|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#21
|
||||
|
||||
|
Có thể xem video clip Берёзы"Cớ gì ở nước Nga bạch dương xào xạc" của nhóm Любэ-Liube đã được nhắc đến cuối bài trên:
Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 13-01-2009 thời gian gửi bài 00:28 |
|
#22
|
||||
|
||||
|
Những mẩu chuyện xe buýt Một tình huống của cuộc sống Ôtôbuyt đi từ trung tâm Serpukhov ra vùng ngoại ô. Thành phố tỉnh lẻ, đường phố hẹp và không có quá đông người đợi xe. Có những đoạn hẻo lánh, những bến xe gần như hoang phế, thường lác đác có người xuống mà không thấy người lên. Hôm nay đi đến một trong những đoạn đường như thế, bà soát vé quát to với cả xe: "Có ai xuống ở bến A. không?" Im lặng. Xe yên tâm phóng ầm ầm trên đoạn đường vắng, bỏ qua bến xe cần đỗ. Khi xe đã băng qua bến một quãng thì chợt thấy một hành khách - một thiếu phụ - đứng lên hốt hoảng, ú ớ, tay khua mạnh, vẻ bực bội. Người đàn ông đứng bên quát to với tài xế, nhưng xe phải một lúc sau mới dừng lại được. Bà soát vé kêu ca, mặt khó chịu: "Lúc nãy hỏi thì không nói!". Đến khi hiểu ra người phụ nữ này bị câm và điếc thì bà soát vé bần thần im lặng. Cả xe đều im lặng, khi người khách lỡ bến xuống xe và cuốc bộ về phía sau. Trong cuộc sống đôi khi có những tình huống như thế đấy. Mà không, cuộc sống đầy ắp các tình huống, từ hạnh phúc, đau khổ, bất ngờ, kỳ lạ... cho đến những tình huống chỉ đơn giản khiến ta thấy thoáng qua một chút ái ngại, nghẹn ngào thế này thôi. “Con cũng thấy không tiện!” Một lần tôi đi xe buýt ở Matxcơva. Xe đông, càng đến các bến sau, càng nhiều người lên, lại thêm người phải đứng. Tôi thấy hai mẹ con nhà nọ, người phụ nữ trạc gần 40 với đứa bé gái quãng độ 5 tuổi ngồi trên đùi mẹ. Người mẹ thì thào bảo con: “Con cứ ngồi đi nhé, mẹ đứng đây!”. Cô bé ngạc nhiên tròn mắt nhìn mẹ, thì chị giải thích: “Con ngồi thì không sao, con còn bé. Mẹ ngồi mà mấy bà già kia đứng, mẹ thấy không tiện!”. Tôi nghĩ thầm: Đúng là vẽ chuyện. Người già và người có trẻ em đi cùng nghiễm nhiên là những đối tượng ưu tiên. Chị ta có ngồi là ngồi cùng bé, có gì mà không tiện! Xe đi thêm đoạn ngắn nữa thì đến bến mới. Cô bé con đứng dậy, cất giọng lảnh lót mời một bà già mới lên ngồi vào chỗ mình, rồi giật giật gấu áo mẹ, cũng hạ giọng thì thầm: “Mẹ ơi, con cũng thấy không tiện!”. Mặc cho cụ già phản đối, cô bé vẫn kiên cường chống chọi với mấy cú xóc xe để giữ thăng bằng khi đứng, đôi tay bé nhỏ bám chặt lấy tay mẹ, đôi chân non nớt dạng ra gắng gỏi. Cuối cùng, bà cụ âu yếm kéo cô bé lại gần, bế cô lên đùi mình. Hai người thoắt cái đã thành thân, như hai bà cháu. Chỉ buồn cười là gần đó có đến vài ba anh thanh niên đang gà gật. Họ đâu có buồn ngủ, chỉ nhắm mắt để khỏi phải chạm mắt vào những cảnh khiến họ chắc hẳn cũng sẽ thấy “không tiện” một tí nào! Người thân Mấy tuần trước, tôi có việc phải đi xe buýt trên một tuyến đường lạ. Tuyến đường ấy chạy qua trường đại học Giao thông Matxcơva. Lúc đó độ 3 giờ chiều. Hành khách chủ yếu là những sinh viên vừa tan học, đang sôi nổi bàn tán điều gì đó. Bỗng, tôi giật bắn mình vì tiếng oang oang nói vọng vào micro của người tài xế. Mà lạ, người ấy lại là phụ nữ! - Egor, Roma, thi lại chưa? Qua chưa, hay “lại điểm hai” ? - “Giáo sư đã hài lòng” ! – Mấy chú sinh viên trong xe đồng thanh, rồi cười ầm cả lên. - Năm sau nên để họ hài lòng ngay từ lượt thi đầu, rõ chửa? Không khí trong xe có vẻ nhẹ nhõm hẳn. Những gương mặt người giãn ra, mặc cho ngoài trời mưa đầu hè kéo dài lê thê, rả rích và bầu trời không được mấy nắng. Lát sau: - Tamara Vladimirovna, bà đừng ngủ gật chứ! Kẻo lại quá bến đấy. Một bà cụ như bừng tỉnh sau một ít phút chợp mắt trên xe, đứng lên, ngơ ngác ngó ra cửa sổ. - Bến của bà đây rồi. Bà cứ xuống bình tĩnh, tôi không vội đóng cửa đâu. Chân bà đỡ đau rồi chứ? - Cảm ơn, cũng đỡ nhiều lắm rồi… Cứ thế cho đến tận bến cuối, người nữ tài xế vui vẻ trò chuyện với khách, liếc nhìn họ qua gương, hay nhìn thấy họ bằng cách nào đó, có thể là bằng trực giác. Những người khách quen. Một tuyến đường quen. Một người tài xế quen. Nhưng không phải ai cũng làm được điều này: biến người quen thành người thân, biến những phút giây, những ngày, những tháng, những năm dài lê thê đi mãi mòn mỏi trên một trục đường thành những khoảnh khắc ấm áp rất tình người như vậy. Tôi chợt nhớ đến bộ phim thời Xô-Viết mà tôi đã quên tên. Chỉ còn nhớ có nhân vật là một cô gái lái xe buýt ở tỉnh lẻ. Cũng như người nữ tài xế này, cô chia sẻ với những hành khách quen của mình mọi vui buồn trong cuộc sống, hoặc chỉ đơn giản là một câu chào mở đầu một ngày mới: “Chào buổi sáng, các đồng chí!”. Chia sẻ một bờ vai Chiều thứ Sáu, mùa hè, đã muộn rồi mà trời vẫn sáng. Đoàn người xếp hàng đợi lên ôtôbuyt để ra ngoại ô Matxcơva kéo dài dằng dặc. Những gương mặt mệt mỏi đăm chiêu kiên nhẫn đợi đến lượt mình, mặc cho xung quanh các tay taxi rao ra rả: “Ai đi xe nào, còn một chỗ, giá rẻ bất ngờ!”. Vé đi xe buyt mất 140 Rúp, một chỗ taxi mất 600 Rup (đấy là đã rẻ bất ngờ rồi đấy!), ai dại gì mà đi! Vẫn biết nhanh hơn một chút, nhưng nếu kiên nhẫn mà tiết kiệm được hơn 400 Rup thì cũng đáng kiên nhẫn lắm! Tính toán thế khiến cái sự xếp hàng trở nên thú vị hơn hẳn, chả gì cũng có lãi! Chỉ khổ cái là mỏi chân quá! Đứng, nhích dần theo hàng người…đôi chân đã đứng suốt trong metro từ sáng mấy lượt đi về, lại đi bộ qua dăm bảy phố, giờ rã ra, đau nhức. Đến hơn một tiếng đồng hồ tôi mới lên được xe. Người đau nhừ. Yên vị trên ghế sát cửa sổ, tôi bắt đầu chìm vào giấc ngủ, mặc cho ánh nắng cuối ngày vẫn rực rỡ bên ngoài. Và tôi mơ. Tôi thấy người tôi yêu ngồi cạnh tôi. Anh cũng mệt và cũng thiếp đi, đầu ngả vào vai tôi, tin cậy. Tôi hơi ngạc nhiên vì chưa bao giờ anh thích như thế. Như thế là ngược đời! Bởi anh là người đàn ông mạnh mẽ, là người để tôi dựa chứ không phải là người có thể dựa vào tôi, dù chỉ trong một thoáng ngắn ngủi của một giấc ngủ mệt. Nhưng tôi thấy lòng trào lên niềm vui nhỏ bé, cố gắng giữ yên để không đánh thức anh. Sẽ là một bờ vai êm ái, anh yêu! Xe lắc mạnh. Tôi bừng tỉnh dậy, thấy chúng tôi đang đi ngang đoạn đường ray. Gần đó là cánh đồng cỏ khô đang cháy từng đám. Tháng này người ta đốt cỏ để chuẩn bị một vụ gieo trồng mới. Vai trái tôi nặng trĩu. Dịu dàng quay sang với anh, tôi choáng người! Giờ mới thật tỉnh giấc! Một mái đầu người đàn ông xa lạ, đã có tuổi, tóc bạc gần hết, mệt mỏi ngả trên vai tôi. Mắt đeo kính. Tay ông ta vẫn khư khư giữ cái ca-táp đen nhưng giấc ngủ say đã khiến những ngón tay bắt đầu lỏng ra, nếu xe xóc thêm vài cú nữa hẳn cái ca-táp sẽ rơi xuống đất. Khó chịu quá, tôi thử cựa quậy nhẹ. Ông ta chẳng động tĩnh gì. Trời ơi, làm sao bây giờ! Đoạn đường còn những hơn một tiếng nữa. Nếu ông ta cứ ngủ mãi thì tôi cứ ngồi mãi vậy sao? Với một mái đầu xa lạ trên vai? Căng thẳng và bực bội, lại vẫn cơn thèm ngủ chưa hết, tôi áp đầu vào cửa kính xe, chạm phải vách nhôm lạnh toát. Không ngủ được nữa, tôi suy nghĩ miên man… Tự nhiên tôi nghĩ, người đàn ông bên cạnh tôi đang có một chỗ dựa êm ấm, chắc là giấc ngủ rất sâu. Có thể ông ta là một giáo sư đại học, giống như ông thày dạy của tôi năm xưa, có gia đình ở ngoại ô, sống trong ký túc xá của trường, cứ chiều thứ Sáu lại bắt xe về với vợ con. Bất giác, tôi cảm thấy mình đỡ căng thẳng hơn đôi chút và suốt cả quãng đường còn lại, tôi đã chia sẻ bờ vai của mình cho giấc ngủ mệt nhọc của một người xa lạ. Gần đến thành phố tỉnh lẻ, người lái xe thông báo tên bến, người hàng xóm của tôi tỉnh giấc. Tôi cảm thấy sự thảng thốt của ông vì vai tôi đột ngột nhẹ bỗng. Tôi vội nhắm nghiền mắt lại, vờ như cũng đang ngủ rất say. Tôi sợ ông xấu hổ, và cũng sợ mình bối rối. Tốt nhất là coi như không biết gì. Tôi cảm thấy ông loay hoay một lúc bên cạnh, rồi xe dừng, và ông đứng dậy. Chắc là ông xuống bến này. Hé mắt nhìn. Đúng vậy, ông đã đứng ở cửa xe, đợi đến lượt xuống. Tôi thở phào mở mắt, ngồi thẳng dậy. Khi xe đóng cửa, đi tiếp, tôi tình cờ ngó ra cửa sổ. Người đàn ông tóc bạc, đeo kính, xách chiếc ca-tap đen đang đứng bên vệ đường, nhìn về phía tôi. Tôi kịp thấy ông ta chắp tay cúi chào. Ở đây, nhiều người vẫn nghĩ đó là truyền thống chung của người châu Á. Chắc ông ấy không biết là tôi mỉm cười. Thụy Anh, từ LB Nga.
4-2008. |
|
#23
|
||||
|
||||
|
Tạm biệt nước Nga
Tạm biệt Người, mảnh đất xa xôi Khi tôi ở đâu chỉ là đất ở* Trong im lặng tôi lắng nghe hơi thở Của rừng thông, bãi cát, đất bồi Của đất đen trải thắm dưới chân đồi Của sự sống đang trào dâng kỳ lạ Mỗi mùa xuân bừng lên sắc lá Sắc nắng, sắc trời, sắc nhớ, sắc mơ Mảnh đất đã gọi tôi làm thơ Đã cho tôi những đêm dài không ngủ Thao thức nghe tử đinh hương khẽ nở Phía trời xa mây tím cuộn trào Trăm ngàn lần mà chưa hết nôn nao Bao rung động vẫn vẹn nguyên tươi mới Tình yêu này muốn mà không thể nói Chỉ trái tim trong giấc ngủ vẫn rộn ràng Chỉ sớm ra muốn cất tiếng ca vang Cùng chú chim có bộ lông xanh biếc Chỉ bước chân càng xa càng nuối tiếc Tôi yêu Người, dù Người chẳng của tôi Tạm biệt Người, mảnh đất xa xôi Mà gần gũi với tôi từ thơ bé Tôi đã nghĩ ngàn lần, tôi sẽ Nói một câu gì trong phút rời xa? Nói rằng tôi nhớ cỏ nhớ hoa Nhớ thân trắng lá xanh cây hiền dịu Nhớ hơi giá mùa Đông khó hiểu Trinh trắng như tình yêu, khắc nghiệt như tình yêu Nhớ những cơn giông vội vã buổi chiều Như hờn giận lại dịu đi nhanh chóng Muốn ngồi lặng bên mặt hồ gợn sóng Để thời gian dừng mãi mãi một lần Tạm biệt người yêu, về với người thân Nơi máu thịt đang gọi tôi trở lại Ở nơi nào cũng không nguôi trống trải Giọt lệ này có được chẳng giản đơn! Thêm tuổi đời tôi càng hiểu Người hơn Những thất vọng chẳng còn cay đắng nữa Bao chuyện thế thời không làm tôi bỡ ngỡ Chỉ tình yêu vẫn thế, vẫn nguyên sơ Giữa những dòng viết cũ, những câu thơ Chẳng câu nào cho một lời lý giải Vì đâu tôi đến đây, vì đâu từ nay xa mãi? Tạm biệt Người, miền kỳ diệu xa xôi… 6-8-2008
Thụy Anh |
| Có 8 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
ac15101972 (09-04-2009), Flamingo (05-04-2010), Maria Bonconskaia (02-03-2010), Siren (15-03-2010), sonkinh (15-03-2010), Tanhia (21-01-2009), Thao vietnam (22-01-2009) | ||
|
#24
|
||||
|
||||
|
Đoạn kết một câu chuyện lãng mạn
Đoàn tàu đang đi vào ga xép. Khựng lại đột ngột và tiếng phanh rít kéo dài. Có ai đó đứng ở hành lang cẩu thả kéo rèm ra nhòm trời. Trời đêm sáng nhờ nhờ. Hình như ở Nga, chưa bao giờ có đêm nào thật sự là đêm. Đêm mùa Đông sáng vì tuyết. Đêm mùa hè sáng vì ánh sao xa xăm, , vì những thân bạch dương lấp lóa trên đường, vì những cánh đồng hoa trắng... Và còn vì những thứ ánh sáng chẳng hiểu ở đâu hắt ra, cứ mơ hồ hiu hắt sáng lên trong thế giới này. Một số hành khách lục tục xuống ga. Đám khác lên thay thế. Họ cố gắng nói khẽ, đi nhẹ, nhưng những bước chân vẫn cứ nặng nề, khiến hầu hết những người đang ngủ đều trở mình. Đôi tiếng thở nặng nhọc vang lên lẫn tiếng nói mớ, và cả tiếng chửi tục rời rạc! Đây là toa tàu chợ. Những dãy giường song song dài khắp lượt toa tàu. Bên hành lang còn một dãy giường nữa. Mùi mồ hôi nồng nồng, mùi hơi men thoảng ra từ đâu đó, mùi âm ẩm của đêm và của chăn đệm giặt là vội vã, mùi thức ăn người ta mang theo đi đường. Mùi của đường xa. Đã chục lần đi trên tuyến đường này mà tôi vẫn không cưỡng lại được ý muốn đứng ngoài hành lang, nhìn về phía trước, nơi bóng đêm và ánh sáng chốc chốc lại luân chuyển vị trí cho nhau. Nhưng tôi không cho phép mình làm điều xa xỉ ấy vì từ lâu, tôi đã không còn là đứa trẻ háo hức trong chuyến đi dài. Những chuyến đi của tôi đều mang tính chất … công vụ. Dưới lần áo khoác, tôi bận một chiếc áo có thật nhiều túi ở lưng và trước ngực mà chú tôi may cho. Cô tôi gọi đùa đó là chiếc áo “băng đạn”. Chú tôi khéo tay lắm. Chiếc áo vải thô màu xanh hoa trắng, sáu túi phía sau, bốn túi phía trước, mỗi túi có kích cỡ bằng một tập tiền… nhìn không hề xấu chút nào. Trông “mô-đen” nữa là khác! Tôi đang thực hiện công việc của mình để đỡ đần cô chú, nhưng đúng hơn là để kiếm tiền nuôi thân. Tháng hai lần, tôi từ Len1 lên Mat2, gom tiền hàng của bà con đi chợ mang lên đưa cho chủ hàng. Hai mươi hai tuổi, học năm thứ 4 trường Sư Phạm, nhưng so với “Tây”, vóc dáng tôi vẫn non nớt như đứa trẻ học phổ thông. Tóc để ngang vai, đeo bờm cũng màu xanh điểm hoa trắng, quần bò bó ống – thứ đồ jean cô tôi vẫn buôn ở chợ - mỗi lần giặt là phôi đầy một chậu nước màu xanh đen, chân đi giày thể thao rởm của Tàu. Chẳng mấy ai ngờ tôi lại “đi chơi Thủ Đô” với chiếc áo đầy tiền như vậy. Cho đến bây giờ, khi mọi điều đã là quá khứ, khi tôi chỉ còn việc ngồi hồi tưởng lại thời thiếu nữ lam lũ xứ người ấy của mình, tôi vẫn không thể hiểu nổi, vì sao tôi nhận công việc này không một chút sợ hãi. Thậm chí, chưa từng giữ trong người một vật gì để phòng thân. Không, thực ra là có một vật, một vật kỳ quặc để có thể coi là vũ khí. Tôi chẳng kể cho ai vì sợ mọi người cười. Đó là cái bút chì. Cái bút chì ngăn ngắn tôi vẫn dùng để đánh dấu sách hoặc ngoáy vài chữ bên cạnh những đoạn văn mà tôi tâm đắc. Mỗi lần lên đường, tôi lại hì hụi gọt cho nó thật sắc. Tôi kỳ vọng điều gì ở chiếc bút chì nhọn hoắt ấy nhỉ? Rằng có thể dùng nó đâm một kẻ xấu nếu hắn tấn công tôi? Không rõ. Chỉ biết là tôi cảm thấy gần như yên tâm mỗi khi thò tay vào túi áo khoác và chạm vào mũi nhòn nhọt của cây bút. Khi đọc sách trên tàu, tôi bỏ thói quen dùng bút gạch vào sách vì sợ nó cùn đi. Bên cạnh tôi, một cô gái người di-gan đang ngáy khò khè trên chiếc giường nhỏ hơn so với thân người. Người di-gan dễ nhận ra lắm, họ luôn muốn tỏ ra cho cả thế giới biết chất du mục của mình thì phải. Chiếc khăn đội đầu sặc sỡ, cái váy xòe rộng bản, chưa cần nói chuyện, gần như tôi chắc chắn ai trong số họ cũng có một vài chiếc răng bịt vàng một góc, đôi mắt khi thức thì đen nhánh còn khi ngủ thì lông mi rợp xuống má. Tôi vốn chẳng ưa gì họ, những người ồn ào và hôi hám. Trẻ con thì bẩn thỉu và ranh mãnh. Chúng biết cách kiếm cơm rất khéo và trơ tráo. Đôi lần, ngay trong metro lúc đông người, tôi bị chúng giằng áo, túm tóc bằng những bàn tay lem luốc, khiến cho không chịu nổi phải “xì” ra ít tiền. Vì có người xóm giềng đặc biệt như thế, chuyến đi lần này khiến tôi căng thẳng nhiều hơn. Mà thực ra hiếm có lần nào tôi ngủ được quá hai tiếng. Chiếc áo “băng đạn” cộm lên trong người. Áo khoác không dám cởi, lại trùm một lần chăn chiên. Lưng tôi lúc nóng bừng, lúc ngứa ran… Nhưng cứ nghĩ đến số tiền được nhận sau chuyến đi, tôi lại thấy… dễ chịu. Số tiền học bổng còm không đủ cho tôi chi tiêu sinh hoạt, nói gì đến chuyện mua sách vở hay hứng chí đi lang bang khám phá thành Len vào những buổi chiều nắng không chịu tắt! Vì thế, kiếm được việc này, tôi mừng húm. Cô chú kiếm việc cho tôi là cô chú họ thôi. Họ hàng thế nào tôi cũng chẳng biết, nhưng có họ - ở nơi xa này, thế đã là người rất thân rồi. Cô chú bán hàng ở chợ, hàng nhận qua xe từ Mat. về, trả tiền “xu-khôi”3. Lẽ ra có thể gửi tiền lên theo xe. Nhưng có lần xe bị cướp giữa đường, mất hết tiền của cả mấy chục người ở chợ. Người ta bảo có kẻ “phím” cho bọn cướp, tôi chẳng hiểu thực hư ra sao. Sau đợt đó, người đi chợ Trung Tâm, những người bán hàng “ốp-tầm”4, ai cũng lo lắng… Thế rồi tự nhiên nảy ra một đứa tôi – không quá tham tiền để có thể “bốc hơi” cùng đống của mồ hôi nước mắt này, mà cũng không quá thờ ơ với tiền nên liều nhận việc liên lạc mạo hiểm mà ai nấy đều ngại… - mọi người mừng lắm. Nhưng cô chú tôi cẩn thận, chỉ rỉ tai với dăm người cùng hội mà thôi. Được trả công cũng khá, tôi đã bắt đầu sống cuộc sống dễ chịu hơn. Tôi góp tiền ăn nhiều hơn đôi chút với bọn cái Hòa, cái Hương, bảo bọn nó đi chợ thì mua hành mùi, những thứ mà trước đó, chúng tôi không dám ngó tới. Túm hành hoa đắt ngang cái bắp cải, cho dù là cái bắp cải trắng phớ không có chút màu xanh. Tôi thường thái mỏng xào trứng, chứ luộc thì cứng và không mấy ngọt. Còn thịt nữa. Tôi đã dám mua thịt tươi về đãi cả block5. Những tảng thịt đo đỏ, hồng hồng, nhìn đã thấy vui mắt. Bây giờ có kể lại, bọn sinh viên trẻ mới sang chắc chẳng đứa nào tin. Nhưng hồi ấy ở Nga là thế đấy, những năm 90. Bọn tôi thường kiên trì xếp hàng để mua thứ thịt xén thành khuông như khuông gỗ, cứng như đá, nổi vân như đá, màu hồng đã ngả nhiều sang trắng, vương hơi tuyết trong kho chứa có dễ đã mấy tháng trời. Nhìn cái Hòa hì hục … gọt thịt mà thấy thương. Dùng dao nhỏ gọt như gọt bút chì. Từng miếng thịt mỏng được bong ra, như những phoi bào. Bằng không thì phải nhờ anh Vinh nghiên cứu sinh, sống ở tầng dưới. Anh có cái rìu bé chuyên bổ thịt. Anh bổ cho thành hai ba tảng nhỏ. Rồi lấy một tảng cho vào nilông, ngâm trong nước nóng. Độ vài tiếng cũng được một miếng thịt mềm ngoài, bên trong vẫn còn rắn. Nghĩ lan man, tôi thấy mình đã ngồi dậy tự lúc nào. Ngoài trời hình như có một cơn giông vừa ngang qua. Hơi mát từ cửa sổ ùa vào. Có mùi cỏ rất ngát. Tôi yêu mùi hương nước Nga sau cơn giông. Có thể gọi là ngọt ngào, tươi mới. Cũng có thể gọi là nồng nồng, ngai ngái. Có cả mùi phân bò đang hoai dậy lên nữa cơ. Hoặc đôi khi tôi nghe được cả mùi tanh, dường như là mùi cá đớp nước ở các đầm cỏ lác, hay từ các xô cá của người đi câu buổi sớm, với làn gió vô hình thoảng qua. - Cô bé không ngủ được à? Nhập bọn với chúng anh đi! Một hội đàn ông, già có, trẻ có, bỗng xuất hiện, tụ tập cả dưới chân giường tôi. Ở đó có hai cái ghế mềm. Đám đàn ông Nga kéo từ toa ăn về, chắc đã uống khá, ngật ngưỡng đùa cợt với nhau. Những con người to lớn, những đôi tay như bị phù, mắt đỏ, tai đỏ, những đám râu không cạo quanh cằm dường như cũng ánh màu. Họ không dữ dằn. Tôi chẳng sợ họ, nhưng cũng chẳng ưa họ. Họ ồn ào và hôi hám. Giống như người di-gan. Một gã ngồi phịch xuống giường tôi, kéo chăn, dí cho tôi nửa chai bia uống dở. Giờ thì tôi bắt đầu run. Tôi chỉ sợ bọn họ phát hiện ra vẻ kỳ quặc của tôi: đi nằm mà mặc cả áo khoác! Mà bấy giờ là mùa Hè, cho dù là một mùa hè mưa bão và rét mướt thì không khí trong một toa tàu chợ vẫn rất ngột ngạt. Tôi chống đỡ yếu ớt: - Tôi bị mệt… - Mệt à? Uống ngụm bia khắc khỏi. Gã lè nhè nói, rồi kể lể một tràng những chuyện gì đó. Tôi chẳng nghe được vì tai đã ù lên. Thêm một gã nữa ngồi lên giường tôi. Gã này còn trẻ và chưa say, giương mắt nhìn tôi chòng chọc. Tôi túm chặt tay vào cọc giường, không muốn mà tay đã run bần bật, quên bẵng cả chiếc bút chì nhọn hoắt trong túi áo. - Để cô ấy yên! Một tiếng quát, không to, nhưng vừa đủ đanh. Một ánh đèn pin chói gắt lia qua những gương mặt đỏ bủng beo. - Các anh đứng dậy khỏi giường. Tôi gọi phụ trách tàu ngay bây giờ đấy! Người vừa quát hạ giọng nói nhỏ, nhưng dứt khoát. Một người châu Á! Đúng hơn là một thanh niên Việt Nam! Có lẽ trong 22 năm sống trên đời, chưa một giây phút nào tôi cảm thấy vui sướng như vậy. Cổ nghẹn lại với cái cảm giác của một người đang bơi thì bị chuột rút, vớ được chiếc phao trên bờ quăng xuống. Đồng thời, một nỗi mệt mỏi bỗng dưng xâm chiếm toàn bộ con người, cứ như thể nãy giờ tôi vừa đánh nhau với cả một đội quân! Khi đám đàn ông vừa lèm bèm vừa bỏ đi, tôi không còn đủ sức đứng dậy. Tay vẫn bám chặt cọc giường, tôi nhìn người thanh niên trân trân. Một người con trai dong dỏng cao, bận chiếc áo gió mỏng, tay cầm chiếc balô nhỏ. Anh ghé xuống phía tôi, nói khẽ: “Em đừng sợ, họ cũng không định làm hại em đâu. Họ say, quậy chút thôi. Ngủ đi nhé, mai gặp lại. Anh nằm cách đây năm giường.” Tàu lắc một cái thật mạnh. Gan ruột tôi nhao đi. Ánh sáng lại loang loáng luân chuyển trên các khoang cửa sổ tàu. Tôi thấy bóng dáng người con trai trong một tích tắc ngời lên. Rồi gần như ngay lập tức, tôi chìm vào giấc ngủ, không còn kịp nghĩ ngợi về chàng trai vừa hiện ra trong đời tôi, trong vầng hào quang y như cổ tích ấy nữa. Tôi mơ thấy những hàng cột mốc lao nhanh vun vút về sau, giống như tôi đang đi xe khách trên con đường nắng gắt ở Việt Nam thời nhỏ. *** Về đến Matxcơva, biết tôi định đến Đôm 5 mới, Thắng, “người hùng” vừa cứu tôi ban đêm, vẫy một chiếc taxi. Anh nói giản dị: “Đi với anh” mà không hỏi han gì thêm. Anh cũng không mất công mời mọc hay thuyết phục. Chẳng hiểu sao tôi ngoan ngoãn đi theo anh, leo lên xe mà chẳng thấy chút phân vân, cho dù thời ấy, tôi nghe biết bao nhiêu chuyện lên taxi là bị đưa vào rừng, trấn cướp… Khi ấy tôi gần như quên cái áo băng đạn của mình, chỉ còn một cảm giác mơ mơ hồ hồ là tôi đang ngồi bên cạnh một người con trai đĩnh đạc và quyết đoán. Tôi chỉ hơi co người khi anh vô tình chạm vào lưng tôi. Lưng lại nóng bừng bừng. Và hình như cả má và tai nữa. Tôi nghĩ bụng, anh sẽ nói gì nếu biết mục đích lên Mat của tôi? Một con bé sinh viên thoạt nhìn có vẻ ngây thơ, mà lại đi chuyển tiền, đâu phải một lần, đã rất nhiều lần, đã lọc lõi! Tôi len lén thở dài. Matxcơva dạo ấy chưa nhiều xe cộ như bây giờ. Đường vắng người. Nắng mới rải dọc những con đường nhựa bóng. Mat ấm hơn thành Len của tôi rất nhiều. Và tôi cảm nhận được cả hơi ấm từ người con trai mới quen khiến bàn tay tôi đang lạnh buốt vì hơi giá buổi sớm bỗng ấm lại. Điều này khiến tôi hơi xấu hổ. - Tạt qua nhà anh chút đã nhé. Rồi mình cùng sang Đôm 5. Anh cũng có việc qua đó. – Thắng đột nhiên đề nghị. - Nhà anh? Ở đâu ạ? – tôi hỏi ngớ ngẩn. Vì anh có nói thì tôi cũng làm sao biết được. Đường ở Mat, tôi chỉ rành mỗi con đường Aminhev, nơi có Đôm 5 mới và Đôm 11, là hai cái “ốp” lớn của người Việt mở ra làm chợ. - Ngay cạnh Đôm 5. Anh về cất đồ rồi đưa em sang luôn, nhé? Tôi máy móc gật đầu. Suốt dọc đường, tôi liếc nhìn anh mấy lần. Lần nào cũng bị anh cảm thấy, và anh quay lại cười, nụ cười rất dễ mến. Gương mặt vuông vuông, có vết xanh xanh mờ mờ của một hàm râu quai nón. Năm cái ống khói to cồ cộ quen thuộc của khu vực Đôm 5 mới hiện ra. Xe ngoặt vào khu nhà đối diện. Thì ra, nhà anh thuê ở ngay bên kia đường. Một dãy nhà dài dằng dặc, có đến chục cái cầu thang. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy ngôi nhà nào dài như thế. Người ở cầu thang đầu chắc không thể biết người sống ở cầu thang cuối. - Bọn anh ở đây có 4 người. Thuê nhà cho tiện sang Đôm 5 làm ăn. Còn thì vẫn có phòng ở ký túc xá, trên đồi Lenin ấy mà, em có biết không? Tôi làm sao biết được! Sau này tôi có được đến đó dăm lần, những khi anh đi học. Anh là nghiên cứu sinh khoa Vật Lý trường Tổng hợp Lomonosov. Tôi yêu căn phòng bé tí tẹo của anh trên đồi Lenin ấy lắm. Phòng chật chội, nhưng cửa sổ lại nhìn ra một khoảng trời xanh ngắt. Giống như hiện thực và ước mơ. Hiện thực nhỏ hẹp, ước mơ lại vô cùng. Thật lạ. Đi bên anh, tôi thấy như đi bên một người thân. Anh đã kịp kể cho tôi nghe, nhà anh đón biết bao người Việt từ quen thân đến quen sơ về tá túc khi mới chân ướt chân ráo sang Nga. Có lần, một bác đã có tuổi từ Việt Nam sang tìm đường làm ăn, ngại phiền chủ nhà nên “tự thân vận động” - ra đường vẫy taxi, chìa mẩu giấy ghi địa chỉ Đôm 5 mới. Gã taxi chả nói chả rằng, đòi một khoản tiền khá lớn, rồi đưa bác ta vòng vèo qua mấy con phố để rồi đến cái đích là… dãy nhà bên kia đường! Tôi phì cười, thấy câu chuyện gặp anh giữa đường càng lúc càng lãng mạn. Khi lên đến nhà mới là lúc kết thúc câu chuyện lãng mạn của tôi. Anh giục tôi bỏ áo khoác vào nghỉ đôi chút. Tôi túm chặt lấy vạt áo khoác, đứng như một con ngố ở giữa hành lang tối om của căn nhà. - Em sao vậy? – Anh hỏi, và bật công tắc đèn. Bỏ chiếc áo gió xoàng xĩnh ra khỏi người, anh thận trọng gỡ chiếc áo bên trong. Một thứ thật quen thuộc đối với tôi: đó là …chiếc áo băng đạn! Chỉ khác là màu xám và không quá căng như chiếc áo tôi đang mặc đây. Tôi tròn mắt thấy anh rút từng tập tiền đô (à, tiền của tôi là rúp, túi căng hơn của anh là phải rồi!), gói vào một mảnh giấy báo, nén xuống dưới một chiếc túi nilông sẫm màu. - Bọn anh buôn xanh6. – Không chút ngại ngần với người lạ, anh nói. Rồi thêm: - Lát em cầm cái “paket”7 này cho anh nhé. “Trẻ em” cầm tiền không ngại – Anh nheo mắt cười. - . Từ đây sang bên đó, có một đoạn đường bộ thôi mà đôi khi công an cũng chặn ở chỗ lối mòn đấy. Bấy giờ, tôi cũng chẳng ngại gì nữa mà không bỏ áo khoác, để anh nhìn thấy chiếc áo xanh hoa trắng của mình. Anh ớ ra một giây rồi cười ha hả. Tôi cũng chưa từng nghe giọng cười nào vang và lôi cuốn đến thế! Cười chảy cả nước mắt. Rồi bảo: - Khổ thế đấy. Cái thân kẻ sĩ thời buổi này… Nhưng em cũng liều thật, cô bé ạ! *** Thế là những ngày còn lại của mùa hè rét mướt năm ấy đã bừng sáng trong tôi. Tôi đã yêu.. Hôm đầu xuống Len tìm tôi, anh đã tặng tôi … cái đèn pin. Đúng cái đèn pin anh dùng để bảo vệ tôi trên chuyến tàu đêm nọ. Anh bảo: “Đôi khi chỉ cần ánh sáng lóe lên là đã có thể ngăn chặn được tội ác. Chứ những thứ sắc nhọn như của em, chỉ để gãi lưng người ta thôi!”. Anh giễu cái bút chì của tôi như vậy. Tôi cãi: - Em có thể đâm, nó nhọn lắm! - Xin em! Em chẳng cần đến nó cũng có thể làm một người bị trọng thương rồi. Đúng vào tim ấy chứ! Tôi sẽ không kể lại những ngày yêu đương ấy làm gì. Vì tình yêu nào mà chả giống nhau. Những góc đường chân vừa bước qua đã thành kỷ niệm. Nụ hôn đầu tiên, trên một chiếc cầu bé vắt qua một con kênh. Những ngọn đèn cổ màu đen, hoa văn kỳ dị, chỉ làm cảnh chứ chẳng được thắp sáng. Trời màu tím. Nhưng ánh sáng vẫn từ đâu đó hắt ra. Như thể hắt ra từ trong mỗi người chúng tôi vậy. Đến giờ tôi vẫn tự hỏi, những đôi tình nhân sau khi trao nhau nụ hôn đầu, ngây ngất trong vị ngọt ngào của nó, tại sao lại không thể tìm được vị ngọt ngào ấy nữa, sau vài tháng, vài năm, hoặc rất nhiều năm sau, cho dù họ vẫn bên nhau, thành vợ thành chồng, vẫn nói lời yêu thương? Thắng, chồng tôi bây giờ, không còn hôn tôi như Thắng ngày ấy. Mà dường như, những nụ hôn thưa đi ngay sau một tháng đầu tiên quen nhau. Tôi chẳng còn nhớ, người ta có thể hôn nhau vì một cảm xúc bất chợt đến trên đường. Vì một trận mưa lá vàng. Vì một buổi chiều quá tĩnh lặng. Một lần, tôi rủ anh đi dạo và chủ động ôm lấy anh. Khi cảm thấy những nồng nàn xưa cũ bắt đầu dâng lên trong lòng, tôi hôn anh. Anh giữ nụ hôn ấy trong một giây, rồi thì thầm: “Để tối…” Để làm gì? Tại sao? Bây giờ thì tôi không còn mơ như đêm nào nữa, mà thấy rõ cuộc đời mình đang trôi như những hàng cột mốc, trên con đường nắng gắt. Khi bắt đầu viết những dòng này, tôi cứ ngỡ sẽ có được một câu chuyện lãng mạn. Nhưng không hiểu sao đã không thành. Mọi câu chuyện bắt đầu có lãng mạn đến đâu cũng đều kết thúc nhàn nhạt như vậy, hay vì cuộc sống vốn rất đỗi bình thường, chỉ thấy được những nét lấp lánh khi ánh sáng và bóng tối luân chuyển nhau chiếu qua những cửa sổ toa tàu? Thụy Anh, LB Nga - 2008
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Có 9 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
ac15101972 (09-04-2009), Cá Măng (09-02-2009), chaika (06-02-2009), Flamingo (15-03-2010), Maria Bonconskaia (02-03-2010), Old Tiger (11-02-2009), Siren (15-03-2010), sonkinh (15-03-2010), Thạch Thảo (10-02-2009) | ||
|
#25
|
||||
|
||||
|
Hôm nay nhằm ngày nguyên tiêu, trong nắng xuân rực rỡ, tại (hình như) số 1 Quốc Tử Giám xuất hiện một thích khách:
Trầm ngâm trong bóng râm ![]() Tặng thơ dịch Onga Becgon cho..bóng râm ![]() Một số người nhận ra cô ![]() Trình diễn thơ: ![]() Làm ngưòi mẫu ảnh: ![]() Không quên báo chí: ![]() Chụp ảnh với phóng viên NNN: ![]() Và cuối cùng, Thụy Anh, chị cười với Nuocnga.net nào:
__________________
:emoticon-0115-inlov |
| Có 12 thành viên gửi lời cảm ơn Cá Măng cho bài viết trên: | ||
|
#26
|
||||
|
||||
|
Đồng chí Thụy Anh bận áo nâu sồng trông "chân quê" đáo để nhỉ? Mình mới nhìn thấy Thụy Anh đúng một lần vào dịp 7/11 năm ngoái, nhưng hôm đó say quá nên...quên mất dung nhan như thế nào rồi
Nhân dịp này, xin post truỵên ngắn tác giả mới gửi cho: Cái bóng Tặng Đêm mùa đông… Tôi là một cô gái trẻ, trong quá khứ từng yêu mãnh liệt một người. Nhưng giờ, đôi khi tôi lại là một cái bóng. Một chàng trai đang rảo bước trên đường. Anh ấy cao dong dỏng, có đôi bàn tay mềm mát rượi với những ngón tay mảnh và dài. Anh ấy là bác sĩ mà. Bác sĩ thường có đôi bàn tay như thế. Đôi bàn tay ấy hẳn là dịu dàng lắm, không làm ai đau bao giờ đâu. Và tôi biến thành cái bóng của anh. Anh ấy không ngờ đến điều đó, vô tư rảo bước trên con đường từ cổng dẫn vào khu viện, nơi anh làm việc. Nắng sớm chiếu chếch đi một tí, nên tôi hiện ra rất rõ dưới chân anh, ngả đen dưới đường. Nếu ai để ý thì sẽ thấy cái bóng này kỳ lạ lắm. Nó không dài như cái bóng thường, mà nó tròn trịa. Nó lại có vẻ như nhòe nhòe ra, khiến nhìn như là có mái tóc dài đen đang bay dưới đất ấy, mà anh thì có mái tóc cắt ngắn gọn gàng. Anh bước vào khu hành lang bệnh viện, khuất trong bóng râm… Và tôi biến mất. Chỉ khi có nắng tôi mới được ở bên anh thôi. Còn thì, tôi lại trở lại là tôi, một cô gái trẻ, tròn trịa, có mái tóc chấm lưng, rất đáng yêu và.... làm việc cùng bệnh viện với anh. - Cô Lan! Tiếng gọi giật giọng làm tôi hoảng cả hồn. Độ này tôi hay bị giật mình lắm, có lẽ thiếu chất gì chăng? - Lúc nãy cần có người vào sổ số liệu đo huyết áp của bệnh nhân mà cô biến đi đâu hả? Dạo này cô làm sao ấy, chốc lại chuồn đi chơi vào giờ làm việc. Không được đâu đấy… Lúng búng xin lỗi, mặt đỏ bừng, tôi cúi gằm xuống trang sổ trực. Tim đập rộn lên đau đớn, tôi mong sao không ai biết rằng những giây phút tôi vắng mặt ấy... chính là những khi trời nắng và anh chạy ra đường có việc. Cứ thế này thì rồi sẽ đến lúc tôi bị đuổi việc mất thôi. *** Tất cả bắt đầu bằng một giấc mơ. Tôi mơ về anh, mơ nhiều lắm. Mơ anh biết đến tôi, rồi hai chúng tôi đi dạo trên con đường đầy hoa trắng. Chẳng hiểu sao lại là hoa trắng, như là hoa mận, hay hoa táo gì đó… Và nắng, nắng nhiều như thể chưa bao giờ có ấy. Tôi nhớ, tôi nói đùa với anh, tất nhiên vẫn là trong mơ: “Em muốn là cái bóng của anh… Em chẳng muốn là em nữa…” Anh cười: “Nếu em muốn, thì điều đó sẽ là sự thật mà em!” Và khi tỉnh giấc, tôi thấy tim dâng lên một cảm giác ngọt lịm, như là có ai vừa nói lời yêu tôi. Bên tai như có ai đọc thơ, một bài thơ của Lưu Quang Vũ mà tôi vẫn yêu: “…Anh vọng về em một sắc trời xanh Ở nơi xa em có nhớ gió ân tình Có phải mơ không mà anh thấy em trong tà áo Một hương môi mận chín một lời thanh Ru giấc mơ buồn khoé biếc long lanh Tự nơi xa hương quen ấm ngày lòng anh nhạt Em như gần như xa lẩn khuất Anh bỗng thành chim nhạn vọng trời xanh Anh nhớ em trong nỗi lá nhớ cành …”… Chết! Mình có bị làm sao không? May quá, chẳng làm sao cả. Tôi vẫn làm các công việc bình thường. Lên xe đi đến bệnh viện, tôi phóng vẫn nhanh như từng phóng, tóc vẫn bay rối ra đằng sau và vẫn thấy thích thú khi cho một vài anh chàng… “ngửi khói”! Nhưng, than ôi, đến khi ngồi yên vị trong phòng trực y tá, ngóng thấy anh đi qua khoảng sân rộng có những bụi hoa vàng nho nhỏ, tôi mới thấy người là lạ, như là cảm nắng vậy. Rồi bỗng nhiên, tôi thấy mình hẫng đi, và rơi xuống dưới chân anh… Giấc mơ đã thành hiện thực! Lúc ấy tôi chẳng hoảng sợ chút nào, chỉ buồn cười ghê lắm. Làm sao lại có thể xảy ra chuyện kỳ quặc thế cơ chứ! Sau đó thì tôi thấy trào lên một niềm vui sướng không thể tả. Tôi đã được là cái bóng của anh! Tôi có cần gì hơn đâu! Anh là người thành đạt, là một bác sĩ giỏi… Và đã có gia đình. Gia đình anh – một gia đình hạnh phúc. Tôi chẳng ghen tị gì với vợ anh, chỉ thấy ngưỡng mộ chị ấy, thấy yêu hai đứa nhỏ của anh… Chẳng ai, chẳng một ai đoán ra là tôi đã yêu anh từ lâu, từ hơn một năm nay rồi ấy! Vâng, tình yêu này không ai biết, kể cả anh. Ồ mà tôi không chắc anh có biết không, vì rõ ràng đêm ấy, trong mơ, tôi đã thổ lộ với anh rồi cơ mà! Nếu anh không biết, nếu Trời Đất không biết, hẳn tôi không thể biến thành cái bóng của anh như tôi ao ước được! Tôi không nghĩ nữa. Cái bóng, dù là bóng của ai đi chăng nữa, cũng không biết nghĩ. Nó chỉ biết đi theo người chủ của mình thôi… Và thế là tôi đi theo anh, chẳng nghĩ gì cả… Cho đến khi tắt nắng hoặc đến khi anh vào bóng râm…. *** Mấy hôm nay trời mưa suốt. Gần như không lúc nào có nắng. Bầu trời như sập xuống khiến đầu tôi lúc nào cũng nặng như đeo đá. Đêm trực, tôi ngồi ngóng anh đi ngang qua. Đêm nay anh cũng phải trực cấp cứu… Kia rồi, anh đang đến, dáng vẻ bận rộn… Tôi mỉm cười chào anh, chờ anh gật đầu lãnh đạm và bước ngang qua như mọi hôm... thì, lạ thay, anh dừng lại: - Chào em! - Dạ? Tôi luống cuống. Lần đầu tiên anh chào tôi như thế. Tim tôi nhói lên một cái, không rõ ra vui hay là lo sợ nữa. - Anh hỏi này, em làm đây lâu chưa? - Dạ, lâu rồi ạ. Đã 3 năm… - Ồ, sao anh không nhớ em nhỉ? Chỉ thấy quen quen… Anh làm sao nhớ được tôi! Tôi, một cô y tá bình thường, luôn chỉ xuất hiện bên bệnh nhân, thậm chí còn ít khi cùng đi với bác sĩ thăm khám bệnh thường ngày nữa cơ. Công việc của tôi không cho phép tôi ở bên cạnh anh, chỉ dõi theo anh từ xa mà thôi. - Thật đấy, anh thấy em quen lắm. Như là đã nói chuyện mấy lần rồi ấy. Lạ nhỉ! Anh nói vậy rồi lắc đầu quay đi… để lại tôi bâng khuâng, ngơ ngác, hồi hộp... và cảm thấy đôi chút hy vọng mong manh nhen lên trong lòng. *** Đợt ấy ngày mưa kéo dài… Tôi đã quên mất mình từng là bóng của anh thì… một ngày thứ Bảy bừng nắng! Tôi tỉnh dậy, thấy mình đang ở một nơi đẹp lắm. Có tiếng sóng biển từ xa vọng vào. Gió mặn. Cát trắng… Và tôi… ngả dài trên cát, dưới chân người đàn ông yêu dấu của lòng tôi. Có tiếng trẻ con ríu rít, tiếng cười của anh rất vang, tiếng cười của một người phụ nữ trong trẻo chứng tỏ một tâm hồn sáng đẹp… Tôi bỗng thấy buồn. Buồn lắm. Đến nỗi cái bóng cũng trĩu nặng... và tôi… đã dừng lại trên cát lúc nào không biết, không chạy kịp theo người chủ của mình nữa. Có tiếng kêu thất thanh từ phía xa, nơi anh đang cùng mọi người chơi bóng chuyền trên cát, bên bờ biển. Một đám đông xúm đến, những tiếng xôn xao: - Không sao, cảm nắng thôi mà… Đưa cậu ấy vào bóng râm… Nhúng ướt cái áo này… dấp vào mặt, nhanh! - Lạ nhỉ, khỏe như vâm, đi nắng có bao giờ đội mũ... Thế mà bỗng nhiên lại cảm nắng… - Có tuổi rồi, 36 rồi, chứ có còn trai trẻ như mười tám đôi mươi đâu, không kiếm cái mũ đội vào! Chú này ẩu quá! - Năm nay năm tuổi đấy, chẳng khéo… Trời ơi… Tôi đã làm gì thế này? Tôi đã hại anh! Tôi nhớ câu chuyện đọc được hồi bé, rằng người mà tự nhiên mất bóng là có thể ốm, có thể chết nữa…. Tôi ào vào anh, nhưng không được, anh đang ở trong bóng râm. Mơ màng, tôi nghe như anh hỏi tôi: - Sao em lại làm thế? Sao lại bỏ anh? Tôi, một cái bóng nằm trên cát, ở ngoài nắng… không nằm dưới chân một ai cả…., dịu dàng hướng về phía bóng râm ấy, nói: - Vì em yêu anh… Tức thì, tôi lại hẫng đi... Trời nắng rực lên một lần nữa rồi mây đen vần vũ kéo đến. Mọi người hấp tấp chạy vào những quán lá bên cạnh bờ biển để trú mưa. Mà sao mưa không rơi, chỉ có gió và mây đen, chớp nữa... rạch giữa trời và rơi xuống biển… Biển động ì ầm, nhưng không có sóng mạnh, chỉ tối sầm lại thành một khối xanh nâu… Có gì thế, như ấm ức, như nghẹn ngào… Tôi đã lại là tôi, lại thấy mình đang đứng lẫn trong đám đông những người đi nghỉ mát cùng cơ quan do Công đoàn tổ chức. Thấy anh đang ngồi bên bàn nước cùng vợ và hai đứa con. Nhưng một thoáng, hình như anh nhìn tôi, ánh mắt là lạ, như hỏi: - Anh thấy em quen quen… Anh có quen em à? Tôi mỉm cười gật đầu với anh, trong lòng thầm nói: - Không, anh ạ, em không quen anh. Em chỉ yêu anh mà thôi… Từ buổi đó, tôi đã trở lại là tôi, một cô gái trẻ, tròn trịa, có mái tóc chấm lưng và rất đáng yêu. Chỉ là tôi thôi, chẳng là cái bóng của ai cả! 15/7/07 Thụy Anh.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#27
|
||||
|
||||
|
Chị Thụy Anh vẫn vào Nuocnga.net đấy ạ và chị thấy mọi người ở đây rất vui
Mà em cũng có ảnh áo nâu, hồi bọn em đi diễn thuê cho mấy anh bên công an á, cho em nhờ đất em khoe tý:
__________________
:emoticon-0115-inlov |
|
#28
|
||||
|
||||
|
Có phải em....
phe tem phiếu bị vô đồn CA không? Cũng cho tớ nhờ đất 1 tí. |
|
#29
|
||||
|
||||
|
Trích:
Thụy Anh đã gửi mấy bài thơ đọc hôm Nguyên Tiêu và cho biết thêm: " Nhưng bài chính của em chỉ là Trên con đường mùa thu của cuộc đời. Còn lại là những trích đoạn lẩy ra để làm nền cho câu chuyện thơ chạy xuyên suốt chương trình. Riêng bài "Cảm ơn người" như một lời tri ân đối với độc giả, được dùng làm câu kết cho chương trình hôm qua". Xin post các bài thơ đó: TRÊN CON ĐƯỜNG MÙA THU CỦA CUỘC ĐỜI
Anh đi trên con đường mùa thu Qua nghĩa trang, hàng mộ dài im lặng Nghe tiếng nước rơi trên lá mục Anh thèm một tiếng khóc Thấy ngực nghẹn ngào như tiếng khóc của em Mình chưa từng xa nhau, phải không em? Nên anh không biết mùa thu có thể buồn đến thế Anh từng mong một ngày lặng lẽ Đọc một cuốn sách, ngắm khoảng trời chiều không có bóng em Lúc anh bận, em làm anh bối rối thêm Dù không nói, nhưng mắt em nhìn, tay em chạm vào anh Như những giọt mưa vô duyên lọt vào cổ anh buổi sáng Đôi lúc em còn hát vang khi anh lo lắng Anh sợ cộng trừ sai, sợ con số không tròn Bây giờ mùa thu, con đường anh đi như tối hơn Hàng bạch dương phát sáng trong đêm cũng làm anh sợ hãi Nhỡ con đường này cứ dài ra mãi Nhỡ cánh rừng cứ vàng đi mà không xanh trở lại? Nhỡ mai anh về không nghe thấy giọng em? Giọng em, Anh vẫn nghe để đoán xem cuộc đời đang bình an hay giông gió Khi em ngừng hát giữa chừng, anh chuẩn bị tinh thần cho những buồn phiền nho nhỏ Nhưng chỉ một lát thôi, chưa bao giờ em ngừng hát thật lâu! Anh có biết đâu Rằng anh cần nghe giọng em, dù anh vẫn thường giễu em quên lời lạc giọng Chỉ khi đi trên con đường nước đọng Giữa một nghĩa trang có làn sương trắng Khi mặt đất mịt mù, anh mới kiếm tìm những âm thanh quen thuộc của em Không cần hát, không cần cười Em hãy kêu lên Có thể cao giọng cãi lại anh cũng được Hay là em khóc? Ừ, khóc đi em, cho anh có được một người Trên con đường mùa thu của cuộc đời PHÍA TRÊN ĐÁM MÂY VẪN LÀ CẢ BẦU TRỜI Phía trên đám mây vẫn là cả bầu trời Xanh nhức nhối một màu không có thật Bao năm rồi em ngỡ mình vẽ được màu trái đất Hóa ra màu Trời Đất vẫn mông lung Nào ai đã đi được đến tận cùng Đường chân trời giao hòa cùng góc bể Mà dám bảo rằng Bầu trời xanh như thế Khiến Biển lớn trở thành một giọt nước mong manh! Em đã từng tan biến cả vào anh Như Biển lẫn vào màu Trời xanh ngắt Ngốc nghếch làm sao, cố quên đi những mảng màu của riêng mình đã mất: Đỏ như máu san hô và đen thẳm mũi đá ngầm Chỉ đến khi những đám mây xuất hiện tối rầm Biển mới nổi trận cuồng phong cay đắng Sóng giận dữ một đêm đầu bạc trắng Tự đập tan cánh buồm mới đó vẫn yêu đương Suy cho cùng biển thật đáng thương! Đau đớn hành hạ mình trong bão giông khổ sở Sáng tỉnh lại rã rời hơi thở Mặn đắng trong lòng lặng ngắt buông xuôi... Phía trên đám mây vẫn là cả bầu trời Như em ước những điều không có thật Bảng màu em pha rồi đây, chỉ thiếu một màu duy nhất Em không vẽ nổi bầu trời dù biết rõ nó màu xanh... ĐÁNH CẮP NHỮNG BUỒN THƯƠNG Tôi thường gom những cay đắng của người Đánh cắp những buồn thương mang vào thơ. Và khóc Cứ ngỡ vì tôi mà lòng ai đỡ buốt Lệ muốn rơi cho bạn nở nụ cười Đôi khi tôi cũng muốn say đời Cũng từng muốn yêu đương quay cuồng ..."đến chết" Chẳng nghĩ nhiều về một điều gì hết Sống vì mình, vì mộng ước riêng tôi Tim cũng từng ôm một hình bóng trong đời Người khiến tôi đau lòng, khiến tôi hạnh phúc Năm tháng đi qua bao đêm tôi thức Thương trên đầu sợi tóc trắng biết đau Tôi ngỡ hiểu người, mà chẳng hiểu mình đâu Những vần thơ toàn nỗi lòng người lạ Không có gì cho riêng tôi cả Tôi chỉ là người đánh cắp những buồn thương… LỚN LÊN CÙNG TUỔI THƠ Tôi lớn lên cùng tuổi thơ của tôi Cùng những con đường đạp xe không mệt mỏi Những buổi chiều “dịu dàng không chịu nổi” Những cái tên như khắc chạm trong đầu Cứ ngỡ rằng mình đã lớn từ lâu Sao càng lớn càng mơ về thơ ấu? Lấy ngây thơ trèo me, nhặt sấu Làm thước đo cho những quãng đời Tôi như người của năm tháng xa vời Nhặt nhạnh những cũ xưa gom góp về thực tại Tập làm người với những điều khôn dại Tập nhìn đời nhân hậu như trẻ thơ Cô bé con hai bím tóc ngày xưa Luôn nhìn tôi (thật buồn cười!) nghiêm nghị Tôi có quên, có quên gì không nhỉ: Ngôi nhà thân yêu nuôi lớn những ước mơ Câu chuyện kể đêm mưa với kết thúc bất ngờ Những trò chơi triền miên bên đống cát Đêm lửa trại người đàn, người hát Ngày ra trường nước mắt đẫm vai nhau... Tôi bước đi về nơi đâu, nơi đâu Cũng thấy mình bé hơn cô bé có hai bím tóc Nhớ về tuổi thơ mình và khóc Và lớn lên... CẢM ƠN NGƯỜI Cảm ơn người đã muốn hiểu tôi Đã đón nhận những gì tôi viết Như tay ấm chạm vào tay tha thiết Câu thơ này không còn của riêng tôi! Cảm ơn người đã vui sướng cùng tôi Ngày hạnh phúc người chép thơ vào sổ Tôi sẽ viết, thôi không còn lo sợ Những yêu đương hay tan vỡ trong đời Người đọc âm thầm thương mến đáng yêu ơi Vần thơ vụng vì người mà sống Trái tim trống nhờ người đã nóng Lại mở ra ôm lấy cuộc đời
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#30
|
||||
|
||||
|
Một bài viết mới của Thuỵ Anh về Shashlyk, đọc đã thấy...thơm lừng
Bài này được đăng trên tạp chí Thế giới ẩm thực, số tháng 4. Thịt nướng Shashlyk – món ăn giữa trời mây sông nước… Món thịt nướng than… dân tộc nào trên thế giới chẳng có! Nhưng đối với những người Nga và những người Việt từng ở Nga, thì shashlyk, món thịt nướng ấy không chỉ là món ăn, mà là một phần không thể thiếu của những lần bạn bè tụ họp, cùng nhau đi một nơi xa, vào rừng, ra sông, lên núi… Nó như thể sâm-panh ngày Tết, hoa ngày sinh nhật. Nó không còn là một thức quà vật chất, nó thành “biểu tượng tinh thần” của những niềm vui phóng khoáng cùng thiên nhiên. Vì thế, người Nga thường nói “đi shashlyk” chứ không phải là “đi picnick”! Hẹn hò nhau từ giữa tuần, thứ bảy lên lịch đi chơi thì thứ sáu phải ướp thịt rồi. Thịt để qua một đêm trong tủ lạnh, có ướp đường, vừa đủ lên men chua thì khi nướng mới đủ vị. Thường người ta dùng thịt lợn hoặc thịt cừu. Thịt cừu khi nướng, mỡ chảy nhiều, gặp than cháy bùng lên rất thơm, không hề hôi như ta vẫn tưởng. Mỗi lần đi, phải mua cả chục cân vẫn ít vì “đi shashlyk” không mấy khi vài mống lèo tèo, mà thường cả “tiểu đội”! Những tảng thịt được xắt vuông, to bằng nửa nắm tay người lớn, thịt ba chỉ dắt mỡ hay thịt mông, thịt thăn đều được vì bao giờ thịt cũng được ướp ngập trong dầu ăn – miếng thịt nạc “cứng đầu” đến mấy cũng mềm đến những thớ cuối cùng! Nhất thiết dùng nồi men mà đựng thịt, chớ cho vào nồi hoặc chậu nhôm mà mất vị đặc trưng của thịt ướp chua. Bây giờ người ta có nhiều công thức chế biến món này. Người ưa hương vị Trung Á thì tìm đến hàng của những người Gruzia ở chợ, nơi chất ngồn ngộn những chậu đựng gia vị đầy tới ngọn, đủ các màu sắc và mùi hương hăng hắc, cay cay. Một anh chàng “đầu đen”* răng bịt vàng sẽ thoăn thoắt xúc cho bạn một gói giấy đủ các vị, về nhà chỉ việc cho vào chậu thịt, trộn đều lên là xong. Nhưng nếu thích vị thanh thoát hơn, bạn dùng muối ăn, dầu, một chút đường, hành tây thái khoanh và ít dấm, hoặc chanh vàng xắt lát. Những người Việt sáng tạo thường vẩy thêm ít nước mắm và nước hàng cho gần với ẩm thực Việt Nam, “Đông Tây kết hợp”! Sớm thứ bảy, chuẩn bị cái bếp nướng có chân bằng sắt hoặc nhôm có khía rãnh đều hai bên để đặt xiên. Một cái xô sạch để treo lên nấu cháo. (Cuối buổi, sau bữa thịt nướng thường rất háo, món cháo gà lúc ấy thật đắc dụng!). Một âu to đựng xa-lát trộn đủ những thức rau để ăn kèm với thịt. Vài ba lọ dưa chuột muối to, một bịch maione, một lọ tương cà chua, tương ớt, gần chục cái bánh mỳ mới ra lò, tay cầm vào còn bỏng rãy, một túm cọng tỏi, ớt xanh muối, tỏa mùi hương chua chua dễ chịu. Rồi chuẩn bị than. Than có thể mua sẵn ở chợ, nhưng nhớ là chọn than bạch dương hoặc than của những cây ăn quả. Than cây táo có mùi hương dịu dàng, quấn quýt lấy miếng thịt khiến thịt nướng có mùi vị đặc trưng nước Nga, rất khó quên. Chọn một địa điểm bằng phẳng nơi phong cảnh hữu tình, có cánh rừng phả hơi mát trong lành, có dòng sông đầy ắp nắng và bãi cỏ đang trổ hoa. Đó là vào mùa Hè. Mùa Đông, khi đất trời trắng tuyết, “đi shashlyk” còn bội phần thú vị. Vị thanh sạch của hơi tuyết bị mùi thịt nướng làm “vẩn đục”, nhưng là sự vẩn đục hứa hẹn đầy kỳ thú! Lắp bếp, nhóm lò cũng là việc không đơn giản, cần bàn tay đàn ông vững vàng mà khéo léo. Một ít cành khô và dăm tờ báo lót dưới than, ngọn lửa bùng lên giữa gió. Khi lửa đượm, rồi dịu dần, chỉ còn những mắt than đỏ quạch nóng bỏng là lúc thịt được xâu vào xiên. Bôi lớp dầu ăn lên xiên nhôm một đầu nhọn hoắt, hơ nóng qua trên lửa rồi xiên miếng thịt theo thớ ngang, giữa các miếng thịt vuông vắn gài hành tây trắng xanh hoặc ớt ngọt đỏ, vàng, thái con chì, vừa để chặt khít xâu thịt, vừa thêm vui mắt. Những xâu thịt lần lượt được gác lên giá nướng, đều đặn, sát nhau, sao cho khói mờ hun lên mà không có chỗ cho gió thổi lửa, miếng thịt sẽ hút đẫm mùi khói, thơm và sém nhẹ chứ không cháy. Người trông shashlyk, một tay cầm quạt, thi thoảng khẽ quạt cho khói thịt thơm bay về phía những người đang quan sát, làm họ không thể không kêu lên phấn khích! Tay kia người cầm chai bia hoặc lọ nước lọc pha dấm, chốc chốc lại tưới đều lên những xiên thịt đang bắt đầu chảy mỡ, những tiếng “xèo” phát ra vui vẻ. Những xiên thịt được đảo mặt độ vài ba lần. Khi mùi thơm đã tràn ngập trong gian, lấy dao khứa nhẹ vào miếng thịt, thấy nước mỡ trăng trắng trong trong chảy ra, là thịt đã vừa ăn. Nếu nước đỏ, là phải đợi thêm chút nữa. Nếu không có nước, nghĩa là đã quá tay, thịt đã thành khô xác! Một chiếc bàn gỗ dài được bày ra dưới rặng cây, hoặc có thể giải tấm ga trên cỏ cũng được. Bánh mì trắng cắt khoanh to, bánh mì đen từng miếng vuông đều đặn. Mùi chua dịu của bánh mì đen, mùi chua thanh lẫn với mùi lá thìa là của dưa chuột muối, tỏi muối, mùi cay nồng của hành tây bắt đầu kích thích vị giác của những người bạn. Họ hào hứng xắn thịt ra đĩa, rưới nước sốt cà chua bên cạnh. Những miếng thịt ngả màu vàng nâu dày đều, sém cạnh, nhóng nhánh mỡ và lấp lánh ánh lên trong nắng, gọi mời. Miếng thịt vừa đủ độ béo, ngọt, chua, lại mềm, cứ nhẩn nha mà có thể ăn hết vài xâu, chỉ no bụng mà không bao giờ ngán. Nếu là một ngày mùa Hạ thì sẽ có làn gió hớn hở lùa qua, đem mùi hương no đủ đi xa đến cả dặm. Nếu là một ngày Đông buốt giá thì miếng thịt nướng vừa đưa lên miệng đã cho cảm giác ấm sực, và lúc ấy có chiêu một ngụm bia lạnh cũng không hề hấn gì. Chỉ còn cảm giác hưng phấn, muốn hát lên bên ngọn lửa được khêu to, cùng tiếng đàn ghi ta gần xa thủ thỉ của người bạn thời trai trẻ. Trời mây sông nước và hội bạn “hợp cạ” … là “điều kiện cần” cho một bữa “shashlyk”, cũng như những xâu thịt nướng mềm là “điều kiện đủ” cho một ngày nghỉ giữa thiên nhiên trọn vẹn. Shashlyk mà ăn ở bàn ăn trong bếp, thì không còn là món thịt nướng của nước Nga! Thụy Anh Chú thích: *: “đầu đen” là cách người Việt Nam ở Nga gọi những người dân tộc vùng Trung Á.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 13-04-2009 thời gian gửi bài 10:19 |
|
#31
|
||||
|
||||
|
Trích:
![]()
__________________
Sông núi đẹp đâu cũng là Tổ Quốc Thay đổi nội dung bởi: Geobic, 15-04-2009 thời gian gửi bài 18:12 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Flamingo (05-04-2010) | ||
|
#32
|
||||
|
||||
|
Trích:
Trích:
Xin post truyện Cây cải Tashkent do tác giả gửi cho NNN: Cây cải Tashkent Trong cả một nghìn mét đất trồng cải thì cây cải này lớn nhất. Không, nói lớn cũng không phải, mà là khổng lồ. To cao gần bằng đứa trẻ lên bảy lên tám, tay lá xòe như lá chuối, màu xanh đậm. Bẹ thì chắc lẳn, rắn đanh, két đầy đất… Những ngồng cải vươn cao kiêu hãnh, đã ra hoa vàng. - Chà, giống cải Tashkent! – Tôi thốt lên. - Có sự lạ, chứ cải Tashkent có to cũng chẳng to được đến thế. – Galia vừa thoăn thoắt nhổ cỏ, vừa thủng thẳng nói. Cô là người làm công cho tôi (còn tôi lại làm công cho ông chủ của tôi, ở trên Mat.). Galia khá chăm chỉ, có điều hay vòi thêm tiền lương mỗi tháng. Đôi mắt xanh biếc có cái nhìn của người Tiểu Nga, nhẫn nại và chân thật, nhưng suy nghĩ thì đã không còn hồn nhiên như những ngày đầu mới gặp tôi. Bây giờ, cô biết khi nào nên đòi tăng lương mà tôi không thể từ chối được, khi nào im lặng chấp nhận mức lương cố định không thêm không bớt mà tôi đã đặt ra cho cô, có tính thêm phụ cấp sắc đẹp. Nói thực ra thì, hồi mới sang, tôi thấy gái Tây cô nào cũng xinh. Đến hơn một năm thì tôi đã phân biệt được thế nào là “Tây xinh”, thế nào là bình thường. Galia thuộc vào loại bình thường. Mũi cao như… Tây. Mắt sâu, mặt trắng, răng đều, lông mi rợp. Nhưng chỉ thế thôi, chứ không phải đẹp. Cười không rạng rỡ. Nói không dịu dàng. Dáng đi tất ba tất bật. Hông to và xệ… Nhưng cũng không vì thế mà tôi nỡ cắt đi khoản phụ cấp đã trót đặt ra với cô ngay từ đầu. Tôi thầm đổi tên khoản ấy, gọi là phụ cấp nghề nghiệp, đền bù cho đôi tay xước xác vì hàng ngày phải tước lá nhổ cỏ, chăm bẵm cho những thứ rau kỳ lạ của đất nước tôi đang gắng sức vươn lên, sống được ở nơi này. Đất tốt, cây dại mọc nhanh và khỏe, lúc nào cũng chực nhấn chìm rau Việt trong thứ cỏ hoa nồng nàn mạnh mẽ của mình. Năm nay, tôi thử nghiệm một giống cải mới, có vẻ gần gũi hơn với đất Nga mà bà con ta vẫn chấp nhận. Cải Tashkent. Tashkent vẫn là vùng nóng ẩm, nhưng dù sao cũng vẫn là “Tây”, thuộc nước cộng hòa cũ của Liên Xô, ắt hẳn khỏe hơn nhiều cái anh cải xanh cải ngọt của ta. Lý luận của tôi là thế! Hạt giống cải đánh từ Việt Nam sang, cây mọc lên còi cọc, chưa lớn đã trổ hoa vội vàng. Giờ, mới trồng thử một nhà kính, mà đã được cây cải khổng lồ. Những cây khác cũng to mập, nếu để muối dưa thì tuyệt. Hay quá, vụ này, tôi sẽ xui chủ rau không bán cải mà bán dưa, đảm bảo đẩy bật khỏi thị trường hàng dưa Thái đóng túi bóng, vàng một màu vàng đáng ngờ, chua loét lại lờ lợ mùi đường hóa học. - Cô không tưới nó bằng cái quái quỷ gì đấy chứ, Galia? - Cái gì là quái qủy? – Galia cười, chắc cô ta cười cách dùng từ vụng về của tôi. Con gái con đứa gì mà cười cứ há hoác cả miệng ra, thoải mái, vô tư! Tôi hơi khó chịu, nghĩ bụng, phải cho cô này về Việt Nam học cách ăn trông nồi nói cười trông mặt người đối diện. Hết cơn cười, Galia nghĩ ngợi một lúc rồi bảo: - Anh hỏi hai thằng bom-zhờ của anh ấy, biết đâu chúng nó tưới cái gì buổi đêm thật, tôi biết sao được! Bom-zhờ, tiếng Nga là viết tắt của từ “không nơi thường trú”, chỉ mấy người lang thang vô gia cư, vô nghề ngỗng. Ở trại rau này, tôi nuôi hai “đồng chí” bom-zhờ, còn khá trẻ, mặt non nớt, đầu trọc lốc, một cao nhẳng, vai trái xăm hình con công đang xòe cánh, một tầm thước, mắt lúc nào cũng lơ mơ như đang sắp chìm vào cơn ngủ, người vạm vỡ, gân cơ nổi cuồn cuộn, Lý Đức nhà mình còn phải gọi bằng anh! Tôi tình cờ thửa được hai chú này ở phòng của chủ tịch nông trang, khi các chú đến xin việc, vò đầu bứt tai nói không nổi một câu xin xỏ cho ra hồn. Đến khi hiểu ý định của hai chú thì chủ tịch nông trang xua tay lắc đầu. Nông trang đang thu hẹp diện tích trồng trọt, đàn gia súc cũng giảm đi gần một nửa, lấy đâu ra việc cho mấy chú! Thế là tôi được thể ra tay cứu vớt, cho các chú miếng bánh mì ăn hàng ngày bằng việc trông coi trại rau của tôi gồm 8 nhà kính thuê được của nông trang với giá rẻ mạt và một cánh đồng trồng trăm thứ bà rằn. Tôi cũng chẳng buồn hỏi hộ chiếu hay xuất xứ của họ. Hai gương mặt còn rất non nhưng mang vẻ thờ ơ bình thản đến lạnh lùng. Hơi lạnh của bộ mặt làm tôi rợn, không hiểu sao dám chắc hai bom-zhờ hôi hám này sẽ dọa được bọn “phia nhí” địa phương, thế là đủ. Trộm thì tôi không sợ, có lấy rau về cũng chẳng xài được rau muống rau bí nhà mình. Chỉ sợ bọn phia thôn phia xóm mà tôi không chịu “nuôi”, nhỡ chúng nó ngứa mắt lại phá rau của mình thì gay. Mà xì tiền ra trước thì thể nào chúng cũng được thể lấn lướt, đòi hỏi. Vì thế nên tôi quyết định chơi rắn. Tôi bảo các chú cứ ngủ ngày canh đêm. Đốt một đống lửa đuổi muỗi, pha trà trong mấy chiếc ca nhôm nhỏ, thay nhau ngủ ở chòi gỗ…, hai anh chàng đã khiến lũ vòi tiền giạt ra xa. Được một tháng, tôi phấn khởi biếu các chú một thùng mì ăn liền, loại rẻ tiền thôi, chỉ có gia vị không có thịt thà rau cỏ gì kèm thêm. Thế mà hai đứa có vẻ vui lắm, cảm ơn rối rít. Bình thường cấm có hé răng câu nào. Tối đó tôi ở lại uống rượu đêm với hai chú lính gác. Chòi gỗ. Vách gỗ thưa. Sàn gỗ cũ kỹ, kêu rọt rẹt. Một cái bàn, hai ghế dài, một chiếc giường nhỏ xíu. Bình nước nhôm có vòi, nước chảy nhỏ giọt vào chiếc chậu nhỏ để trên bệ gỗ. Một chút rượu Ggelka, vài miếng bánh mì đen cũ đã bở, một ít củ cải vừa hái dưới ruộng, rửa qua thái miếng, vị hăng hăng ngòn ngọt quện với vị cay của vodka… thế là gan ruột tự dưng cứ trút ra với nhau, cho dù tiếng Nga của tôi chưa phải là “dài”. - Anh sang đây chỉ để trồng rau à? – Vlad, anh chàng xăm hình con công múa bắt chuyện với tôi. Tôi chả gật cũng không lắc. Tự dưng lại buột miệng: - Tao là bộ đội. - Bộ đội? Chúng tôi cũng thế! – Lần này đến lượt Vlad buột miệng. Cậu ta chợt nhớn nhác nhìn quanh, rồi thở dài, cầm ca rượu lên dốc cạn. Khà một tiếng, thả miếng củ cải vào miệng, nhai rau ráu… Tôi cũng vớ một củ, vừa nhai vừa nghẹn. Vị cải hăng buốt lên tận óc, khiến tôi hơi choáng váng. Chiêu một ngụm vodka, tôi gắng nuốt cục ứ ở cổ, không rõ là miếng củ cải mắc lại hay là cái gì. Đôi khi tôi ăn cơm cũng hay nghẹn, nhất là những buổi ăn tối một mình. Sương mù giăng thành một dải lụa trắng trên cánh đồng. Tôi nhớ cánh đồng làng tôi buổi sớm mờ đất, cũng một lớp sương giăng. Hơi rượu làm tôi dễ thở hơn, bắt đầu nói, tiếng Việt, tiếng Nga lẫn lộn: - Tao là bộ đội. Trước chỉ có chiến tranh, vào lính thì đi bộ đội. Nay cứ lang thang bất hợp pháp xứ người, không đoàn không hội, thì gọi là bộ đội. Như lính ấy mà, đi làm “nhiệm vụ” cao cả là cứu mình cứu nhà… Hai cậu thanh niên chắc không hiểu gì, mặt ngơ ngơ ngác ngác, nhưng vẫn gật gật với tôi, ra chiều thông cảm. Cậu chàng người vạm vỡ, tên là Andrei, mỉm cười: - Chắc anh nhớ nhà? - Nhớ. Nhớ chung chung thôi. Bố mẹ tao mất cả rồi. Chỉ còn ông anh cả. Thế bọn mày, bố mẹ ở đâu, quê đâu mà lại phiêu bạt đến đây, chẳng có nghề có ngỗng gì cả thế này? - Chúng tôi mồ côi. - Từ trại trẻ ra à? - Vâng, gần như thế. - Sao lại gần như? Thế nào là thế, chứ gần như là thế quái nào? Một thoáng ngần ngại, rồi gần như cùng lúc, Vlad và Andrei đồng thanh nói, cùng nói rất nhỏ, nhưng cộng hưởng của hai tiếng nói trẻ trung khiến thông tin mang lại vang lên rất to, như một tiếng chuông gõ trên đỉnh đầu: - Mồ côi, đi lính, đào ngũ! Hả? Chết cha! Quân cảnh ở Nga làm việc nghiêm lắm. Họ mà phát hiện ra, kỷ luật nặng, có khi người tòng phạm cũng liên lụy chứ chả chơi. Tôi bối rối hỏi: - Sao lại đào ngũ? Khổ quá à? - Không, sợ phải đánh nhau. Mấy năm trước trung đoàn chúng tôi đã đi Chechnya một đợt rồi. Lần này đi Tskhinvali, lành ít dữ nhiều. Andrei đế thêm: - Đi Chechnya về, chết đến cả một phần ba trung đoàn. - Sao lại để chết? Không được huấn luyện tập tành gì sao? - Có, nhưng ít. Lính lấy từ trại trẻ nhiều lắm, họ tiếc gì chúng tôi, có ai chờ đợi ở nhà đâu! - Sao không ai chờ? – Tôi ra một câu hỏi ngu. Mà thực ra cũng chẳng ngu. Chỉ là một câu hỏi, có thể đặt ra cho bất cứ ai trên đời, kể cả tôi. Tôi cũng vậy, có ai chờ tôi không, ở quê nhà? Tôi chợt thấy bóng Thoa, cô bạn gái từ hồi phổ thông, đang đứng hoang mang nhìn tôi, từ phía bên kia dải lụa sương trắng đục. Cô lắc đầu. Phải rồi, tôi đi xa thế, và chẳng hẹn rõ được ngày về. Làm sao người ta đợi được tôi! Giá thời chiến thì chắc cô đã một lòng hẹn ước, đợi tôi cho đến cả khi tôi đã chết đi rồi. Cô sẽ đi tìm hài cốt của tôi. Thậm chí, kể cả lúc cô đã lấy chồng, sinh con, rồi già đi, cô vẫn tìm và vẫn đợi tôi. Nhưng đây là thời bình. Những sự đợi chờ, hò hẹn của người đời đã trút đến kiệt cùng vào những cuộc chiến.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 01-03-2010 thời gian gửi bài 11:06 |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
Милая_утка (01-06-2010), Flamingo (15-03-2010), Siren (15-03-2010), sonkinh (15-03-2010), USY (02-03-2010) | ||
|
#33
|
||||
|
||||
|
(Tiếp theo)
Sau cái đêm sương ấy, tôi chăm sóc hai anh lính của tôi hơn. Và cũng nhắc nhở hai cậu kín đáo hơn, cố gắng chỉ loanh quanh ở trại rau, tránh ra mặt. Tôi nhắn lên Mat nhờ người khuân về cho họ gần chục thùng mì. Rẻ bèo ấy mà, so với những thức tôi vẫn ăn hàng ngày. Làm công ăn lương, quanh năm ở lì dưới vùng ngoại ô này, chỉ việc trông coi rau cỏ, chỉ đạo thu hoạch thôi nhưng cuộc sống của tôi cũng đã đầy đủ lắm. Sáng có bánh mì bơ mua ở cửa hàng thực phẩm đầu thôn, sữa dê mua của bà lão Nata chăn dê, chẳng qua xử lý nhào nặn gì, cứ thế là uống, nghe bảo bổ lắm. Trưa chiều ăn tối trong căng-tin của nông trang. Hứng chí lên, vẫn có thể cho phép mình mua chục cân thịt cừu tươi, ướp hạt mùi thơm nức rồi rủ rê cánh đàn ông đàn bà khu nhà khách cùng đi nướng shashlyk. Chỉ có điều, niềm vui thú hứng khởi sao mà nhanh hết! Nuốt miếng thịt béo thơm lừng qua cổ, là đã thấy lại ngay cái buồn thắt ruột thắt gan mà chỉ có vodka mới đẩy nó xuống tận đáy cùng của con người mình được. Vlad và Andrei thì trường kỳ mì tôm. Còn Galia, người cô thường thơm phức mùi bột mì rán. Món tủ của cô là món bánh nhân hành tây. Ngon, phải nói là rất ngon. Nhưng mãi cho đến sau này tôi vẫn còn ngửi thấy cái mùi thơm ngậy ấy mỗi buổi tối đi xuống bếp, đậm và rõ nét đến nỗi tôi phải rùng mình buồn nôn. “Cô không có món gì hơn à? Thịt đâu?” “Có chứ! Nhưng lần nào anh xuống cũng đúng lúc tôi rán bánh hành. Món này là món gia truyền của nhà tôi, ngày nào không ăn tôi không chịu được!” – Galia nói, mắt ánh nét xanh lóa lên, như mắt một con mèo trong đêm. Tôi thấy hơi sợ cô. Có lẽ một phần vì cách sống khắc khổ của một cô gái mới hơn hai mươi tuổi, có hơi thở thơm mùi bánh nhân hành và bộ ngực mềm mại đầy sức sống. Nhưng đôi bàn tay thì chai sạn gân guốc. Chân cũng thế, gân xanh nổi chằng chịt. Cô làm việc rất hăng. Nhận làm cho nông trang, nhận làm cho tôi. Việc ngoài giờ ai nhờ lau dọn toa-let hay đan len đan áo (có thù lao) là cô nhận tuốt. “Kiếm tiền lấy chồng à?” – Tôi chọc. Galia lại cười to, ha hả, cái kiểu cười thật không nữ tính chút nào! Một đêm, trăng sáng quá, tôi không ngủ được. Thường không mấy khi tôi để ý tìm trăng ở bầu trời này. Tôi nhìn xuống, nhìn ngang nhiều hơn là ngửa cổ lên trời. Thế nhưng đêm ấy thì tôi thấy được trăng, vì qua cửa sổ tôi quên kéo rèm, ánh trăng chiếu thẳng vào mặt tôi. Tôi cảm thấy mặt mình nằng nặng, ươn ướt. Thứ ánh sáng kỳ diệu mà tôi đã quên từ lâu đang tràn trề trên mặt, chảy vào miệng tôi những dòng ngọt ngào. Tôi bật dậy, mặc quần áo ra đường. Từ hồi nhận “cắm rễ” ở vùng này một mình, tôi ít ra đường ban đêm. Hoặc là ngủ lại ở nhà kính, hoặc là về phòng ở nhà khách nông trang, đóng chặt cửa ngủ hoặc không ngủ, cho đến sáng. Dăm ba bận có mấy lão say về muộn, đi ngang phòng tôi đập cửa rầm rầm. Mặc kệ, tôi cứ trùm chăn kín đầu. Giữ mình sống an toàn qua một ngày nữa, để mà kiếm tiền. Mục đích của tôi khi đến xứ này chỉ có thế! Mà kiếm tiền để làm gì, thì khi nào có tiền rồi tôi mới nghĩ đến sau! Đang thẫn thờ ngồi ở chiếc ghế gỗ đầu thôn đặt dưới tán cây sồi cổ thụ, ngắm ánh trăng chảy qua kẽ lá sồi, tôi bỗng nhận ra một dáng dấp tất bật quen thuộc, cái hông to và xệ, đang thoăt thoắt đi về phía nhà kính trồng cải. Nhà ấy xập xệ nhất trong số các nhà kính của tôi. Nhiều nơi kính nứt vỡ toang hoác. Nhưng cải chịu được lạnh, kể cả sương muối đêm lạnh buốt của mùa Hè ẩm ướt nước Nga, nên tôi không gia cố lại làm gì. Tôi thấy Galia tay cầm túi paket màu đen, lách vào đám cải, đến nơi cây cải Tashkent vươn ngồng cao nghểu. Cô hì hụi bới đất thành hố nhỏ sâu, rồi trút mớ bùng nhùng trong túi vào đó. - Ngồi yên! – Tôi quát khẽ. Galia giật thót, đứng phắt dậy, tay buông túi ôm lấy ngực, mặt nhăn nhó đau đớn. - Cô làm cái quỷ quái gì ở đây thế này? Im lặng. Tôi cũng chẳng hỏi thêm, tiến đến soi đèn pin vào hố đất mới đào. Một túm lông xám nâu rũ rợi lọt trong đó. Thoáng chút máu tươi. Bồ câu? Galia gật đầu, òa khóc. Lần đầu tiên tôi thấy Galia khóc, bình thường chỉ thấy cô cười, cười rất vô duyên. Galia khóc cũng chẳng có duyên hơn, nhưng vì thế mà tôi thấy cô trở nên nhỏ bé đáng thương hơn bất kỳ một người đàn bà nào đang khóc mà tôi từng chứng kiến. Cô nức nức nở nở, liên tục đưa tay vò mớ tóc hung hung xoăn tít của mình. - Thôi đừng giật tóc nữa, - tôi lên tiếng an ủi. – Tôi cũng từng ăn bồ câu. Người Việt vẫn ăn bồ câu. - Tôi biết, - Galia hức lên. – Nhưng đấy là tập quán của các anh. Chúng tôi thì không… không có… Nhưng tôi… - Cô đói, phải không? Im lặng gật đầu. Tôi không hiểu: - Thế tiền công làm việc cô để đâu? Cô có khi còn giàu hơn tôi ấy chứ! Trên gương mặt Galia thoáng một nét tươi: - Gửi về U hết rồi. Tôi còn mẹ già và một con bé con 4 tuổi. - Trời, cô trẻ thế mà đã có con 4 tuổi? - Chứ sao! Tôi đã 23 rồi. - Tự hào gớm nhỉ! Kém tôi gần chục tuổi. Mà tôi thì vợ chưa, con chưa… - Con gái Nga gái U thường lấy chồng sớm lắm, rồi cũng sớm một mình nuôi con… Chúng tôi không biết nói gì tiếp, im lặng. Ánh trăng dừng trên nóc nhà kính, chỉ có bóng loang loáng trên ấy, như cuống quýt đang tìm đường vào. Vẩn vơ nhìn cây cải Tashkent, rồi cái hố, tôi chợt hiểu ra: - Hiểu rồi. Đây chính là cái quái quỷ cô bón cho cây, làm nó đột biến dị thường thế này đây! - Chưa chắc. Trước tôi vẫn chôn lông cánh dưới giàn mướp, mà có thấy gì đâu! Tôi cười to. Galia cúi mặt, lấy bay lấp hố chôn lông và xương chim, lầm bầm nói: - Anh cười gì? Từ hôm thấy cái cây nó mọc to, tôi cũng thích nó mọc to nữa to nữa xem thế nào. Anh có nghĩ nó sẽ vượt cả cái trần nhà kính, vươn lên trời kia không? - Có thể lắm! Tại sao lại không nhỉ? Tôi chợt nhớ câu chuyện về cây đậu, mọc xuyên lên trời, thành những bậc thang để người con gái trèo lên mà tìm gặp người yêu đi lạc. Tôi bảo Galia: - Nếu cây cải Tashkent này mọc chọc trời, cô có dám trèo lên đến cùng không? Galia trầm ngâm, hơi mơ màng, đáp: - Dám… - Nếu nó mọc lên đến thế thật, chắc nhiều người phải cảm ơn cô đấy. Mấy hôm nữa, cô nhớ lấy hạt của cây này làm giống nhé. Biết đâu cứ kiên trì, sẽ có lúc trồng được cả một nhà cải chọc trời thì sao! - Thế thì anh lỗ vốn. Vì có ai mua cải này mà ăn đâu! Anh cứ ước vớ ước vẩn thế, có ngày bị đuổi việc! - Tôi sợ chắc! Nói cho cô hay, tôi sống không chỉ để kiếm tiền… Nói xong, tôi quả cũng có đôi chút ngượng ngùng. Nhưng rồi, cái câu ấy cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi, ong ong vang lên suốt cả khúc đêm còn lại. Hình như cũng chính nó đã khiến tôi thiếp được đi trong một giấc ngủ không mộng mị vào cuối đêm gần sáng, không thấy cảnh nhốn nháo chia tay ở sân bay Nội Bài hay cảnh những cánh đồng làng tôi phủ đầy khói của các lò gạch mà tôi vẫn thường mơ thấy. Bữa ấy, tôi có giấc ngủ yên lành nhất kể từ khi sang Nga. ** Nhưng cây cải Tashkent to đột biến như thế không chỉ nhờ đám lông xương bồ câu của Galia. Còn một nguyên nhân khác nữa mà mãi sau này tôi mới biết. Cuối vụ rau mùa Hè, các nhà rau thu hoạch gần xong rồi, tôi đã cho dỡ đi để chuẩn bị ủ phân bò cho đất. Việc trông coi rau cỏ không còn là bức thiết nữa. Vlad và Andrei bắt đầu đi lại vật vờ trong làng, hỏi xin thêm việc làm. Người thì gọi họ cào cỏ chất thành đống rồi đốt. Những đụn khói đầu Thu bắt đầu bốc lên ở khắp nơi, làm thành lớp sương mù quấn quện với mặt đất vào ban ngày chứ không cần đợi đến đêm. Người thì nhờ họ bổ củi. Những đống củi chất đầy góc vườn nằm đợi mùa Đông. Có những ngày không ai kêu làm gì. Hai người ngồi đọc sách trong chòi gỗ. Sách cũ xin được của người trong làng. Bạ cái gì cũng đọc, cả sách nuôi dạy trẻ “Con của bạn từ 0 tháng đến 3 tuổi”! Thấy họ thiếu việc, tôi gạ hai anh chàng dạy cho tôi ít võ. Nghe bảo lính Nga học võ kinh lắm. Vlad cười cười không nói gì. Andrei cởi phăng áo, khoe cơ bắp vạm vỡ rắn đanh, tay này đấm thùm thụp vào bắp tay kia, bảo: “Võ gì? Có mà võ thịt! Cứ vào lính, bị ma cũ tẩn cho vài trận là có võ ngay ý mà!” “Thật à? Sao nghe bảo người ta phải thuê thày thợ dạy cho bọn mày kỹ lắm? Có ông thày võ người Việt bọn tao cao cường lắm nhé, cũng từng dạy lính Nga!” – Tôi huênh hoang. “Tôi không biết. Lính đặc nhiệm thì học hành kỹ lưỡng là đúng rồi. Bọn tôi là lính mồ côi ấy mà, nhiều lắm, thời bình thì hiến sức cho người ta, chỉ huy bảo làm gì cũng phải làm…” “Hiểu rồi, nước sông công lính” – Cái câu này tôi không nói được tiếng Nga, chơi luôn tiếng Việt. Bọn Vlad, Andrei cũng chẳng hỏi lại nghĩa là gì. Nhưng hình như họ hiểu. “Có chiến sự thì bắn súng, đạn còn bay quanh bia cũng phải đi, ra trận luyện bia người” – Vlad tiếp, vừa nói vừa lấy cái lò xo tàu ngầm thả vào ca nhôm đun nước. Tôi khịt khịt mũi nhìn quanh. Quái, cái chòi này lúc nào cũng có mùi… Mùi gì quen thế! “Mùi mì ăn liền của các anh chứ mùi gì”. Ừ nhỉ, thế mà không nghĩ ra. Có những mùi hương quen thuộc đến ăn vào máu thịt rồi, mà đôi khi mình cũng lãng quên, không gọi được tên. Tôi ái ngại nhìn hai thanh niên đang tuổi lớn. Họ thận trọng lấy nĩa vớt những sợi mì dài mỏng manh, bớt lại nước, chăm chú ăn, dường như đây là việc họ quan tâm nhất lúc này. “Sao thế? Nước không ngon à?” “Ngon, nhưng cay quá!”… Gói gia vị chỉ có chút tiêu, rất ít ớt mà họ cũng không chịu được. Người Nga vốn ưa ngọt ghét chua cay! Nhưng bảo bỏ gia vị đi thì cũng không muốn, vì “như thế mất hết mùi thơm”! Một chiều chớm Thu, mưa xậm xị, tôi lại đang ngồi với Vlad và Andrei bên mấy ca mì tôm thì có tiếng gõ cửa, và ba người đàn ông mặc quân phục xộc vào. Họ đưa hai anh chàng bom-zhờ của tôi đi. Từ nay họ lại là lính, hết là bom-zhờ, có doanh trại, có giường, có nhà để ở, đến giờ được ăn, không còn phải ăn mì gói nữa. Tôi hốt hoảng nhìn mấy cái ca còn õng nước mì váng mỡ, cuống cuồng lấy những gói mì còn lại trong ngăn kéo cho vào paket, dúi vào tay họ. Hai người ngoan ngoãn cầm túi mì, rồi đi theo mấy sĩ quan kia. Ra đến ngoài cửa rồi, Vlad chợt quay lại, nói với tôi: - Cảm ơn anh, anh Tân ạ. Anh có biết cái cây cải Tashkent to như thế là được tưới bằng cái gì không? Bằng nước mì tôm đấy. Thật mà. Có một lần bọn tôi ngồi đó ăn mì, rồi chẳng biết đổ nước vào đâu, mới đổ trộm vào gốc mì. Sau thấy nó mọc to quá, tôi chắc chắn là do nước mì tôm… Tôi và thằng Andrei ngày nào cũng làm thế. Chỉ với cây cải ấy thôi. Anh cứ thử xem, vụ sau… Nhé? Không hề có sự đùa cợt ở đây. Mắt Vlad nhìn tôi, trong veo. Thật không tin được con người có vẻ bề ngoài khô khẳng khắc nghiệt ấy lại có cái nhìn trong veo đến thế. *** Câu chuyện cây cải Tashkent của tôi chỉ dừng ở đó. Tôi không bao giờ có được cây cải khổng lồ thứ hai. Sau khi Vlad và Andrei bị bắt, Galia cũng giả phòng ở nhà khách để trở về Ukraine chăm mẹ ốm nặng thì tôi không còn tâm trạng nào ở lại vùng đất này nữa. Khi đến đây tôi chỉ có một mục đích: làm việc làm việc và làm việc, để kiếm tiền rồi nhanh chóng trở về nước. Xin việc, rồi lấy vợ. Lấy Thoa, nếu cô còn đợi tôi… Nhưng mấy ngày sau khi những người bạn tình cờ thân thiết kia rời xa tôi, tôi bỗng cảm thấy một nỗi cô đơn rã rời xâm chiếm toàn thân. Tôi xin thôi việc, lên Mat. Chẳng biết điều gì đang đợi tôi ở đó, nhưng tôi thấy mình kiên quyết phải đi. Trước khi đi, tôi ngồi tần ngần bên cây cải Tashkent, cây cải duy nhất còn lại trong nhà kính. Tôi không lấy hạt của nó làm giống, vì tôi gần như chắc chắn rằng, ở nơi khác, với sự chăm bẵm bình thường, tôi sẽ không có được cây cải khổng lồ như thế này. Nó sẽ ở lại đây, to lớn, cô độc, kiêu hãnh mang trong mình bí mật của những con người. Cho đến lúc bị dế ăn và vàng lụi. Ở Matxcơva, tôi may mắn xin được chân lái xe thuê cho một bà giao hàng khô ở chợ Vòm. Tôi được làm giấy tờ tử tế để đi lại hợp pháp. Hiếm hoi có những chiều rảnh rỗi, tôi lang bang dọc con đường gần nhà, mặc dù đã bị cảnh báo là không được đi lại nhiều một mình, nguy hiểm. Không hiểu sao, nghe nhiều chuyện trấn cướp ghê gớm rồi, nhưng tôi không hề thấy sợ. Có vẻ như cái cây cải Tashkent dạo nào đã tặng tôi hình ảnh vững chãi của nó, để tôi có được một sự bình tâm kỳ lạ trong những ngày tiếp theo sống ở nước người. Chiều mùa Đông có nắng. Tuyết rơi lấp lánh khắp nơi. Tôi đánh xe về sau buổi giao hàng, đi chậm chậm dọc con đường quen thuộc, thì thốt thấy một cánh tay lính mặc áo rằn ri thò ra từ fortochka bé xíu ngay tầng 1 của dãy nhà xam xám với những ô cửa sổ đầy song sắt thô rỉ. Trại lính! Thế mà mọi ngày tôi không để ý. “Ây, này…” Chủ nhân của cánh tay lính gọi tôi. Tôi ra khỏi xe, đến gần ô cửa. Cậu lính còn rất trẻ, gần như còn là một chú bé, đầu húi cua ngắn, mặt non choẹt, gầy guộc, dí mũi vào cửa sổ, đang mỉm cười với tôi qua tấm kính mờ hơi nước. Cậu ta nháy mắt ranh mãnh: - Cho xin mấy đồng đi! Không đợi tôi phản ứng, cu cậu ròng xuống một ống bơ sữa bò được khoét hai lỗ cân đối, nối dây gai nâu. Tôi máy móc lục túi lấy tiền lẻ đặt vào. “Cảm ơn” – cậu bé reo lên. Khi cậu kéo chiếc ống bơ vào rồi, tôi mới sực tỉnh: - Gượm, đợi đã! Thả tiếp xuống đi! Tôi chạy vào xe lấy ra một chục gói mì ăn liền, hì hục buộc từng gói vào chiếc ống bơ. Ở phía trong, cậu lính cũng khéo léo lấy lên được bằng hết. Tôi lên xe phóng đi, không kịp nghe cậu bé cảm ơn lần nữa. Mũi cay xè như vừa ăn mù tạc. À mà người ta bảo, cải Tashkent làm mù tạc là xịn nhất đấy! Thụy Anh
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#34
|
||||
|
||||
|
Thêm một truyện ngắn nữa củaThụy Anh, xin giới thiệu với bạn đọc NNN:
Sợi tóc Tâm nhăn mặt. Cảm giác lợm giọng dậy lên, mặc dù trước đó mấy phút, anh còn đang thấy hoàn toàn hài lòng với món súp củ cải đỏ chua dịu, ngầy ngậy váng sữa đang tan mà Hương đặt ngay trước mặt anh khi anh vừa ngồi xuống bàn. Súp nóng đến nỗi sờ vào mặt bàn cũng thấy ấm. Mấy miếng bánh mì đen, đĩa dưa chuột, cà chua tươi trộn dầu ăn điểm loáng thoáng một vài quả ôliu đen thẫm, bên cạnh là cốc vodka, loại cốc thủy tinh nhiều khía mà anh ưa thích. Vodka cứ phải rót vào cốc ấy mới được, vừa đầy đặn, vừa trong vắt khiến anh có cảm giác uống thứ rượu đó vào, đầu óc sẽ sáng suốt quang quẻ ra. Khăn ăn, khăn giải bàn vải thô, cùng một màu be dịu mắt. Trên bếp, ấm nước sôi đang phì hơi trắng, tỏa mùi nồng nồng của nước nóng, khiến má và tai đỏ ửng vì tuyết lạnh của anh như đang nguội dần. Căn bếp của hai vợ chồng anh ở xứ sở này, tuy bé nhỏ nhưng thật ấm, thật gọn. Và anh rất tự hào về vợ mình. Cứ dăm bữa nửa tháng lại rủ bạn bè về nhậu. Đôi khi không báo trước, cứ đột ngột đưa về cả một tiểu đội. Vậy mà Hương chẳng kêu ca nửa lời. Lúc nào cô cũng dự trữ sẵn trong ngăn đá rất nhiều đồ ăn, từ tôm “con hổ” xanh xanh vằn vện đắt tiền đến cá scumbria thịt vừa ngậy vừa chắc, và thịt lợn hoặc thịt bò xay sẵn để thành từng gói… Rồi lại hì hụi nấu nấu nướng nướng, bày biện xanh đỏ tím vàng, chỉ một loáng là thành mâm cỗ cho đám đàn ông khề khà cả tối. Chỉ có điều, những tháng gần đây Tâm rất hay mất hứng khi ăn cơm ở nhà. Anh nhăn mặt nhặt ra từ trong miệng một sợi tóc mảnh. Tóc của Hương. Ẩu quá! Tâm bực bội. Dọn cơm cho chồng ăn thế đã là không ổn, những lúc có bạn có bè mà tóc của Hương vẫn cứ vài sợi quấn quýt trong đĩa nộm, hoặc lơ phơ trong bát canh măng là anh nhìn cô, mắt tóe lửa. Lạ nữa là, góp ý nhiều lần mà cô… vẫn tái phạm. Giờ, mỗi lần phát hiện ra một sợi tóc, anh lại cười khẩy đưa nó lên cao, nói: “Mì chính cho canh thêm ngọt!”. Anh thấy đắc thắng khi Hương cuống quýt đem sợi tóc vứt đi, mắt long lanh chực khóc. “Còn trẻ con lắm ấy! Quá ẩu! – anh nghĩ thầm. – Dạy vợ là cứ phải nghiêm, chẳng rồi sau này có tuổi, dám cho chồng đau bụng lắm!”. Một tối, sinh nhật Tâm. Thường thì anh đã đặt nhà hàng. Nhưng năm nay rét đậm, tuyết rơi dày, mọi người ngại đến nhà hàng. Ngồi trong nhà Tâm vẫn ấm cúng hơn. Nhà lại gọn gàng vì không có trẻ con. Tâm và Hương cưới nhau đã mười năm, con trai 7 tuổi hai vợ chồng gửi về cho ông bà hai năm nay để đi học vì Tâm cũng không định ở đây lâu nữa. Căn hộ lớn ở phía Nam Matxcơva anh vẫn sửa lại rất đẹp. Sàn gỗ, thảm len Thổ nhĩ kỳ, góc nhà lại có một cái lò sưởi gạch đỏ, chỉ được nhóm lửa lên mỗi khi hai vợ chồng có những buổi tối lãng mạn hiếm hoi bên nhau, thường là vào mùa Thu, khi mưa giá tỏa làn khí mù ẩm ướt bên ngoài. Hương lấy nhúm lá bạc hà cô hái được trong rừng rồi sấy khô từ hồi Hè ra, thả vào chiếc ấm gốm to, hãm nước. Nước trà bạc hà thơm đến nỗi không thể gọi là thơm nữa. Ngồi cạnh bếp lò có những ngọn lửa nhỏ quấn riết lấy khúc củi bạch dương, mùi thơm của tách trà bạc hà có thể gọi là mùi hương bình an, khiến lòng chẳng còn muốn bon chen, làm nguội hoàn toàn tham vọng kiếm tiền vẫn bừng bừng hàng ngày trong Tâm, trong những người bạn của Tâm. Tâm vẫn thường đùa vợ: “Em làm nhụt chí trai!”… Lần này, sau khi ăn nhậu xong, đã ngà ngà say, mọi người được thưởng thức tách trà “làm nhụt chí trai” của Hương bên bếp lửa. Ai nấy đều như thở ra một hơi thật dài, trút bỏ hết những suy nghĩ vương vấn về những hợp đồng chưa ký được, những dự án chưa hoàn thành, những công hàng vẫn đang lênh đênh ngoài biển… Vợ một anh bạn tò mò hỏi Hương cách sấy lá bạc hà. Hương sôi nổi kể: “Lá bạc hà ở ngoài rừng nhiều lắm, em hái cả mấy cái lá có hoa trắng, chẳng biết tên là gì, nhưng người Nga nói là uống mát gan, rồi đem về rửa sạch, đợi thật ráo nước, cho cả vào lò sấy. Thế mới sạch, chứ phơi ngoài không khí để không được lâu, lá trà lại vẫn ngậm nước… Hãm thì cũng cứ hãm như trà thường thôi. Đun nước thật sôi đổ vào là xong!” Tâm tiếp lời: “Thiếu!” Hương ngạc nhiên nhìn anh, Tâm cười cười, nói: “Còn một thành phần quan trọng. Là tóc!”. Mọi người cười xòa, nhưng ngơ ngác. Rõ ràng không ai hiểu ẩn ý của Tâm. Chỉ có Hương là tái mặt. Mắt cô đỏ lên. Cô quay vào buồng ngủ. Lát sau, cô ra hành lang khoác áo, đi ủng… và nói với mọi người: “Các anh chị ngồi chơi, em chạy xuống đường mua thêm thuốc lá”. Không ai để ý là Hương đi rất lâu. Mọi người đã về hết rồi, bát đĩa rếch vẫn đầy trên bàn, những tách trà đã uống hết vẫn vương vãi đây đó quanh phòng khách. Tâm lả giả bảo mọi người, cứ để đấy Hương về Hương lo, một loáng là xong mà, cô ấy quen rồi. Nhưng hút đến điếu thuốc thứ ba ngoài bếp mà Hương vẫn chưa về, Tâm bắt đầu nóng ruột. Anh mặc ấm, lao xuống đường. Ngoài trời, tuyết đang rơi đợt cuối của một ngày. Tuyết mảnh như những giọt mưa trắng, bay lấp lánh dưới ánh đèn cao áp. Trong gió, không rõ tuyết đang từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất túa lên nữa. Anh nhìn thấy Hương đang ngồi bất động trên chiếc ghế gỗ trong sân, ngay dưới cột đèn. Cô để đầu trần, tóc xõa ra. Tuyết bay quanh làm mái tóc như được bao phủ một quầng sáng nhỏ. Trước đây tóc Hương rất dài và mượt. Không hiểu sao dạo này cô để tóc ngắn, những lọn tóc nhỏ bám vào má, trông ngắn ngủn khó chịu. Anh vốn thích vợ để tóc dài. Hương biết vậy mà vẫn cắt tóc, hình như nghe lời khuyên của cô bạn gái nào đó, cô muốn đổi mới mình. Hừm. Có lẽ cũng vì chuyện này mà gần đây anh thấy hậm hực trong lòng, hai vợ chồng chẳng mấy khi nói được với nhau câu chuyện tử tế. Tâm gạt tuyết trên ghế, ngồi xuống cạnh vợ. Anh chưa biết nói gì vào lúc này. Cũng không xác định được mình đang bực bội hay cảm thấy nhẹ cả người vì tìm ra Hương. Anh im lặng. Mùi tuyết dậy lên, phải rồi, như trong một truyện ngắn của Nga anh từng đọc, người ta ví mùi tuyết với mùi dưa hấu. Mọi cáu giận trong anh đã biến mất. Bỗng, Hương ngả đầu vào vai anh. Mái tóc cô đã ướt đầm, cọ vào má anh lành lạnh, khiến anh rùng mình. Cô nói khe khẽ: “Anh xem này, lâu rồi anh không chạm vào tóc em. Anh có nhớ, ngày xưa nó dày thế nào không?” “Anh nhớ”. Hồi mới yêu nhau, cô hay tết tóc hai bên. Mỗi bím tóc chật cả lòng bàn tay anh. Tâm bất giác đưa tay vuốt tóc Hương. Bàn tay anh ẩm ướt. Mái tóc ngắn cũn tội nghiệp nằm gọn trong lòng tay, chỉ còn một dúm. Anh hoảng hốt: “Sao vậy em?” “Không sao, anh ạ. Chỉ là tóc rụng quá nhiều. Ai rồi cũng đến lúc thế.” Rồi đột nhiên, cô giật một sợi, kêu lên một tiếng nhỏ như thể chính bản thân cô cũng bất ngờ về hành động của mình. “Anh cầm đi. Anh vẫn bảo, tóc em là tóc tơ, nghĩa là em sướng. Tóc ai cứng như chổi rễ tre là khổ.”, - Hương cười khẽ. – “ Anh có còn nhớ, hồi chưa sang đây với anh, em đã từng gửi cho anh một sợi tóc trong bức thư không? Anh bảo rằng, anh để sợi tóc lên ngực, và như thấy em đang áp mặt vào ngực anh, ở chỗ tim”. “Anh nhớ”. “Dạo này tóc em rụng nhiều quá, mắt em thì cận, em…” “Thôi, em đừng nói nữa” – Tâm thấy nghẹn cổ, đưa tay giằng cái khăn quàng. Hương sang Nga đoàn tụ với anh rồi mới bị cận. Mắt Hương cận 1,5 đi-ôp, nhưng anh không thích cô đeo kính. Anh muốn thấy cô như cô gái hồi nào anh yêu, như người vợ anh cưới về, xinh xắn, tóc dài, mắt tròn sáng. Chiều anh, cô chỉ dùng kính mỗi khi đọc sách hoặc xem phim, vả lại cô cận cũng không nặng lắm, không đeo có vẻ cũng chẳng sao… Bây giờ, trong đêm tuyết rơi, mắt cô như tối thẫm đi, tương phản với màu trắng sữa đang rực sáng lên ở xung quanh. Tâm quàng tay ôm Hương vào ngực, anh vẫn nắm chặt sợi tóc nhỏ của cô trong lòng bàn tay to lớn của mình. Tóc tơ, mảnh như không hề có… Thụy Anh
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#35
|
||||
|
||||
|
|
|
#36
|
|||
|
|||
|
TẾT KHÔNG VỀ
Cứ hẹn lần năm này sang năm khác Hai chục năm... Tết cũ đã phai Hoa tím ta yêu góc đường xơ xác Có còn ai thương rét lộc, rét đài? Rong ruổi làm chi bước đường mê mải Để mùa Xuân cũng không kịp trở về Mùi hương cũ nhớ mòn trong ký ức Nhắm mắt vào cố tưởng lại niềm quê Còn lại gì? Sao ta không thể Giữ cho mình những say đắm xa xưa Tay trống quá! Tìm tay người yêu mến Nhận ấm êm, lòng thương nhớ gió mùa... Thuỵ Anh Gởi các bạn một bài thơ nữa của Thụy Anh |
|
#38
|
|||
|
|||
|
@Vit con :Cô không phải là Thụy Anh nhưng cô sẽ nhắn cô ấy vào đây vời cháu và mọi người.
Thay đổi nội dung bởi: Thien Nga, 15-03-2010 thời gian gửi bài 19:59 Lý do: chính tả |
|
#39
|
||||
|
||||
|
Cô sớm nhắn với cô Thụy Anh cô nhé! Cô nhắn với cô Thụy Anh là Utka đã được nghe những câu truyện rất cảm động về cô, và bé Utka rất ngưỡng mộ nghị lực sống vượt qua mọi khó khăn của cô Thụy Anh.
__________________
:D |
|
#40
|
|||
|
|||
|
Xin chào các anh chị, các bạn trên mạng nuocnga.net!
Em là Thụy Anh, hôm nay được người bạn nhắn vào đây đọc, vì có "ai đó nhắn nhủ gì". Thực ra, em không dám tham gia Diễn đàn, mặc dù vẫn có lúc vào nuocnga.net đọc những chia sẻ của các anh chị và các bạn, cả những thông tin rất bổ ích nữa. Nhưng ngày ở Nga, không hiểu sao chỗ em vào nuocnga.net rất khó, lâu ơi là lâu, đôi khi mở không ra nên em cũng hơi nản. Rồi từ năm ngoái, em cũng bận bịu cuộc sống mới ở VN, cũng không dám tham gia diễn đàn ở đâu cả, ngay cả ở Thi Viện, chỗ em thường vào, em cũng bê trễ, hic. Khi anh Hùng lập cho em topic này, em vào đọc và rất cảm động vì những tình cảm của các anh chị, các bạn dành cho em. Bây giờ đọc những dòng nhắn của "bé Utka", em thấy không thể không đăng ký vào Diễn đàn, để nói một lời cảm ơn với mọi người. Xin cảm ơn anh Hùng đã cho em cơ hội được vào NNN . Cảm ơn chị Rừng bạch dương - em đọc đoạn chị viết về bài thơ của em, thấy giật mình, hì, như là chị đi guốc vào bụng em vậy . Cảm ơn bạn phóng viên cá măng (sau này nhìn ảnh ngày thơ năm ngoái, thấy thấp thoáng bóng dáng của bạn hihi, một phóng viên rất chuyên nghiệp), chú Geo, anh Hổ (cảm ơn anh còn nhớ em), Milaia Utka và tất cả các anh chị, các bạn đã đọc những bài viết của em, và đồng cảm cùng em.(Em kể lể phân bua dài dòng ở trên thế kia là muốn mọi người thể tất cho, lẽ ra em phải vào đây nói những lời này sớm hơn kia. )Chúc các thành viên NNN một tuần mới tốt lành! |
| Có 13 thành viên gửi lời cảm ơn Hoa Pion cho bài viết trên: | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Các trang web rao vặt quảng cáo của cộng đồng Việt tại Nga | thanh_lam | Sinh sống tại Nga | 11 | 08-10-2011 04:55 |
| Trang trại của người Việt tại Nga | cuonghn | Sinh sống tại Nga | 5 | 25-05-2009 13:30 |
| Trang web tiếng Nga... | ngoclien_salem | Học tiếng Nga | 2 | 17-02-2009 16:49 |
| Trang chủ tạm ngừng hoạt động | virus | Thông báo của BQT | 1 | 12-03-2008 13:56 |