Nguyên văn :
文以載道。浮豔之辭、淫麗之言、是 人所去、君子所賤、大丈夫所愧也。 道之於人也、生則在人、亡則在書。 是以古人之所慎書。不敢妄作 、恐獻醜于後世 、乃見笑來者也。元晦之新民、伯安 啟蒙、皆以土音而教其徒。故文簡而 深。今人羊質虎皮 , 其違乎道遠矣。
我越文獻之邦也。自古無遜於中州。 明之後、北方歸天驕之手。惟我南人 繼承華夏古風。皇阮大家、儒中之龍 虎也。清人豈能相比。自世祖朝之後 作家林立。然而、士夫多未敢以國音 文。何也。是其輕薄南音耶。否、非 若是也。是前人傳而不作之志耳。國 足以載道、何故以國音為文、離群立 、以求浮名焉。弘宗繼明、洋夷弄權 已久、漢民難免傷風敗俗所變。於是 有真儒、甚曉文義、憂國主之辱、百 之苦。遂乃棄絕虛學。赫然努力、以 國音為文章。警世新書、言詞清簡、 天子以至愚夫愚婦、莫不能瞭解。當 多有佳作。至於阮公克孝、阮公伯卓 、范公瓊、之等。誠有名家之風、足 為世範也。
乙未春、余之西郊、奉訪譚府。與譚 光興話及前朝遺事。先生年事已高、 丹奇異、故為忘年之交。先生原皇黎 譚公忠憲之後。冠族世世戴皇恩。 祖父曩與渭城先生深交。余素里庸族 絕不能及。先生性放曠、惟其交好最 親敬、實有大越儒風、宛然猶昨。世 云:「虎父生虎子」誠可信哉。先是 先生以余好古、因慨然給賜書籍、不 其數百卷。箇中、「金雲翹傳」甚為 心得。此作也、原北國清心才人所作 其行于世久矣。我國素如先生嘗閱之 而後乃作長詩一篇、命其詩曰:「斷 腸新聲」。今為吾民所共識。清心才 之原文埋沒久矣。近來、譚先生潛心 成國音。非有功夫不能。
呼嗟、自阮末以來、我越之衰日甚。 朝怪事、傳笑四夷。識者、屈指可數 。如今、欲復國者、先必復國文也。 今人多不知學、國音亦不淵通、而況 文乎。用此觀之、國文之不能載道亦 知矣。從今、先以國文補國音、然後 以國音復國文。如此國運浸昌浸晟。 者、尚之先生之六省、觀風察俗、視 國小說之盛行、委為無道之淫辭。然 則、古人有云:「道在屎尿」。舉世 峭、貂狐不亦燠乎。
乙未年春二月穀日
峭庵阮瑞丹越石氏再拜奉跛
|
Phiên âm :
Văn dĩ tải Đạo. Phù diễm chi từ, dâm lệ chi ngôn, thị thánh nhân sở khứ, quân tử sở tiện, đại trượng phu sở quý dã. Phù Đạo chi ư nhân dã, sinh tắc tại nhân, vong tắc tại thư. Thị dĩ cổ nhân chi sở thận thư. Bất cảm vọng tác, khủng hiến xú vu hậu thế, nãi kiến tiếu lai giả dã. Nguyên Hối chi tân dân, Bá An chi khải mông, giai dĩ thổ âm nhi giáo kỳ đồ. Cố văn giản nhi chất thâm. Kim nhân dương chất hổ bì, kỳ vi hồ Đạo viễn hĩ.
Ngã Việt văn hiến chi bang dã. Tự cổ vô tốn ư Trung châu. Tống Minh chi hậu, Bắc phương quy Thiên Kiêu chi thủ. Duy ngã Nam nhân, kế thừa Hoa Hạ cổ phong. Hoàng Nguyễn đại gia, nho trung chi long hổ dã. Thanh nhân khởi năng tương tỷ. Tự Thế Tổ triều chi hậu, tác gia lâm lập. Nhiên nhi, sĩ phu đa vị cảm dĩ Quốc âm vi văn. Hà dã. Thị kỳ khinh bạc Nam âm da. Phủ, phi nhược thị dã. Thị tiền nhân truyền nhi bất tác chi chí nhĩ. Quốc văn túc dĩ tải đạo, hà cố dĩ Quốc âm vi văn, ly quần lập dị, dĩ cầu phù danh yên. Hoằng Tông kế minh, dương di lộng quyền dĩ cửu, Hán dân nan miễn thương phong bại tục sở biến. Ư thị thủy hữu chân nho, thậm hiểu văn nghĩa, ưu quốc chủ chi nhục, bách tính chi khổ. Toại nãi khí tuyệt hư học. Hách nhiên nỗ lực, dĩ Quốc âm vi văn chương. Cảnh thế tân thư, ngôn từ thanh giản, tự thiên tử dĩ chí ngu phu ngu phụ, mạc bất năng liễu giải. Đương sơ đa hữu giai tác. Chi ư Nguyễn công Khắc Hiếu, Nguyễn công Bá Trác, Phạm công Quỳnh chi đẳng. Thành hữu danh gia chi phong, túc dĩ vi thế phạm dã.
Ất Mùi xuân, dư chi tây giao, phụng phỏng Đàm phủ. Dữ Đàm công Quang Hưng thoại cập tiền triều di sự. Tiên sinh niên sự dĩ cao, dĩ Đan kỳ dị, cố vi vong niên chi giao. Tiên sinh nguyên Hoàng Lê Đàm công Trung Hiến chi hậu. Quán tộc thế thế đới hoàng ân. Tổ phụ nẵng dữ Vị Thành tiên sinh thâm giao. Dư tố lý dung tộc, tuyệt bất năng cập. Tiên sinh tính phóng khoáng, duy kỳ giao hảo tối vi thân kính, thực hữu Đại Việt nho phong, phảng phất do tạc. Thế vân "Hổ phụ sinh hổ tử". Thành khả tín tai. Tiên thị, tiên sinh dĩ dư hiếu cổ, nhân khái nhiên cấp tứ thư tịch, bất tri kỳ sổ bách quyển. Cá trung, "Kim Vân Kiều truyện" thậm vi tâm đắc. Thử tác dã, nguyên Bắc quốc Thanh Tâm tài nhân sở tác. Kỳ hành vu thế cửu hĩ. Ngã quốc Tố Như tiên sinh thường duyệt chi, nhi hậu nãi tác trường thi nhất thiên, mệnh kỳ thi viết "Đoạn trường tân thanh". Kim vi ngô dân sở cộng thức. Thanh Tâm tài nhân chi nguyên văn mai một cửu hỹ. Cận lai, Đàm tiên sinh tiềm tâm dịch thành Quốc âm. Phi hữu công phu bất năng.
Hô ta, tự Nguyễn mạt dĩ lai, ngã Việt chi suy nhật thậm. Đương triều quái sự, truyền tiếu tứ di. Thức giả, khuất chỉ khả sổ dã. Như kim, dục phục quốc giả, tiên tất phục Quốc văn dã. Kim nhân đa bất tri học, Quốc âm diệc bất uyên thông, nhi huống Quốc văn hồ. Dụng thử quan chi, Quốc văn chi bất năng tải Đạo, diệc khả tri hĩ. Tòng kim, tiên dĩ Quốc văn bổ Quốc âm. Nhiên hậu dĩ Quốc âm phục Quốc văn. Như thử quốc vận tẩm xương tẩm thịnh. Tích giả, Thượng Chi tiên sinh chi Lục tỉnh, quan phong sát tục, thị Bắc quốc tiểu thuyết chi thịnh hành, ủy vi vô đạo chi dâm từ. Nhiên tắc, cổ nhân hữu vân "Đạo tại thỉ niệu". Cử thế hàn tiễu, điêu hồ bất diệc úc hồ ?
Ất Mùi niên Xuân nhị nguyệt cốc nhật
Tiễu Am Nguyễn Thụy Đan Việt Thạch thị tái bái phụng bạt
|

Phiên Nôm :
Văn để chở Đạo. Những lời đẹp đẽ sáo rỗng, những câu chau chuốt hoa lệ, đấy là những điều thánh nhân bỏ đi, quân tử coi rẻ, đại trượng phu lấy làm thẹn vậy. Xét, Đạo đối với loài người, khi sống ắt tại con người ta, khi mất ắt tại sách vở để lại. Bởi vậy, cổ nhân thận trọng việc làm sách. Không dám làm càn, sợ để lại nhơ bẩn cho đời sau, làm trò cười cho hậu sinh vậy. Nguyên Hối đổi mới người dân, Bá An mở mang kẻ ngu, đều lấy thổ âm mà dậy môn đồ. Cho nên văn các ngài giản dị mà chất sâu xa. Người nay bên trong như dê cừu, bề ngoài như hổ báo. Đã lìa Đạo thống rất xa vậy.
Nước Việt ta là cõi văn hiến. Từ xưa không tốn kém Trung châu. Sau thời Tống - Minh, phương Bắc rơi vào tay Thiên Kiêu, duy người Nam ta, kế thừa cổ phong Hoa Hạ. Đại gia triều Nguyễn, như thể long hổ trong đám nho. Người Thanh so bì sao được ? Từ triều Thế Tổ về sau, tác gia mọc lên như rừng. Thế mà, sĩ phu đa phần chưa dám lấy Quốc âm làm văn chương. Cớ sao ? Phải chăng, người xưa khinh bạc tiếng Nam đa ? Không, chẳng phải như thế. Là vì tiền nhân nuôi chí "truyền nhi bất tác" mà thôi. Quốc văn đã đủ để chở Đạo, việc gì phải lấy Quốc âm làm văn, ly quần lập dị, để tìm chút phù danh trong việc đó chăng. Hoằng Tông lên ngôi, rợ Tây lộng quyền đã lâu. Dân Hán khôn miễn khỏi những biến cố tổn hại phong tục. Từ đó mới có những kẻ nho sĩ chân chính, lo âu quốc chủ bị nhục, trăm họ chịu khổ, đoạn bèn vứt bỏ hư học. Đùng đùng nỗ lực, lấy Quốc âm làm văn chương. Sách mới răn đời, lời lẽ trong sáng đơn giản, từ thiên tử xuống đến ngu phu ngu phụ, không có ai không thể hiểu thấu. Bấy giờ, có nhiều giai tác. Đến như Nguyễn Khắc Hiếu, Nguyễn Bá Trác, Phạm Quỳnh các cụ, thật có phong cách danh gia, đủ làm gương mẫu cho đời vậy.
Mùa xuân năm Ất Mùi, tôi đến vùng ngoài ô phía Tây đô thành. Kính viếng Đam phủ. Cùng cụ Đàm Quang Hưng bàn đến chuyện cũ tiền triều. Tiên sinh năm tuổi đã cao, thấy Đan tôi kỳ dị, nên kết bạn vong niên. Tiên sinh nguyên là hậu duệ đại thần Đàm Trung Hiến triều Lê. Dòng dõi quý hiển đời đời đội hoàng ân. Tổ phụ xưa kia cùng Vị Thành tiên sinh chơi thân. Tôi làng quê mùa nhà tầm thường. Tuyệt nhiên không thể theo kịp. Tính tiên sinh phóng khoáng, đặc biệt rất gần gũi cung kính trong việc giao hảo. Thật có phong thái nho sĩ Đại Việt, phảng phất như xưa. Người đời rằng "Hổ phụ sinh hổ tử". Thật đáng tin vậy. Trước đây, tiên sinh thấy tôi hiếu cổ, nhân rộng rãi ban tặng sách vở, không biết là mấy trăm quyển. Trong đó, tôi tâm đắc nhất cuốn "Kim Vân Kiều truyện". Tác phẩm này, nguyên là trước tác của Thanh Tâm tài nhân Bắc quốc. Lưu hành ở đời đã lâu. Tố Như tiên sinh nước ta đã từng đọc qua, rồi sau bèn viết một thiên trường thi, đặt tên bài thơ là "Đoạn trường tân thanh". Nay dân ta ai ai cũng biết đến. Nguyên văn của Thanh Tâm tài nhân mai một đã lâu. Gần đây, Đàm tiên sinh gìn lòng dịch sang Quốc âm. Ví bằng không có công phu, ắt làm không nổi.
Than ôi ! Từ thời Nguyễn mạt về sau, nước Việt ta suy bại ngày một thậm tệ. Việc quái dị trong đương triều, truyền ra cho mọi rợ bốn phương chê cười. Những kẻ hiểu biết, có thể đếm đầu ngón tay. Đến nay, muốn khôi phục bang quốc, trước tất phải khôi phục Quốc văn. Người nay đa phần không có học, Quốc âm cũng chưa hiểu sâu, huống nữa là Quốc văn. Từ đó mà xem, chuyện Quốc văn không thể chở Đạo, cũng có thể biết vậy. Từ rày, trước lấy Quốc văn bổ ích cho Quốc âm, rồi sau lấy Quốc âm mà khôi phục Quốc văn. Như thế, vận nước dần sáng dần thịnh. Xưa kia, Thượng Chi tiên sinh đến Lục tỉnh, quan sát phong tục, thấy tiểu thuyết Bắc quốc thịnh hành, cho là văn dâm vô đạo. Thế mà, người xưa có câu "Đạo ở cứt đái". Cả đời đều buốt rét, lông chuột lông chồn há chẳng ấm ru ?
Năm Ất Mùi mùa xuân tháng Hai ngày lành
Tiễu Am Nguyễn Thụy Đan tự Việt Thạch tái bái phụng bạt
|