tiên từ tay Thụy Điển. Ông đón nhận chiếc chìa khóa từ tay vị chỉ huy Thụy Điển đầu hàng rồi gắn nó lên lô cốt phía tây của pháo đài, và đổi tên của pháo đài thành Schlüsselburg, từ schlüssel trong tiếng Đức có nghĩa là "chìa khóa", cũng có ý nghĩa pháo đài là chìa khóa mở ra Biển Baltic. Sự thất thủ của Nöteborg/Schlüsselburg là thất bại nặng nề cho Thụy Điển vì họ đã mất đi bức tường chắn Nga tiến ra Neva và cả tỉnh Ingria.

Mùa xuân năm sau, 1703, Pyotr dứt khoát "không để mất thời giờ mà Thượng đế đã ban," tấn công trực diện để tạo dựng miền đất Nga trên bờ Biển Baltic. Sheremetev dẫn một cánh quân 20.000 người từ Schlüsselburg xuyên qua khu rừng dọc bờ bắc của con sông Neva để tiến ra biển. Sau chiến thắng của quân Nga ở đây, Pyotr đạt được mục đích – ít nhất là tạm thời – theo đó ông đã tuyên chiến. Ông đã chiếm được trọn chiều dài của sông Neva và lấy lại đường thông ra Biển Baltic. Tỉnh Ingria đã về lại tay người Nga. Trong cuộc diễu hành chiến thắng đi vào Moskva, có một biểu ngữ vẽ bản đồ của Ingria với câu chú thích: "Chúng ta không lấy đất của người khác, mà nhận thừa kế từ tổ tiên ta." Pyotr Đại đế quyết định xây dựng lên thành phố Sankt-Peterburg ở cửa sông Neva.

Ngày 13 tháng 7 năm 1704, Sheremetev chỉ huy 23.000 quân chiếm được Dorpat. Sự thất thủ Dorpat đánh dấu số phận của Narva. Pyotr vội dẫn quân của Sheremetev để tạo nên một đoàn quân gồm 45.000 binh sĩ, trở lại đánh phá và chiếm được Narva ngày 9 tháng 8.

Trong cuộc xâm lăng của Thụy Điển dưới quyền vua Karl XII, Sheremetev được chính thức ghi công cho chiến thắng ở trận Poltava, trận đánh tạo khúc ngoặt cho sự xuống dốc của Thụy Điển và bước đi lên của nước Nga trên thế giới. Đã là nguyên soái, Sheremetev không thể nhận quân hàm nào cao hơn, nên ông nhận nhiều đất làm phần thưởng.

Đây là thời gian để gặt hái thêm chiến công. Sheremetev dẫn tất cả bộ binh và một phần kỵ binh đã đánh Karl XII theo hướng bắc đến Baltic để đánh chiếm pháo đài cảng Riga. Ngày 10 tháng 7 năm 1710, thành phố Riga rộng lớn với 4.500 quân trú phòng rơi vào tay Sheremetev sau cuộc công hãm kéo dài 8 tháng.

Trong cuộc chiến năm 1711 đánh Ottoman, Sheremetev dẫn 22 trung đoàn bộ binh từ vùng Baltic xuống Ukraina để tham gia chiến dịch. Nga bị thất bại nặng nề vì nhiều lý do. Pyotr Đại đế đã từ bỏ chiến lược thận trọng thường thấy lúc trước đã được áp dụng thành công đối với Karl XII. Thay vào đó, ông đã thủ vai trò của Karl mà hung hăng dẫn quân vào Đế chế Ottoman, dựa vào sự hỗ trợ và tiếp việc của một đồng minh không đáng tin cậy. Ông đã nghe thông tin sai lạc về sức mạnh của quân Ottoman, và đã tính toán sai lầm về tốc độ hành quân của họ.

Trấn áp nổi loạn

Khi cuộc nổi loạn ở Astrakhan bùng nổ vào mùa hè 1705, Pyotr Đại đế ra lệnh Sheremetev dẫn vài trung đoàn bộ binh và kỵ binh vượt cả 1.600 kílômét đến Astrakhan để trấn áp. Đối với bên phản loạn, Pyotr tỏ thái độ khoan hồng. Nhưng vào thời này, sự khoan hồng bị xem là nhu nhược, và cư dân Astrakhan tự chúc mừng: họ đã thách thức Sa hoàng và đã thắng. Khi Sheremetev gửi liên lạc viên đến cho biết đoàn quân của ông sẽ tiến vào thị trấn và ông sẽ không tha thứ cho những người cầm đầu, ngọn lửa nổi loạn lại bùng lên. Họ ngược đãi anh liên lạc viên và đáp trả bằng lời xúc phạm Sa hoàng và đe dọa năm sau sẽ tiến đánh Khu Ngoại ô Đức.

Nhưng đám nổi loạn đã không tự lượng sức mình, và không có ai đến gia nhập hàng ngũ của họ. Dân Cossack trả lời rằng họ không bị Sa hoàng áp bức. Astrakhan bị cô lập. Thế mà khi quân Sheremetev tiến vào vẫn bị họ tấn công. Sheremetev đánh bại họ một cách dễ dàng, kỵ binh của ông chạy giữa những hàng người nằm mọp trên đất xin tha mạng. Ông giải những kẻ cầm đầu về Moskva. Vui mừng tột độ, Pyotr tăng lương cho Sheremetev và ban cho ông một vùng đất lớn.

Vị thế trong triều đinh

Trong cuộc cải tổ hành chính của Pyotr Đại đế, Thượng viện được thành lập nhưng còn mang tính chất nô bộc. Sheremetev cùng với các cận thần thân tín khác của Pyotr – Aleksandr Danilovich Menshikov, Fyodor Matveyevich Apraksin, Gavrila Ivanovich Golovkin – đều không nằm trong Thượng viện. Các "siêu đại thần" này có thể gửi chỉ thị cho Thượng viện "qua lệnh của Hoàng thượng." Tuy nhiên, trong những cuộc cải cách hành chính bắt đầu từ đầu thập kỷ 1710, có lẽ vì vẫn mang tư cách một chiến binh chuyên nghiệp và tuổi đã khá cao (trên dưới 60), nên Sheremetev không tạo dấu ấn đáng kể trong hệ thống chính quyền.

Đánh giá

Khi chỉ huy, Sheremetev có năng lực nhưng thận trọng. Pyotr Đại đế có thể tin tưởng vị tướng tuân thủ mệnh lệnh của ông là không bao giờ gây rủi ro cho đội quân trừ khi có ưu thế vượt trội.

Có lẽ vì lớn hơn Pyotr Đại đế đến 20 tuổi, Sheremetev không gần gũi với Pyotr so với những cận thần khác "cùng trang lứa" với Pyotr. Cũng có thể nhờ tuổi tác, Sheremetev ít bị tai tiếng về chuyện ăn nhậu hoặc quậy phá, và không mấy liên quan đến những vụ việc tham nhũng của những đại thần khác trong triều đình. Pyotr Đại đế trông cậy vào ông như là con người tận tụy, chỉ cố làm xong nhiệm vụ được giao phó, nhưng không màng kề cận quân vương một cách thân tình.

Theo nghĩa đó, có thể so sánh Sheremetev đối với Pyotr Đại đế như là Triệu Vân đối với Lưu Bị: toàn tâm toàn lực, nhưng không phải trong vòng thân thiết của anh em kết nghĩa!
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #26  
Cũ 26-11-2007, 01:39
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default Ekaterina I

Ekaterina I

Ekaterina I, hay Catherine I, (tiếng Nga: Екатерина I, 15 tháng 4, 1684 - 17 tháng 5, 1727) là Nữ hoàng của Đế quốc Nga từ năm 1725 cho đến khi qua đời. Bà là vợ kế của Pyotr Đại đế và cùng trị vì với chồng như đồng-Sa hoàng từ 1724 đến 1725, khi Pyotr chết.

Dòng dõi

Gốc gác của Ekaterina I (có nhũ danh là Marta Skavronska) có nhiều bí ẩn. Cuộc đời của bà cho đến lúc gặp Sa hoàng năm 1703, khi lên 19 tuổi, chỉ là những ức đoán. Sự kiện có vẻ gần đúng nhất là bà thuộc một gia đình nông dân Latvia, có lẽ theo Thiên chúa giáo. Khi còn nhỏ, cha bà (Samuel Skavronski) qua đời vì bệnh dịch hạch, và không bao lâu sau mẹ bà cũng mất. Marta được nhận vào gia đình giáo sĩ Ernst Glück, không hẳn làm gia nhân nhưng cũng phụ giúp công việc trong nhà. Có vẻ bà không được xem là thành viên chính thức của gia đình, vì không được học hành gì cả. Khi rời khỏi gia đình này, bà vẫn chưa biết đọc và biết biết.

Thời tuổi trẻ

Khi thành thiếu nữ, bà có sắc đẹp thu hút. Có người cho rằng bà vợ ông giáo sĩ tỏ ra lo lắng người chồng hoặc các con trai sa ngã. Vì thế, Marta được khuyên bảo chấp nhận một binh sĩ Thụy Điển trong trung đoàn đang trú đông gần đó. Theo các lời kể lại khác nhau, bà hoặc là chỉ đính hôn hoặc là thật sự kết hôn với anh kia trong thời gian ngắn ngủi tám ngày trong mùa hè 1702. Sau đó, với đà tiến công nhanh chóng của quân Nga, trung đoàn Thụy Điển phải thình lình rút lui, và Marta không bao giờ gặp lại hôn phu hoặc người chồng nữa.


Mối liên hệ với Nguyên soái Sheremetev

Sau khi quân Thụy Điển rút lui, huyện Dorpat rơi vào quân của Nguyên soái Boris Petrovich Sheremetev, và ông này bắt làm tù binh toàn bộ cư dân ở đây kể cả gia đình Glück. Là con người tiến bộ, Sheremetev đối xử tử tế với giáo sĩ Glück và chấp thuận lời thỉnh cầu của Glück xin làm thông dịch viên cho Sa hoàng, nhưng giữ Marta ở lại. Vài người đoán rằng bà đã có thể trở thành tình nhân của Sheremetev, là chuyện có khả năng xảy ra, nhưng không có dấu hiệu gì cho thấy mối quan hệ như thế giữa một cô gái thất học 17 tuổi và vị Nguyên soái trung niên có văn hóa. Sau này, khi trở thành vợ của Pyotr Đại đế, bà không mang ác cảm gì với Sheremetev mà cũng không tỏ ra quý mến ông một cách đặc biệt. Tóm lại, không có chứng cớ gì ngoại trừ vài lời suy đoán, và sự thật có thể là vị Nữ hoàng tương lai chỉ là một cô hầu trong tư gia của Sheremetev chứ không là gì khác.


Mối liên hệ với Hoàng thân Menshikov

Mối quan hệ giữa Martha và người bảo trợ mới của bà, Aleksandr Danilovich Menshikov, có phần thân thiết và phức tạp hơn. Ông đã là đại thần đang lên của Sa hoàng, và khi viếng thăm Sheremetev, ông trông thấy bà, lúc này đổi sang tên mới là Ekaterina. Vào mùa thu 1703, ông dẫn bà về Moskva. Có thể là trong thời gian này, cô gái 18 tuổi đã lên giường với vị đại thần 32 tuổi. Dù đúng hay sai, mối quan hệ giữa hai người trở nên gắn bó suốt đời. Họ trở nên hai người có quyền lực nhất toàn nước Nga, chỉ sau Sa hoàng, và vì gốc gác không rõ ràng, cả hai đều hoàn toàn lệ thuộc vào Sa hoàng.

Thật ra, không có dấu hiệu cho thấy Ekaterina là người tình của Menshikov, nhưng có một ít chứng cớ ngược lại. Trong những năm này, Menshikov có quan hệ mật thiết với một nhóm phụ nữ mang tước hiệu Thị nữ Quý tộc có nhiệm vụ hầu cận phụ nữ hoàng gia. Năm 1694, sau cái chết của mẹ Pyotr, cô em sinh động của Pyotr, Natalia Alexeevna, dời đến ngụ tại Preobrazhenskoe, dẫn theo một nhóm nhỏ Thị nữ Quý tộc, trong số đó có hai chị em Darya Arseneeva và Barbara Arseneeva. Vì là bạn thân của Pyotr, Menshikov được phép gặp gỡ các Thị nữ Quý tộc này, và chẳng bao lâu ông và Darya Arseneeva nảy sinh tình cảm, thường trao đổi thư từ và quà biếu. Năm 1703, hai chị em Arseneeva đến ngụ trong tư dinh của Menshikov do hai người chị của ông quản lý thay ông. Chính ở tư dinh này mà Menshikov cũng dẫn Ekaterina về. Hầu như không có khả năng ông dây dưa với cô hầu gốc Latvia trong khi đang cố chinh phục tình cảm của Darya, một thiếu nữ ở tầng lớp cao hơn mà ông rất yêu mến. Darya sau này trở thành vợ của ông.


Người tình của Pyotr Đại đế

Khi Pyotr Đại đế gặp Ekaterina vào mùa thu 1703, bà là thành viên trong gia đình Menshikov với địa vị có thể không rõ nhưng hẳn là rõ ràng đối với Pyotr. Cô gái lên 19 phải có tư thế đủ quan trọng mới được phép đến gần và tiếp chuyện với vị Sa hoàng 31 tuổi. Pyotr Đại đế cảm thấy mến bà. Mối liên hệ giữa ông và Anna Mons đang tan rã. Trước mặt ông là một cô gái rắn chắc, mạnh khỏe, hấp dẫn trong tuổi thiếu nữ đang độ xuân sắc. Với đôi mắt đen như nhung, mái tóc đen dầy và thân thể nữ tính nẩy nở, bà đã khiến cho một nguyên soái và một hoàng thân tương lai phải chú ý, thì việc Sa hoàng cũng chú ý đến bà là điều tự nhiên.

Dù cho quá khứ là như thế nào, từ lúc đó Ekaterina trở thành người tình của Pyotr Đại đế. Mùa đông 1704, Ekaterina sinh hạ một trai, đặt tên là Pyotr (theo tên cha). Tháng 10 năm 1705, thêm một trai là Paul, và tháng 12 năm 1706 họ có một gái là Ekaterina (theo tên mẹ).
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #27  
Cũ 26-11-2007, 01:41
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default Ekaterina I (tiếp theo)

Bạn đời của Pyotr Đại đế

Tháng 11 năm 1707, Pyotr Đại đế kết hôn với Ekaterina. Hôn lễ được cử hành trong nghi thức riêng tư ở Sankt-Peterburg mà không có gì phô trương. Trong một thời gian, ngay cả khi Ekaterina đã sinh cho ông ba, rồi bốn, rồi năm đứa con, ông vẫn giữ bí mật về hôn lễ này đối với thần dân của ông, ngay cả đối với các bộ trưởng của ông và vài thành viên trong gia tộc ông.

Ekaterina cảm thấy mãn nguyện với vị thế mới và không đòi hỏi gì hơn, nhưng khi bà tiếp tục đẻ thêm con cho ông, ông vẫn lo lắng cho bà. Tháng 3 năm 1711, trước khi lên đường đi đánh Đế chế Ottoman, Sa hoàng triệu tập em gái Natalya, chị dâu Praskovaya và hai con gái của Praskovaya. Giới thiệu họ với Ekaterina, ông cho họ biết Ekaterina là vợ của ông và phải được xem là Hoàng hậu nước Nga. Ông nói ông định kết hôn với Ekaterina một cách công khai càng sớm càng tốt, nhưng nếu ông có chết trước, họ phải chấp nhận Ekaterina là quả phụ chính thức của ông.

Tháng 2 năm 1712, Pyotr Đại đế giữ lời hứa và kết hôn với Ekaterina lần nữa – lần này với hồi trống và hiệu kèn, có sự tham dự của ngoại giao đoàn, với yến tiệc huy hoàng và chương trình bắn pháo bông để ăn mừng. Trước khi cử hành hôn lễ, Ekaterina đã nhận lễ rửa tội công khai để gia nhập Giáo hội Nga, với Thái tử Alexei nhận làm người đỡ đầu. Từ đó về sau, vị Hoàng hậu chính thức được gọi là Ekaterina Alexeevna.

Người vợ mới của Pyotr Đại đế có những tố chất hay đẹp mà ông không bao giờ tìm thấy ở những phụ nữ khác. Bà có tính nồng nàn, vui vẻ, đầy tình cảm, rộng lượng, dễ thích nghi, dễ cảm thấy thoải mái, có sức khỏe tốt và nguồn sinh lực dồi dào. Trong số những người quanh Pyotr Đại đế, bà và Menshikov có thể theo gần kịp Pyotr về sức làm việc và động lực. Ekaterina có trực giác tự nhiên để nhìn ra ngay sự tâng bốc hoặc dối trá. Lời lẽ của bà, giống như Pyotr, đều giản dị, trực tiếp đi vào vấn đề và thành thực. Trong riêng tư, bà có thể thả mình vào vui đùa và đối xử với Pyotr Đại đế như là cậu thanh niên trưởng thành; nơi công cộng bà biết tế nhị mà lui vào hậu trường. Bà có đủ trí thông minh và cảm thông để thấu hiểu những gánh nặng cũng như những tâm tính của Pyotr Đại đế. Bà luôn hòa nhã, không thấy bị xúc phạm dù cho ông có u sầu hoặc dữ dằn đến đâu.

Bà làm tốt hơn những người khác khi đối phó với cơn co giật của Pyotr Đại đế. Khi những triệu chứng đầu tiên xuất hiện, người chung quanh sẽ chạy đi cấp báo với Ekaterina, và bà sẽ đi đến lập tức, giữ chặt cho ông nằm xuống, đặt đầu ông kê lên lòng mình, nhẹ nhàng vuốt tóc và hai bên trán ông cho đến khi cơn co giật dịu xuống và ông chìm vào giấc ngủ. Trong khi ông ngủ, bà ngồi yên lặng hàng giờ, ôm lấy đầu ông, nhẹ nhàng vuốt ve khi ông trở mình. Pyotr Đại đế luôn trở lại tỉnh táo khi thức dậy. Nhưng ông cần có bà ở nhiều mặt khác hơn là việc chăm sóc. Tố chất trí tuệ và tình cảm của bà giúp cho bà có thể không những xoa dịu ông, chơi đùa với ông, thương yêu ông, mà còn tham dự vào cuộc đời thầm kín của ông, trao đổi với ông về những vấn đề nghiêm túc, bàn bạc về những quan điểm và dự tính của ông, khích lệ những hy vọng và ước nguyện của ông. Không những ông được thoải mái nhờ có bà hiện diện kế bên, mà còn được vui và cảm thấy quân bình khi bà chuyện trò với ông.

Pyotr Đại đế không bao giờ chú tâm nhiều đến phụ nữ để tìm nhục dục. Ông không có thời giờ trửng giỡn với phụ nữ theo cách sống trong hậu cung. Sau khi kết hôn với Ekaterina, đôi lúc ông có nhân tình, nhưng họ không mấy đi vào tâm tư ông và không là gì đối với ông. Trong đời ông, Pyotr Đại đế chỉ quan tâm sâu sắc đến bốn phụ nữ: mẹ, em gái, Anna Mons và Ekaterina. Trong bốn người này, mẹ ông ở vị trí cao nhất, và Ekaterina được kể đến một phần do bà trở thành người mẹ thứ hai của ông. Tình yêu toàn vẹn, không sắc mắc mà bà dành cho ông tương tự như tình mẹ, luôn luôn kiên định khi cậu bé có hành vi bê bối. Vì lý do này, ông hoàn toàn tin nơi bà. Cũng giống như mẹ ông, bà có thể đến bên ông ngay cả trong thời khắc điên cuồng khó kiểm soát để làm cho ông dịu xuống. Trong vòng tay của bà, ông có thể trải qua những đêm yên bình. Dần dà, càng ngày Ekaterina càng chiếm ngự thêm trong cuộc đời và con tim của Pyotr Đại đế. Có thể đôi lúc ông không trung thành khi có phụ nữ trẻ đẹp bên mình, nhưng Ekaterina chỉ điềm tĩnh mỉm cười vì an tâm mà biết rõ ông không thể thiếu bà.

Tình bằng hữu và tình yêu – cũng như sức khỏe và sự chịu đựng của Ekaterina – được thể hiện qua 12 đứa con: 6 trai và 6 gái. Mười đứa chết non. Sử gia khổ sở khi đọc qua các tên và ngày, vì Pyotr và Ekaterina đặt cùng một tên vài lần, hy vọng rằng đứa nhỏ mới tên Pyotr hoặc Paul hoặc Natalia sẽ may mắn hơn đứa trước cùng tên. Hai người con lớn đến tuổi trưởng thành là Anna Petrovna, sinh năm 1708, sẽ trở thành Nữ Quận công xứ Holstein-Gottorp và mẹ của Sa hoàng Pyotr III; người kia là Yelizaveta, sinh năm 1709, Nữ hoàng Nga trong giai đoạn 1740-1762. Mặc dù con trẻ yểu mệnh là chuyện thường xảy ra vào thời này, vẫn không làm nhẹ thương đau của một người mẹ cứ phải chịu mang nặng rồi đẻ đau, ban đầu hy vọng rồi cuối cùng tang tóc.

Theo mọi phương diện, Ekaterina hiện thân cho sự tương phản với đời sống trong biệt cung. Nhờ có sức khỏe của một thôn nữ rắn chắc và ý thiết tha muốn kề cận người chồng, bà thường xuyên di chuyển cùng Pyotr Đại đế khắp nước Nga, đến Ba Lan, Đức, Đan Mạch và Hà Lan. Bà tháp tùng Pyotr trong hai chiến dịch chống Ottoman và Ba Tư, chịu đựng gian khổ mà không than phiền. Cưỡi ngựa suốt hai, ba ngày, ngủ trong lều hoặc trên nền đất gần tiếng ầm ì của đại bác, ngay cả khi thấy một người hầu cận trúng đạn – tất cả đều không làm bà sờn lòng.

Bà không phải là người kiểu cách hoặc tinh tế, nhưng là người đồng hành mà Pyotr Đại đế muốn giữ bên mình ngay cả khi chè chén trong đám bạn bè của ông. Ekaterina thường thân ái chiều theo ông, nhưng cũng có thể tạo ảnh hưởng để ông kềm chế mà không làm ông nổi giận. Trong một buổi chè chén như thế, Ekaterina đến gõ cửa nơi Pyotr Đại đế và đám bạn khóa kín bên trong và nói: "Đã đến lúc về nhà." Cánh cửa mở và vị Sa hoàng ngoan ngoãn theo bà ra về.

Nhưng Ekaterina không phải là kiểu cách hoặc nhiễm nam tính đến nỗi bỏ qua thú vui của phụ nữ. Bà học khiêu vũ và có thể thực hiện những bước phức tạp uyển chuyển, và sau đó cũng tập cho con gái Yelizaveta khiêu vũ. Ekaterina cũng thích trang phục và nữ trang đẹp. Bà có thể là người vợ của một chiến binh và ngủ trong lều, nhưng sau khi chiến dịch kết thúc, bà lại thích mang nữ trang, vận áo choàng lộng lẫy và sống trong cung điện.

Tình cảm giữa Pyotr Đại đế và Ekaterina ngày càng sâu đậm, và điều này được thể hiện sinh động nhất qua thư từ hai người trao đổi nhau. Lời thư của mỗi bên đều tốt lành, quan tâm và dịu dàng, pha chút giễu cợt về chuyện riêng tư giữa hai người. Qua các bức thư này, người ta có thể tin chắc rằng một người đàn ông – với thời tuổi trẻ bị nhuốm bạo lực, với cuộc sống ngoài công cộng đầy đấu tranh, và với cả gia tộc nhìn thấy thảm kịch khủng khiếp ập lên Hoàng hậu vợ của Alexei – ít nhất đã có những khoảnh khắc hạnh phúc. Qua Ekaterina, Pyotr Đại đế đã tìm thấy một hòn đảo giữa những cơn giông tố.

Chính Ekaterina là người có thể đối phó với những cơn giận dữ bất chợt của Pyotr Đại đế. Bà không sợ hãi ông, và ông biết điều đó. Một lần, khi bà cố đề cập đến một vấn đề vốn đã khiến cho ông phát cáu, ông nổi cơn thịnh nộ và đập vỡ một tấm kính đẹp, la lối: "Thế là ta có thể phá hủy món đẹp nhất trong cung điện của ta!" Ekaterina hiểu ý nghĩa của câu đe dọa, nhưng nhìn thẳng vào mặt ông và điềm tĩnh đáp: "Làm như thế ông đã giúp cho cung điện đẹp đẽ hơn hay sao?" Bà tỏ ra khôn ngoan không bao giờ chống đối ông trực diện, nhưng tìm cách cho ông nhìn ra sự việc theo khía cạnh khác.

Một dịp khác, bà lợi dụng con chó có tên Lisette mà ông yêu mến để làm dịu cơn giận của ông. Mỗi khi ông về nhà, con chó nhỏ này luôn đi theo ông, và khi ông ngủ trưa luôn nằm bên chân ông. Vào thời gian đó, Pyotr đang giận dữ với một người trong triều đình mà ông kết án tham nhũng và dọa sẽ xử tội bằng hình phạt đánh roi. Mọi người trong triều đình, kể cả Ekaterina, tin rằng người này vô tội, nhưng mọi lời can gián chỉ khiến cho ông nổi giận thêm. Cuối cùng, để được sự an bình cho mình, Pyotr ra lệnh cấm mọi người nói gì về việc này. Ekaterina không chịu thua. Bà soạn một bản trần tình ngắn dưới tên Lisette, trình bày chứng cớ mạnh mẽ cho thấy người kia là vô tội, và nhân danh sự trung thành tuyệt đối của Lisette dành cho ông, van xin ông tha thứ. Rồi bà cột bản trần tình vào vòng đeo cổ của con chó. Khi Pyotr đi họp ở Thượng viện trở về, con chó trung thành Lisette nhảy nhót chung quanh ông như thường lệ. Pyotr đọc bản trần tình, mỉm cười một cách mệt mỏi rồi nói: "Được rồi, Lisette, vì đây là lần thứ nhất mi van nài, ta chấp nhận lời cầu xin của mi."

Vào tháng 4 năm 1719, định mệnh giáng xuống Pyotr Đại đế và Ekaterina một đòn đau khổ. Cái chết của Thái tử Alexei đã tạo vấn đề trong việc truyền ngôi. Pyotr chỉ còn hai hoàng tử trong thứ tự lên ngôi: Pyotr Petrovich, con trai với Ekaterina; và Pyotr Alexeevich, đứa cháu nội, con của Alexei. Người chú Pyotr Petrovich luôn được sự chăm sóc tận lực của cha mẹ, nhưng không hề được khỏe mạnh như đứa cháu với tuổi nhỏ hơn 4 tuần.

Vào tháng 2 năm 1718, khi Alexei bị truất quyền kế vị, Pyotr Petrovich mới lên 2 tuổi. Giới quý tộc và tăng lữ Nga cất lời thề trung thành với đứa con này của Pyotr và Ekaterina. Mười bốn tháng sau, cậu Thái tử theo Alexei về bên kia thế giới lúc mới lên 3 tuổi rưỡi.

Cái chết của đứa con cưng, mà Pyotr Đại đế đã đặt mọi kỳ vọng cho tương lai của vương triều, làm cho ông cực kỳ đau khổ. Ông đập đầu mạnh vào tường cho đến nỗi lên cơn động kinh; rồi trong ba ngày ông giam mình trong một căn phòng kín mà không chịu dùng bữa, không đi ra ngoài và không nói với ai qua khung cửa. Công việc của chính phủ bị ngưng trệ, cuộc chiến với Thụy Điển bị bỏ quên, công văn và thư từ không được phúc đáp. Ekaterina cố dằn cơn đau khổ, lo lắng cho tình trạng của Pyotr Đại đế, vừa than khóc vừa xin Hoàng thân Jacob Dolgoruky giúp đỡ. Vị Thượng Nghị sĩ thứ Nhất cố an ủi Hoàng hậu đang sợ hãi, rồi triệu tập toàn thể Thượng viện đến trước của phòng của Pyotr. Ông gõ cửa, nhưng không có tiếng trả lời. Ông gõ cửa lần nữa, cất tiếng nói với Sa hoàng rằng ông đến đây với cả Thượng viện, rằng đất nước cần đến Sa hoàng, và nếu Sa hoàng không mở cửa, ông chỉ còn cách duy nhất để cứu nguy cho ngai vàng là bắt buộc phải phá cửa vào để mang quân vương ra ngoài.

Cánh cửa mở, Pyotr Đại đế nhợt nhạt và hốc hác đứng trước mặt mọi người. Ông hỏi: "Có chuyện gì thế? Tại sao các người đến quấy rầy trong lúc ta đang nghỉ ngơi?"

"Bởi vì khi Ngài rút lui và buồn khổ quá mức, cả đất nước lâm vào tình trạng bất ổn," Dolgoruky trả lời.

Pyotr Đại đế cúi đầu, trả lời: "Ông nói đúng." Rồi Sa hoàng đi với họ đến thăm Ekaterina. Ông dịu dàng ôm lấy bà và nói: "Chúng ta đã tự làm khổ mình quá lâu. Ta không nên than phiền chống lại ý muốn của Thượng đế nữa."

Một lần, khi Pyotr Đại đế đi chiến dịch phải vắng nhà một thời gian, Ekaterina chuẩn bị cho ông sự ngạc nhiên. Biết rằng ông thích xây cất dinh thự mới, bà ra lệnh bí mật xây một cung điện đồng quê, cách Sankt-Peterburg hơn 20 kílômét về hướng tây-nam. Ngôi cung điện được xây bằng đá, gồm 2 tầng, chung quanh là hoa viên và cây ăn trái, tọa lạc trên một ngọn đồi nhìn xuống khoảng bình nguyên mênh mông trải dài đến sông Neva và thành phố Sankt-Peterburg. Khi Pyotr Đại đế trở về, Ekaterina thông báo cho ông biết rằng mình vừa tìm được một vị trí nên thơ trống trải "nơi mà Hoàng thượng sẽ không lấy làm phiền hà xây một ngôi nhà thôn dã nếu muốn, nhưng xin Ngài chịu khó đi xem." Pyotr lập tức hứa sẽ đi và xây bất kỳ ngôi nhà nào theo ý bà thích "nếu vị trí đúng như mô tả của nàng." Sáng ngày kế, một đoàn đông đảo lên đường, theo sau là xe goòng chở cái lều nói là để căng ra che nắng cho bữa ăn trưa. Khi đến chân một ngọn đồi, con đường đi lên dốc, và khi đến cuối con đường hai bên trồng cây che bóng mát, thình lình Pyotr trông thấy ngôi nhà. Ông vẫn còn kinh ngạc khi đến trước thềm cửa ngôi nhà và Ekaterina nói với ông: "Đây là ngôi nhà thôn dã mà thiếp đã xây cho quân vương của thiếp." Pyotr Đại đế vui sướng cùng cực và dịu dàng ôm lấy bà vợ, nói: "Ta biết nàng muốn cho ta thấy rằng có những cảnh quan đẹp đẽ chung quanh Sankt-Peterburg dù không phải ở trên mặt nước." Ekaterina dẫn ông đi xem qua các nơi trong ngôi nhà, rồi đi đến phòng ăn rộng, nơi đã đặt sẵn một bàn tiệc thịnh soạn. Ông chúc mừng bà vợ về chất lượng kiến trúc, và Ekaterina chúc mừng chủ nhân của ngôi nhà mới. Một việc khiến cho Pyotr Đại đế thêm ngạc nhiên và thích thú là, khi họ vừa chạm cốc, 11 khẩu đại bác ẩn giấu trong khu hoa viên bắn ra một loạt đạn chào mừng. Khi màn đêm buông xuống, Pyotr nói ông không thể nhớ ra có ngày nào ông cảm thấy hạnh phúc như ngày này.

Pyotr Đại đế càng tôn trọng và yêu quý người vợ hơn khi Ekaterina tháp tùng ông trong hai chiến dịch quân sự ở Prut và Ba Tư. Bà đã mang danh hiệu hoàng hậu với tư cách là vợ của hoàng đế, nhưng bây giờ, khi ông đối diện với tương lai không có con trai, ông muốn đi xa hơn. Bước đầu, trước khi ông và Ekaterina lên đường đi chiến dịch Ba Tư, là ban hành chỉ dụ về quyền kế vị. Chỉ dụ này bãi bỏ truyền thống kế vị của con trai Sa hoàng. Kể từ nay, mỗi quân vương tại vị có toàn quyền chỉ định người kế vị. Chỉ dụ cũng đòi hỏi quan chức và thần dân tuyên thệ chấp nhận người do Hoàng đế chỉ định.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #28  
Cũ 26-11-2007, 01:42
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default Ekaterina I (tiếp theo)

Nhận tước vị Nữ hoàng nước Nga

Dù có tính cách mạng, chỉ dụ tháng 2 năm 1722 chỉ là bước đầu dẫn đến động thái gây chấn động: ngày 15 tháng 11 năm 1723 Pyotr Đại đế tuyên cáo rằng ông chính thức ban tước vị Nữ hoàng cho Ekaterina. Pyotr Đại đế đã có một quyết định nguy hiểm. Ekaterina lúc trước là một người hầu gốc Latvia bị Nga bắt. Liệu bà có thể mang vương miện mà ngự trên ngai vàng nước Nga? Dù bà không được chỉ định rõ ràng như thế, trước lễ đăng quang của bà Pyotr Đại đế đã nói với vài thượng nghị sĩ và lãnh đạo tôn giáo rằng Ekaterina được đăng quang để có quyền cai trị đất nước. Ông chờ xem có ai phản đối; ông không nghe ai nói gì.

Lễ đăng quang cho Ekaterina được tổ chức theo nghi thức lộng lẫy nhất vào ngày 7 tháng 1 năm 1724. Thượng viện, Công đồng giáo hội, tất cả quan chức và các nhà quý tộc các cấp đều nhận lệnh phải tham dự. Đám rước bên ngoài Kremlin gồm có 10.000 quân Cảnh vệ Hoàng gia và kỵ binh. Khi mọi quả chuông nhà thờ ở Moskva đồng loạt ngân vang và mọi khẩu pháo trong thành phố bắn chào mừng, Pyotr Đại đế và Ekaterina xuất hiện ở bậc trên cùng của Cầu thang Đỏ, theo sau là tất cả đại thần, thượng nghị sĩ, tướng lĩnh. Hai vợ chồng đứng ở đúng vào nơi mà, 42 năm trước, cậu bé Pyotr lên 10 và mẹ cậu đã đứng nhìn xuống đám Cấm vệ phản loạn. Rồi họ bước xuống các bậc của Cầu thang Đỏ, đi qua Công trường Đỏ và bước vào Thánh đường Thăng thiên. Hai chiếc ngai cẩn đá quý đã được đặt sẵn cho hai người.

Khi bước qua cửa chính của Thánh đường, Stephen Yavorsky, Giám hộ Tạm thời của Chính thống giáo và Tổng Giám mục Feofan Prokopovich cùng các nhà lãnh đạo tinh thần, trong trang phục giáo sĩ, đón tiếp hai người rồi đưa họ vào bên trong. Trong buổi lễ, Pyotr Đại đế đứng dậy và Yavorsky trình cho ông chiếc vương miện. Pyotr nhận lấy, quay sang cử tọa, cất cao lời tuyên bố đăng quang. Tự tay Pyotr đặt chiếc vương miện lên đầu Ekaterina. Pyotr trao cho Ekaterina quả cầu cắm thánh giá, nhưng – trong một động thái có ý nghĩa đặc biệt – tay ông vẫn cầm lấy vương trượng biểu trưng cho quyền lực tuyệt đối. Khi Pyotr đặt chiếc vương miện lên đầu Ekaterina, bà chảy nước mắt vì xúc động, quỳ trước mặt ông và định hôn bàn tay ông. Nhưng ông bước tránh ra, và khi bà định ôm lấy chân ông, ông nâng bà đứng lên.

Sau buổi lễ, Pyotr trở về cung điện nhưng Ekaterina đội vương miện một mình dẫn đầu đám rước đi từ Thánh đường Thăng thiên đến Thánh đường Archangel Michael để cầu nguyện kế nơi an nghỉ của các sa hoàng nước Nga, như theo truyền thống. Các tiệc chiêu đãi và ăn mừng tiếp diễn ở Moskva trong nhiều ngày.

Không có quy định rõ ràng về quyền hạn của Ekaterina và ý định của Pyotr Đại đế. Pyotr cho phép bà phong bá tước cho Pyotr Andreyevich Tolstoy, và tước vị này được truyền cho đến nhà văn nổi tiếng Leo Tolstoy. Nhưng quyền hạn của Ekaterina trong những vụ việc khác tương tự bị giới hạn. Không ai biết chắc Pyotr có ý định như thế nào. Có lẽ ông vẫn chưa quyết định rõ ràng ngay cả khi đang hấp hối. Nhưng có điều chắc rằng ông muốn đảm bảo địa vị quan trọng của Ekaterina – có lẽ để làm phụ chính cho một trong các con gái của ông. Pyotr thừa hiểu rằng không thể ban phát ngai vàng cho bất cứ ai như là phần thưởng của lòng trung thành và thương yêu. Người mang vương miện phải có năng lực, óc khôn ngoan và kinh nghiệm. Ekaterina có phẩm chất theo chiều hướng khác.


Mối liên hệ với Willem Mons

Sau lễ đăng quang, con đường dẫn đến quyền lực đã được mở ra trước mặt Ekaterina. Tuy vậy, chỉ vài tuần sau, Ekaterina bị đẩy đến bờ vực thẳm có nguy cơ khiến cho bà thân bại danh liệt. Trong số các thị thần của Ekaterina có Willem Mons, em trai của Anna Mons – người tình của Pyotr 25 năm trước. Anh chàng người Hà Lan hào hoa, vui vẻ, tinh khôn, đầy tham vọng và cũng là kẻ cơ hội đã chọn người chủ một cách khôn ngoan, cúc cung tận tụy rồi leo lên chức vụ thị thần và bí thư tin cậy của Ekaterina. Người chị của Mons, Matryona, cũng đạt thành công tương tự: cưới Thiếu tướng Fyodor Balk, Tổng trấn Riga, trong khi chính bà cũng là thị nữ và người thân cận nhất của Ekaterina.

Dần dà, dựa trên vai trò hỗ trợ Hoàng hậu và chăm lo cho những quyền lợi của bà, hai chị em âm mưu với nhau nhằm kiểm soát lối tiếp cận đến Ekaterina. Họ kiểm soát báo cáo và đơn thỉnh nguyện trước khi trình lên Ekaterina. Bộ trưởng chính phủ, đại sứ nước ngoài, ngay cả hoàng thân nước ngoài và thành viên của gia đình Hoàng đế tìm đến anh Willem Mons với bản thỉnh nguyện trong một tay và khoản hối lộ trong tay kia. Nạn nhân của họ gồm những nhân vật cao cấp cho đến nông dân đáng lẽ phải quay về quê quán nhưng hối lộ Mons để được ở lại Sankt-Peterburg. Ngoài tiền hối lộ, hai chị em còn nhận nhiều bất động sản, gia nô và tiền bạc trực tiếp từ Ekaterina.

Có lời đồn râm ran – mà Pyotr Đại đế không được nghe – cho rằng Mons là người tình của Ekaterina. Dù có nhiều mẩu chuyện kể, không có bằng chứng xác đáng nào được đưa ra. Tính cách của Ekaterina đi ngược lại với các lời đồn đại. Bà là người hào phóng, có lòng nhân ái, cục mịch nhưng thông minh. Bà hiểu rõ Pyotr. Ngay cả nếu bà có trở nên lạnh nhạt với Pyotr (điều này khó xảy ra vì ông vừa làm lễ đăng quang cho bà), chắc chắn bà phải hiểu rằng không thể giữ bí mật chuyện tình ái với Mons và bà biết rõ hậu quả sẽ thảm khốc như thế nào khi bị phát giác. Mons có thể mơ tưởng đến bà, nhưng bà khó mà dám phiêu lưu với Mons.

Ngay cả không có tội lỗi tày đình kia, điều lạ lùng là trong thời gian dài Pyotr Đại đế không biết gì về tội tham nhũng của Mons nhưng ai nấy ở Sankt-Peterburg đều biết. Đó là dấu hiệu sau này ông trở nên yếu đuối, phần lớn do bệnh tật. Khi Pyotr Đại đế biết được sự thật, ông lấy ngay quyết định. Không rõ chính xác ai đã nói cho Pyotr biết. Một khi đã biết được, động thái đầu tiên của Pyotr Đại đế là ra lệnh cấm mọi người xin ân xá cho các phạm nhân. Buổi tối 8 tháng 11, Pyotr trở về cung điện mà không lộ vẻ gì tức giận. Mons trở về nhà, thay y phục và đang hút ống vố trước khi đi ngủ thì bị bắt. Giấy tờ của Mons bị tịch thu, nhà của Mons bị niêm phong và riêng Mons bị dẫn đi trong xiềng xích.

Mons khai ra tất cả. Anh thú tội nhận hối lộ, bỏ nguồn thu từ bất động sản của Ekaterina vào túi riêng của mình, và người chị Matrena Balk cũng có liên can. Anh không nói gì đến mối quan hệ với Ekaterina vì không được hỏi – thêm bằng cớ cho thấy các lời đồn đại dường như là vô căn cứ. Pyotr Đại đế cũng không ra lệnh hỏi cung trong vòng bí mật. Ngược lại, ông còn ra lệnh người nào đã hối lộ cho Mons hoặc biết gì về những chuyện như thế phải khai báo.

Số phận của Mons đã bị khép lại: bất kỳ một lời cáo buộc nào cũng đủ để kết án anh ta. Ngày 14 tháng 11, anh bị kết án tử hình. Nhưng Ekaterina không chịu tin rằng anh ta sẽ bị thi hành án. Tự tin mình có uy quyền để gây ảnh hưởng lên ông chồng, bà gửi tin nhắn tới Matryona Balk rằng không nên lo lắng cho em trai, rồi đi gặp Pyotr để xin ân xá cho anh thị thần đẹp trai. Trong việc này, bà đã phán đoán sai lạc về chồng mình: ông không muốn tha mạng sống cho Willem Mons.

Ngày 16 tháng 11 năm 1724, Willem Mons và Matryona Balk bị mang ra bãi xử án. Mons tỏ ra can đảm và điềm tĩnh trước khi bị tử hình. Người chị bị đánh 11 roi, chủ ý đánh nhẹ nhàng để không gây thương tích, rồi bị đày đi Siberia.

Lẽ tự nhiên là vụ việc tạo căng thẳng giữa Pyotr Đại đế và Ekaterina. Dù cả Mons và chị anh ta không hề nhắc đến tên của Ekaterina và không ai dám tố cáo chính bà nhận hối lộ, số đông tin rằng bà biết Mons đang làm gì và đã phớt lờ. Bản thân Pyotr dường như cũng liên kết bà với Mons: trong ngày xử tội ông ra tuyên cáo cho mọi quan chức nhà nước. Được viết bằng chính tay mình, Pyotr Đại đế tuyên cáo rằng vì lý do hậu cung của Nữ hoàng xảy ra những vụ lạm dụng mà bà không biết, nay cấm mọi quan chức tuân theo mệnh lệnh hoặc đề xuất của bà trong tương lai. Cùng lúc, bà mất quyền quản lý những sự vụ tài chính của mình.

Ekaterina đón nhận những biến cố này một cách can đảm. Bà cố kềm chế mọi cảm xúc, biết rằng nếu có tỏ lộ gì sẽ gây nguy hiểm cho mình. Nhưng bà không dễ dàng tha thứ cho Pyotr. Một tháng sau vụ hành hình, hai người ít nói chuyện với nhau, và họ không còn ngồi ăn chung với nhau, ngủ chung với nhau. Đến giữa tháng 1 năm 1725, mối căng thẳng giảm bớt, và bà làm lành lại với chồng.

Người ta không hề rõ việc dàn hòa này được vĩnh viễn hay không. Trong thời gian xảy ra vụ Willem Mons, Pyotr Đại đế bị bệnh, và ngày càng trầm trọng. Một tháng sau khi Ekaterina tỏ thái độ dàn hòa, Pyotr Đại đế qua đời.


Lên ngôi Nữ hoàng Ekaterina I

Trong khi Pyotr Đại đế đang hấp hối, một nhóm cận thần của ông, kể cả người gốc dân thường đi lên, đều sẽ bị mất mát nhiều nếu giới quý tộc cũ nắm quyền trở lại – cùng nhau quyết định ủng hộ Ekaterina. Nhưng việc lên ngôi của một cô gái quê gốc Latvia, người tình và cuối cùng người vợ của quân vương, không phải là đơn giản. Một ứng viên khác là Đại Công tước Pyotr Alexeevich, con trai của Thái tử Alexei. Theo truyền thống của Nga, với tư cách là cháu nội của quân vương tạ thế, anh này có quyền trực tiếp thừa kế ngai vàng, và đa số trong giới quý tộc, tăng lữ cùng dân thường đều xem anh là người kế vị hợp pháp. Qua anh, các gia đình quý tộc danh giá cũ như Dolgoruky và Golitsyn hy vọng có thể phục hồi quyền lực và đảo ngược những cải tổ của Pyotr Đại đế.

Cuộc chạm trán xảy ra vào đêm 27 tháng 1, chỉ vài giờ trước khi Pyotr Đại đế qua đời, khi Thượng viện và những nhà lãnh đạo cấp cao của đất nước nhóm họp để quyết định việc kế vị. Hoàng thân Dmitriy Mikhailovich Golitsyn – thuộc giới quý tộc cũ và hay cổ vũ cho việc chia sẻ quyền lực giữa quân vương và giới quý tộc – đề xuất giải pháp dung hòa: Pyotr Alexeevich lên ngôi và Ekaterina làm phụ chính. Pyotr Tolstoy – vốn can dự vào việc xét xử và kết án Thái tử Alexei và vì thế e sợ người con của Alexei lên kế vị – phản đối, cho rằng để một đứa trẻ trị vì là điều nguy hiểm; đất nước cần một người mạnh mẽ, có kinh nghiệm, và chính vì lý do đó mà Pyotr Đại đế đã huấn luyện và đăng quang cho bà vợ của ông.

Khi Tolstoy đang cất tiếng, một số sĩ quan của hai Lữ đoàn Cảnh vệ Preobrazhenskoe và Semyonovsky, trước đó đã lẻn vào phòng họp, lên tiếng ủng hộ. Cùng lúc, một hồi trống nổi lên phía dưới khiến các chính khách bước ra cửa sổ để nhìn xuống. Họ thấy các đội ngũ của Cảnh vệ đang dàn chung quanh hoàng cung. Hoàng thân Aleksandr Borisovich Buturlin, chỉ huy doanh trại Sankt-Peterburg và là một thành viên của phe quý tộc, trở nên giận dữ và hỏi tại sao quân sĩ tụ tập ở đây mà không có lệnh của ông. Vị tư lệnh Cảnh vệ cứng cỏi đáp: "Thưa Ngài, chúng tôi làm theo mệnh lệnh của phu nhân quân vương, Nữ hoàng Ekaterina, mà Ngài, tôi và tất cả thần dân trung thành đều phải tuân lệnh lập tức và vô điều kiện." Các binh sĩ, nhiều người đẫm nước mắt, hô lên: "Cha chúng ta đã chết, nhưng mẹ chúng ta vẫn còn sống." Trong hoàn cảnh như thế, Fyodor Matveyevich Apraksin cất lời đề nghị tôn Ekaterina là Quân vương chuyên chế với mọi quyền hạn như vị Hoàng đế phu quân. Lời đề nghị được chấp thuận nhanh chóng.

Sáng ngày sau, người quả phụ 42 tuổi bước vào, mắt đẫm lệ, tựa lên cánh tay của Quận công xứ Holstein-Gottorp, lúc này đã là con rể của bà. Bà vừa cất tiếng nức nở rằng mình bây giờ là "quả phụ và kẻ mồ côi", thì Apraksin quỳ xuống trước mặt bà và tuyên cáo quyết định của Thượng viện. Mọi người trong gian phòng đều tung hô, và binh sĩ Cảnh vệ bên ngoài phụ họa theo. Một bản tuyên cáo ngày hôm đó thông báo cho đế quốc Nga và cả thế giới biết rằng vị quân vương mới của nước Nga là một phụ nữ, Nữ hoàng Ekaterina I.

Ngày 8 tháng 3 năm 1725, linh cữu của Pyotr Đại đế được chuyển đến Pháo đài Pyotr và Paul, với Ekaterina dẫn đầu đoàn đưa tang, theo sau là 150 phụ nữ trong triều đình và một đoàn đông đảo các quan chức nhà nước, ngoại giao đoàn và sĩ quan quân đội, tất cả đều để đầu trần dưới trời tuyết rơi. Feofan Prokopovich đọc điếu văn.

Khi lên ngôi, Nữ hoàng Ekaterina I tuyên bố sẽ giữ nguyên mọi chính sách và chương trình cải tổ của Pyotr Đại đế. Là người thực dụng, bà nhanh chóng củng cố quyền lực của mình ở những mặt có hiệu quả nhất: giải tán công nhân của quân đội làm việc trong công trình xây Kênh Ladoga, trả lương cho binh sĩ đúng kỳ hạn, cung cấp quân phục mới... Bà vẫn tỏ ra thân thiện, cởi mở và hào phóng, đến nỗi các khoản chi tiêu của triều đình nhanh chóng tăng lên gấp ba lần. Bà không ra vẻ tự phụ về việc mình thình lình được tấn phong lên ngôi. Bà thường nói về gốc gác dân thường của bà và mời thân quyến của bà đến Sankt-Peterburg để chia sẻ vinh quang của mình.

Ekaterina I qua đời vì bệnh 2 năm 3 tháng sau khi lên ngôi.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #29  
Cũ 26-11-2007, 01:47
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default Sofia Alekseyevna

Sofia Alekseyevna

Công chúa Sofia Alekseyevna, hay Sophia Alekseyevna, (tiếng Nga: Софья Алексеевна, 17 tháng 9, 1657 - 3 tháng 7, 1704) là con đầu lòng của Sa hoàng Aleksei I và Hoàng hậu Maria Ilyinichna Miloslavskaya (người vợ thứ nhất của Aleksei I), chị ruột của Sa hoàng Fyodor III và Sa hoàng Ivan V, chị cùng cha khác mẹ của Pyotr Đại đế, và làm Phụ chính nước Nga trong thời gian 1682-1689.

Sofia được nhận một nền giáo dục kinh điển qua những học giả thần học, và có thể nói được hai ngoại ngữ mà một người dân Nga có học vấn thực thụ vào thế kỷ 17 phải học qua: tiếng Latinh và tiếng Ba Lan.

Thời tuổi trẻ

Dường như không có lý do rõ rệt cho tố chất hiếm hoi và khác thường của Sofia. Cô chỉ là người con thứ ba trong số tám người con gái do Hoàng hậu Maria Ilyinichna Miloslavskaya sinh ra, và là một trong sáu người con còn sống. Đáng lẽ cô đã nhận nền giáo dục sơ cấp dành cho nữ giới và sống suốt cuộc đời vô danh trong biệt cung – giống như chị em của cô. Nhưng Sofia có sự khác biệt. Cô có trí thông minh, có tham vọng, tính quyết đoán mà anh chị em của cô hoàn toàn thiếu.

Từ tuổi nhỏ, Sofia đã hiển nhiên là một con người khác thường. Bằng cách nào đó, cô đã thuyết phục vua cha bỏ qua truyền thống biệt lập phụ nữ hoàng gia và cho phép cô học chung với Fyodor, em trai nhỏ hơn cô 4 tuổi. Cô được học thần học, tiếng Latinh, tiếng Ba Lan và sử học. Cô cũng được biết qua thơ văn và kịch nghệ.


Nhận chức vụ Phụ chính

Sofia được 19 tuổi khi vua cha qua đời và cậu em 15 tuổi trở thành Sa hoàng. Không bao lâu sau lễ đăng quang của Fyodor, vị công chúa (tsarevna) này xuất hiện bên ngoài chốn biệt cung. Dưới triều đại Fyodor III, càng ngày cô càng xuất hiện nhiều hơn ở những nơi chốn – ngay cả trong hội đồng boyar – mà từ trước đến giờ không hề có bóng dáng của phụ nữ. Người cậu của cô, Ivan Miloslavsky, và thủ tướng, Hoàng thân Vasily Vasilievich Golitsyn, cho phép cô tham dự vào các buổi thảo luận và lấy quyết định; vì thế những nhận thức chính trị của cô trở nên trưởng thành và giúp cô hiểu thêm tố chất của đàn ông. Dần dà, cô nhận ra rằng tri thức và tính quyết đoán của mình không hề thua kém – ngay cả vượt trội – những người đàn ông quanh mình; và rằng không có lý do gì, ngoại trừ giới tính và truyền thống, có thể ngăn cô nắm lấy uy quyền tối thượng.

Trong tuần lễ cuối cuộc đời của Fyodor, Sofia luôn ở bên giường bệnh, hành xử như là người an ủi Sa hoàng, lắng nghe Sa hoàng thổ lộ tâm tư, và giúp truyền đạt mệnh lệnh của Sa hoàng. Rồi cô can dự sâu vào những vấn đề quốc gia hệ trọng. Cái chết của Fyodor III và việc truyền ngôi cho Pyotr (em trai cùng cha khác mẹ 10 tuổi, chứ không phải truyền cho Ivan là em ruột 17 tuổi) có tác động nặng nề đối với Sofia. Việc này có nghĩa là dòng họ Naryshkin sẽ trở lại trong khi cô, một công chúa của dòng họ Miloslavsky, sẽ mất vị thế. Chắc chắn cô không còn được tiếp xúc với đại thần trong triều như Hoàng thân Vasily Golitsyn, người mà cô mến mộ. Tệ hơn nữa, vì cô và vị Phụ chính, Hoàng hậu Natalia Kirillovna Naryshkina, không ưa gì nhau, có khả năng cô sẽ bị tống vào tu viện.

Trong cơn tuyệt vọng, Sofia kiếm tìm giải pháp khác. Cô đi đến Giáo chủ để khiếu nại về quyết định nhanh chóng đưa Pyotr lên ngôi: "Quyết định này là không công bằng. Pyotr còn nhỏ và bốc đồng. Ivan đã trưởng thành, đáng lẽ phải là Sa hoàng." Giáo chủ Joachim đáp là không thể thay đổi quyết định. Sofia nài nỉ: "Nhưng ít nhất nên để cả hai người lên ngôi." Vị Giáo chủ không nghe theo.

Sofia phải rút lui. Nhưng ít ngày sau, trong tang lễ của Fyodor III, cô công khai bày tỏ quan điểm của mình. Cô đã gia nhập đám tang, không có chiếc lọng truyền thống để ngăn công chúng nhìn thấy phụ nữ của hoàng gia. Chỉ với một khăn voan che mặt, Sofia đã bước ra thế giới bên ngoài, than khóc và cầu khẩn mọi người hiểu cho nỗi đau khổ của cô. Hành động của Sofia có thể hiểu theo nhiều cách: phá bỏ tục lệ nghìn xưa vốn luôn cách ly các công chúa, thiếu lễ nghi phép tắc; hoặc là can đảm, đáng thương.

Trong khi nghi thức đang diễn ra trong thánh đường, Natalia nắm lấy tay Pyotr bước ra ngoài, có thể được hiểu như hành động trả đũa lại Sofia. Sau đó, bà giải thích rằng con trai bà bị mệt và đói, ở lại lâu thêm không tốt cho sức khỏe. Nhưng dòng họ Miloslavsky cảm thấy bị xúc phạm vì hành động trên. Tình hình càng trở nên nặng nề khi Ivan Naryshkin, người anh có tính tự phụ của Natalia, hàm ý nói đến họ Miloslavsky: "Người chết phải chôn người chết."

Rồi Sofia lại kể lể nỗi đau khổ, giờ pha thêm giận dữ: "Mọi người đã thấy Sa hoàng Fyodor bất thình lình băng hà như thế nào. Những kẻ thù của Ngài đã hạ độc Ngài. Xin hãy thương xót người mồ côi như chúng tôi. Chúng tôi không có cha, không có mẹ. Người anh của chúng tôi, Ivan, đã không được chọn để lên ngôi."

Kế tiếp, từ một vụ việc nhỏ, Cấm vệ hô hào nhau nổi loạn. Không ai rõ Sofia can dự đến mức nào trong âm mưu này; có ý kiến cho là người khác thực hiện mưu đồ nhằm ủng hộ cô mà cô không biết. Nhưng các sự kiện cho thấy người chủ mưu chính là Sofia.

Khi Cẩm vệ đã đạt được những mục tiêu ban đầu, Sofia nắm lấy quyền chủ động. Trong một động thái không những để tạo hòa hoãn với Cấm vệ nhưng cũng để lấy lại quyền kiểm soát họ, Cấm vệ được chính thức chỉ định là Cảnh vệ Hoàng cung. Mỗi ngày, hai lữ đoàn được triệu đến điện Kremli, được chiêu đãi như là anh hùng trong phòng đại tiệc và các hành lang. Sofia xuất hiện trước mặt họ để tán dương lòng trung thành của họ và sự tận tụy của họ đối với ngai vàng. Để tôn vinh họ, cô còn đi lại giữa họ và ban phát những cốc vodka.

Tuy Sofia tiến dần đến quyền lực, Pyotr vẫn là Sa hoàng nước Nga. Khi cậu bé lớn lên, chắc chắn Sa hoàng này sẽ hành xử quyền uy của mình; dòng họ Naryshkin sẽ khôi phục ảnh hưởng, và chiến thắng này của dòng họ Miloslavsky sẽ chỉ là tạm bợ. Vì thế, kế hoạch của Sofia cần tiến thêm một bước nữa. Vào ngày 23 tháng 5 năm 1682, được thuộc hạ của cô thúc đẩy, Cấm vệ yêu sách một thay đổi về địa vị trên ngai vàng nước Nga: Pyotr và Ivan trị vì như là đồng-Sa hoàng. Họ đe dọa sẽ tấn công Kremli lần nữa nếu thỉnh nguyện này không được đáp ứng.

Giáo chủ, các giám mục và các boyar không có chọn lựa nào khác, vì không thể chống lại Cấm vệ. Họ quyết định chính thức là hai Sa hoàng sẽ trị vì bên nhau. Tuyên cáo nêu tên của Ivan trước, vì thỉnh nguyện của Cấm vệ đòi hỏi anh này có vị thế cao hơn.

Bản thân Ivan không vui vẻ gì về việc này. Bị khuyết tật trong cả hai khả năng ăn nói và thị giác, anh không thiết tha với việc nước. Anh giải thích với Sofia là anh muốn có cuộc sống tĩnh lặng, nhưng khi bị gây thêm sức ép anh đồng ý rằng anh sẽ xuất hiện cùng với đứa em cùng cha khác mẹ trong nghi thức quốc gia, và chỉ thỉnh thoảng làm việc với triều đình. Bên ngoài điện Kremli, dân chúng – mà Cấm vệ mượn danh nghĩa để đưa ra đề xuất – cảm thấy ngạc nhiên. Nhiều người cười lớn khi nghĩ đến việc Ivan, với những khuyết tật ai nấy đều biết, lại làm Sa hoàng nước Nga.

Có một câu hỏi trọng đại: vì cả hai Sa hoàng đều còn nhỏ, ai sẽ đứng ra điều hành việc nước? Hai ngày sau, Cấm vệ trình thỉnh nguyện cuối cùng: Công chúa Sofia làm Phụ chính. Giáo chủ và các boyar chấp thuận nhanh chóng.


Nước Nga dưới chế độ Phụ chính

Thế là Sofia nắm quyền lãnh đạo nước Nga. Thật ra, cô là sự lựa chọn đúng, dù cô chỉ lấp vào chỗ trống do cô và thuộc hạ của cô tạo ra. Không có ai trong hoàng gia đủ tuổi trưởng thành để điều khiển triều đình, và cô vượt trội so với các công chúa khác về trình độ học thức, tài năng và tính quyết đoán. Cô đã chứng tỏ cho thấy cô biết cách khích động và vượt qua cơn lũ của cuộc nổi loạn Cấm vệ. Quân đội, chính phủ và ngay cả dân chúng giờ trông mong đến cô. Sofia chấp nhận, và trong bảy năm kế tiếp người phụ nữ ngoại hạng này điều hành nước Nga.

Chức vụ Phụ chính bắt đầu với thử thách về thuật cai trị của cô. Sofia đối phó với tình hình căng thẳng do xu hướng ly giáo bằng sự dũng cảm và khôn khéo. Cô vừa đón tiếp tranh luận với Tín đồ Cũ họ vừa mua chuộc binh sĩ Cấm vệ bằng tiền bạc, lời hứa hẹn, bia rượu. Sau khi đã tách Cấm vệ ra khỏi giới tăng lữ, Sofia ra lệnh bắt giữ các nhà lãnh đạo của Tín đồ Cũ. Một người bị tử hình, chín người khác bị đi đày. Một hoàng thân cũng bị tử hình.

Sofia nhanh chóng cử người của mình vào các chức vụ. Người cậu Ivan Miloslavsky giữ vai trò cố vấn chủ chốt cho đến khi ông qua đời. Một nhân vật quan trọng khác là Fyodor Leontiyevich Shaklovity, Tư lệnh mới của Cấm vệ. Ông làm bí thư của hội đồng boyar, nhưng bị các thành viên trong hội đồng này ghét bỏ vì ông thuộc giai cấp thấp. Để bù đắp cho Shaklovity, Sofia cũng nhận sự cố vấn từ một giáo sĩ trẻ có học thức, Sylvester Medvedev, được xem là nhà thần học có trình độ khá nhất của Nga.

Nhân vật nổi bật nhất trong chế độ Phụ chính của Sofia là Hoàng thân Vasily Golitsyn – cố vấn, thủ tướng, cánh tay phải đắc lực của cô, người an ủi cô, và cuối cùng là người tình của cô. Là một chính khách và tướng lĩnh nhiều kinh nghiệm, người thưởng ngoạn nghệ thuật có trình độ và chính trị gia có tầm nhìn rộng, Golitsyn có lẽ là người Nga văn minh nhất.

Sofia gặp người đàn ông khác thường này khi cô được 24 tuổi, lúc ấy ông được 39. Với trí thông minh, ý thích học hỏi và tham vọng, điều tự nhiên là Sofia nhìn ông như là biểu tượng của lý tưởng, thế là bị ông cuốn hút. Golitsyn đã có vợ, con đã lớn, nhưng không hề gì. Cả quyết và nồng nàn, giờ xông vào đời một cách buông thả, Sofia gạt qua một bên mọi thận trọng khi manh động trong quyền lực. Cô không làm kém hơn trong tình yêu. Hơn thế nữa, cô kết hợp cả hai. Cô muốn chia sẻ quyền lực và tình yêu với Golitsyn, và bên nhau họ sẽ cai trị: qua tầm nhìn ông sẽ đề xuất ý tưởng và chính sách; qua uy quyền cô sẽ đảm bảo thực hiện những ý tưởng và chính sách ấy. Khi được tấn phong Phụ chính, cô đã bổ nhiệm ông làm Bộ trưởng Ngoại giao. Hai năm sau, cô đặt ông vào chức vụ Thủ tướng. Vào những năm đầu, vai trò của Sofia là phức tạp. Trong riêng tư, cô cai trị đất nước, nhưng ở nơi chốn công cộng cô giấu mình sau hai Sa hoàng tượng trưng và chính quyền của Golitsyn.

Thành tựu lớn nhất của chế độ Phụ chính là về ngoại giao. Ngay từ lúc đầu, Sofia và Golitsyn đã nhất trí với nhau về chính sách hòa bình với mọi láng giềng của Nga. Nhiều vùng đất rộng lúc trước của Nga giờ vẫn còn nằm trong tay nước ngoài, nhưng Sofia và Golitsyn quyết định không tranh chấp. Thế là, ngay sau khi triều đình của cô đã được vững chắc, Sofia phái sứ thần đi Thụy Điển, Ba Lan, Đan Mạch và Áo, tuyên bố Nga sẵn sàng chấp nhận tình trạng hiện tại bằng cách tái xác nhận mọi hòa ước hiện hữu.

Riêng ở Ba Lan, sứ thần Nga đối đầu với tình thế phức tạp hơn. Ba Lan và Nga là hai kẻ thù truyền kiếp, đã chinh chiến với nhau trong hai thế kỷ qua. Cuộc chiến gần nhất kết thúc bằng hòa ước năm 1667, theo đó sau hai năm Nga phải trả lại cho Ba Lan thành phố Kiev. Đây là lời hứa mà Nga không thể nào làm tròn. Nhiều năm trôi qua, việc đình chiến được tôn trọng, nhưng Alexei I và, sau đó, Fyodor III cảm thấy họ không thể dứt Kiev ra khỏi Nga. Kiev mang nhiều ý nghĩa đối với nước Nga: là một trong những thành phố Nga lâu đời nhất, là thủ phủ của Ukraina, và theo Chính thống giáo. Trả Kiev về cho Ba Lan theo Thiên chúa giáo là việc làm khó khăn và đau đớn. Vì thế, trong các cuộc đàm phán, Nga cố thoái thác, biện luận và trì hoãn, trong khi Ba Lan khăng khăng không muốn từ bỏ đòi hỏi của họ. Sự việc vẫn dằng dai như thế khi sứ thần hòa bình của Sofia đi đến Ba Lan.

Cùng thời gian, Ba Lan và Áo đang có chiến tranh với Đế chế Ottoman. Năm 1685, quân Ba Lan bị đánh bại nặng nề, và mùa xuân năm sau, một phái bộ sứ thần hoành tráng gồm 1.000 người và 1.500 ngựa đi đến Moskva để đề nghị mối liên minh giữa Nga và Ba Lan. Golitsyn tiếp đãi họ một cách trọng hậu. Sau những cuộc đàm phán kéo dài, hai bên đều đạt được mục đích của mình, nhưng cả hai bên cũng phải trả giá nặng nề.

Ba Lan chính thức từ bỏ vĩnh viễn Kiev. Đối với Nga, đối với Sofia và Golitsyn, đây là thắng lợi lớn nhất của chế độ Phụ chính. Bên Nga ăn mừng, nhưng bên Ba Lan, vua Jan Sobieski rơi nước mắt vì đau khổ. Tuy thế, Nga phải trả giá cho chiến thắng: Sofia đồng ý tuyên chiến với Ottoman và tấn công một chư hầu của Ottoman là Crimea do sắc dân Tatar cai trị. Lần đầu tiên trong lịch sử, Nga tham gia với một liên minh Tây Âu để chiến đấu chống một kẻ thù chung. Cần ghi nhận là trận chiến thứ nhất này giữa Nga và Ottoman chỉ để duy trì Kiev, chứ không nhằm bành trướng lãnh thổ như trong những trận chiến về sau.

Suốt mùa thu và mùa đông 1686, nước Nga ban hành lệnh động viên, thu thêm thuế, huy động hàng chục ngàn ngựa, bò và xe goòng. Vasily Golitsyn được cử làm Tư lệnh chiến dịch, tuy ông không phấn khởi về việc này: ông có một ít kinh nghiệm quân sự, nhưng ông xem mình là một chính khách, không phải là chỉ huy chiến trường. Nhưng những người chống đối ông lớn tiếng biện luận rằng người đứng ra khởi xướng đi đánh Tatar phải là người chỉ huy chiến dịch. Golitsyn bị bắt bí, đành phải nhận lời.

Quân Nga bị thất bại nặng nề, nhưng Golitsyn báo cáo về Moskva rằng Nga đã chiến thắng, rằng vua Tatar vì quá kinh hãi đã tháo chạy về vùng rừng núi của Crimea. Golitsyn về đến Moskva ngày 14 tháng 9 để được tuyên dương như là anh hùng. Sofia ra tuyên cáo chiến thắng và ban thưởng cho Golitsyn thêm đất đai, tiền bạc; riêng binh sĩ được nhận huy hiệu bằng vàng có chân dung của Sofia, Pyotr và Ivan. Sự thực là, Golitsyn bị mất 45.000 quân mà không hề trông thấy bóng dáng người lính Tatar nào.

Đáng lẽ Sofia và Golitsyn đã lấy làm vui mừng mà chấm dứt chiến tranh ngay lập tức, nếu Nga được giữ lại Kiev. Nhưng chắc chắn Ba Lan sẽ tiếp tục đòi Kiev vì Nga đã không làm tròn lời hứa là đánh Crimea. Điều thứ hai không thể chấp nhận được là nếu những đồng minh của Nga rút lui, một mình nước Nga sẽ đương đầu với Đế chế Ottoman hùng mạnh. Vì thế, dù miễn cưỡng, Sofia và Golitsyn phải tiến hành một chiến dịch nữa. Mùa xuân 1688, quân Tatar tạo thêm một động lực mới cho Nga: tàn phá Ukraina, đe dọa các thành phố Poltava và Kiev, rồi bắt 60.000 người lê lết đi theo kỵ binh của họ.

Bị buộc phải tiếp tục cuộc chiến, Golitsyn thông báo mở chiến dịch thứ hai, tuyên bố rằng chỉ chấp nhận hòa bình khi cả bờ Biển Đen được nhường cho Nga và Tatar bị đẩy ra khỏi Crimea. Tuyên bố này là lời nói càn dỡ, cho thấy vị thế cá nhân của Golitsyn càng lúc càng vô vọng.

Quân Nga lại thất bại. Một lần nữa, Golitsyn quyết định rút quân. Một lần nữa, báo cáo gửi về Moskva báo tin chiến thắng trong khi quân Nga mất 35.000 người: 20.000 tử trận, 15.000 làm tù binh. Một lần nữa, Sofia ca ngợi vị Tư lệnh chiến dịch như là anh hùng. Ngày 8 tháng 7, Golitsyn về đến Moskva. Sofia phá bỏ nghi thức khi đón tiếp ông ở cổng thành phố thay vì ở Kremlin. Sofia ra lệnh cử hành lễ tạ ơn và mừng chiến thắng ở mọi nhà thờ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #30  
Cũ 26-11-2007, 01:53
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default Sofia Alekseyevna (tiếp theo)

Sofia bị lật đổ

Trong giai đoạn này, mọi người đều thấy hiển nhiên là Pyotr không còn là một đứa trẻ; anh đang lớn lên và một ngày, chức vụ Phụ chính sẽ trở nên dư thừa. Sau 7 năm hành xử quyền lực, Sofia đã quen với vị thế này, và không thể tưởng tượng được việc từ bỏ nó. Tuy thế, cô thừa hiểu rằng cô là phụ nữ, và chức vụ của cô chỉ là tạm thời. Trừ khi bằng một cách nào đó, vị trí của cô được chính thức thay đổi, nếu không khi các em cô lớn lên, cô sẽ phải bước xuống.

Thật ra, Sofia đã có vài động thái để cải thiện vị trí của mình. Ba năm về trước, năm 1686, lúc ký hòa ước với Ba Lan, Sofia đã lợi dụng sự ủng hộ các chính sách của cô để dùng danh hiệu "chuyên chế", là danh hiệu chỉ áp dụng cho Sa hoàng. Kể từ ngày ấy, danh hiệu này được ghi cùng với tên cô trên mọi công văn và tại những buổi lễ nơi công cộng, đặt cô lên ngang hàng với hai đồng-Sa hoàng Ivan V và Pyotr I. Tất nhiên, mọi người đều biết rằng cô không được ngang hàng, vì cô không được đăng quang như Ivan và Pyotr. Nhưng Sofia hy vọng cô có thể được đăng quang.

Vào mùa hè 1687, cô ra lệnh cho Shaklovity dọ hỏi Cấm vệ sẽ ủng hộ cho cô đăng quang hay không nếu Golitsyn thắng trận. Shaklovity đi xa hơn chỉ thị: khuyến khích Cấm vệ thỉnh nguyện lên hai đồng-Sa hoàng cho phép đăng quang cô chị. Nhưng, với tinh thần bảo thủ, Cấm vệ chống đối. Thế là ý đồ của Sofia đành phải gác lại trong một thời gian.

Nhưng ý đồ vẫn còn, qua một bức chân dung của Sofia cho thấy cô ngồi một mình, đầu đội vương miện, tay cầm quả cầu cắm thánh giá và vương trượng – tất cả là biểu tượng của một Sa hoàng. Thêm nữa, danh hiệu được ghi là "Đại Công tước và Chuyên chế" và có 4 câu của tu sĩ Sylvester Medvedev ca ngợi và so sánh cô với Nữ hoàng Pulcheria của Byzantium và Nữ hoàng Elizabeth I của Anh. Bản sao của bức chân dung được phân phối ở Moskva và khắp châu Âu.

Đối với nhóm quý tộc ủng hộ Pyotr và Natalia, việc sử dụng danh hiệu và biểu trưng hoàng gia là dấu hiệu đe dọa không thể chấp nhận được. Họ đoán cô định đăng quang, cưới Golitsyn và hạ bệ hai đồng-Sa hoàng hoặc chỉ hạ bệ Pyotr theo cách nào đó. Không ai biết chắc liệu đây đúng là ý định của Sofia hay không. Cô đã đạt được nhiều quyền hành nên có thể cô thực sự mơ xa hơn đến quyền lực tuyệt đối bên người tình. Tuy nhiên, không có bằng cớ gì cho thấy cô định hạ bệ Pyotr; riêng Golitsyn luôn tránh né vấn đề: ông vẫn còn có vợ.

Sự đối đầu giữa Pyotr và Sofia về lâu dài là không tránh khỏi, nhưng kết quả tồi tệ của chiến dịch Crimea thứ hai thúc đẩy vụ việc đến nhanh hơn. Khi nào mà chính quyền của Sofia thành công thì khó mà thách thức cô, nhưng hai chiến dịch của Golitsyn còn tệ hại hơn thất bại về quân sự: những kẻ thù của Sofia nhận thấy rõ ràng mối quan hệ giữa Phụ chính và viên Tư lệnh chiến dịch.

Không bên nào muốn ra tay trước kẻo bị thất thế về tiếng tăm đạo đức. Bề ngoài, Pyotr không có lý do chính đáng nào để tấn công hai người chị và anh cùng cha khác mẹ ở Kremli. Tương tự, Sofia không thể viện cớ gì để tấn công Pyotr ở Preobrazhenskoe: anh đang là một Sa hoàng.

Hai bên đều không biết chắc thực lực của mình. Sofia có lợi thế về quân số: phần lớn Cấm vệ đều theo cô, cộng thêm Khu Ngoại ô Đức. Lực lượng của Pyotr nhỏ hơn nhiều: chỉ có hai đội quân chơi đùa gồm 600 người, và có thể được Lữ đoàn Sukharev của Cấm vệ ủng hộ. Tuy thế, Sofia có điểm yếu: cô không bao giờ biết chắc Cấm vệ trung thành với mình đến đâu, và cô lo sợ quá đáng lực lượng nhỏ của Pyotr. Trong mùa hè này, mỗi khi đi đâu cô đều dẫn theo một lực lượng Cấm vệ hùng hậu. Cô ban thưởng cho họ một cách hào phóng và kêu gọi họ đừng bỏ rơi cô, hãy ủng hộ cô...

Cuộc khủng hoảng bùng nổ vào ngày 17 tháng 8 năm 1689. Đầu mùa hè này, trong khi Golitsyn đang đi chinh chiến, Sofia có thói quen đi bộ đến các nhà thờ và tu viện kế cận Moskva để hành lễ. Chiều ngày 17, cô yêu cầu Shaklovity chuẩn bị đoàn Cấm vệ hộ tống cô đến Tu viện Donskoy, cách Kremli gần 4 kílômét. Vì lý do đã có một án mạng xảy ra gần tu viện, toán quân hộ tống được điều đến Kremli đông hơn và được trang bị kỹ hơn thường lệ. Khi đoàn quân đóng trại trong Kremli, một lá thư nặc danh được lan truyền trong hoàng cung cảnh báo rằng vào đêm này, lực lượng Preobrazhenskoe của Pyotr sẽ tấn công Kremli và có ý định giết Sa hoàng Ivan và Phụ chính Sofia. Không ai chịu bỏ thì giờ điều tra thực hư; có thể Shaklovity đã ngụy tạo lá thư ấy. Điều dễ hiểu là Sofia trở nên vô cùng bấn loạn. Để giúp cô an tâm, Shaklovity ra lệnh đóng các cổng ra vào Kremli và triệu thêm Cấm vệ vào canh gác.

Cùng lúc ấy, tin tức về sự xáo trộn ở Moskva gây nên kích xúc tại Preobrazhenskoe nhưng không dẫn đến biện pháp đề phòng đặc biệt nào. Vào buổi tối, một thuộc hạ của Pyotr phi ngựa vào thành phố mang theo một công văn thông thường của Sa hoàng Pyotr gửi cho Kremli. Vì lo lắng và kích xúc quá đáng, vài lính Cấm vệ hiểu lầm ý định của người này, nên kéo anh xuống ngựa, đánh đập anh và lôi anh vào trong hoàng cung để gặp Shaklovity. Việc hành hung nhỏ nhoi này gây hậu quả tức thì và không ai lường trước được. Hai mật báo viên được phái đi khẩn cấp để báo động cho Pyotr.

Tình hình vẫn yên ắng tại Preobrazhenskoe, rồi sau nửa đêm hai kỵ binh phi vào. Pyotr đang ngủ, nhưng một cận thần xông vào phòng và hô to lên rằng Sa hoàng phải chạy trốn để bảo tồn tính mạng, Cấm vệ sắp đến. Pyotr nhảy ra khỏi giường, được một nhóm nhỏ hộ tống đến Tu viện Troitsky, cách Moskva hơn 70 kílômét về hướng đông-bắc.

Sự kiện kinh khủng trong đêm gây ảnh hưởng thảm hại cho người thanh niên 17 tuổi. Trong 7 năm, Pyotr luôn có ác mộng về việc Cấm vệ săn lùng dòng họ Naryshkin. Vì quá mệt mỏi và kích xúc anh khóc òa lên, nói rằng người chị đang lùng giết anh và cả dòng họ anh. Trong khi đó, nhiều người khác cũng đến Troitsky. Trong vòng hai giờ, Natalia Kirillovna Naryshkina (mẹ) và Evdokiya Fyodorovna Lopukhina (vợ) đi đến tu viện; cả hai đã được đánh thức rồi được binh lính chơi đùa của Pyotr hộ tống khẩn cấp rời Preobrazhenskoe. Sau đó, Lữ đoàn Sukharev của Cấm vệ ở Moskva cũng đến gia nhập.

Vào buổi sáng, khi Sofia nghe báo tin, Sofia cảm thấy lo lắng. Cô thấy rõ là vụ việc có tầm quan trọng. Bị thúc đẩy bởi sự nguy hiểm giả tạo, Pyotr đã có động thái cả quyết. Tu viện Troitsky không phải chỉ là một pháo đài đủ vững chắc để chịu đựng đạn pháo; đây còn là chốn linh thiêng nhất nước Nga, là nơi ẩn náu truyền thống của hoàng gia trong những thời điểm bị nguy hiểm nhất. Bây giờ, nếu phe của Pyotr tạo ra hình ảnh Sa hoàng trốn chạy đến Troitsky để huy động người Nga chống lại kẻ phản loạn, họ sẽ có lợi điểm rất lớn.

Được an toàn trong pháo đài vững chắc này và được nhóm binh lính chơi đùa cùng Cấm vệ trung thành bảo vệ, Pyotr và cận thần hoạch định kế sách phản công. Động thái đầu tiên của họ là cử một liên lạc viên đến Sofia, hỏi tại sao có nhiều binh lính Cấm vệ được điều đến Kremli ngày hôm trước. Đây là một câu hỏi khó cho Sofia. Khi hai bên vẫn còn tỏ lộ bề ngoài mọi thái độ hòa hoãn, Sofia không thể trả lời rằng cô sợ bị Pyotr tấn công. Cô trả lời với lý do là cần đội Cấm vệ để hộ tống cô đi đến Tu viện Donskoy. Câu này nghe ra không ổn: chuyến đi như thế không cần đến cả ngàn binh sĩ hộ tống, và phe của Pyotr càng tin rằng cô có mưu đồ xấu.

Động thái kế tiếp của Pyotr là ra lệnh Lữ đoàn trưởng của Lữ đoàn Stremyani có danh giá, Đại tá Ivan Tsykler, đến Troitsky trình diện cùng với 50 binh sĩ. Đối với Sofia, mệnh lệnh này có ý nghĩa nghiêm trọng: Tsykler là một trong những người trung thành với cô nhất. Nếu cho phép ông đi và nếu ông bị tra tấn mà khai ra những gì ông biết về âm mưu của Shaklovity, sự rạn nứt giữa cô và Pyotr sẽ không thể hàn gắn được. Tuy thế, cô không có chọn lựa nào khác. Pyotr là Sa hoàng, đây là một vương lệnh, bất tuân có nghĩa là thách đố công khai. Khi đi đến Troitsky, Tsykler khai ra tất cả mà không cần đến tra tấn. Nhận thấy vị thế của Pyotr đang nổi lên, ông tỏ ý muốn gia nhập phe của Pyotr nếu chỉ cần Sa hoàng này ra lệnh bảo vệ ông.

Từ lúc đầu, Sofia đã nhận ra thế yếu của cô. Nếu lực lượng hai bên phải đánh nhau, chắc chắn Pyotr sẽ thắng; biện pháp duy nhất của cô là hòa giải. Nếu cô có thể thuyết phục Pyotr trở về Moskva, tách anh ra khỏi sự bảo vệ của bức tường thành vững chắc kia, lúc ấy cô có thể đối phó với những cận thần của anh, rồi cô vẫn sẽ là Phụ chính. Theo kế sách này, cô phái Hoàng thân Troekurov, có con trai chơi thân với Pyotr, đi thuyết phục Pyotr. Sứ mệnh của Troekurov bị thất bại. Pyotr hiểu rõ lợi điểm khi lưu lại Troitsky, và anh phái Troekurov quay về với câu trả lời rằng anh không còn muốn chịu sự sai khiến của một phụ nữ.

Đến lượt Pyotr đi nước cờ kế tiếp. Anh tự tay viết thư cho các lữ đoàn trưởng Cấm vệ, ra lệnh cho họ phải đến trình diện tại Troitsky cùng với 10 binh sĩ của mỗi lữ đoàn. Khi tin này đến Moskva, Sofia phản ứng một cách dữ dội. Cô triệu tập các lữ đoàn trưởng Cấm vệ, cảnh cáo họ không nên can dự vào cuộc tranh chấp giữa hai chị em cô, ai có ý định đi Troitsky sẽ bị chém đầu. Vasily Golitsyn, người vẫn còn nắm quyền chỉ huy quân đội, ra chỉ thị không sĩ quan nước ngoài nào được phép rời Moskva với bất cứ lý do gì. Vì những lời ngăn chặn này, các lữ đoàn trưởng Cấm vệ và sĩ quan nước ngoài vẫn ở lại Moskva.

Ngày kế, Pyotr gia tăng áp lực bằng cách gửi thư đến Sa hoàng Ivan và Sofia, thông báo anh đã ra lệnh cho các lữ đoàn trưởng Cấm vệ đến trình diện tại Troitsky. Anh yêu cầu Sofia, với tư cách Phụ chính, phải đảm bảo mệnh lệnh của anh được thi hành. Sofia phái thầy giáo của Ivan và giáo sĩ nghe xưng tội của Pyotr đi đến Troitsky để trả lời rằng Cấm vệ sẽ đến muộn, và tỏ ý hòa giải. Hai đặc phái viên trở về tay không. Trong lúc này, Shaklovity phái trinh sát đến Troitsky để thăm dò tình hình và nhận định thành phần đi theo Pyotr. Họ trở về báo cáo là lực lượng của Pyotr ngày càng lớn mạnh và tự tin. Thật ra, Shaklovity chỉ cần triệu tập người bên phe mình mỗi buổi sáng sẽ nhận ra rằng mỗi đêm càng có thêm người bỏ trốn để đi đến Troitsky.

Sofia cầu cứu Giáo chủ Joachim đi đến Troitsky và dùng ảnh hưởng của ông để giúp hòa giải với Pyotr. Giáo chủ đồng ý, và khi đến nơi, lập tức đứng về phe của Pyotr. Sau đó, khi có thêm người từ Moskva đi đến Troitsky, họ được Sa hoàng và Giáo chủ đứng bên nhau mà tiếp đón. Việc Giáo chủ ngả theo phe Pyotr là đòn đau cho Sofia. Nhiều người noi gương ông. Nhưng phần lớn Cấm vệ và công dân có thế lực ở Moskva vẫn còn ở trong thành phố, không biết phải làm sao, trông chờ thêm dấu hiệu cho thấy bên nào sẽ thắng thế.

Ngày 27 tháng 8, Pyotr đi nước cờ kế tiếp. Anh gửi thư với lời lẽ nghiêm khắc, lặp lại lệnh cho các lữ đoàn trưởng Cấm vệ phải lập tức đến trình diện tại Troitsky cùng với 10 binh sĩ của mỗi lữ đoàn. Một vương lệnh tương tự triệu nhiều đại diện nhân dân Moskva. Lần này, ai không tuân lệnh có thể bị tử hình. Các lệnh này có uy lực mạnh mẽ, nên một toán Cấm vệ ô hợp do năm đại tá chỉ huy đi đến trình diện Sa hoàng.

Sofia trở nên tuyệt vọng vì không thể ngăn chặn đoàn người đổ xô đến Troitsky. Trong nỗ lực cuối cùng nhằm giải quyết cơn khủng hoảng qua hòa giải, cô quyết định thân hành đến Troitsky và giáp mặt Pyotr. Khi đến một ngôi làng cách tu viện khoảng 13 kílômét, cô gặp một đại đội binh sĩ thành hàng ngang qua con đường, Họ cho biết Sa hoàng Pyotr từ chối gặp cô, cấm cô đi đến Troitsky, yêu cầu cô quay lại Moskva lập tức nếu không họ có thể dùng vũ lực.

Vô vọng và nhục nhã, Sofia rút lui. Về đến Moskva trước bình minh ngày 11 tháng 9, cô triệu tập nhóm nhỏ những người ủng hộ cô còn ở lại. Giọng của cô trở nên gần như là cuồng loạn, nói rằng cô suýt bị giết, các dòng họ Naryshkin và Lopukhin đang có âm mưu sát hại Sa hoàng Ivan và ngay cả cô... Cô kêu gọi người còn ở lại tuân phục cô, không đi đến Troitsky...

Pyotr và cận thần của anh tiến thêm một bước. Trong vòng vài giờ sau khi Sofia về đến Moskva, Đại tá Ivan Nechaev từ Troitsky về mang theo thư gửi Sa hoàng Ivan và Phụ chính Sofia, chính thức tố cáo có một âm mưu hãm hại Sa hoàng Pyotr và tuyên bố những người cầm đầu chủ chốt là Shaklovity và Medvedev – là những kẻ phản quốc, cần phải bị bắt giữ lập tức và giải đến Troitsky để được phán xử. Những bức thư này tạo nên cú sốc lan khắp hoàng cung. Những nhân viên và sĩ quan đã đứng sau Sofia với hy vọng là cô sẽ thắng hoặc sẽ có hòa giải, giờ hiểu rằng họ có nguy cơ bị tiêu tan sự nghiệp hoặc bị án tử hình. Những binh sĩ Cấm vệ vẫn còn trung thành với Phụ chính càu nhàu rằng họ sẽ không che chở kẻ phản quốc, phải giao nộp người chủ mưu...
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #31  
Cũ 26-11-2007, 01:54
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default Sofia Alekseyevna (tiếp theo và hết)

Bị cô lập, Sofia cố gắng lần cuối để tập họp những người ủng hộ cô. Bước ra đầu Cầu thang Đỏ, cô nói chuyện với một nhóm Cấm vệ và cư dân trong khu hoàng cung. Cô ngẩng cao đầu, trong một bài diễn văn khá dài tỏ ý thách thức dòng họ Naryshkin và van nài cử tọa đừng bỏ rơi cô. Cô cho là kẻ có tâm địa xấu đã tìm mọi cách khiến cho cô và Sa hoàng Ivan tranh chấp với em trai cô. Họ cố tình gây chia rẽ... Họ ganh tỵ với thành quả to lớn của Fyodor Shaklovity..., vu cáo ông là thủ lĩnh một âm mưu không có thật. Cô đã đi Troitsky nhằm giải quyết vấn đề và tìm hiểu lý do của lời vu cáo này, nhưng bị đám cố vấn xấu ngăn chặn... Cô đã phục vụ tốt trong bảy năm, đã thực hiện một nền hòa bình nổi tiếng và đích thực với Cơ đốc giáo... Cô tin tưởng mọi người sẽ không mắc mưu kẻ địch... Họ không phải muốn lấy mạng của Fyodor Shaklovity, mà là mạng của cô và Sa hoàng Ivan... Ba lần trong ngày, Sofia phát biểu như thế, trước nhất với Cấm vệ, kế đến với những công dân hàng đầu ở Moskva, sau cùng là với sĩ quan nước ngoài được triệu về từ Khu Ngoại ô Đức. Lời hiệu triệu của cô có hiệu quả; tinh thần của người nghe dường như được yên ổn hơn.

Pyotr đi thêm nước cờ nữa, vẫn để gây áp lực lên Sofia. Ngày 14 tháng 9, ông gửi một bức thư thông báo cho tất cả tướng lĩnh, sĩ quan nước ngoài về âm mưu phản quốc, ra lệnh tất cả đi đến Troitsky. Họ cảm thấy khó nghĩ: họ nhận hợp đồng để phục vụ triều đình, nhưng trong tình hình rối reng như thế này, ai là triều đình? Cố gắng giữ trung lập trong một cuộc cãi vã có tính cách nội bộ gia đình giữa hai chị em, tướng Patrick Gordon, người cầm đầu các sĩ quan nước ngoài, đã tuyên bố rằng nếu không có lệnh của cả hai Sa hoàng, sĩ quan của ông sẽ không làm gì cả. Bây giờ, lệnh của Pyotr bắt buộc ông phải cố xử lý vấn đề. Đêm ấy, ông dẫn một đoàn kỵ binh gồm các sĩ quan nước ngoài đi đến tu viện.

Sự ra đi của sĩ quan nước ngoài đã quyết định tất cả. Nhóm Cấm vệ còn lại ở Moskva nhận ra rằng Pyotr đã thắng. Để tự cứu mình, họ tụ tập trước hoàng cung đòi hỏi giao Shaklovity cho họ để họ giải đến Troitsky cho Sa hoàng Pyotr. Sofia khước từ, và nhóm Cấm vệ la ó: "Bà nên giải quyết vụ việc ngay lập tức! Nếu bà không giao hắn, chúng tôi sẽ gióng chuông báo động!" Sofia hiểu ý nghĩa của việc này: bất kỳ ai cũng có thể bị giết, kể cả cô. Cô đã thất bại. Cô cho triệu Shaklovity, lúc ấy cùng với Ivan Naryshkin đang lẩn trốn trong một nhà nguyện hoàng cung. Rơi nước mắt, cô giao nộp Shaklovity, và đêm ấy ông này được giải đến Troitsky.

Sau khi trừ khử những người ủng hộ Sofia, vấn đề chủ chốt là xử lý Sofia như thế nào. Cô đơn, không có ai thân thiết kề bên, Sofia chờ nghe tin về số phận của mình. Shaklovity đã không khai gì để cho thấy cô có âm mưu loại Pyotr khỏi ngai vàng, lại càng không có ý định sát hại anh. Chỉ có lời khai nặng nề nhất rằng cô có biết đến ý đồ hãm hại vài người trong phe Pyotr, và rằng cô có tham vọng cùng cai trị với hai em trên cương vị chuyên chế thay vì là Phụ chính. Tuy nhiên, đối với Pyotr như thế là đủ. Ông gửi thư cho Ivan đề nghị cả hai cùng trị vì mà không có sự can dự của "người thứ ba đáng xấu hổ này." Anh kết luận rằng Ivan vẫn là Sa hoàng thứ nhất – "Tôi sẵn sàng tuân phục Ngài như đã tuân phục cha tôi."

Không có uy lực để khước từ, Ivan đồng ý. Một vương lệnh được ban ra, xóa tên của Sofia trong mọi công văn. Sofia phải vào Tu viện Novodevichy ở ngoại ô thành phố. Cô không bị bắt buộc phải trở thành nữ tu, được cấp nhà ở tiện nghi; một nhóm gia nhân đông đảo sẽ đi theo cô, cô sẽ sống cuộc đời thoải mái, chỉ có hạn chế là cô không được rời khỏi tu viện và chỉ những người dì và em gái được quyền thăm viếng. Sofia được hộ tống theo nghi lễ đi đến tu viện, để sống 15 năm còn lại của đời cô.



Đánh giá


Sofia lên 25 tuổi khi trở thành Phụ chính và chỉ được 32 tuổi khi bị tước mất quyền hành. Có người đã phóng đại những thành tựu của cô. Mặt khác, cô không phải là nhà lãnh đạo cuối cùng của xu hướng bảo thủ như một số người phe Pyotr nhận định. Sự thực là Sofia có năng lực và trình độ, nói chung là đã trị vì đạt hiệu quả. Dưới chế độ của cô, nước Nga đang chuyển biến. Hai Sa hoàng Alexei I và Fyodor III đã thể chế hóa một số cải tổ trong sách lược của Nga. Sofia không làm chậm lại mà cũng không thúc đẩy nhanh hơn tiến trình này, nhưng thực sự cô tạo điều kiện cho những cải tổ được tiếp nối, giúp dọn đường cho Pyotr đi tiếp. Xét qua tổng thể những gì đã khởi đầu dưới chế độ của Alexei I và tiếp tục dưới các triều Fyodor III và Sofia, ngay cả những thay đổi sâu sắc của Pyotr Đại đế có bản chất trông dường như là sự tiến hóa hơn là cuộc cách mạng.

Sofia là con người đáng kể, không phải qua khía cạnh của nhà lãnh đạo, mà vì cô là phụ nữ. Trải qua nhiều thế kỷ, phụ nữ Nga ở tầng thấp của xã hội, như là nô dịch hoặc món nội thất được giấu kỹ trong biệt cung. Sofia tiến ra ánh sáng cuộc đời và nắm bắt quyền hành. Bất luận cô hành xử quyền uy như thế nào, chỉ sự kiện đơn giản là có cơ hội nắm quyền trong thời kỳ này của nước Nga đã đủ để xem cô là một nhân vật lịch sử. Điều không may là, giới tính của cô vừa giúp cô được nổi bật, nhưng cũng là trở ngại cho cô. Khi cuộc khủng hoảng xảy ra, người Nga vẫn không muốn đứng sau một phụ nữ để chống lại một Sa hoàng.

Cánh cửa tu viện khép kín cuộc đời của Sofia. Nhưng trong thế kỷ tiếp theo, vai trò của phụ nữ trong hoàng cung đã thay đổi. Bốn phụ nữ kế vị Pyotr trên ngai vàng. Từ số phận phụ nữ hoàng gia trong biệt cung đến địa vị nữ hoàng trên ngai vàng là cả một khoảng cách mênh mông. Và phần lớn cuộc hành trình này được chuẩn bị bởi một phụ nữ độc nhất – Phụ chính Sofia.

Ngay cả Pyotr cũng nhìn nhận cô là "một công chúa được trời phú cho thể chất và tinh thần hoàn thiện, chỉ tiếc cho tham vọng và khát khao vô bờ để trị vì." Trong 42 năm của triều đại Pyotr, chỉ có một người Nga duy nhất dám đứng lên thách thức địa vị của ông trên ngai vàng: Sofia. Hai lần, vào các năm 1682 và 1689, cô đã huy động lực lượng để đối đầu với ông. Trong sự thách thức thứ ba và cuối cùng, cuộc nổi dậy của Cấm vệ vào năm 1698, người mà Pyotr sợ chính là Sofia. Cô đã bị giam lỏng trong tu viện qua 9 năm, nhưng lập tức Pyotr cho rằng cô đứng phía sau cuộc binh biến. Trong ý nghĩ của ông, cô là người duy nhất có đủ sức mạnh tinh thần để mơ đến việc lật đổ ông.

Không nên lấy làm ngạc nhiên là Sofia hội đủ những yếu tố ấy – người có thể làm cho Pyotr kinh sợ, người có bản lĩnh thách thức ông và có sức mạnh cá tính để khiến ông âu lo ngay khi cô chỉ ngụ trong tu viện. Dù sao chăng nữa, cô là chị của Pyotr Đại đế.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Blitzkrieg – Game chiến thuật hay nhất về Chiến tranh thế giới lần thứ 2 phuongnn Các chủ đề khác 98 18-02-2012 12:55


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 04:40.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.