Trở về   Nước Nga trong tôi > Nước Nga ngày nay > Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 25-11-2007, 19:05
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default Những nhà khoa học vĩ đại của Nga

Alecxandro Mikhailovich Butlerop (1828 - 1886) - Thuyết cấu tạo hóa học


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Lời tiên tri không tự giác

Vào một ngày thu ấm áp, tiếng cười đùa của lũ trẻ không thể cản trở thầy giáo Rôlăng mơ màng ngủ gà ngủ gật. Bỗng từ tầng dưới của một kí túc xá riêng ở Kadan vang lên một tiếng nổ long trời. Chắc mẩm đã xảy ra sự cố gì nguy hiểm, thầy vội vã lao xuống tầng hầm, lát sau ông lôi ra được một chú bé, mặt mày tái nhợt, đầu tóc rối bù - đó là chú bé Xasa Butlerop, một học sinh rất say mê môn Hóa, lợi dụng lúc vắng người coi sóc , đã bí mật biến nhà ở thành "phòng thí nghiệm" riêng của mình. Vì hành động tinh nghịch đó , thầy đã phạt giam cậu và theo quýêt định "sáng suốt" của hội đồng nhà trường, cậu đã bị dẫn đi diễu qua nhà ăn trước ngực đeo một tấm bảng ghi hàng chữ lớn :" Nhà hóa học vĩ đại".

Tất nhiên khi nghĩ ra dòng chữ chế nhạo này, các thầy giáo của Xasa đâu có ngờ rằng nó đã trở thành lời tiên đóan, rằng kẻ đã bị buộc tội là vi phạm nội quy của nhà trường sẽ trở thành nhà hóa học vĩ đại thực sự: Alecxandro Mikhailovich Butlerop - niềm tự hào và vinh quang của nền khoa học Nga.Lúc này Xasa Butlerop mới tròn 8 tuổi.

Đối với đầu óc măng sữa của cậu, không có cái gì thích thú hơn là ẩn mình ở một nơi thăng vắng và tiến hành những thí nghiệm hết sức bình thường nhưng lại đưa đến những biến đổi lạ kì.

Song cậu không chỉ đơn thuần ham thích những sự biến đổi đó và ngắm nhìn tất cả những gì xảy ra trong bình và ống nghiệm mà còn cố tìm hiều xem tại sao hỗn hợp các chất này lại thu được một chất hoàn toàc khác, với những tính chất mới khác hẳn chất ban đầu. Xasa Butlerop hòa tan đồng sunfat trong nước, bỏ vào trong đó chiếc đinh sáng lóang và quan sát một cách say mê chiếc đinh đó được phủ một lớp đồng đỏ như thế
nào. Cậu biết trọn lẫn xampết, lưu hùynh và than theo một tỷ lệ thích hợp để được thuốc nổ như thế nào. Chắc hẳn trong lúc làm thí nghiệm đó cậu đã gây ra tiếng nổ làm hỏang hồn thầy Rôlăng đang mơ màng.

Có lúc Xasa chưng cất chất này, làm bốc hơi chất nọ, yên lặng hàng giờ ngắm nghía đến mê say những bình thủy tinh mỏng manh trong suổ có hình thù kì dị và những dung dịch đủ màu, những luống khí xanh nhạt có mùi hắc lạ lùng.

Những ngày nghỉ về nhà, lúc cha đi vắng , cậu tha thẩn một mình lủi thủi , đơn côi. Cậu không hề biết mặt mẹ mình, bà qua đời khi cậu chưa tròn 11 ngày tuổi. Xasa lớn lên trong sự chăm sóc và nuôi dưỡng của bố. Ông đã dồn hết tình yêu thương cho cậu. Họ sống với nhau như hai người bạn. Đối với cậy, người cha là mẫu người lí tưởng. Ông, vị đại tá đã từng theo chân đoàn quân thất trận của Napoleon từ Matxcova đến Pari, lúc về hưu vẫn giữ được lòng mê say với đời lính bôn ba và mạo hiểm. Ông sống rất mẫu mực , chăm chỉ và vững vàng như một cây đại thụ.

Mùa hè, cậu cùng cha đi dạo trong rừng. Nhân đó, ông dạy cho cậu biết nhìn và biết kiếm tìm niềm vui và cái đẹp trong thiên nhiên hùng vĩ.

Xasa sớm mê say với những cuộc đi săn, những đám lửa trại và những cánh đồng quê bình lặng với những tiếng chim hót vào buổi ban mai, những giọt sương long lanh trên những cánh hoa.

Lớn lên, Butlerop đã được cha cho đi nhiều nơi. Cậu đã được thấy cảnh tráng lệ của nước Ý, vẻ bí hiểm của châu Phi và những đỉnh núi Thuỵ Sũ quanh năm tuyết phú. Cậu nặng lòng yêu mến Pari. Nhưng đối với cậu, nơi thân thương nhất trên thế giới vẫn là trang trại Butleropka của bố. Nơi đây, cậu đã sống qua thời thơ ấu, đã diễn ra những ngày tháng đẹp đẽ nhất của tuổi thiếu niên. Không ở đâu Butlerop cảm thấy dễ chịu bằng cái trang trại thuộc ngoại vi thành phố Tsixtopon xa xôi này.

Vào mùa hè, sau khì kết thức năm thứ hai Trường đại học tổng hợp Kadan, Butlerop cùng bạn bè đi thám hiểm, săn bắt côn trùng ven biển vùng Caxpi. Trong những ngày hè nóng bức, oi ả, các nhà tự nhiên học trẻ tuổi đi nhiều và mệt lả. Nhiều lúc thiếu nước họ khát đến cháy họng. Bất thình lình Butlerop ốm nặng. Bạn bè hiểu ngay anh bị bệnh thương hàn, đành bỏ dở cuộc săn lung và vội vàng đưa người bệnh về Ximbiêc cứu chữa. Biết tin, ông bố vội cấp tốc tới đó. Ông không phút nào rời khỏi giường bệnh người con. Ông chẳng còn nghĩ đến bản thân mình. Ông chỉ mong sao Xasa của ông chóng khỏi. Thế rồi, cậu con qua cơn nguy hiểm nhưng người cha cảm nhận một cách mơ hồ hình như chứng bệnh thương hàn không kiêng nể gì ông. Ông vội vã đáp tàu về nhà, về Butleropka. Còn cậu con không hề ngờ và cũng không kịp suy nghĩ về sự ra đi vội vã của cha. Ít lâu sau, cậu được tin cha cậu đã chết vì lây bệnh.

Đấy là điều đau đớn nhất đối với Butlerop. Lúc này Butlerop phải trài qua cuộc khủng hoảng tâm hồn thực sự. Trước đó, cậu nổi tiếng là người khoẻ mạnh, yêu đời. Người ta kể rằng, có lần đến thăm bạn, thấy người bạn vắng nhà, chàng thanh niên Butlerop đã lấy thanh sắt cời than uốn cong thành hình chữ “B” treo lên cửa thay cho tấm danh thiếp. Thế mà giờ đây, trong một thời gian ngắn, cậu đã trở thành một người xanh xao và ủ rũ.

Butleropka bây giờ chỉ còn trơ lại mỗi căn nhà vắng vẻ. Sau này Butlerop về đây để quên đi những nỗi ưu phiền và tìm niềm an ủi trong những ngày nặng lề nhất.

Cậu cảm thấy hạnh phúc trong căn nhà của cha và cũng chính ở nơi đây, Butlerop đã sống những giây phút cuối cùng của cuộc đời.

Lúc này ở trường ĐH Kadan, giáo sư Zinin được tất cả các sinh viên yêu mến. Ông đã truyền cho các sinh viên nhiệt tình khoa học và tinh thần tận tuỵ đối với công việc. Butlerop đã được dự các bài giảng đầy xúc động của ông. Trong hang chục học trò, Zinin đã phát hiện ra Butlerop, đã dạy cậy cách tóm tắt và đi sâu vào bản chất các hiện tượng. Cũng có thể vì vậy mà luận án đầu tiên của cậu đã làm cho mọi người sửng sốt. Nhà hoá học tương lai chọn đề tài xung quanh “loài bướm ngày thuộc khu hệ động vật Vonga – Uran”. Trong công trình này, Butlerop đã lập bộ sưu tập và đi sâu nghiên cứu 1133 loài bướm. Hội đồng bác học đã nhất trí trao tặng tác giả công trình học vị phó tiến sĩ và quyết định xuất bản vào năm 1849.

Thật ra luận án này là kết quả của sự đam mê từ bé của Butlerop và đây cũng là món quà anh kỉ niệm người cha thân yêu của mình. Sau này, khoảng năm 1850, Butlerop vẫn tiếp tục trao đổi thư từ với các nhà côn trùng học trong và ngoài nước nhằm soạn thảo cuốn danh mục bươm bướm phần châu Âu thuộc Nga, thậm chí còn dự định xây dựng danh mực bươm bướm châu Âu. Đồng thời giúp các nhà côn trùng học khác mô tả những chú bướm ngày sặc sỡ. Nhờ những đóng góp này mà Butlerop đã được Hội Côn Trùng Học tỉnh Stettin nước Đức chọn làm hội viên của hội.

Sự say mê côn trùng học chừng như đã giúp trau dồi ở chàng thanh niên Butlerop những phẩm chất cần thiết của một nhà nghiên cứu đó là : khát vọng đạt đến tình hệ thống nghiêm ngặt trong công tác, óc quan sát và sự chú ý tới những việc tưởng chừng như vun vặt…

Butlerop bảo vệ luân án và chuẩn bị được phong giáo sư vào năm anh 21 tuổi. Lúc này trường đại học thiếu một chân phó giáo sư, người thầy cũ của Butlerop là Clauxo đã đề nghị người học trò yêu của mình giữ chức vụ ấy. Trong quyết định của khoa có ghi: “ Về phái mình, khoa hoàn toàn tin tưởng rằng, Butlerop , với tấm nhìn kiến văn, tài năng và lòng yêu đối với khoa học và công tác nghiên cứu khoa học, chắc chắn sẽ đem lại vinh dự cho trường ĐH và sẽ nổi danh trong giới khoa học nếu như tình hình thuân lời cho danh hiệu bác học của ông. Do sự tín nhiệm này, khoa nhận thấy có trách nhiệm thỉnh cầu ông Butlerop về trường ĐH dưới bất cứ danh nghĩa nào”. Và thế là Butlerop bước vào con đường độc lập của mình trong khoa học.

Ông đã bắt đầu từ đâu? Từ lịch sử, Butlerop hiểu rằng muốn đi xa phải nghiên cứu kĩ kinh nghiệm của những người đi trước. Ông say mê tất cả những gì đã có trong lịch sử khoa học cớ tên là hoá học hữu cơ. Và vì khoa học ông đã dâng trọn cả cuộc đời mình.

Đi sâu vào lịch sử, Butlerop tìm thấy đề tài cho luân án thứ hai của mình “ Bàn về sự oxi hoá các hợp chất hữu cơ”. Và đây cũng là cống hiến lớn của ông cho khoa hóa học. Trong luận án này, luận án thạc sĩ, Butlerop đã vạch ra con đường nghiên cứu tiếp tục cho mình và dự báo trước thắng lời huy hoàng của hoá học hữu cơ. Với trí tuệ sắc nhạy và tài tiên đoán hiếm có, hai mươi năm trước khi Mendeleep công bố hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hoá hoc, Butlerop đã viết trong bản luận án của mình :” Cuối cùng sẽ lúc người ta chẳng phải nghiên cứu về mặt định tính mà cả về mặt định lượng các sản phẩm của sự biến đổi hữu cơ, dần dần tìm ra và xác định các định luật thực sự của chúng và của những vật thể chiếm vị trí tự nhiên của mình trong hệ thống hoá học. Lúc ấy nhà hoá học, căn cứ vào một số tính chất đã biết của một vật thể nhất định, hiểu rõ điều kiện chung của các biến đổi đã biết, có thể dự đoán trước không lầm lẫn hiên tượng của các sản phẩm này khác và xác định trước đượcchẳng những thành phần mà cả tính chất chung của chúng. Thời điểm ấy có thể và sẽ đến với khoa học của chúng ta, tuy cò đòi hỏi chúng ta phải bỏ ra không biết bao nhiêu công sức, cong một chân trời rộng lớn đang mở ra cho những trí tuệ ham kiếm tìm”.

Nhà bác học mới 23 tuổi mà đã nhìn xa trông rọng. Phải chăng đó là phẩm chất cần thiết của những thiên tài?

Cũng trong những năm này, Butlerop đã đọc các bài giảng tại trường ĐH Kadan. Chẳng phải vừa mới đây Butlerop còn ngồi trên những cái ghế này , chăm chú lắng nghe và ghi ghi chép chép, thế mà giờ đây chàng trai trẻ đó đã đứng vững trên bục giảng, mặt hướng về các cử toạ cũng xấp xỉ tuổi anh. Năm 25 tuổi, Butlerop viết luận án thứ bai, luận án tiến sĩ hoá học và vật lí “ Bàn về tinh dầu”. Tháng 1 năm 1858, lúc này Butlerop đã 30 tuổi , ông tham dự hội nghị của Hội hoá học Pari và đọc bản báo cáo về cấu tạo phân từ của một số chat hữu cơ. Ông chỉ ra rằng các hợp chất hữu cơ hình thành xuất phát từ khả năng hoá trị của chúng. Đó là quy luật tự nhiên.

Như thế là trong hoá học, đã hình thành thuyết cấu tạo hoá học, về sau này được gọi là thuyết cấu tạo hoá học của Butlerop. Tiếp đó, tháng 9 năm 1861, đọc bản báo cáo ở Đức “Đôi điều và cấu tạo hoá học của các chất”. Bản báo cáo này mới nghe thì tưởng chẳng có gì đặc sắc nhưng trong tự “đôi điều” ở đây hàm chứa cả một cuộc cách mạng hoá học.

Chính ông là người sang lập ra trường phái hoá học hữu cơ Nga. với những bài giảng phong phú, độc đáo , xuất phát từ thực nghiệm, ông đã đào tạo sau mình cả một thế hệ các nhà hoá học xuất sắc trong đó có những người nổi tiếng như : V.V.Markonikop, A.E.Phavorxki, V.E.Tisenko,I.A.Kablukop,D.P.Konovalop v.v….

Từ năm 1878, ông được bầu làm chủ tịch Hội hoá học Nga. Butlerop là con người làm việc miệt mài và căng thăng, nhưng cũng biết nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, thay loại hoạt động này bằng loại hoạt động khác. Khi ở thành phố, hễ có buổi tối nào rảnh rỗi là công lại đi xem hoà nhạc hoặc xem triển lãm. Ông rất thích đi dạo ở vùng quê. Trong cuộc đời, trừ những năm ở nước ngoài, hầu như năm nào ông cũng lánh một tháng hoặc hơn về sống tại trang trại Butleropka. Ở đây Butlerop trồng hoà, xây dựng, làm ruộng, chữa bệnh và đi săn.

Dân quanh vùng cho hay, Butlerop đã xây dưng được những ống dẫn nước kì lạ: ở đây, bằng lực của dòng nước, nước từ sông băng qua bờ vào ruộng. Bà con nông dân thường tìm đến ông xin thuốc. Họ tin rằng những “thứ bột” mà ông cho họ có một sức mạnh đặc biệt và có những tính chất lạ kì.

Butlerop rất thích nuôi ong. Suốt ngày ông tha thẩn bên những tổ ong. Ông có thể ngồi hang giờ quan sát cảnh sinh hoạt của loài ong trong cái tổ bằng kính do ông tự tay thiết kế. Vào những năm cuối đời, Butlerop quan tâm nhiều đến nghề nông. Ông sắm cầy bừa, máy gieo hạt và chính ông đã đưa máy ra đồng và cho chạy thử. Ông yêu tha thiết Butleropka của ông, yêu cảnh đồng quê và những người nông dân bình dị.

Người ta còn giữ được bức thư do Butlerop viết cho cha vào lúc giao thừa khi ông còn là một cậu bé con. Bức thư có tên “ Mong ước và hy vọng của con”. Trong bức thư này, cậu bé Xasa Butlerop viết “ Sau những chiến công khó nhọc vì lợi ích của Tổ Quốc, con mong muốn cuối cùng sẽ được sống yên bình ở một bơi thanh vắng của tuổi ấu thơ, nơi lần đầu tiên con được nếm trải hương vị của cuộc đời với những người mà con hằng yêu mến.. .Cuối cùng con muốn đón nhận tuổi già và cái chết một cách yên bình bên những công việc ruộng vườn dân dã, lưu lại một kỉ nịêm tốt lành và hữu ích về mình với những người xưng quanh”.

Cái chết đến với ông một cách bất ngờ. Đứng lên ghế với một quyển sách xếp trên giá cả , trượt chân ông ngã vật và cảm thấy đau dữ dội nơi chân. Nhưng rồi cảm giác đau nhanh chóng qua đi, ông chắc mẩm không gây hậu quả gì nghiêm trọng. Nhưng ông đã lầm, vẫn còn lại một khối u. Chính khối u này đã gây viêm nghẽn mạch và dẫn tới tử vong.

Ông qua đời tại trang trại Butleropka đúng như ông mong muốn. Hôm ấy là ngày 17 tháng 8 năm 1886.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Đài tưởng niệm Butlerop được dựng trước toà nhà khoa Hoá của trường ĐH tổng hợp Matxcova. Một đài tưởng niệm khác – đó chính là việc nhà xuất bản Viện Hàm lâm khoa học đã ấn hành các công trình của ông. Nhưng đài tưởng niệm vĩnh cửu, khắc sâu trong tâm tưởng người đời chính do bản thân ông tạo dựng – đó là thuyết cấu tạo hoá học mang tên Butlerop!

Credit: sưu tầm từ nguồn sách của NXB Giáo Dục
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Malina (19-05-2010)
  #2  
Cũ 25-11-2007, 19:10
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default

Dimitri Ivanovich Mendeleev ( 1834 – 1907) - Bảng hệ thống tuần hoàn vĩ đại


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Mendeleep là nhà hoá học và là nhà xã hội học nổi tiếng nước Nga. Ông tốt nghiệp đại học năn 21 tuổi , đã từng là giáo viên trung học, sau đó đến dạy học tại trường ĐH Pêtecbua chuyên ngành hoá học. Ông đã lần lượt qua Pháp, Đức học tập và nghiên cứu. Cống hiến lớn nhất của ông là nghiên cứu ra bản hệ thống tuần hoàn Mendeleep. Đây là một cống hiến xuyên thời đại. Đối với lĩnh vực phát triển hoá học của ông, người đời sau mệnh danh ông là “Thần cửa của khoa học Nga” ( door – God).

Mendeleep là cậu con út thứ 17 của ngài hiệu trưởng trường trung học Tôbôn – Ivan Pavlôvich Mendeleep. Khi ông vừa tròn 2 tháng tuổi thì người cha buộc phải nghỉ việc vì lí do sức khỏe. Gia đình ông lâm vào cảnh khó khăn . Mọi gánh nặng gia đình đè lên vai bà mẹ. Mẹ của ông – bà Maria Dimitri Epna là con nhà khá giả. Ngoài việc kinh doanh , các anh bà đều là những nhà hoạt động văn hoá giáo dục. Gia đình bà có một thư viện lớn. Thuở còn con gái, bà say mê học tập. Đến bậc trung học, bà học ở nhà. Thời ấy, con gái không được nhận vào trường trung học. Mười sáu tuổi, bà về làm dâu gia đình ông Ivan Ivanôvich. Bốn mười mốt tuổi với 17 lần sinh nở và 17 đứa con lần lượt ra đời đem đến cho vợ chồng bà biết bao niềm vui và cả nỗi nhọc nhằn. Ở Tôbôn, bà nổi tiếng là người phụ nữ thông minh, học thức , không ai sánh kịp. Tính tình bà cương nghị, trung hậu và hết lòng chăm sóc chồng con.

Bây giờ thì bà quyết định rời cả gia đình về làng Aremdianka, cách thành phố hơn ba mươi dặm. Ở đó có một xưởng thuỷ tinh nhỏ của anh bà – ông Coocnhiliep. Bà thay anh trông nom xưởng và thu xếp công việc thích hợp cho các con. Vừa làm việc ở xưởng, vừa làm vường, nhưng không bao giờ bà sao nhãng việc học tập của các con. Bà được thừa hưởng thư viện lớn của cha bà để lại. Cả gia đình bà đều say mê đọc sách. Trong những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đời, bà phải bán đi nhiều thứ nhưng sách vẫn được coi là vật thiêng liêng! Về làng quê, lũ trẻ có những ấn tượng tốt về thiên nhiên, con người và có ý niệm sơ khai về tổ chức công nghiệp ở xưởng.

Cuộc sống đang ổn định thì những nỗi bất hạnh lại ấp xuống gia đình bà. Năm 1847, chồng mất và 3 tháng sau, Apolinalia, đứa con gái lại theo bố ra đi. Sang năm sau, xưởng thuỷ tinh bị cháy rụi. Bà buộc phải bỏ làng Aremdianka trở về thành phố. Gia đình lớn bây giờ phân tán như ông san tổ. Các cô gái lớn đi lấy chồng, hai người con trai làm việc ở Omxko. Gia đình chỉ còn lại bà và ba đứa trẻ: Michia, Elidabet và Lida.

Mùa xuân năm 1849, Dimitri Mendeleep tốt nghiệp trung học vào tuổi 15. Bà Maria mong muốn đứa con út phải được vào đại học. Từ thành phố Tôbôn thuộc miền Tây Xiberi , bà Maria cùng Mendeleep và Lida lên đường đi Matxcova. Cuộc hành trình dài ngày bằng xe ngựa làm cho mọi người mệt lử. Nhưng đối với bà Maria, quang cảnh những xứ sở dọc đường đem đến cho bà bao nhiêu ấn tượng. Sự giầu có và cảnh đẹp thiên nhiên cùng Uran, đồng bằng sông Vonga và cuối cùng là xứ Matxcova cổ kính.

Việc xin vào trường ĐH Matxcova không thành: học sinh tốt nghiệp trung học Tôbôn phải học ở ĐH Kadan! Trở về Kadan hay đi Petecbua? Petecbua là một trung tâm văn học lớn, ở đó có nhiều trường ĐH. “Đi Petecbua”. Bà Maria quyết định ở đó bà hi vọng vào sự giúp đỡ của các bạn bè cũ của chồng. Bà không nhầm nhưng không thể xin vào trường ĐH tổng hợp Petecbua được. Đã thành lụât lệ rồi! Tuy vậy bạn bè có thể giúp bà xin cho Michia vào học ở Viện Hàn Lâm Y học hoặc Học Viện Sư Phạm.

Ban đầu Mendeleep vào Viện Hàn lâm nhưng không chịu nổi các buổi học về giải phẫu: cậu bị đau đầu và buồn nôn. Chỉ còn lại khả năng duy nhất là vào viện Sư Phạm. Nhưng Viện Sư Phạm hai năm mới tuyển sinh một lần mà bây giờ mới hết năm thứ nhất. Bà Maria không nản, bà viết đơn thỉnh cầu tìm đến người quen nhờ vận động hộ. Cuối cùng Mendeleep được đặc cách nhận vào.

Mùa đông năm ấy, bà Maria dần dần kiệt sức. Trong bức thư cuối cùng gửi cho đứa con trai út, bà viết :” Michia. mẹ ra đi lòng thanh thản vì nghĩ rằng con sẽ là người hữu ích …”

Ở học viện sư phạm Petecbua, Mendeleep ghi tên học khoa Toán – Lí. Chế độ kỉ lụât của sinh viên nội trú hà khắc không kém trại lính bao nhiêu - vừa phải dự giờ trên lớp, Mendeleep vừa phải tự học các môn còn thiếu ở năm thứ nhất. Hoàn cảnh ngày càng khó khăn: bác Coocnhiep, người đỡ đầu cho chị em Mendeleep qua đời, một năm sau chị Lida chết vì bệnh lao. Làm việc căng thẳng , cuộc sống kham khô làm cho Mendeleep suy nhược. Nhiều lúc đầu đau như búa bổ, cậu phải úp mặt vào nước lạnh…Rồi cậu ho ra máu. Cậu phải sống cách li..Cơ hồ phải thôi học. Nhưng thừa hưởng tính cương nghị của mẹ, lại được người thầy thuốc già của viện hết lòng giúp đỡ, cậu đã vượt qua thử thách.

Ở viện sư phạm lúc bấy giờ có nhiều giáo sư Nga lỗi lạc: viện sĩ toán học Otropxki, viện sĩ vật lí Lenzo, viện sĩ sinh vật học Brant, giáo sư hóa học Votkrexenxki … Sinh viên được chia thành từng nhóm từ 5 đến 10 người, các giáo sư dạy cả lí thuyết và hướng dẫn thực hành theo nhóm. Nhóm của Mendeleep gồm Beketop, Mensutkin, Alecxoep v.v…dươi sự hướng dẫn của giáo sư Votkrexenxki. Vào phòng thí nghiệm, không ai nề hà bất cứ việc gì, miễn là phục vụ được cho việc nghiên cứu.Chính giáo sư Votkrexenxki đã hướng Mendeleep vào con đường hoá học.

Năm 1855, Mendeleep tốt nghiệp xuất sắc , được thưởng huy chương vàng và theo đề nghị của viện sĩ Phritxo , ông được giữ lại viện làm cán bộ giảng dạy và chuẩn bị luận án thạc sĩ.

Mùa thu năm 1856, Mendeleep bảo vệ xuất sắc luận án thạc sĩ và nhận học vị phó giáo sư trường ĐH tổng hợp Petecbua. Tuy vậy đồng lương không đủ sống. Cuối cùng, Mendeleep qua các nước châu Âu bồi dưỡng kha học. Ở Pari, Mendeleep làm quen với nhà khoa học nổi tiếng Bectole, tiếp xúc với các nhà khoa học lớn Duyma, Vuoc. Ông qua Áo và sang Đức, ở đó có Kiechop, Bunzen với những phòng thí nghiệm được trang bị tốt. Ông dừng lại ở Haydenbec - một trung tâm khoa học của nước Đức lúc bây giờ.Trong thời gian ở Đức, ông cùng nhà hoá học trẻ tuổi Borodin tham gia đoàn đại biểu các nhà hoá học Nga dự hội nghị quốc tế các nhà hoá học tại Cacrua năm 1860. Ở đó, ông có dịp tiếp xúc với nhiều nhà khoa học lớn như : Kekule, Lotha, Maye, Canizaro v.v… Đến đâu Mendeleep cũng được các nhà bác học đàn anh và bạn bè yêu mến vì phong cách giản dị, học vấn uyên thâm, cách nhìn độc đáo.
Không được phép kéo dài thời hạn ở nước ngoài, Mendeleep trở về Petecbua vào giữa năm học nên trường không bố trí cho ông giảng dạy mà phải tự kiếm việc làm. Ông vừa biên tập cuốn “Tử điển bách khoa về kĩ thuật”, vừa làm cố vấn kĩ thuật cho nhà máy thuỷ tình, vừa giảng dạy một số giờ ở trường võ bị do Votkrexenxki nhường lại, nhưng thu nhập không thường xuyên , đời sống không ổn định.

Theo lời khuyên của chị, năm 1863, Mendeleep xây dựng gia đình. Cuốn “ Hoá học hữu cơ” của ông được Viện Hàn Lâm trao giải thưởng Demidop hạng nhất kèm theo 1428 rúp. Khoản tiền đủ cho cặp vợ chồng trẻ ra nước ngoài hưởng tuần trăng mật.

Trở về, Mendeleep được cử giảng dạy giáo trình Hoá học hữu cơ, lương 1200 rúp một năm. Sau đó ông được bổ nhiệm làm giáo sư trường ĐH kĩ thuật Petecbua và được cấp một căn hộ. Không phải lo toan cho cuộc sống, Mendeleep có thể tập trung cho công tác khoa học. Sau khi bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ, ông được bổ nhiệm làm giáo sư trường ĐH tổng hợp Petecbua. Theo đề nghị của ông, nhà bác học trẻ Butlerop ở Kadan thay ông giảng dạy giáo trình Hoá hữu cơ. Còn Mendeleep, ông giảng dạy Hoá đại cương và tập trung nghiên cứu về hệ thống hoá các nguyên tố hoá học.

Khi Mendeleep viết “ Nguyên lý hóa học”, ông nghĩ đến lúc này tổng số các nguyên tố đã phát hiện trên thế giới là 63 nguyên tố, giữa chúng nhất định có những quy luật biến hoá thống nhất , vì rằng tất cả các sự vật đều có liên quan đến nhau. Để phát hiện quy lụât này, ông đã đăng kí 63 nguyên tố này vào 63 chiếc thẻ, trên thẻ ông viết tên nguyên tử lượng , tính chất hoá học của nguyên tố. Ông dung 63 chiếc thẻ mang tên 63 nguyên tố hoá học xếp đi xếp lại trên bàn. Bỗng nhiên một hôm ông phát hiện ra rằng nếu xếp các nguyên tố này theo sự lớn nhở của nguyên tử lượng thì sẽ xuất hiện sự biến hoá mang tính liên tục kì lạ, nó giống như một bản nhạc kỳ dịêu vậy. Mendeleep không giấu nổi niềm vui, ông tin tưởng chắc chắn rằng quy luật này chứng tỏ quan hệ của vạn vật trên thế giới này là tất nhiên và có quy luật tuần hoàn của chúng.

Mendeleep như đã có chìa khoá mở cảnh cửa mê cung để phát hiện những bí mật của cả cung điện. Ông đã sắp xếp những nguyên tố thành một bảng tuần hoàn trong đó có những ô vẫn phải để trống. Ông công bố tác phẩm của mình, kiên trì chờ đợi kết quả kiểm nghiệm của các nhà khoa học ở khắp nơi trên thế giới đối với quy lụât tuần hoàn của các nguyên tố. Nhưng suốt 4 năm không phát hiện thêm được nguyên tố nào mới.

Năm 1875, Viện Hàn Lâm khoa học Pari nhận được thư của một nhà khoa học, trong thư nói ông đã tìm ra được một nguyên tố mới trong quặng kẽm trắng, ông đặt tên nguyên tố đó là Gali. Tính chất của Gali giống như nhôm, nguyên tử lượng là 59,72 và tỷ trọng là 4,7. Nghe được tin này, Mendeleep phấn khởi hẳn lên, theo phát hiện 4 năm trước đây của mình , nguyên tố mới này cũng nhóm của nhôm , đây chính là điều mà ông đã dự đoán. Nhưng ông lại cảm thấy không yên tâm, theo cách tính toán của bảng tuần hoàn thì nguyên tử lượng của Gali phải khoảng 68 và tỷ trọng phải là 5,9~ 6,0. Mendeleep tin rằng mình đúng và ông lập tức viết thư cho Viện hàn lâm khoa học Pari về ý kiến của mình.

Bức thư được chuyển đến tay nhà khoa học đã tìm ra nguyên tố Gali. Ông ấy hết sức ngạc nhiên , Mendeleep chưa nhìn thấy mặt Gali mà dám nói biết được nguyên tử lượng và tỷ trọng của nó là bao nhiêu, cứ như là chuyện đùa. Nhưng vì thận trọng, nhà khoa học ấy đã tiến hành xác định lại một lần nữa những số liệu trên. Kết quả làm ông ngạc nhiên , bởi đúng theo dự đoán của Mendeleep: Tỷ trọng của Gali là 5,94. Đây đúng là sự trùng hợp đặc biệt không thể tưởng tượng được.

Sau khi lời dự đoán kỳ lạ này được chứng thực, cả giới khoa học kinh ngạc. Lvề quy luật tuần hoàn của các nguyên tố hoá học đã bị lãng quên nhiều năm, nay được mọi người coi trọng, một số nhà khoa học đã chân thành chúc mừng sự phát triển tài ba của Mendeleep. Bảng tuần hoàn nhanh chóng được dịch thành nhiều thứ tiếng và được truyền bá đi khắp nơi trên thế giới. Mọi người khen ông với bảng hệ thống tuần hoàn. Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học , trên 100 năm qua đã là chìa khoá dẫn đến việc phát minh nhiều nguyên tố hoá học mới.

Bốn năm sau, một nhà khoa học Thuỵ Điển phát hiện ra một nguyên tố mới khác và đặt tên là Scandi. Khi mọi người nghiên cứu sâu hơn một bước thí phát hiện rằng Scandi chính là nguyên tố thuộc nhóm của Bo mà Mendeleep đã dự đoán. Phát hiện về quy lụât tuần hoàn các nguyên tố không chỉ có thể dự kiến vị trí các nguyên tố chưa tìm ra mà còn có thể biết trước được tính chất quan trọng nhất của chúng.

Nguyên lý hoá học của Mendeleep được đánh giá rất cao , trở thành bộ sách giáo khoa kinh điển được thế giới công nhân. Có người đánh giá Mendeleep như sau:” Trong lịch sử hoá học, ông dung một chủ đề đơn giản mà đã gọi ra được cả thế giới”.

Mendeleep đã trở thành nhân vật nổi tiếng ở Nga. Mỗi khi ra đường thường có rất nhiều người ngưỡng mộ ông đi theo sau. Ông là người có tính cách hào phóng, thắng thắn , chân thành với mọi người, không câu lệ các chi tiết vụn vặt, ngay cả với người giúp việc cũng thân tình cởi mở. Mendeleep là niềm tự hào của giới khoa học Nga, cũng là người thầy được sinh viên yêu quý nhất ở trường ĐH tổng hợp Petecbua.

Bài giảng của ông sinh động, hấp dẫn và hội trường ông giảng bài thì luôn chật cứng người, thậm chí ngay cả các phòng học xung quanh cũng kín người ngôi nghe. Bài ông giảng nội dung rất rộng, ngôn từ xúc tích nên có sức thu hút rất lớn. Mọi người đều nghĩ ông giống như một nhà diễn thuyết tài ba. Nhiều viện Hàn lâm, nhiều trường ĐH nổi tiếng như Ôpho, Kembrit…bầu ông làm viện sĩ, tặng ông học vị giáo sư, mời ông đến báo cáo và giảng bài. Ông là thành viên của 130 tổ chức khoa học trong và ngoài nước.Nhưng chính nhà khoa học được nhiều người ngưỡng mộ lại bị chính phủ chuyên chế Sa Hoàng bài xích. Một viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga mất, theo điều lệ của Viện hàn lâm khoa học Nga, sau khi khuyết vị trí thì cần bầu bổ sung. Thế là rất nhiều viện sĩ đề nghị bầu đích danh Mendeleep đồng thời cũng nói rõ Mendeleep có đầy đủ tư cách để trở thành viện sĩ của viện Hàn Lâm, đây là điều không ai có thể phủ nhận được. Nhưng điều mọi người không ngờ tới là, bất chấp sự ủng hộ của đa sõ các viện sĩ, Mendeleep không trở thành viện sĩ thứ 130 của viện hàn lâm khoa học bởi một lí do là Mendeleep đã từng tham gia biểu tình phản đối Sa Hoàng.

Tuy không được bầu vào viện hàm lâm nhưng Mendeleep vẫn là người thầy yêu quý của tất cả các sinh viên. Họ chào đón ông bằng tiếng vỗ tay vang dội. Đồng nghiệp, bạn bè yêu mến ông vì những phẩm chất đáng quý của một nhà khoa học thiên tài. Mendeleep cảm thầy vô cùng vinhd ự và trách nhiệm trước lịch sử hết sức nặng nề. “Gieo trồng hạt giống khoa học để nhân dân có mùa màng bội thu”, đây là câu nói mà Mendeleep mãi mãi khắc cốt ghi tâm.

Tượng đài Mendeleep đừng trước toà nhà khoa hoá của trường ĐH tổng hợp Matxcova. Ông ngồi đó và suy tư. Định lụât tuần hoàn chẳng những là một định luật chung nhất của tự nhiên mà còn là một quy luật tống quát của xã hội: sự biến đổi tuần hoàn theo chiều đi lên, tre già măng mọc…Và nhân loại sẽ mãi biết ơn ông, người đã làm ra bảng tuần hoàn hoá học vĩ đại!!!


Credit: tổng hợp nguồn sách của NXB Giáo dục và NXB LĐ XH
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn BelayaZima cho bài viết trên:
Malina (19-05-2010), PhamNgocSan (15-03-2009)
  #3  
Cũ 25-11-2007, 19:12
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default

Ivan Petrovich Pavlov(1849-1936) - Nhà sinh vật học kiệt xuất nhất thế giới


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Ivan Paplop là nhà tâm lý học người Nga. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông thi vào Trường Đại Học Petécbua, học khoa học tự nhiên, ông đã giành được học vị thạc sỹ khoa học tự nhiên rồi tiến sỹ y học, sau đó ông nghiên cứu sinh học. Vì có thành tựu to lớn trong lĩnh vực sinh lý học tiêu hoá, tháng 10 năm 1904, ông đã được tặng giải thưởng Nobel, ông là nhà sinh lý học đầu tiên được nhận giải thưởng này. Học thuyết về hoạt động thần kinh cao cấp của ông có già trị vô cùng quan trọng đối với nghiên cứu y học, tâm lý học.

Paplop là nhà sinh lý học, nghiên cứu và phát hiện của ông mang ý nghĩa toàn cầu. Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã có hứng thú và lòng yêu mến đối với khoa học. Lúc còn nhỏ, Paplop sống ở một thị trấn nhỏ ở miền trung nước Nga, cha ông là mục sư, gia đình tương đối đông con. Do thu nhập thấp nên cuộc sống tương đối khó khăn. Cha Paplop là người rất nghiêm khắc đối với con cái, ông tự dạy các con học nghề mộc, dạy các con trồng rau, trồng hoa. Ngay khi còn nhỏ Paplop đã phải giúp cha mẹ lo liệu việc nhà. Khi đó , ông là một đứa trẻ có óc tưởng tượng, giỏi quan sát, làm việc gì cũng tỏ ra có nghị lực và bền bỉ.Paplop cũng là đứa trẻ có tính kiên nhẫn trong mọi việc. Có một lần cha sai hai anh em ra vườn đào hố trồng cây. Hai anh em đào rất vất vả, cả hai anh em mồ hôi ướt đầm, cha cậu ra nhìn thầy liền chau mày nói:" Các con đào sai vị trí rồi, phải đào lại hết". Em trai nghe vậy vô cùng nản lòng liền ngồi phục xuống đẩt, không muốn đào nữa. Paplop không phàn nàn gì , cầm mai lên đào theo cha. Em trai thấy vậy cũng đành đứng dậy đào theo. Cha ông lặng lẽ nhìn hai anh em, một lúc sau cười vui vẻ nói với hai anh em " Được rồi, các con không phải đào nữa". Thì ra chíng người cha muốn luyện cho các con tính kiên nhẫn. Đức tính kiên nhẫn của Paplop đã giúp ông rất nhiều để ông có được những thí nghiệm thành công sau này.

Paplop rất ham đọc sách. Trong nhà ông có rất nhiều sách tiến bộ. Năm 13 tuổi, ông đã đọc rất nhiều tác phẩm nổi tiếng. Về sau, Paplop dần dần có hứng thú với sách giáo khoa về sinh lý, đối với một số hiện tượng sinh vật học và các thí nghiệm nhỏ đọc được trong sách ông cảm thấy đặc biệt thú vị và mới mẻ. Ông khao khát đọc được nhiều hơn nữa những thể loại sách này. Khi học ở trường Thần học, Paplop luôn là học sinh ngoan, xuất sắc. Nhưng ông không thích học thần học, ông đến Petecbua để vào trường đại học sinh lý học là ngành mà ông hứng thú nhất. Cha Paplop biết suy nghĩ của con, nhưng ông không phản đối. Cha của ông nói:" Con đã chọn đường đi cho mình thì đừng sợ khó khăn gian khổ, hãy kiên trì đường đi của mình". Paplop nghe lời cha, một mình đến Petecbua bắt đàu học sinh lý học.



Paplop có đề tài nghiên cứu về vấn đề tiết dịch vị. Chúng ta đều biết khi người ta ăn vào dạy dày, sẽ tiết ra một lượng lớn dịch vị để giúp tiêu hóa thức ăn. Paplop tiến hành thí nghiệm đối với chó, ông muốn biết đại não truyền mệnh lệnh cho dạ dày như thế nào. Có một hôm Paplop và người trợ lý của ông tiến hành thí nghiệm tiết dịch vị đối với chú chó già đã đựơc thuần dưỡng nhiều năm. Con chó này đã sống ở phòng thí nghiệm rất nhiều năm, nó quen tất cả các nhân viên làm thí nghiệm ở đây. Chú chó này đứng trên bục thí nghiệm, từng giọt dịch vị chảy ra và được đưa vào một cái khay thông qua một ống dẫn. Phòng thí nghiệm im phăng phắc đến mức nghe được cả tiếng thở nhẹ. Thời gian chầm chậm trôi. Đã một giờ trôi qua, nhân viên làm thí nghiệm vừa quan sát , vừa ghi chép. Dịch vị của chú chó tiết ra bình thường, mỗi phút khoảng 25 giọt. Bỗng nhiên ngoài cửavọng vào tiếng bước chân của một nhân viên nuôi chó, rồi người nhân viên này bê thức ăn của chú chó đi qua của phòng thí nghiệm, bước chân xa dần rồi mất hẳn. Nhân viên làm thí nghiệm lúc đó phát hiện ra rằng dịch vị chú chó tiết ra tăng lên nhiều, mỗi phút khoảng 100 giọt. Hiện tượng này chưa từng xảy ra. Họ mời Paplop đến để báo cáo với ông hiện tượng kỳ lạ này. Paplop nghe xong rất ngạc nhiên , ông cẩn thận quan sát phòng thí nghiệm những cũng không phát hiện ra điều gì. Ông đắm chìm trong suy nghĩ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Những nhân viên nói với Paplop rằng họ phát hiện cứ khi nào nhân viên nuôi chó đi qua là dịch vị của chú chó tiết ra lại tăng lên. Ông bảo anh nhân viên nuôi chó đi lại khoảng 15 phút trong 3 lần. Kết quả vẫn thấy vậy. Bây giờ ông có thể đưa ra kết luận "Bước chân của nhân viên nuôi chó làm cho dịch vị của chó đột nhiên tăng lên nhiều". Paplop nghĩ :" tiếng bước chân của nhân viên nuôi chó làm cho dịch vị của chó tiết ra tăng lên. Tiếng bước chân cho chú chó biết thức ăn sắp được đưa tới, thông quan thần kinh đại não ra mệnh lệnh làm cho dạ dày tiết ra dịch vị". Từ phát hiện này, Paplop nghĩ đến bất kỳ một loại tín hịêu nào như tiếng chuông, ánh sáng, còi, nước chảy v.v... Chri cần gắn liền với sự xuất hiện của thức ăn trong một thời gian liên tục nào đó thì chắc chắn nó sẽ có hịêu quả.

Ông lặp lại thí nghiệm này nhiều lần. Nhưng thí nghiệm này chỉ có tác dụng với những chú chó đã ở lâu trong phòng thí nghiệm. Còn với những chú chó mới được nuôi thì không được. Paplop cho rằng đây là loại phản ứng đối với sự kích thích từ bên ngoài.Ông gọi đó là " phản xạ có điều kiện". Sau này Paplop còn đi sâu nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến hoạt động thần kinh.Ông hoàn thành tác phẩm của mình. Vì những thành tựu này, Paplop được nhận giải thưởng Nobel. Paplop biết rằng khoa học là vô hạn,ông phải tiếp tục phấn đấu không mệt mỏi cho nó. Ông đã nói rằng " Khoa học yêu cầu mỗi người phải có tinh thần làm việc hết sức khẩn trương và sịư nhiệt tình to lớn".


Credit: NXB LĐXH
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Malina (19-05-2010)
  #4  
Cũ 25-11-2007, 19:14
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default

Vladimir Arnold


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Vladimir Igorevich Arnold (Tiếng Nga: Влади́мир И́горевич Арно́льд, sinh ngày 12 tháng 6, năm 1937 tại Odessa, Liên xô) là một trong những nhà toán học có nhiều cống hiến nhất trên thế giới. Trong lúc ông nổi tiếng với định lý Kolmogorov-Arnold-Moser về độ ổn định của hệ thống Hamiltonian, ông đã có nhiều đóng góp quan trọng khác trong nhiều lãnh vực bao gồm học thuyết về hệ thống động lực, Địa hình học, Hình học đại số, Cơ học Cổ điển và Định lý duy nhất suốt hơn 45 năm sau khi ông tìm được đáp án cho bài toán thứ 13 của Hilbert vào năm 1957.

Sau khi tốt nghiệp trường Đại học Quốc gia Moskva vào năm 1959, ông tiếp tục làm việc tại đó cho đến năm 1986 (ông bắt đầu làm Giáo sư từ năm 1965), và kế đó làm việc tại Viện Toán học Steklov. Ông trở thành Viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Liên xô vào năm 1990 (và là Viện Hàn lâm Khoa học Nga từ năm 1991) [1]. Giả định của Arnold dựa vào một số điểm cố định của Hamiltonian symplectomorphism và sự giao nhau Lagrangian là động cơ thúc đẩy quan trọng trong sự phát triển của Tính tương đồng Floer.

Credit: wikipedia.org
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Malina (19-05-2010)
  #5  
Cũ 25-11-2007, 19:16
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default

Andrey Nikolaevich Kolmogorov


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

"Lý thuyết xác suất như là một ngành của toán học có thể và nên được phát triển từ các tiên đề trong một cách thức chính xác như là Hình học và Đại số."

Andrey Nikolaevich Kolmogorov (tiếng Nga: Андре́й Никола́евич Колмого́ров; 25 tháng 4 năm 1903 – 20 tháng 10 năm 1987) là một nhà toán học Liên Xô đã có nhiều đóng góp lớn trong lý thuyết xác suất và tô pô. Sinh ra trong một gia đình người Nga ở Tambov, Nga, ban đầu của sự nghiệp ông làm về logic, và chuỗi Fourier. Ông cũng làm về chuyển động hỗn loạn, cơ học cổ điển, và tin học. Tuy nhiên, công trình quan trọng nhất của ông là các đóng góp trong lý thuyết xác suất, các biến ngẫu nhiên, và quá trình ngẫu nhiên và đặt chúng lên một nền tảng toán học vững chắc. Một phương trình quan trọng ông phát triển trong các quá trình ngẫu nhiên gọi là phương trình Chapman-Kolmogorov, với sự quan trọng trong ngành này tương tự như là phương trình E = mc^2 trong vật lý.

Kolmogorov làm việc tại Đại học Quốc gia Moscow. Ông nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Nikolai Luzin, lấy được Ph.D. vào năm 1929. Vào năm 1931 ông trở thành giáo sư tại đại học này. Vào năm 1939 ông nhận danh hiệu Viện sỹ của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Ông là người sáng lập ra lý thuyết độ phức tạp của thuật toán mà thường được nhắc đến đơn thuần là độ phức tạp Kolmogorov. Ông qua đời ở Moscow vào năm 1987.

Credit: wikipedia.org
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Malina (19-05-2010)
  #6  
Cũ 25-11-2007, 19:17
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default

Nikolai Ivanovich Lobachevsky


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Nikolai Ivanovich Lobachevsky (1 tháng 12 năm 1792 – 12 tháng 2 năm 1856) là một nhà toán học Nga, người đã có công rất lớn trong việc xây dựng hình học phi Euclide, một bước phát triển mới thoát ra khỏi hình học cổ điển, tạo cơ sở toán học cho lý thuyết tương đối rộng sau này.

Lobachevsky sinh tại Nizhny Novgorod, Nga. Bố là Ivan Maksimovich Lobachevsky, thư ký của một văn phòng luật, mẹ là Praskovia Alexandrovna Lobachevskaya. Cha ông mất năm 1800, sau đó, mẹ & ông rời đến Kazan. Tại đó, ông theo học trường Kazan Gymnasium, tốt nghiệp năm 1807 và sau đó là trường Đại học Kazan. Tại đây, ông được tiếp xúc với Martin Bartels (1769–1833), bạn của Carl Friedrich Gauss. Năm 1811, ông được chứng chỉ vật lý và toán học của trường ĐHTH Kazan. Năm 1814, ông bắt đầu công tác giảng dạy và năm 1822, chính thức trở thành giảng viên trường ĐHTH Kazan. Năm 1818, ông được mời làm viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Kazan. Ông đã từng giữ nhiều chức trách khác nhau của trường cho đến năm 1846.

Nhà toán học Gauss đã mời ông làm viện sĩ nước ngoài Viện Hàn lâm Khoa học Gottingen.
Về đời riêng, ông lấy Varvara Alexivna Moisieva năm 1832 và có với bà bảy người con.
Ông về hưu (hay có thể bị bãi nhiệm) năm 1846, và từ đó sức khỏe của ông giảm một cách nhanh chóng. Cuối cùng, ông bị mù vĩnh viễn, phải đọc cho người khác chép quyển PANGE "OMETRRIE" nổi tiếng trong lịch sử hình học thế giới.

Hình học Lobachevsky là hình học do ông xây dựng lên, từ ý tưởng không công nhận tính thống nhất hệ thống các tiên đề do Euclide xây dựng. Khởi đầu, các nhà toán học đương thời gọi hình học do ông xây dựng lên là hình học ảo, nhưng ngày nay hình học Lobachevsky đã trở nên rất thực được kiểm chứng qua các kết quả nghiên cứu thiên văn vũ trụ, và không gian Lobachevsky đã trở thành không gian thực.
Các tác phẩm: Cơ sở hình học (1930) ,Hình học ảo (1837) ,Cơ sở mới của hình học(1838) ,Khảo cứu mới về lí thuyết đường song song(1840) ,Panego'me'trie .

Credit: wikipedia.org
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn BelayaZima cho bài viết trên:
Malina (19-05-2010), PhamNgocSan (15-03-2009)
  #7  
Cũ 25-11-2007, 19:20
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default

Sergei Lvovich Sobolev


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Sergei L'vovich Sobolev (tiếng Nga: Сергей Львович Соболев; 6 tháng 10 năm 1908 – 3 tháng 1 năm 1989) là một nhà toán học người Nga, làm việc trong ngành giải tích và phương trình đạo hàm riêng. Ông được sinh ra ở Sankt-Peterburg, và mất ở Moskva.

Sobolev giới thiệu một số khái niệm bây giờ là cơ sở cho một số lãnh vực khác nhau của toán học. Không gian Sobolev có thể được định nghĩa bằng điều kiện tăng dần của biến đổi Fourier; chúng và các định lý nhúng (embedding theorem) là một chủ đề quan trọng trong giải tích hàm. Hàm số tổng quát (sau này được gọi là phân bố), được giới thiệu bởi Sobolev lần đầu tiên vào năm 1935 cho các nghiệm yếu, và được phát triển thêm bởi Laurent Schwartz; họ định nghĩa lại khái niệm đạo hàm. Cả hai phát triển này phát sinh trực tiếp từ các công trình của ông về phương trình đạo hàm riêng.

Sobolev tốt nghiệp từ Đại học Leningrad vào năm 1929, nơi ông là học sinh của Vladimir Smirnov. Ông làm việc ở Leningrad từ năm 1932, và tại Viện Toán học Steklov tại Moscow từ năm 1934. Ông là người lãnh đạo viện khi nó được sơ tán về Kazan trong Thế chiến thứ 2. Ông là giáo sư tại Đại học Quốc gia Moscow từ năm 1935 đến 1957 và cũng là viện phó của Viện Năng lượng Nguyên tử từ 1943-57.

Vào năm 1956 Sobolev tham gia một nhóm các khoa học gia lỗi lạc trong việc thiết lập hệ thống khoa học và giáo dục ở tầm mức lớn cho phần phía Đông của Liên Xô, kết quả là sự thành lập của Chi nhánh Siberia của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Ông là người thành lập và là viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học ở Novosibirsk, sau này mang tên ông, và đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập và phát triển Đại học Quốc gia Novosibirsk.

Credit: wikipedia.org
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn BelayaZima cho bài viết trên:
Malina (19-05-2010), PhamNgocSan (15-03-2009)
  #8  
Cũ 25-11-2007, 19:21
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default

Sofia Vasilyevna Kovalevskaya


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Sofia Vasilyevna Kovalevskaya - chân dung một nhà khoa học nữ luôn đam mê khoa học, dám đấu tranh và hy sinh vì niềm đam mê, vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao trong khoa học. Một giải thưởng mang tên bà - Giải thưởng Kovalevskaya, đã được ra đời đầu tiên tại Việt Nam năm 1985. Giải thưởng này sau đó còn được trao cho những nhà khoa học nữ xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên ở các nước Nicaragua, El Salvador, Peru và Nam Phi.

Sofia Kovalevskaya tên đầy đủ là Sofia Vasilyevna Kovalevskaya. Bà là nhà nữ toán học đầu tiên của Nga. Bà đã từng theo học Karl Weierstrass - một nhà toán học nổi tiếng người Đức. Năm 1884, bà được phong giáo sư tại Đại học Stockholm và là người phụ nữ thứ ba của châu Âu được phong hàm giáo sư.
Kovalevskaya sinh ngày 15.1.1850 tại Moscow, Nga. Cha là Vasily Vasilievich Krukovsky (1800-1874), một sỹ quan pháo binh mang hai dòng máu Ba Lan - Nga; mẹ là Elizaveta Fyodorovna Schubert (1820-1879), một phụ nữ người Đức, cháu gái của Theodor Schubert - một nhà toán học, thiên văn học của Viện Hàn lâm Khoa học St. Petersburg.
Toán học đã thực sự cuốn hút Sofia ngay từ nhỏ. Khi mới 11 tuổi, bà đã dán đầy bức tường trong phòng ngủ của mình những bài giảng của Ostrogradsky về phép tính tích phân và vi phân. Việc tự mình nghiên cứu những bài giảng đó chính là sự khởi đầu, đưa bà đến với thế giới toán học sau này. Bà đã viết trong nhật ký của mình: “Tôi không thể hiểu hết ý nghĩa của các khái niệm đó, nhưng dường như chúng đã truyền cho tôi một sự sùng bái toán học - một bộ môn khoa học cao quý, thiêng liêng và đầy bí hiểm, nơi có những con người kỳ diệu với những điều kỳ diệu”.
Cha của Sofia không muốn con gái theo đuổi ngành học này nhưng với sự quyết tâm, lòng đam mê của mình, bà đã mượn bản sao cuốn Đại số học của Bourdeu về nghiên cứu vào ban đêm, khi cả nhà đã đi ngủ. Trước sự đam mê của bà, giáo sư Tyrtov, một người hàng xóm, đã nói với cha của Sofia nên khuyến khích bà học toán. Tuy nhiên, phải mất vài năm sau, bà mới được phép theo học các khoá riêng về toán học.
Để tiếp tục con đường nghiên cứu khoa học của mình, tháng 9.1868, bà kết hôn giả với Vladimir Kovalevski - một nhà cổ sinh vật học trẻ tuổi (ở Nga thời đó, phụ nữ không được học đại học, muốn học đại học phải ra nước ngoài; nhưng muốn có hộ chiếu thì phải là con gái đã có chồng). Cuộc hôn nhân giả này đã gây ra nhiều vấn đề rắc rối cho Sofia với các cuộc tranh cãi triền miên và những hiểu lầm của người chồng.
Năm 1869, Sofia đến Heidelberg (Đức) để học toán và các môn khoa học tự nhiên khác, nhưng các trường đại học ở đây không tiếp nhận các sinh viên nữ. Bà phải nỗ lực thuyết phục để theo học dự thính và bà đã học rất tốt. Ngay lập tức, bà đã thu hút được sự chú ý của các giáo viên với khả năng tiếp nhận toán học một cách phi thường của mình. GS Konigsberger, nhà hoá học lỗi lạc Kirchhoff và các giáo sư khác trong trường đều yêu mến cô học trò xuất sắc của mình.
Năm 1871, theo sự giới thiệu của GS Konigsberger, bà chuyển đến Berlin (Đức) để theo học Weierstrass - thầy của Konigsberger. Nhưng, bất chấp những cố gắng của Weierstrass, Ban giám hiệu đã từ chối cho phép bà tham gia các khoá học. Chính sự khó khăn này lại là một may mắn lớn đối với Sofia khi bà được học riêng với Weierstrass hơn 4 năm. Mùa xuân năm 1874, bà đã công bố 3 bài báo nghiên cứu về khoa học, Weierstrass cho rằng, mỗi bài báo này xứng đáng với học vị tiến sỹ. Đó là các bài báo: Tích phân Abel (Abelian integrals); phương trình đạo hàm riêng (Partial differential equations) và bổ sung, nhận xét về nghiên cứu hình dáng vành sao Thổ - hành tinh thứ 6 của hệ Mặt trời (Saturn’s Rings). Bài báo đầu tiên về tích phân Abel được công bố trong Tạp chí Crelle năm 1875 là một sự đóng góp rất đáng chú ý, chứng tỏ bà đã làm chủ hoàn toàn lý thuyết của Weierstrass.
Tháng 6.1874, Kovalevskaya được nhận bằng tiến sỹ của Đại học Goettingen. Tháng 9.1874, trở về Petersburg, nhưng bà vẫn không có chỗ đứng trong giới khoa học. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng vấn đề giới tính vẫn là nguyên nhân gây cản trở lớn nhất. Trong suốt 6 năm sau đó, bà không tiếp tục được công việc nghiên cứu ưa thích của mình. Năm 1878, bà sinh con gái. Năm 1880, bà quay lại Moscow, nhưng một lần nữa, những nỗ lực để làm nghiên cứu khoa học tại các trường đại học lại không thành. Một năm sau, bà rời Moscow tới Berlin, rồi Paris, bắt đầu trở lại các nghiên cứu toán học của mình. Năm 1882, bà bắt đầu nghiên cứu về khúc xạ ánh sáng và viết 3 bài báo về đề tài này.
Mùa xuân năm 1883, Vladimir, người chồng mà Sofia đã ly thân trong 2 năm, đã tự tử. Bà vùi đầu vào công thức toán học nhằm xua đi những cảm giác tội lỗi. Vượt qua những phản đối, cuối cùng bà đã giành được chức vụ giáo sư ngoại ngạch (privat docent) ở Stockholm (Thuỵ Điển). Bà bắt đầu giảng dạy ở đây từ năm 1884 và nửa năm sau, bà được phong quyền giáo sư (extraordinary professorship). Năm 1888, bà hoàn thành xuất sắc công trình “Về sự quay một vật rắn xung quanh một điểm đứng yên” và được giải thưởng của hai Viện Hàn lâm Khoa học: Pháp và Thụy Điển. Đến tháng 6.1889, bà là người phụ nữ đầu tiên được bầu là Viện sỹ Thông tấn của Viện Hàn lâm Khoa học St. Petersburg.
Trong những năm ở Stockholm, bà đã tiến hành nhiều nghiên cứu quan trọng và giảng dạy về những vấn đề mới trong giải tích, trở thành Tổng biên tập Tạp chí Toán học Acta, tham gia tổ chức các hội nghị khoa học quốc tế. Vị trí của bà đã làm thay đổi cái nhìn của xã hội đối với nữ giới. Bà bắt đầu viết hồi ký, sáng tác văn học, như viết tiểu thuyết “Người đàn bà theo chủ nghĩa hư vô”, “Những kỷ niệm thời thơ ấu” và những vở kịch - những công việc mà bà rất yêu thích khi còn trẻ.
Công trình được công bố cuối cùng của Kovalevskaya là một bài báo ngắn Về một định lý của M. Bruns (Sur un théorème de M. Bruns), trong đó bà đưa ra một chứng minh mới, đơn giản hơn định lý Bruns về tính chất của hàm thế năng (potential function) của vật thể đồng nhất (homogeneous body). Đầu năm 1891, khi đang trên đỉnh cao của sáng tạo toán học và vinh quang, Kovalevskaya đã mất vì cảm.

Sự ra đời của Giải thưởng Kovalevskaya Việt Nam
Vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tại Trường Đại học Princeton, bang New Jersey - một trong những Đại học danh tiếng của Hoa Kỳ - một cuộc biểu tình có quy mô lớn của sinh viên đã diễn ra nhằm phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam. 200 sinh viên đã bị bắt giữ, trong đó có ông Neal Koblitz và bà Ann Hibner - những người sau này trở thành tiến sỹ toán học và tiến sỹ sử học, đồng thời là đôi vợ chồng sáng lập ra Quỹ Kovalevskaya.
Gặp gỡ các nhà toán học Việt Nam tại các hội thảo khoa học quốc tế, và sau chuyến thăm Việt Nam năm 1978, ông bà Koblitz đã phát triển mối quan hệ hợp tác và hỗ trợ cho các nhà toán học Việt Nam cũng như Viện Toán học Việt Nam. Tuy nhiên, ý tưởng hỗ trợ các nhà khoa học nữ Việt Nam chỉ trở thành hiện thực trong lần thứ 3 ông bà tới thăm Việt Nam vào năm 1985. Được sự ủng hộ nhiệt tình của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (LHPNVN) và bà Nguyễn Thị Bình (lúc đó là Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), ông bà Koblitz đã quyết định thành lập Quỹ giải thưởng dành cho các nhà khoa học nữ Việt Nam trong lĩnh vực tự nhiên. Quỹ mang tên nhà nữ toán học vĩ đại người Nga thế kỷ XIX - Sofia Vasilyevna Kovalevskaya - người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử hiện đại đạt học vị tiến sỹ toán học, giáo sư trường đại học, viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm Nga và là người phụ nữ thứ ba ở châu Âu được phong hàm giáo sư. Cuộc đời bà là chủ đề luận văn tiến sỹ lịch sử của bà Ann Koblitz. Luận văn này đã được xuất bản thành sách và Quỹ Kovalevskaya đã được ra đời từ số tiền bản quyền ít ỏi đó. Sau đó, Quỹ tiếp tục được bổ sung từ tiền bản quyền các ấn phẩm khoa học của ông bà Koblitz và sự góp tặng của một số nhà khoa học Mỹ tiến bộ.
Ban đầu, Quỹ giải thưởng chỉ có ở Việt Nam, sau đó được phát triển sang Nicaragua, El Salvador, Peru và Nam Phi. Chủ tịch của Uỷ ban Giải thưởng Kovalevskaya Việt Nam là nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Hội LHPNVN là cơ quan thường trực. Lúc đầu, mỗi năm, Uỷ ban xét trao giải thưởng cho 2 nhà nữ khoa học tự nhiên xuất sắc, từ năm 1993 được chuyển thành một giải cá nhân và một giải cho tập thể các nhà khoa học nữ.
Mặc dù Giải thưởng không lớn (giải cá nhân trị giá 1.500 USD, giải tập thể 2.500 USD) nhưng đã góp phần động viên, khích lệ phụ nữ Việt Nam tham gia nghiên cứu và ứng dụng khoa học vào thực tiễn, khẳng định và nâng cao vị thế của nữ trí thức Việt Nam trong giới khoa học thế giới. Đồng thời cũng ghi nhận những đóng góp có giá trị kinh tế - xã hội cao và mang tính nhân văn sâu sắc của các nhà khoa học nữ Việt Nam vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển đất nước. Giải thưởng Kovalevskaya đã trở thành một giải uy tín lớn trong giới khoa học Việt Nam. Hơn 20 năm qua, Quỹ đã lựa chọn và trao giải cho 28 cá nhân và 12 tập thể xuất sắc. Ngoài việc trao giải thưởng cho các nhà khoa học nữ, Quỹ còn hỗ trợ nhiều hoạt động khác cho phụ nữ Việt Nam như: Học bổng cho các tài năng trẻ trong khoa học tự nhiên; tổ chức các hội thảo “Phụ nữ và khoa học”, “Phụ nữ và nông nghiệp”; hỗ trợ một số trang thiết bị nghe nhìn cho Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam; hỗ trợ máy khâu cho trung tâm dạy nghề của Hội LHPNVN...

Credit: Tạp chí hoạt động khoa học
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Malina (19-05-2010)
  #9  
Cũ 25-11-2007, 19:23
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default

Коnstаntin Eduаrdоvich Tsiolkovsky


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Коnstаntin Eduаrdоvich Tsiolkovsky (1857 - 1935). Là nhà khoa học lý thuyết, nhà nghiên cứu và là người đặt nền móng cho ngành Du hành vũ trụ hiện đại, nhà sư phạm, nhà văn Nga - Xô Viết.

Ông sinh ra tại làng Izhevskoye nay thuộc huyện Spassky, tỉnh Ryazan trong một gia đình trung lưu. Bố của ông là Edward Tsiolkovsky , là một người Ba Lan, còn mẹ ông là bà Maria Yumasheva là người Nga. Khi còn là một đứa trẻ, Konstantin đã rất chăm chỉ và ham học hỏi. Ông không đựơc nhận vào trường học vì ông có vấn đề với đôi tai của mình, sau đó ông tự học ở nhà cho đến khi 16 tuổi.

Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, Tsiolkovsky đã xây dựng lý thuyết về các loại máy móc phục vụ cho nghiên cứu vũ trụ, sau đó phát triển công việc với rất nhiều ý tưởng.Ông còn gặp gỡ với rất nhiều nhà khoa học và cùng hợp tác nghiên cứu.

Tsiolkovsky đã đạt được rất nhiều thành công trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học. Khi gần bị điếc, ông làm công việc giản djay môn Toán học cho đến năm 1920. Sau đó, các công trình nghiên cứu của ông được công nhận và đem lại cho ông nhiều vinh dự to lớn.Năm 1929, ông cho phát hành cuốn sách có tên " Space Rocket Trains".Ông mất ngày 19/9/1935 tại Kulaga.

Credit: lược dịch từ internet
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn BelayaZima cho bài viết trên:
Malina (19-05-2010), PhamNgocSan (15-03-2009)
  #10  
Cũ 25-11-2007, 19:25
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default

Pavel Sergeyevich Alexandrov


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Pavel Sergeyevich Alexandrov sinh năm 1896 , mất năm 1982 là nhà toán học Nga. Ông là viện sĩ Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô năm 1953 và là viện sĩ thông tấn từ năm 1929, chủ tịch danh dự hội toán học Matcơva ( 1932 - 1964), thành viên ban biên tập bộ "Bách Khoa Toàn Thư Toán học", biên tập viên tập san "Những thành tựu của toán học". Alexandrov là thành viên của nhiều Viện Hàn Lâm khoa học và hiệp hội khoa học và ông được trao tặng rất nhiều giải thường.
Alexandrov là người sáng lập ra trường phái Topo Xô Viết được thế giới công nhận. Ông bắt đầu công tác nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lí thuyết tập hợp và lí thuyết hàm. Sau đó ông dành trọn vẹn cuộc đời để hoàn thiện Topo học!

Credit: Mathemmatics ND friends
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Malina (19-05-2010)
  #11  
Cũ 30-11-2007, 10:04
Gấu Misa's Avatar
Gấu Misa Gấu Misa is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 388
Cảm ơn: 190
Được cảm ơn 293 lần trong 126 bài đăng
Default

Sao mình không thấy giới thiệu về GS Landau vậy.Ông là một nhà vật lý nổi tiếng của Nga,mình nhớ không lầm thì ông đã từng đoạt giải Nobel vật lý đấy.Nếu giới thiệu những nhà khoa học lớn của Nga mà không nói về ông là thiếu sót đấy.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #12  
Cũ 30-11-2007, 10:59
BelayaZima's Avatar
BelayaZima BelayaZima is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 2,190
Cảm ơn: 4,706
Được cảm ơn 5,040 lần trong 1,409 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới BelayaZima Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới BelayaZima
Default

Trích:
Gấu Misa viết Xem bài viết
Sao mình không thấy giới thiệu về GS Landau vậy.Ông là một nhà vật lý nổi tiếng của Nga,mình nhớ không lầm thì ông đã từng đoạt giải Nobel vật lý đấy.Nếu giới thiệu những nhà khoa học lớn của Nga mà không nói về ông là thiếu sót đấy.
Nếu bạn có thông tin thì bạn post cho mọi người cùng biết nhé. Mình cũng sưu tầm thôi bạn ạ. Chờ bài post của bạn
__________________
Take It Easy

Trả lời kèm theo trích dẫn
  #13  
Cũ 01-12-2007, 10:57
Gấu Misa's Avatar
Gấu Misa Gấu Misa is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 388
Cảm ơn: 190
Được cảm ơn 293 lần trong 126 bài đăng
Default

Theo đề nghị của Belaya Zima,mình xin phép giới thiệu vài dòng về tiểu sử của GS Landau,thông tin này mình lấy từ 'Bách khoa toàn thư Việt Nam' và trang VietNamNet

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Lev Davidovich Landau(22/1/1908 - 1/4/1968),tại Baku(Azerbaijan), nhà vật lí người Nga, người sáng lập trường phái vật lí lí thuyết , viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (1946). Các công trình về nhiều lĩnh vực vật lí: từ học, siêu chảy và siêu dẫn, vật lí chất rắn, lí thuyết chuyển pha loại 2, vật lí hạt nhân và các hạt cơ bản, plasma, điện động lực học lượng tử, vật lí thiên văn...; đồng tác giả với Lipsit (E. M. Lifshic) soạn bộ giáo trình kinh điển nổi tiếng về vật lí lí thuyết. Giải thưởng Nôben về vật lí (1962).
Ông được trao tặng giải thưởng Lenin,ba lần được giải thưởng quốc gia,là Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học. Nǎm1954,được tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.Ông qua đời tại Moskva(Liên Xô).
(Nguồn:Bách khoa toàn thư Việt Nam,
VietNamNet)
Nếu bạn có thêm thông tin thì cứ post lên để bổ sung cho bài viết này.

Mình bổ sung thêm hình ảnh nhé!

Thay đổi nội dung bởi: BelayaZima, 01-12-2007 thời gian gửi bài 16:05
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Gấu Misa cho bài viết trên:
Malina (19-05-2010), PhamNgocSan (15-03-2009)
  #14  
Cũ 02-12-2007, 01:07
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Trích:
Gấu Misa viết Xem bài viết
Sao mình không thấy giới thiệu về GS Landau vậy.Ông là một nhà vật lý nổi tiếng của Nga,mình nhớ không lầm thì ông đã từng đoạt giải Nobel vật lý đấy.Nếu giới thiệu những nhà khoa học lớn của Nga mà không nói về ông là thiếu sót đấy.
Bài sau Hungmgmi đã post bên 4rum cũ, nay xin post lại vào đây nhân đề nghị của Gấu Misa:

Hồi nhỏ Hungmgmi có đọc một cuốn sách viết về Lép Lan-đao, nay quên mất tên rồi. Nay tình cờ thấy có bài viết này về nhà bác học Xô viết này:

Những điều chưa biết về Lev Landau-Nhà bác học Liên xô đoạt giải Nobel

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Lev Davidovich Landau nhận giải Nobel năm 1962. Nhiều người ngưỡng mộ ông như thần tượng, họ thích cái vẻ bướng bỉnh trơ tráo nhưng đầy sức hấp dẫn mê hoặc của ông. Con người Landau là cái gì đó vượt ra khỏi sự nhàm chán của những thứ hiện hữu thường ngày. Và người ta đã luôn muốn phớt lờ đi hai sự kiện chính trị trong cuộc đời Landau: ông từng bị Joseph Stalin bỏ tù vào cuối những năm 1930, và một thập kỷ sau đó, ông đã tham gia vào chương trình vũ khí hạt nhân của Liên Xô.


Những lý thuyết của Landau là trụ cột của vật lý chất rắn thế kỷ 20. Chúng mô tả các hiện tượng siêu chảy, siêu dẫn, những vấn đề của vật lý thiên văn, vật lý hạt và nhiều lĩnh vực khác. Cho đến tận bây giờ, các mức Landau, hiện tượng nghịch từ Landau, phổ Landau, lý thuyết Landau-Ginzburg và nhiều khám phá khác của Landau vẫn là những giá trị kinh điển và vô cùng hữu ích của vật lý hiện đại. Những cuốn sách giáo khoa của ông đã được nhiều thế hệ các nhà khoa học sử dụng: ở thư viện Đại học Havard, số sách của Landau nhiều gấp bốn lần số sách của nhà vật lý Mỹ nổi tiếng Richard Feynman.
Quan điểm chính trị đầy cá tính của Landau đã khiến ông liên tục bị nằm trong tầm ngắm của KGB, cơ quan cảnh sát mật Liên Xô. Người ta biết được điều đó từ năm 1989, khi Maia Besserab, cháu gái của vợ Landau cho tái bản lần thứ tư cuốn tiểu sử về ông. Trong lần tái bản này, Besserab đã tiết lộ toàn bộ câu chuyện đằng sau vụ bắt giữ Landau năm 1938. Theo như lời kể của Besserab, một sinh viên cũ của Landau là Leonid Pyatigorsky, vì bất mãn với thầy nên đã vu cho Landau là gián điệp của Đức. Vào cái thời của Stalin, rất nhiều người đã bị giết vì những lời vu cáo kiểu như vậy.
Nhưng thật không may cho tác giả cuốn tiểu sử, Pyatigorsky vẫn còn sống. Sự thực là Landau đã trục xuất người sinh viên này ra khỏi nhóm lý thuyết của viện Kharkov ở Ukraine. Landau rất nghiêm khắc với học trò, chính vì vậy mà trên cánh cửa văn phòng ông đã bị ghi một lời cảnh báo: "Hãy cẩn thận! Ông ấy cắn đấy!". Tuy thế mà nhiều sinh viên vẫn rất yêu quý Landau, họ thường gọi ông bằng cái tên thân mật là "Dau". Ngay cả Pyatigorsky, sau khi bị đuổi vẫn rất sùng kính Landau. Và cảm thấy sốc bởi lời buộc tội, Pyatigorsky đã kiện Besserab ra tòa vào mùa hè năm 1990.
Tòa án đã sử dụng hồ sơ của KGB để kiểm tra tư liệu về Landau. Trong tư liệu không hề có đoạn nào nói đến Pyatigorsky, và Besserab đã phải công khai đưa ra lời xin lỗi.

Trung thành hay chống đối?
Sinh ngày 22 tháng giêng ở Baku, Azerbaijan, Landau là con trai của một cặp vợ chồng người Do Thái. Bố cậu là một kỹ sư làm trong ngành công nghiệp dầu ở địa phương, mẹ cậu là một bác sỹ. Khi Cách Mạng Tháng Mười nổ ra năm 1917, cậu mới có 9 tuổi. Năm 14 tuổi, Landau vào Đại học Baku và chuyển tiếp đến Đại học Quốc gia Leningrad để học hai năm cuối. Tốt nghiệp năm 1927, Landau tiếp tục nghiên cứu ở Viện Vật lý Kỹ thuật Leningrad, cái nôi của nền vật lý Xô Viết.
Năm 1929, Landau được nhận học bổng đi nghiên cứu ở nước ngoài. Sau một năm làm việc với Niels Bohr ở Copenhaghen, Landau sang Anh. Ở đây, Landan gặp Pyort Kapitsa, một nhà thực nghiệm Xô Viết nổi tiếng đã làm việc ở Phòng thí nghiệm Cavendish từ 1921. Để giải đáp cho một trong những vấn đề khoa học của Kapitsa, Landau đã phát triển lý thuyết về hiện tượng nghịch từ của các electron trong kim loại, đây là đóng góp lớn đầu tiên của ông cho khoa học.
Năm 1932, Landau đến Kharkov và trở thành người đứng đầu bộ môn lý thuyết ở Viện Vật lý Kỹ thuật Ukraine. Tại đây, ông bắt đầu những nghiên cứu đầu tiên của mình về sự chuyển pha loại hai và hiện tượng sắt từ.
Là một người có khả năng sư phạm, Landau cũng bắt đầu viết sách. Ông đã cùng với học trò Evgenni Lifshitz của mình viết một bộ sách kinh điển gồm chín tập Các Bài giảng Vật lý lý thuyết (Pergamon Press, 1975-1987). Viện của ông đã sớm nổi danh khi sản sinh ra những nhà khoa học hàng đầu thế giới, tham gia giải quyết hầu hết các vấn đề của vật lý lý thuyết.

Hendrik Casimir, nhà vật lý từng gặp Landau ở Copenhagen, đã nhớ về Landau như một người cộng sản hừng hực khí thế, rất tự hào về những thành quả cách mạng của đất nước mình. Sự nhiệt thành xây dựng nền khoa học Xô Viết của Landau cũng một phần xuất phát từ tình yêu xã hội chủ nghĩa của ông. Năm 1935, ông đã đăng một bài viết nhỏ có tiêu đề "Giai cấp Tư sản và Vật lý Đương đại" trên tờ báo Liên Xô Izvestia. Ngoài nội dung cực lực phê phán sự núp bóng tôn giáo và ỷ vào sức mạnh tiền bạc của giai cấp tư sản, bài viết còn ca ngợi "những triển vọng chưa từng có trong việc phát triển nền vật lý trên đất nước chúng ta, được đem lại bởi Đảng và chính phủ." Là một người có quan điểm rõ ràng, Landau đã khẳng định rằng, ông và các bạn của ông là "những người cộng sản," những thứ mà ông ghét là "bọn phát xít".
Mặc dù trung thành với hệ thống Xô Viết nhưng Landau vẫn phải chịu những công kích từ một số tay bút xã hội chủ nghĩa. Vào cuối những năm 1930, một vấn đề mới đã nảy sinh trong vật lý. Khi đo đạc một hiện tượng phân rã hạt nhân (phân rã bêta), người ta đã thấy phản ứng này làm mất đi một lượng năng lượng mà chưa tìm được cách nào để giải thích. Ban đầu, Landau và một số người đã ủng hộ giả thuyết của Bohr, cho rằng thí nghiệm này đã phá vỡ định luật bảo toàn năng lượng. Tuy nhiên, về sau chính Landau loại bỏ giả thuyết này khi chứng minh được rằng nó mâu thuẫn với lý thuyết hấp dẫn của Albert Einstein. (Wolfgang Pauli đã tìm ra lời giải cho vấn đề nghiêm trọng này khi giả thuyết rằng có một hạt trung hòa chưa biết đã mang đi phần năng lượng bị mất, hạt đó được Enrico Fermi đặt tên là "neutrino", theo tiếng Ý nghĩa là "cái gì đó nho nhỏ và trung hòa"). Thật không may cho Landau, người đồng sáng lập chủ nghĩa Marx là Friedrich Engels từ thế kỷ 19 đã khẳng định rằng, định luật bảo toàn năng lượng vĩnh viễn là nền tảng của khoa học. Và thế là chỉ vì một sai lầm nhất thời (đã được sửa chữa) mà Landau đã bị các báo chí địa phương được cơ hội phê phán ầm ĩ, thậm chí còn gay gắt quy cho ông là báng bổ chủ nghĩa Marx.
Cái nhìn về xã hội của Landau đã sớm thay đổi. Năm 1934, viện Kharkov có một giám đốc mới - với mục tiêu chuyển hướng nghiên cứu sang các ứng dụng quân sự. Landau đã đấu tranh kịch liệt để giữ lại khoa học thuần túy. Ông cũng đã đề nghị chia viện ra để có được một phân viện chỉ nghiên cứu vật lý. Landau và bạn ông, Koretz đã nỗ lực hết sức để thực hiện được điều đó. Nhưng Pyatigorsky đã khai báo kế hoạch này cho cấp trên (chỉ nhằm chống lại Landau vì đã đuổi mình) mà không ý thức hết hậu quả của hành động đó. Không chấp hành chỉ thị cấp trên sẽ bị coi là phá hoại chương trình quân sự của Liên Xô, tháng 11 năm 1935, Koretz bị bắt.
Landau đã rất dũng cảm đứng ra kháng cáo với cơ quan KGB ở Ukraine để bảo vệ bạn mình. Koretz được thả vì "thiếu bằng chứng buộc tội."
Năm 1937, KGB bắt giữ một số nhà vật lý Đức đang làm việc ở Kharkov. Trước khi bị bắt, những người bạn của Landau là Lev Shubnikov và Lev Rozenkevich đã "khai" rằng Landau đứng đầu một tổ chức phản cách mạng. Khi ấy, Landau đã cảm thấy có lẽ nên chạy đến một nơi khác thì sẽ an toàn hơn. Landau đến Moscow vào tháng hai khi Kapitsa mời ông làm trưởng bộ môn lý thuyết ở Viện Các Vấn đề Vật lý. Hai người bạn Koretz và Rumer cũng đến Moscow với Landau, nhưng chỉ một năm sau, ngày 28 tháng 4 năm 1938, cả ba người đều bị bắt.


Trong tù
Các học trò và đồng nghiệp của Landau thì bị khiển trách vì đã ủng hộ cho ông nhằm "chống lại chủ nghĩa duy vật biện chứng và thậm chí là chống lại định luật bảo toàn năng lượng." Họ tin rằng, Landau đã bị kẻ thù của ông vu cáo. Chắc chắn là Landau có nhiều kẻ thù, bởi vì ông hay thích trêu chọc người khác. Chẳng hạn như, vào một ngày cá tháng tư (1/4), ông đã dán lên một bảng các mức lương ở viện Kharkov, được phân loại theo năng lực thực sự của mỗi người - đó là một trò đùa làm các thượng cấp cảm thấy rất khó chịu.
Những cáo buộc chống lại Landau trên thực tế lại nghiêm trong hơn nhiều so với sự "dị giáo khoa học." Ông bị buộc tội cầm đầu một tổ chức phản cách mạng. KGB chỉ còn chờ đến ngày thích hợp để bắt ông - một tuần trước lễ diễu hành ngày 1 tháng 5 truyền thống.
Landau được đưa tới nhà tù Lubyanka. Theo những dòng tư liệu được viết nguệch ngoạc bởi một sỹ quan KGB thì Landau đã bị bắt phải đứng bảy tiếng đồng hồ mỗi ngày, thậm chí còn bị dọa chuyển đến nhà tù Lefortovo, một nơi rất khủng khiếp. Sau hai tháng, Landau bắt đầu suy sụp và đã phải viết một bài thú nhận dài 6 trang. Trên đó viết: "Vào đầu năm 1937, chúng tôi đã cho rằng, Đảng đã bị suy đồi và chính phủ Xô Viết không còn hoạt động vì lợi ích của giai cấp công nhân nữa mà vì lợi ích của một nhóm nhỏ những người cầm quyền. Rằng, muốn đem lại lợi ích cho đất nước thì phải lật đổ chính quyền hiện nay và thành lập trong USSR một nhà nước nhằm bảo vệ kolkhozes (các nông trang) và đảm bảo quyền sở hữu nhà nước trong công nghiệp, nhưng nhà nước này sẽ được xây dựng trên các nguyên tắc của những nhà nước dân chủ tư sản."
Có thể tin được rằng, ít nhất thì Landau và Koretz cũng đã có những suy nghĩ không bình thường vào thời gian đó. Một tờ giấy viết tay đã ghi lại việc Koretz thuyết phục Landau cần phải hành động. Khó tìm được bằng chứng nào có chữ viết của Landau, ông hầu như không bao giờ cầm bút để viết những văn bản và tài liệu, ông thường đọc cho người khác chép, kể cả bộ sách nổi tiếng cũng được làm như vậy (bản thú nhận chính là bài viết tay dài nhất trong đời của Landau). Tuy nhiên, người ta vẫn tìm ra cách để buộc tội ông. Cả Landau và Koretz đã ký vào một bản tuyên ngôn với cái tên của một tổ chức giả mạo, dựa vào đó người ta có thể làm cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn.

Kapitsa đã cứu Landau. Vì uy tín từ việc phát minh ra công nghệ mới sản xuất oxy phục vụ đắc lực cho công nghiệp luyện kim nên Kapitsa đã có những mối quan hệ rất tốt với chính phủ. Ông cũng có những khả năng tốt trong giao tiếp với giới cầm quyền. Trong đời, Kapitsa đã viết tới hơn một trăm bức thư cho Kremlin về các vấn đề chính sách khoa học, cũng như để bảo vệ các nhà vật lý, chẳng hạn như Vladimir Fock (nhà lý thuyết trường lượng tử).
Năm 1938, người đứng đầu KGB đột nhiên "mất tích," và Lavrenti Beria đã kế nhiệm vị trí này. Khi nhận thấy thời cơ tốt, Kapitsa đã viết một bức thư cho thủ tướng Vyacheslav Molotov, nói rằng, ông vừa có một khám phá "về một hiện tượng mới rất khó hiểu của vật lý hiện đại" và không có nhà lý thuyết nào ngoài Landau có thể giải thích được nó. Và đúng vào ngày 1 tháng 5 năm 1939, sau 1 năm bị giam cầm, Landau đã được tự do. Chỉ trong một vài tháng, ông đã giải thích được hiện tượng siêu chảy của Kapitsa bằng việc sử dụng các lượng tử sóng âm (các phonon) và một dạng kích thích mới được gọi là roton. Cả Landau và Kapitsa đã được nhận các giải Nobel vào các năm 1962 (Landau) và 1978 (Kapitsa).
Năm 1939, Landau lấy K.T. Drobanzeva, và năm 1946, họ có một câu con trai tên là Igor.
Một vài năm sau khi Landau được thả, Stalin quyết định khởi động chương trình bom nguyên tử của Liên Xô. Viện của Kapitsa nhận chỉ thị tham gia vào chương trình này, và Stalin đã chọn Beria là người giám sát tối cao. Kapitsa tuy không phải là người theo chủ nghĩa hòa bình nhưng đã không thể chịu nổi cái không khí làm việc với viên trùm cảnh sát mật. Ông đã viết thư cho Stalin, nói rằng Beria không thích hợp để đứng đầu một chương trình như vậy.

(Xem tiếp)
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên:
Malina (19-05-2010), PhamNgocSan (15-03-2009)
  #15  
Cũ 02-12-2007, 01:12
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

(Tiếp theo)

Bước vào thế giới bom hydro
Đây là một công việc nguy hiểm quá sức tưởng tượng. Tướng Andrei Khrulev, một người bạn của Kapitsa đã kể với Kapitsa về cuộc đối thoại giữa Beria và Stalin. Beria muốn cái đầu của Kapitsa, nhưng Stalin đã nói với y rằng mặc dù có thể sa thải Kapitsa nhưng không thể giết ông. Rõ ràng là Stalin đã rất coi trọng Kapitsa, một nhà vật lý nổi tiếng thế giới: ông là thành viên của Hội Hoàng gia Anh.
Kapitsa thoát nạn, mặc dù ông vẫn phải chịu sự quản thúc tại nhà cho đến khi Stalin chết. Tuy nhiên, trong thời gian này, Landau đã tham gia vào chương trình tối mật. Công việc của ông trong chương trình chế tạo bom là tính toán dữ liệu chứ không phải phải vật lý lý thuyết. Landau là người dẫn đầu nhóm các nhà vật lý trong việc tính toán động học quả bom nhiệt hạch đầu tiên của Liên Xô (sloika). (Theo Hans Bethe, một trong những người chế tạo bom của Mỹ thì các nhà khoa học Mỹ khi đi đến một thiết kế bom tương tự đã không thể tính toán tới nơi tới chốn được như Landau.)
Phần toán học của lý thuyết bom đã được tiết lộ và xuất bản năm 1958. Vào những năm 1950, ngay trong giai đoạn còn nghiên cứu về bom, Landau đã cùng Vitaly Ginzburg thực hiện thành công một công trình nghiên cứu cực kỳ quan trọng, có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của vật lý hiện đại. Nó là sự phát triển các phương pháp và mô hình đối với một số lớn các hệ vật lý như: siêu dẫn, hạt cơ bản, các hỗn hợp hóa học... Nó đã tiên liệu được những hiện tượng chung nhất của sự phá vỡ đối xứng, một điều rất quan trọng đối với các nhà lý thuyết hạt.
Một điều trớ trêu là, vì những đóng góp lớn cho các chương trình bom nguyên tử và bom hydro, Landau đã nhận hai giải thưởng Stalin vào năm 1949 và 1953. Năm 1954, ông được phong tặng danh hiệu "Anh hùng Lao động Xã hội chủ nghĩa."
Năm 1957, có lẽ Landau đã xin được Đảng Cộng Sản cho phép đi ra nước ngoài. Theo yêu cầu của Đảng, KGB đã thu thập tư liệu về những cuộc trao đổi giữa Landau và các bạn ông trong giai đoạn 1947-1957. Theo như KGB mô tả thì họ đã thu được những tư liệu này bằng "những kỹ thuật đặc biệt". Chúng được cất trữ trong tập hồ sơ của Đảng Cộng Sản, hiện giờ đã được tiết lộ.
Trong những tư liệu này, Landau đã tự gọi mình là một "nhà khoa học nô lệ". Điều đó có thể hiểu được, vì bản chất con người Landau là thích chống đối. Hơn nữa, những gì mà Landau đã từng phải trải qua trong những năm 1930 đã khiến ông trở nên đối địch với Stalin. Nhưng theo tư liệu này thì, trong con người Landau còn có một sự biến đổi quan điểm chính trị sâu sắc hơn nhiều. Có lần, một người bạn của Landau nói rằng, nếu Lenin mà sống lại thì Người sẽ cảm thấy rất kinh hoàng vì những gì Người nhìn thấy. Landau cãi lại ngay: "chính Lenin cũng sẽ làm như vậy thôi"...
Có thể thấy một cách rõ ràng rằng, sự nhìn nhận của Landau là rất không bình thường (có lẽ trong trường hợp này, ông đã không giữ được bình tĩnh để phân biệt và nhận xét cho thấu đáo). Hầu hết tất cả đồng nghiệp của Landau cũng đều là niềm tự hào của Liên Xô xã hội chủ nghĩa - bao gồm cả Evgenyevich Tamm, người nhận giải Nobel Vật lý đầu tiên của Liên Xô và Andrei Sakharov, người nhận giải Nobel Hòa bình đầu tiên của Liên Xô. Tất cả bọn họ đều thấy được tội lỗi của Stalin và coi Stalin như một kẻ đã phản bội lại lý tưởng của Lenin. Đối với họ, Lenin vẫn luôn là một người anh hùng.
Có lẽ chỉ có hai nhà vật lý là dám bày tỏ sự chán ghét cái công việc làm bom cho Stalin. Một người là Landau, người kia là Mikhail Leontovich, người mà năm 1951 đã dẫn đầu nhóm nghiên cứu lý thuyết trong chương trình nhiệt hạch của Liên Xô. Landau đã phục vụ cho chương trình bom bởi vì nó sẽ bảo vệ ông trước giới cầm quyền. Ông đã cố gắng giới hạn sự tham gia của mình và một lần ông đã điên lên chửi bới Yakov Zeldovich vì Zeldovich đã muốn phát triển hơn nữa quả bom. Sau khi Stalin chết, Landau đã nói người học trò Isaac M. Khalatnikov: "Thế đấy! Ông ta đã biến rồi! Bây giờ thì tôi không sợ ông ta nữa và tôi cũng sẽ không làm cái gì liên quan đến vũ khí nguyên tử nữa."
Tuy nhiên, vẫn còn một câu hỏi: tại sao Landau hoàn toàn không thích làm bom mà sự đóng góp của ông cho chương trình bom lại nhiều và quan trọng như vậy? Chính Khalatnikov, người đã trở thành giám đốc của Viện Vật lý Lý thuyết Landau (thành lập năm 1965) đã trả lời câu hỏi này: Landau đơn giản là không có khả năng làm được những công việc kém chất lượng.
Năm 1962, Landau bị tai nạn ôtô. Ông sống được, nhưng não bị tổn thương và không thể tiếp tục nghiên cứu khoa học. Ông mất đúng vào ngày 1 tháng 4 năm 1968. Học trò của ông, Alexander I. Ahkiezer khi nhận được tin này đã cứ ngỡ rằng, đó chỉ là một trò đùa như thường lệ vào ngày cá tháng tư của thầy Dau...

Trần Trung lược dịch
Nguồn: http://www.tiasang.com.vn/news?id=835
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên:
Gấu Misa (16-12-2007), Malina (19-05-2010), ninh (18-01-2011), PhamNgocSan (15-03-2009)
  #16  
Cũ 17-12-2007, 10:28
Gấu Misa's Avatar
Gấu Misa Gấu Misa is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 388
Cảm ơn: 190
Được cảm ơn 293 lần trong 126 bài đăng
Default

Sao lâu quá không thấy thêm bài viết nào giới thiệu về những nhà khoa học lớn của Nga vậy.Thế Gấu Misa xin được tiếp tục vậy nhé.
Tư liệu dưới đây G.M tìm được trên trang Wikipedia VN viết về nhà bác học A.D.Sakharov,ông cũng là người đạt được giải Nobel hòa bình năm 1975.
Andrei Dmitrievich Sakharov
Andrei Dmitrievich Sakharov (tiếng Nga: Андре́й Дми́триевич Са́харов; 21 tháng 5 năm 1921 – 14 tháng 12 năm 1989) là một nhà vật lý Liên Xô, nhà hoạt động xã hội, viện sĩ Viện Hàn lâm Liên Xô (1953).
Thân thế sự nghiệp
Sinh trong một gia đình trí thức ở Moskva. Cha là giáo viên vật lý.
Ông tốt nghiệp khoa vật lý trường Đại học Tổng hợp Moskva năm 1942 và đạt bằng đỏ, làm nghiên cứu sinh ở Viện vật lý Lebedeva P.N (1947), lấy bằng tiến sĩ khoa học toán lý (1953).
Sau đó ông là kĩ sư trong nhà máy đạn Ulianovsk. Năm 1945 ông làm việc với Igor Tamm, nhà vật lí nổi tiếng. Ông cùng với Igor Tamm nghiên cứu và chế tạo bom hydro.
Năm 1962, Liên Xô thử nghiệm bom hydro. Ông tích cực chống việc thử vũ khí hạt nhân. Từ đó, ông trở thành một nhà hoạt động vì nhân quyền.
Ông được tặng giải Nobel Hoà bình năm 1975 (tuy ông không được giấy phép rời Liên Xô để lãnh giải), 3 lần anh hùng lao động Liên Xô (1953, 1955 và 1962), giải thưởng Lenin năm 1956, giải thưởng Stalin năm 1953. Từ năm 1989 là đại biểu quốc hội Liên Xô.
(Nguồn: Wikipedia VN http://vi.wikipedia.org )
Tư liệu trên còn hơi sơ sài,nếu các bác có thêm thông tin nào về ông có thể post lên cho mọi người cùng xem.
Hình kèm theo
File Type: jpg Sakharov_1943.jpg (10.6 KB, 23 lần tải)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Gấu Misa cho bài viết trên:
Malina (19-05-2010), PhamNgocSan (15-03-2009)
  #17  
Cũ 18-12-2007, 08:20
tuong123's Avatar
tuong123 tuong123 is offline
Salat Nga - салат Оливье
 
Tham gia: Dec 2007
Đến từ: Hội An - Quảng Nam
Bài viết: 218
Cảm ơn: 133
Được cảm ơn 165 lần trong 75 bài đăng
Default

Sergey Pavlovich Korolyov (Tiếng Nga: Сергей Павлович Королёв) (12/01/1907–14/01/1966), thường gọi Sergey Korolyov hoặc Sergei Korolev, là một nhà khoa học, kỹ sư và nhà thiết kế tên lửa hàng đầu của Liên Xô trong cuộc chạy đua vào không gian với Hoa Kỳ vào thập niên 1950 và 1960. Ông sinh tại Zhytomyr, Ukraina và mất tại Moskva, Liên Xô cũ (nay thuộc Nga).

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Ở thời điểm ông qua đời đột ngột năm 1966, các kế hoạch của Liên Xô đưa người lên Mặt Trăng trước Hoa Kỳ đã bắt đầu được triển khai.

- Giáo dục
Năm 1923, cậu tham gia Hiệp hội Hàng không và Dẫn đường không lưu Ukraina và Crimea. Nhờ tham gia đội thủy phi cơ, cậu đã có những bài học bay đầu tiên và có cơ hội có mặt trên nhiều chuyến bay. Ở tuổi 17, một mình cậu thiết kế tàu lượn được gọi là K-5, thiết kế này sau đó được Hiệp hội cho phép chế tạo. Cũng cùng thời gian này, Korolev được đào tạo để trở thành một vận động viên thể dục dụng cụ, nhưng rồi việc học hành này bị gián đoạn bởi những ham mê hàng không. Năm 1924, Korolev theo học Học viện Bách khoa Kiev vì trường này có bộ môn hàng không. Ở Kiev, cậu sống cùng người cậu Yuri và kiếm tiền trang trải khóa học bằng nhiều việc khác nhau. Chương trình học ở trường định hướng về kỹ thuật và còn nhiều môn toán học, vật lý và chế tạo cơ khí.

Năm 1925, cậu được nhận theo học một khóa về chế tạo tàu lượn. Korolev được phép bay bằng tàu lượn huấn luyện và kết thúc bằng việc hai xương sườn bị gãy. Tháng 07 năm 1926, sau khi kết thúc năm học thứ hai ở Học viện Bách khóa Kiev, Korolev được nhận vào trường Kỹ thuật cao cấp mang tên Bauman ở Moskva.

Cho đến 1929, Korolev học tập chuyên sâu vào lĩnh vực hàng không. Anh tiếp tục sống với gia đình dù điều kiện sống khá chật chội. Cũng năm này, do nhu cầu về kỹ sư lớn và cấp tốc của chính phủ, anh có thể nhận bằng tốt nghiệp nếu thiết kế được một mẫu máy bay có tính thực tế. Korolev đã hoàn thành thiết kế và được phê chuẩn vào cuối năm đó. Giáo viên hướng dẫn của anh chính là Andrei Tupolev.

- Thời gian khởi đầu sự nghiệp
Sau khi tốt nghiệp, Korolyov làm việc tại phòng thiết kế máy bay mang tên Bộ phận thí nghiệm số 4. Đơn vị này do một cán bộ người Pháp là Paul Richard lãnh đạo và có nhiều nhà thiết kế xuất sắc nhất của Liên Xô. Korolyov không nổi bật trong đơn vị song bên cạnh công việc vốn cần nhiều tâm sức, anh tiến hành những dự án của riêng mình. Một trong những thành quả riêng là một thiết kế tàu lượn có khả năng nhào lộn. Đến năm 1930, anh trở thành kỹ sư trưởng của dự án chế tạo máy bay ném bom hạng nặng TB-3 do Tupolev đứng đầu.

Năm 1930, Korolyov cuối cùng đã có bằng phi công. Năm sau, anh lập gia đinh với Xenia Vincentini, người phụ nữ anh theo đuổi từ 1924. Anh đã từng cầu hôn nhưng cô từ chối vì muốn tiếp tục theo học cao hơn. Cũng trong khoảng 1930, Korolyov dần để tâm đến những khả năng ứng dụng của động cơ tên lửa sử dụng nhiên liệu lỏng. Vì đam mê ban đầu của mình là máy bay, anh đã nhìn nhận thấy tiềm năng sử dụng động cơ này để trang bị cho máy bay. Năm 1931, cùng với Friedrich Zander – một nhà tiên phong trong lĩnh vực tên lửa và du hành vũ trụ của Liên Xô, Korolyov tham gia hình thành Tổ nghiên cứu động cơ đẩy phản lực (Jet Propulsion Research Group), một trong những trung tâm quốc gia đầu tiên phát triển tên lửa ở Liên Xô. Tháng 05 năm 1932, anh trở thành lãnh đạo của tổ khi mới 25 tuổi.

Trong những năm sau đó, tổ nghiên cứu của Korolyov phát triển ba hệ thống đẩy khác nhau, hệ thống đi sau thành công hơn hệ thống trước đó. Năm 1932, quân đội bắt đầu quan tâm đến những nghiên cứu của nhóm và tài trợ một phần chi phí. Năm 1933, nhóm thực hiện phóng quả tên lửa nhiên liệu lỏng đầu tiên. Sự kiện này diễn ra chỉ sau 7 năm cuộc phóng tên lửa ít được biết đến của Robert Goddard.

Cùng với sự quan tâm của quân đội về kỹ thuật tên lửa mới mẻ, Tổ nghiên cứu của Korolev sáp nhập với Phòng thí nghiệm khí động học ở Leningrad (nay là Saint Petersburg) năm 1933. Việc sáp nhập này cho ra đời Viện nghiên cứu động cơ đẩy phản lực do kỹ sư quân đội Ivan Kleimenov lãnh đạo. Viện có nhiều cán bộ ham mê với lĩnh vực du hành trong không gian như Valentin Glushko. Korolev là lãnh đạo cấp phó của Viện, ông chỉ đạo phát triển tên lửa hành trình và tàu lượn dẫn động bằng tên lửa.

- Tên lửa đạn đạo

Năm 1945, Korolyov được thưởng bằng khen danh dự, phần thưởng đầu tiên, cho những đóng góp phát triển động cơ tên lửa cho máy bay quân sự. Cùng năm đó, ông chuyển sang ngạch quân sự, với cấp bậc đại tá. Cùng với các chuyên gia tên lửa khác, ông bay sang Đức để tập trung dữ liệu về tên lửa V-2. Các chuyên gia Xô viết đặt ưu tiên là khôi phục tài liệu tên lửa V-2 đã thất lạc và nghiên cứu nhiều bộ phận tên lửa cũng những các máy móc chế tạo chúng. Năm 1946, chính phủ Liên Xô quyết định đưa 5.000 công nhân Đức đã tham gia sản xuất tên lửa về Liên Xô để phục vụ dự án tên lửa của mình. Phần lớn số công nhân này là những chuyên viên kỹ thuật không quan trọng vì những nhà khoa học tên lửa hàng đầu của Đức (trong đó có Wernher von Braun) đã bị đưa sang Mỹ trong chiến dịch Paperclip.

Lãnh tụ Liên Xô lúc đó – Stalin quyết định việc phát triển tên lửa là ưu tiên cấp quốc gia. Các công nhân đưa từ Đức về làm việc tại viên nghiên cứu tên lửa mới thành lập mang tên NII-88 (tiếng Nga: научно-исследовательский институт № 88). Họ được đối đãi tốt dưới sự trông coi bởi các giám sát nữ. Công tác nghiên cứu phát triển tên lửa đạn đạo được đặt dưới sự lãnh đạo quân sự, Korolyov là tổng công trình sư về tên lửa tầm xa. Ông thể hiện một năng lực tổ chức, vận hành bộ máy nhiều phòng ban, nhiều chức năng.

Với những tài liệu được phục hồi, cùng những bộ phận rời của tên lửa V-2, tổ phát triển tên lửa bắt đầu tái tạo V-2, dưới tên R-1. Thử nghiệm đầu tiên tiến hành tháng 10 năm 1947. Trên tổng số 11 tên lửa phóng đi, 5 quả bắn trúng mục tiêu. Tỷ lệ này tương đương với kết quả của người Đức và cho thấy V-2 không ổn định. Những công nhân Đức tiếp tục làm việc tại Liên Xô cho chương trình tên lửa. Họ bắt đầu được trở về Đức năm 1952 và những người cuối cùng trở về năm 1954.

Từ năm 1947, bộ phận dưới quyền Korolyov bắt đầu phát triển các thiết kế tiên tiến hơn, với yêu cầu về tầm bắn và sức chở lớn hơn. Tên lửa R-2 đạt tầm bắt gấp đôi V-2, nó là thiết kế đầu tiên mang một đầu đạn. Kế tiếp tên lửa R-3 đạt cự ly 3.000 km tức là có thể vươn tới lãnh thổ Anh. Tuy nhiên, Glushko đã không thể phát triển được các động cơ tên lửa đáp ứng yêu cầu về sức đẩy. Thiết kế R-3 bị hủy bỏ năm 1952.

Cùng năm 1952, dự án tên lửa R-5 được bắt đầu (khối NATO đặt tên cho nó là SS-3 Shyster) và đạt tầm bắn khiêm tốn 1.200 km. Cuộc phóng thử thành công đầu tiên đạt được ngay năm 1953. Nhưng R-7 Semyorka mới là tên lửa đạn đạo liên lục địa đầu tiên trên thế giới, NATO gọi nó là SS-6 Sapwood. Đây là tên lửa hai lớp đẩy, trọng tải tối đa 5,4 tấn, đủ sức mang một đầu đạn hạt nhân khổng lồ của Liên Xô tới mục tiêu cách xa 7.000 km. Sau một số thử nghiệm thất bại, R-7 phóng thành công tháng 8 năm 1957, đích là một địa điểm trên bán đảo Kamchatka.

Năm 1952, Korolyov gia nhập Đảng cộng sản, một thuận lợi để ông tiếp tục lãnh đạo các dự án trong tương lai. Ngày 19 tháng 4 năm 1957, ông được khôi phục hoàn toàn quyền công dân, chính phủ ghi nhận bản án năm 1938 với ông là không chính đáng.

Năm 1957, năm Vật lý địa cầu, trên báo chí Hoa Kỳ bắt đầu xuất hiện những ý tưởng về đưa vệ tinh nhân tạo lên vũ trụ. Chính phủ Hoa Kỳ bỏ qua chúng vì không muốn tiêu tốn hàng tỷ đôla vào mục đích này. Tuy nhiên, Korolyov và nhóm làm việc của ông cho rằng đây là lĩnh vực có thể đưa Liên Xô vượt qua Hoa Kỳ. Liên Xô nên là quốc gia đầu tiên trên thế giới đưa được vệ tinh lên quỹ đạo.

Vệ tinh Sputnick chỉ mất chưa đầy một tháng để thiết kế và chế tạo. Cấu trúc của nó khá đơn giản, chỉ gồm một quả cầu kim loại đánh bóng, các thiết bị đo nhiệt, pin và một bộ phận phát tín hiệu vô tuyến. Đích thân Korolyov chỉ đạo việc chế tạo Sputnik, dự án tiến hành rất khẩn trương. Và ngày 4 tháng 10 năm 1957, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người – Sputnik 1 được phóng lên quỹ đạo, mở ra kỷ nguyên chinh phục khoảng không vũ trụ. Vệ tinh này được phóng thành công ngay từ lần đầu tiên.

Sự kiện Sputnik gây chấn động toàn thế giới, nó mở ra nhiều hệ quả chính trị. Khrushchev – lãnh tụ Liên Xô lúc đó, rất hài lòng với sự thành công của Sputnik và quyết định sẽ gặt hái tiếp thành tựu mới để kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười sắp đến. Kết quả là tàu vũ trụ thứ hai – Sputnik 2 được phóng thành công ngày 3 tháng 11 cùng năm, chưa đầy một tháng sau Sputnik 1.

Sputnik 2 nặng hơn Sputnik 1 sáu lần và mang theo chó Laika vào vũ trụ. Toàn bộ con tàu được thiết kế và chế tạo chỉ trong 4 tuần, không có thời gian để thử nghiệm và kiểm tra. Con tàu không được thiết kế để quay trở về Trái đất. Chó Laika chết sau 6 giờ trên vũ trụ vì sức nóng.

Tàu vũ trụ thứ ba – Sputnik 3 phòng ngày 15 tháng 5 năm 1958. Đây có thể coi là một thất bai vì thiết bị ghi dữ liệu thu thập từ chuyến bay không hoạt động. Nếu thành công, có lẽ Liên Xô mới là nước phát hiện và ghi lại được Vành đai bức xạ Van Allen chứ không phải người Mỹ tháng tháng 7 năm đó. Tuy nhiên, điều Sputnik 3 làm được đó là gây sự lo lắng cho Hoa Kỳ về năng lực tên lửa đạn đạo của Liên Xô.


- Mặt Trăng
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Thiết bị đổ bộ Mặt Trăng Luna 3, nhờ nó, lần đầu tiên, con người quan sát được mặt bên kia của Mặt Trăng.

Sau thành công của Sputnick, Korolyov chuyển sự chú ý đến mục tiêu tiếp theo, Mặt Trăng. Một phiên bản của R-7 với lớp đẩy thứ ba, có thể với tới mặt trăng. Động cơ của tầng đẩy này được thiết kế để bắt đầu hoạt động ở ngoài khoảng không vũ trụ. Năm 1958, ba tầu thăm dò được gửi đến Mặt Trăng đều không thành công. Tàu vũ trụ Luna 1 phóng năm 1959 không tiếp xúc được bề mặt Mặt Trăng, nó đi chệch khoảng 6.000 km. Sau một thất bại kế đó, tàu Luna 2 đã đến được Mặt Trăng. Liên Xô lại một lần nữa là quốc gia đầu tiên. Luna 3 là thành công nhảy vọt, nó chụp ảnh được phần Mặt Trăng không bao giờ hướng về phía Trái Đất. Thành tựu này có được chỉ sau Sputnik 1 có hai năm.

Trong cuộc chạy đua đưa người bước ra ngoài khoảng không. Một lần nữa, người Mỹ lại bị bỏ lại phía sau. Tàu Voskhod 2 phóng ngày 18 tháng 3 năm 1965 mang theo Aleksei Arkhipovich Leonov. Anh là người đầu tiên bước ra ngoài khoảng không. Chuyến bay suýt nữa thì trở thành một thảm họa và vì thế cac chuyến bay tiếp theo bị trì hoãn. Cùng thời gian này, Khrushchev bị hạ bệ, các trở lực chính trị không còn nữa. Korolyov được ủng hộ mạnh mẽ để triển khai chương trình đưa người lên Mặt Trăng trước người Mỹ.

Ông bắt đầu phát triển thiết kế tên lửa đẩy N1 đồng thời với tàu Soyuz. Bên cạnh đó là thực hiện các chuyến bay đưa thiết bị đến Sao Hỏa và Sao Thủy và chế tạo thiết bị Luna hạ cánh lên Mặt Trăng. Thật đáng tiếc là Korolyov qua đời trước khi trông thấy các kế hoạch của ông trở thành hiện thực.

Kế hoạch tiến hành các chuyến bay vũ trụ có người điều khiển bắt đầu có từ năm 1958. Những thiết kế này sau đó phát triển thành Vostok (Phương Đông). Đó là tàu vũ trụ hoàn toàn tự động, chở một nhà du hành trong bộ quần áo phi hành. Khoang chở nhà du hành có cơ chế thoát hiểm nếu gặp sự cố trước khi phóng, và hệ thống tiếp đất khi trở về.

Ngày 15 tháng 5 năm 1960, mô hình thử nghiệm chưa có người đã bay 64 vòng trên quỹ đạo Trái đất nhưng không trở về được. Tiếp đó, bốn tàu thử nghiệm tiếp theo được phóng lên mang theo chó, hai chuyến sau cùng đều thành công mỹ mãn. Và rồi, ngày 12 tháng 4 năm 1961, trên con tàu Phương Đông 1 (Vostok 1), sử dụng phiên bản tên lửa đẩy R-7, Yuri Alekseievich Gagarin đã được phóng lên quỹ đạo, con người đã bay vào vũ trụ. Anh trở về Trái đất an toàn, bung dù ở độ cao 7 km, tiếp đất trong khoang phi hành.

Hành loạt chuyến bay loại tàu Phương Đông (Vostok) được tiến hành sau đó, trong đó có tàu Phương Đông 6 mang nữ du hành vũ trụ đầu tiên Valentina Vladimirovna Tereshkova.

Sau thế hệ tàu Vostok, Korolyov dự định phát triển tàu Soyuz. Loại tàu vũ trụ mới có khả năng kết nối với tàu khác trên không gian và trao đổi phi hành gia. Vostok là tàu vũ trụ nhỏ, không có khả năng đưa ba nhà du hành vào vũ trụ. Lúc này, ông đối mặt với sức ép chính trị phải tiếp tục giành những thành tựu mới. Trong khi đó với nguồn lực có hạn, việc tiêu tốn chúng vào những nỗ lực ngắn hạn sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài.

- Từ trần
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Tượng đài Korolyov tại thành phố Baikonur

Ngày 3 tháng 12 năm 1960, Korolyov bị cơn đau tim đầu tiên. Trong thời kỳ dưỡng bệnh, người ta còn phát hiện ra thận ông bị rối loạn, hậu quả của những năm tháng trong trại cải tạo lao động. Mặc dù các bác sĩ khuyên ông giảm cường độ làm việc, ông trở lại với công việc với mức độ tập trung và khẩn trương hơn trước đó.

Năm 1962, bệnh tim của ông trở nên trầm trọng hơn, ông bị ốm nhiều hơn. Sức khỏe ông giảm sút dần, thính lực suy giảm một phần vì những thử nghiệm động cơ tên lửa. Cuối năm 1965, người ta chẩn đoán ông bị ung thư ruột. Ông qua đời 14 tháng 1 năm 1966 sau 9 ngày trong bệnh viện.

Người dân Xô viết chỉ biết đến đầy đủ tên tuổi và cống hiến của ông sau ông qua đời. Việc này là để bảo vệ ông khỏi sự chú ý của cơ quan tình báo Hoa Kỳ. Lễ tang của được cử hành long trọng, ông được an táng tại bức tường Kremlin – một vinh dự lớn lao dành cho những cá nhân xuất sắc, nhiều cống hiến của Liên Xô.

Korolev và von Braun là hai người đứng đầu cuộc chạy đua vào khoảng không vũ trụ của Liên Xô và Hoa Kỳ. Khác với von Braun là người đứng đầu không tranh cãi trong lĩnh vực vũ trụ của Hoa Kỳ, Korolev luôn có một đối thủ cạnh tranh trong công việc là Vladimir Chelomei, người cũng được giao triển khai kế hoạch bay lên Mặt Trăng. Những thành tựu vũ trụ ông đạt được dựa trên nền tảng khoa học kỹ thuật Liên Xô mà về nhiều mặt còn thua kém Hoa Kỳ.

Người kế tục Korolev là Vladimir Mishin, một kỹ sư xuất sắc đã làm phó và là cánh tay phải của ông. Chương trình đưa người lên Mặt Trăng của Liên Xô sau đó bị hủy bỏ vì nước Mỹ đã thành công trước Liên Xô.


- Các giải thưởng
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Mộ Sergei Korolyov tại chân tường Kremlin

Trong vô vàn giải thưởng và vinh dự Sergei Korolyov nhận được có:

hai lần danh hiệu Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa năm 1956 và 1961;
giải thưởng Lenin năm 1957
ba lần Huân chương Lenin;
Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô từ năm 1958;
một đường phố của thủ đô Moscow đổi sang tên ông - đường Viện sĩ Hàn lâm Korolyov (Ulitsa Akademika Korolyova) từ 1966
ngôi nhà ông sống từ 1959 đến 1966 ở số 6 đường Ostankinsky, Moscow trở thành bảo tàng kỷ niệm, hàng năm có khoảng 3.000 khách tham quan[1]
một con tem được phát hành ở Liên Xô năm 1986 mang hình ông[2]
tên ông được đặt cho một thị trấn ở Kaliningrad năm 1996 bởi Tổng thống Boris Yeltsin
một miệng núi lửa trên Mặt Trăng và Sao Hỏa mang tên ông
tên ông được đặt cho một hành tinh nhỏ 1855 Korolyov.
(Nguồn wikipedia)
__________________
:emoticon-0171-star:Có Những Phút Làm Nên Lịch Sử
:emoticon-0171-star:Có Cái Chết Hóa Thành Bất Tử
:emoticon-0171-star:Có Những Lời Hơn Mọi Lời Ca
:emoticon-0171-star:Có Con Người Như Chân Lý Sinh Ra
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Malina (19-05-2010)
  #18  
Cũ 18-12-2007, 08:24
tuong123's Avatar
tuong123 tuong123 is offline
Salat Nga - салат Оливье
 
Tham gia: Dec 2007
Đến từ: Hội An - Quảng Nam
Bài viết: 218
Cảm ơn: 133
Được cảm ơn 165 lần trong 75 bài đăng
Default

Armen Leonovich Takhtadjan (10/6/1910)


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Armen Leonovich Takhtadjan (10/6/1910-), (tiếng Armenia: Առմեն Թախտաջյան, tiếng Nga: Армен Левонович Тахтаджян), với họ của ông còn được chuyển tự thành Takhtajan, Takhtadzhjan. Ông là một nhà thực vật học Xô viết gốc Armenia, một trong những nhhân vật có tầm quan trọng nhất trong tiến hóa thực vật, phân loại thực vật và địa lý sinh vật học của thế kỷ 20. Các mối quan tâm khác của ông còn có hình thái học của thực vật có hoa, cổ thực vật học, phôi thai học, thực vật chí cũng như quần thực vật khu vực Kavkaz.

Khi tên tác giả được đưa vào trong các trích dẫn thực vật học thì tên viết tắt tiêu chuẩn Takht. có thể được sử dụng đối với các tên gọi mà ông công bố.

- Tiểu sử
Ông sinh ra tại Shusha, nước cộng hòa Nagorno-Karabakh ngày 10 tháng 6 năm 1910. Tốt nghiệp Học viện cây trồng cận nhiệt đới toàn Liên Xô tại Tbilisi, Gruzia năm 1932, trở thành tiến sĩ thực vật học năm 1943, giáo sư năm 1949, viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô năm 1943 và viện sĩ năm 1971.

Từ năm 1938 tới năm 1948 ông là chủ nhiệm bộ môn hình thái học và hệ thống học thực vật Đại học tổng hợp Erevan, từ 1944 tới 1948 là viện trưởng viện thực vật Viện Hàn lâm khoa học Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (CHXHCNXV) Armenia, từ 1949 tới 1961 là giáo sư của Đại học tổng hợp Leningrad, giai đoạn 1951-1954 là trưởng khoa đất-sinh học của trường này. Từ 1954 là chủ nhiệm bộ môn thực vật bậc cao, từ 1977 tới 1986 là viện trưởng Viện thực vật Komarov của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (nay là Nga), từ 1986 là cố vấn cho viện trưởng viện này. Ông là chủ tịch hiệp hội thực vật học toàn Liên Xô (từ 1973), chủ tịch bộ phận thực vật học Hiệp hội quốc tế các khoa học sinh học (từ 1975) và Hiệp hội quốc tế về phân loại thực vật (từ 1975).

Phần thưởng: Người đoạt giải thưởng quốc gia Liên Xô. Được trao tặng các huân chương Lao động Cờ Đỏ, tình hữu nghị của các dân tộc, các huy chương "Vì lao động quên mình" (2) và "Vàng" của Viện Hàn lâm Khoa học Armenia (2005). Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa (1990). Người đoạt giải thưởng mang tên V.L. Komarov và R.Alerton (1969) cho chuyên khảo "Hệ thống và phát sinh loài thực vật có hoa" viết năm 1966. Nhà hoạt động khoa học công huân của CHXHCNXV Armenia (1967).

Takhtadjan là viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, Viện Hàn lâm Khoa học Nga cũng như là viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (1971), Hiệp hội Linaeus London (1968), Viện các nhà tự nhiên học Đức Leopoldina (Deutsche Akademie der Naturforscher Leopoldina) (1972), các Viện hàn lâm khoa học Phần Lan (1971), Ba Lan và Na Uy.


- Hệ thống phân loại
Năm 1940 ông đã phát triển hệ thống phân loại của mình cho thực vật có hoa, trong đó nhấn mạnh các quan hệ phát sinh loài giữa các dạng thực vật. Hệ thống của ông đã không được biết đến đối với các nhà thực vật học phương Tây cho tới tận sau năm 1950, và vào cuối thập niên 1950 ông bắt đầu trao đổi thư từ và cộng tác với nhà thực vật học có danh tiếng người Mỹ là Arthur Cronquist, mà hệ thống phân loại của ông này đã chịu ảnh hưởng rất nhiều từ sự cộng tác với Takhtadjan và các nhà thực vật học khác ở viện Komarov.

"Hệ thống Takhtadjan" về phân loại thực vật có hoa coi thực vật có hoa như là một ngành (divisio/phylum), gọi là Magnoliophyta, với 2 lớp là Magnoliopsida (thực vật hai lá mầm) và Liliopsida (thực vật một lá mầm). Hai lớp này được phân chia tiếp thành các phân lớp, và sau đó là các siêu bộ, bộ và họ. Hệ thống Takhtadjan là tương tự như hệ thống Cronquist, nhưng với một độ phức tạp hơn một chút ở các cấp cao nhất. Ông thích các bộ và họ nhỏ hơn, để cho phép các đặc trưng và quan hệ tiến hóa có thể dễ dàng nhận thấy hơn. Hiện nay, hệ thống phân loại của Takhtadjan vẫn còn duy trì được ảnh hưởng của nó; ví dụ nó được sử dụng trong phân loại của Vườn thực vật Montréal.

Takhtadjan cũng là người phát triển hệ thống các khu vực quần thực vật.

- Một số công trình
Морфологическая эволюция покрытосеменных (Tiến hóa hình thái của thực vật hạt kín), Moskva, 1948;
Высшие растения (Thực vật bậc cao), 1, Moskva, Leningrad (1956), Die Evolution der Angiospermen (Tiến hóa của thực vật hạt kín), Jena, 1959;
Основы эволюционной морфологии покрытосеменных (Các cơ sở hình thái học tiến hóa của thực vật hạt kín), Moskva, Leningrad, 1964;
Происхождение и расселение цветковых растений (Nguồn gốc và phân bổ của thực vật có hoa), Leningrad, 1970;
Растения в системе организмов (Thực vật trong hệ thống các sinh vật), trong sách: Жизнь растений (Sự sống của thực vật), quyển 1, Moskva, 1974.
A. Takhtajan, Th.J. Crovello và A. Cronquist. Floristic Regions of the World (Các khu vực quần thực vật thế giới), 1986.
Evolutionary Trends in Flowering Plants (Xu hướng tiến hóa trong thực vật có hoa), 1991
Diversity and Classification of Flowering Plants (Đa dạng và phân loại thực vật có hoa), 1997
(Nguồn wikipedia)
__________________
:emoticon-0171-star:Có Những Phút Làm Nên Lịch Sử
:emoticon-0171-star:Có Cái Chết Hóa Thành Bất Tử
:emoticon-0171-star:Có Những Lời Hơn Mọi Lời Ca
:emoticon-0171-star:Có Con Người Như Chân Lý Sinh Ra

Thay đổi nội dung bởi: nthach, 18-12-2007 thời gian gửi bài 12:20 Lý do: Chèn thêm hình ảnh và tiêu đề
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Malina (19-05-2010)
  #19  
Cũ 30-12-2007, 17:50
Gấu Misa's Avatar
Gấu Misa Gấu Misa is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 388
Cảm ơn: 190
Được cảm ơn 293 lần trong 126 bài đăng
Default Aleksandr Mikhajlovich Ljapunov

Aleksandr Mikhajlovich Ljapunov

Aleksandr Mikhajlovich Ljapunov(1857 - 1918);nhà toán học,cơ học người Nga,viện sĩ viện Hàn lâm khoa học Xanh Pêtecbua(Saint Petersburg).Ông có nhiều công trình nghiên cứu về toán học (phương trình vi phân,lý thuyết xác suất),thủy động lực học,cơ học.Là người sáng lập trường phái nghiên cứu lý thuyết ổn định của chuyển động với tác phẩm "Bài toán tổng quát về sự ổn định của chuyển động" công bố năm 1892. Ông là người chứng minh định lý "giới hạn trung tâm" ứng dụng trong lý thuyết tính xác suất.
(Nguồn Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Hình kèm theo
File Type: jpg 200px-Alexander_Ljapunow_jung[1].jpg (8.3 KB, 23 lần tải)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #20  
Cũ 30-12-2007, 19:00
Gấu Misa's Avatar
Gấu Misa Gấu Misa is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 388
Cảm ơn: 190
Được cảm ơn 293 lần trong 126 bài đăng
Default

Bài viết tiếp theo GM xin giới thiệu một nhà toán học nổi tiếng của Nga mà chắc các bác ít nhiều đều nghe nói đến.Đó là nhà toán học Chebyshev.Tư liệu này GM xem trên trang web diễn đàn toán học.
Pafnuty Lvovich Chebyshev (1821-1894)

Mùa hè năm 1893, tại Sicagô có mở một cuộc triển lãm công nghiệp quốc tế. Ở đây trưng bày rất nhiều thứ thú vị và hấp dẫn. Bất kể ngày hè nóng nực, người xem vẫn tụ tập đông nghịt. Nơi thu hút nhiều người xem nhất là tòa nhà ở đó giới thiệu nhiều máy móc kỳ lạ được đưa về từ nước Nga xa xôi. Đây là chiếc máy “đi bằng chân” có thể bước đi những bước khá thoải mái và chính xác như bốn chân con vật. Còn đây là chiếc ghế bành biết đi, có thể ngồi vào đó và chỉ huy cho nó đi theo một hướng bất kỳ. Chiếc thuyền có máy bơi cũng hơi cũng thu hút sự chú ý của người xem. Một nhà bác học sau khi xem chiếc thuyền đó đã phải thừa nhận: “Tôi rất khoái chiếc thuyền có chân này. Nó có thể đi dưới nước như ngựa vậy!”
Trong triển lãm này còn nhìn thấy bộ điều chỉnh ly tâm rất hoàn mỹ và nhiều máy móc khác. Đặc biệt, toàn thể người xem đều rất kinh ngạc chú ý đến chiếc máy tính (máy kế toán) thực hiện rất nhanh và hoàn toàn chính xác bốn phép tính số học. Người sáng tạo ra những chiếc máy đặc sắc đó là P. L. Tsêbưsep, người xứng đáng được mệnh danh là “cha đẻ của lý thuyết hiện đại về các máy móc”.
Tsêbưsep bị tật một chân. Có lẽ vì thế lúc bé Tsêbưsep không thích những trò chơi ồn ào của bè bạn và thích được ngồi yên tĩnh một mình.
Hồi nhỏ người bạn trung thành của Tsêbưsep là con dao nhíp và cậu sử dụng nó rất điêu luyện. Tsêbưsep có thể ngồi hàng giờ kỳ cục làm lấy những chiếc máy bằng gỗ đủ loại. Chẳng hạn, cậu đã chế tạo chiếc cối xay nước và cối xay gió rất tinh xảo với tất cả các bộ truyền chuyển động.
Lòng ham mê chế tạo và thiết kế Tsêbưsep còn giữ đến trọ đời. Ngay khi đã thành nhà toán học nổi tiếng, Tsêbưsep vẫn giành nhiều thời gian cho việc chế tạo những chiếc máy có cấu tạo đặc biệt. Những kiến thức tuyệt mỹ của nhà toán học đã giúp ông kiến trúc những chiếc máy rất phức tạp; và ngược lại, những mô hình do ông chế tạo ra đặt cho ông nhiều bài toàn mà ông và học trò phải tìm cách giải.
Hồi nhỏ Tsêbưsep học ở nhà; 16 tuổi là sinh viên ban Toán khoa Triết của trường ĐHTH Maxcơva. Vào năm 1841, Tsêbưsep đã được trao tặng huy chương bạc về tác phẩm “Tính nghiệm các phương trình”. Tsêbưsep ham mê toán học và cơ học đến mức rất nhiều bài toán đã được giải trên đường đi. Thậm chí, chính ông đã thú nhận, ông suy nghĩ cả khi ngồi trong nhà hát, khi nghe nhạc hoặc khi xem biểu diêc văn công.
Tsêbưsep tốt nghiệp ĐH vào năm 20 tuổi. Năm 25 tuổi, ông bảo vệ một luận án kỳ diệu “Kinh nghiệm phân tích cơ sở lý thuyết xác suất”, một năm sau ông về dạy ở trường ĐH Pêtécbua. Vào năm 1849, Tsêbưsep bảo vệ luận án tiến sĩ “Lý thuyết so sánh” bao gồm một trong những chương trình quan trọng nhất của lý thuyết số hiện đại. Vào năm 1853, do những đóng góp to lớn trong lĩnh vực khoa học. Tsêbưsep được chọn làm tùy viên của Viện hàn lâm khoa học Pêtecbua và đến năm 1859 đã trở thành viện sĩ chính thức.
Vinh dự lớn cho Tsêbưsep, một nhà bác học vĩ đại về toán là đã được bầu làm viện sĩ danh dự của nhiều viện hàn lâm, trường ĐH và hội toán ở Nga cũng như ở nước ngoài.
Viện sĩ Tsêbưsep là người sáng lập ra trường phái Toán học Pêtecbua. Đặc điểm nổi bật của trường phái này là dũng cảm, mạnh bạo trong khoa học và liên hệ rất chặt chẽ giữa lý thuyết toán và thực tế. Trường phái đó đã trở nên vinh quang muôn thủa. Những học trò xuất sắc củaTsêbưsep như A. N. Korlin, E. I. Dôlôtarep, A. A. Máckốp, G. F. Vôrônôi, A. M. Liapunôp, V. A. Xteclôp, A. N Kpưlôp, X. N. Becnơxtanh và nhiều người khác, đã trở thành những nhà bác học lẫy lừng thế giới.
Là ủy viên của Ủy ban Khoa học về Toán học, Tsêbưsep đã tham gia tích cực vào việc tổ chức giảng dạy toán ở Nga. Công việc đó thể hiện đặc biệt qua sự cố gắng làm cho cách trình bày các sách giáo khoa được chặt chẽ và chính xác hơn, cũng như việc đòi hỏi trình bày đầy đủ nhất trong các giáo trình Toán học sơ cấp.
Tsêbưsep đã có nhiều phát minh trong lĩnh vực lý thuyết số, đặc biệt là trong việc nghiên cứu phân bố các số nguyên tố trong dãy số tự nhiên.
Nhà toán học cổ Hy Lạp Ơclit (thế kỷ III trước CN) đã chứng minh một định lý về tính vô hạn của dãy các số nguyên tố, tức là chứng minh rằng không tồn tại trong dãy đó một số nguyên tố lớn nhất. Mệnh đề đó được gọi là “Định lý Ơclit”.
Vấn đề các số nguyên tố phân bố theo quy luật nào trong toàn bộ dãy số tự nhiên, mức độ đều đặn và thường xuyên thế nào, vẫn chưa được trả lời, đã hơn 2000 năm nay, mặc dù nhiều nhà toán học vĩ đại của thế giới kể cả Ơle và Gauxơ đều đã nghiên cứu.
Trước Tsêbưsep, vấn đề phân bố các số nguyên tố được giải quyết có tính chất thực nghiệm bằng cách quan sát thực tế mà không có cơ sở lập luận nào cả. Chẳng hạn, nhà toán học Pháp Lơgiăngđrơ (1752 - 1833) đã khẳng định rằng trong khoảng một triệu số nguyên đầu tiên, số các số nguyên tố nhỏ hơn n xấp xỉ bằng:
n/(lnn-1,08366)
Hơn nữa, Lơgiăngđrơ đã giả định - không có căn cứ - rằng hệ thức đó đúng cả với những giá trị n lớn hơn 1 triệu. Nhà toán học Pháp Bectơrăng cũng đưa ra một giả thuyết là giữa n và 2n (n>1) có ít nhất một số nguyên tố.
Người đặt cơ sở vững chắc cho một lý thuyết chặt chẽ về phân bố các số nguyên tố là Tsêbưsep. Những khám phá của ông về mặt này là một thành công rực rỡ của tư tưởng Toán học Nga. Bằng những lập luận lôgic chặt chẽ, Tsêbưsep đã chứng minh rằng công thức chỉ ra ở trên của Lơgiăngđrơ được thiết lập bằng kinh nghiệm trong phạm vi 1 triệu số nguyên đầu tiên là không có cơ sở và không đúng ngoài phạm vi 1 triệu số nguyên đầu tiên. Tiếp theo, Tsêbưsep đã chứng minh giả thiết Bectơrăng được nêu ở trên và còn đưa ra một giả thiết khác chặt chẽ hơn về luật phân bố của các số nguyên tố trong dãy số tự nhiên. Hơn nữa Tsêbưsep đã chứng minh rằng nếu A(n) là hàm số biểu thị số các số nguyên tố nhỏ hơn n, thì biểu thức:
B(n) = A(n): (n/lnn)
Với n--> vo cuc không thể có giới hạn khác 1.
Vào năm 1896, sau khi Tsêbưsep qua đời, nhà bác học Pháp Ađama và nhà Toán học Bỉ vantơ Putxen sử dụng công cụ lý thuyết hàm số biến phức đã chứng minh (độc lập với nhau) rằng:
Lim {A(n): (n/lnn)} = 1
Vì vậy với n đủ lớn, có thể tính xấp xỉ: A(n) ~ n/lnn
Khó mà đánh giá được những phát minh khoa học của Tsêbưsep trong lĩnh vực lý thuyết số. Nó đã đem lại vinh quang cho nền khoa học toán của Nga và đã có ảnh hưởng lớn lao đối với những sáng tạo khoa học của nhiều nhà bác học xuất sắc trong và ngoài nước.
Nhưng Tsêbưsep không chỉ nghiên cứu một lý thuyết số. Ông còn nghiên cứu rất nhiều, chẳng hạn trong lĩnh vực giải tích toán học, ông đã thiết lập một ngành hoàn toàn mới nổi tiếng là “Lý thuyết xấp xỉ tốt nhất các hàm số bằng các đa thức”. Tsêbưsep còn có hàng loạt công trình nổi tiếng về lý thuyết xác suất và nhiều môn toán khác.
(Nguồn Diễn đàn toán học diendantoanhoc.net )
Hình kèm theo
File Type: jpg Chebyshev[1].jpg (7.0 KB, 26 lần tải)

Thay đổi nội dung bởi: Gấu Misa, 30-12-2007 thời gian gửi bài 19:04
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Malina (19-05-2010)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Các bài viết về khoa học đời sống Nina Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga 81 06-06-2013 15:04
Từ điển giáo khoa Việt - Nga huongvenuocNga Học tiếng Nga 6 21-12-2011 09:15
Các nhà khoa học Nga hiện đại Nina Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga 6 20-10-2011 12:00
Bước vào khoảng không vũ trụ hungmgmi Mỹ thuật 1 18-03-2008 17:30


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 06:01.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.