Trở về   Nước Nga trong tôi > Nước Nga ngày nay > Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #61  
Cũ 26-06-2008, 07:02
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Máy tính M-3 ra đời lần thứ hai.
Máy M-3 là một trong những máy tính điện tử cỡ nhỏ đầu tiên được nghiên cứu để sản xuất hàng loạt. Máy đơn giản đến nỗi nhiều đơn vị có thể tự sản xuất và hiệu chỉnh theo tài liệu hướng dẫn. Năm 1958 tài liệu thiết kế máy M-3 dược chuyển cho nhà máy máy tính ở Minsk để sản xuất một lô nhỏ.
Vậy là như một sự trùng hợp may mắn, đứa con của Y.S. Bruk và học trò của ông là Matiukhin được nghiên cứu ở Matxcova và sản xuất ở Minsk – quê hương của Bruk.
Máy tính điện tử đầu tiên được sản xuất tháng 9 năm 1959 có bộ nhớ linh hoạt trên trống từ nhưng điều đó hạn chế hiệu suất dưới 30 phép tính một giây mặc dù bộ phận số học hoạt động song song.
Máy tính tỏ ra là rất tốt nên được quyết định hiện đại hoá. Bộ nhớ trên lõi ferit được thêm và bộ nhó trên trống từ làm tăng hiệu suất đến 1500 phép tính trong một giây. Những máy tính M-3 đầu tiên đã được trang bị bộ nhớ mới.
Một năm sau nhà máy được giao nhiệm vụ sản xuất một loại máy mới hoàn thiện hơn, rẻ, hiệu chỉnh và khai thác đơn giản và dễ thích ứng với yêu cầu của khách hàng. Máy tính điện tử “Minsk-1” là cái máy như vậy (tổng công trình sư là G.P Lopato) – máy hai địa chỉ có hiệu suất 3000 phép tính trong một giây. Về kết cấu nó được làm dưới dạng thiết bị hoàn chỉnh có chức năng độc lập.
Mạch logic đơn giản, cấu trúc to lớn và lòng nhiệt tình không bờ bến của các cộng sự đã làm cho việc nghiên cứu được hoàn thành trong thời gian rất ngắn và chuẩn bị đưa vào sản xuất. 14 tháng sau nhà máy đã xuất xưởng chiếc máy tính “Minsk-1” đầu tiên.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
nthach (26-06-2008)
  #62  
Cũ 26-06-2008, 23:24
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Kết cấu rộng rãi của máy cho phép rút ngắn thời gian hiệu chỉnh máy, làm đơn giản hoá đáng kể công việc bảo dưỡng của người sử dụng, bảo đảm nghiên cứu nhanh hàng loạt kiểu máy “Minsk-1” theo yêu cầu của khách hàng: máy “Minsk-11” năm 1961 – dùng cho các kênh liên lạc (thiết kế V.L. Salov), máy “Minsk-12” năm 1962 (thiết kếV.Ya. Simkhes) có dung lượng bộ nhớ lớn hơn, máy “Minsk-14” năm 1962 ( thiết kế L.Y.Kabenic) dùng cho các kênh liên lạc với bộ nhớ dung lượng lớn, máy “Minsk-16” năm 1962 (thiết kế V.T. Mangialey) để xử lý thông tin đo lường từ xa do vệ tinh nhân tạo chuyển về.
Máy tính “Minsk-1” được cung cấp cho người sử dụng theo mẫu bất kỳ trong số các mẫu trên. Đây là các kiểu máy do nhà máy sản xuất trong những năm 1960 – 1964 và là những máy tính điện tử cỡ nhỏ phổ biến nhất thế hệ đầu tiên ở Liên Xô trước đây. Chúng được sử dụng trong các trường đại học trung học, các viện nghiên cứu và nhiều nhà máy.
Năm 1962 đã hoàn thành việc nghiên cứu máy “Minsk-100” dùng để xử lý dấu vân tay (dùng ở Minsk và Leningrad). Một máy “Minsk-1” được lắp trên tàu nghiên cứu khoa học “Sergey Vavilov” dùng cho nghiên cứu khoa học ngay trên biển và hoàn tòan đáp ứng yêu cầu khi làm việc ở vùng nhiệt đới.
Máy tính M-1 và “Minsk-1” trở thành tổ tiên của máy tính hai địa chỉ thế hệ thứ hai được nghiên cứu ở Minsk. Lần đầu tiên trong thực tiễn ở Liên Xô, Minsk đã thực hiện thành công việc sản xuất hàng loạt bộ nhớ linh hoạt trên lõi ferit.
Tập thể phòng thiết kế đã thành công trong việc sản xuất và sử dụng máy tính M-3 và “Minsk-1” và họtiếp tục triển khai đề án nghiên cứu kỹ thuật máy tính điện tử bán dẫn “Minsk-2”. Khi được đề nghị phối hợp, Uỷ ban nhà nước về vô tuyến điện tử đã trả lời rằng triển khai nghiên cứu máy tính mới ở phòng thiết kế Minsk là không hợp lý vì nhiệm vụ chính của phòng là nghiên cứu những thiết bị thử nghiệm, hoàn thiện quy trình công nghệ, theo dõi và cải tiến những máy tính do nhà máy sản xuất. Tập thể phòng thiết kế tin tưởng rằng nhiệm vụ chế tạo máy tính điện tử thế hệ hai đã đặt trên vai họ và họ sẽ thực hiện thành công. Tình hình này đã được Chủ tịch Uỷ ban kinh tế nước cộng hoà Belorus A.M. Tarasov xem xét, và ông ủng hộ, cung cấp tài chính. Sau hai năm máy tính điện tử “Minsk-2” đã nghiên cứu thành công, được Hội đồng nhà nước đánh giá cao và năm 1963 được đưa vào sản xuất. Đây là máy tính vạn năng cỡ nhỏ thế hệ hai (dùng linh kiện bán dẫn) được sản xuất hàng loạt đầu tiên ở Liên Xô dùng để giải các bài toán khoa học kỹ thuật và một số bài toán kinh tế dùng cho các trung tâm tính toán, các tổ chức nghiên cứu khoa học, phòng thiết kế và nhà máy (do V.V. Prgialkovsky thiết kế).
(còn tiếp)

Thay đổi nội dung bởi: Thao vietnam, 27-06-2008 thời gian gửi bài 00:45 Lý do: lỗi chính tả
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
nthach (27-06-2008)
  #63  
Cũ 27-06-2008, 22:04
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Máy tính thế hệ hai thuộc seri “Minsk” được chia ra thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm “Minsk-2”, “Minsk-22”,”Minsk-22M” dựa trên mẫu máy “Minsk-2”. Nhóm thứ hai có “Minsk-23”, “Minsk-32” (do V.Ya. Pưkhtin thiết kế). Ngoài những model kể trên, còn có vài kiểu máy “Minsk-26”, “Minsk-27” và các tổ hợp tính toán bao gồm máy tính thế hệ thứ nhất và thứ hai được chế tạo nhằm mục đích mở rộng khả năng ứng dụng máy tính.
Máy tính điện tử vạn năng “Minsk-22” (V.K. Nadenenko thiết kế) nhằm hướng tới giải các bài toán phạm vi rộng hơn nhờ nâng cao và cải thiện hàng loạt thông số so với mẫu gốc: dung lượng bộ nhớ linh hoạt tăng lên hai lần, dung lượng bộ lưu trữ ngoài trên băng từ tăng lên bốn lần, mở rộng thiết bị nhập và xuất dữ liệu (bộ so sánh quang học ВСМ-ЗМ,ФС-5, máy đục lỗ băng giấy ПЛ-80 , máy in АЦПУ-128-2 , v. v…); lần đầu tiên thực hiện được giao tiếp bằng chữ và số với con người (nhập trực tiếp, xử lý, lưu trữ và đưa ra thông tin dưới dạng chữ và số); hệ thống đình chỉ chương trình đơn giản và tiết kiệm cho phép tối ưu hoá quá trình tính toán và được đưa vào sản xuất hàng loạt năm 1965. Một vài khuyết điểm của cấu trúc và mạch logic máy tính “Minsk-22” đã được khắc phục ở model sau là “Minsk-22M” (Prgialkovsky thiết kế): bổ sung thiết bị ngoại vi hiệu suất cao hơn, giảm kích thước toàn máy. Điều này cho phép cải thiện tỷ số hiệu suất – giá thành đến 25-30%.
Những nét đặc trưng của máy tính nhóm thứ nhất là đơn giản trong sản xuất và khai thác, độ tin cậy khá cao, giá rẻ do có cùng cấu trúc.
Máy tính nhóm thứ hai có công dụng cụ thể. “Minsk-26” (N.A. Malsev thiết kế năm 1963) dùng để xử lý thông tin khí tượng, còn “Minsk-27” (năm 1964) dùng để xử lý thông tin đo lường từ xa khi thăm dò tầng cao khí quyển. Trong quá trình nghiên cứu các mẫu máy này, lần đầu tiên đã kết hợp công việc của cơ chế kéo băng giấy và hệ đo lường từ xa với công việc của máy tính bằng phương pháp “đình chỉ”.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
  #64  
Cũ 28-06-2008, 00:49
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Người tổ chức ngành chế tạo máy tính ở Belarus.
Viện sỹ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Nga Georgy Pavlovich Lopato là người có nhiều đóng góp vào sự phát triển ngành kỹ thuật máy tính ở Minsk. Tên tuổi ông được gắn liền với sự hình thành và phát triển kỹ thuật máy tính ở Belorus.
Georgy Pavlovich Lopato sinh ngày 23 tháng 8 năm 1924 ở làng Ozersina quận Rechitsky tỉnh Gomel. Người cha của ông đã tốt nghiệp học viện nông nghiệp Goretsky, tham gia nội chiến trong thành phần đội quân kỵ binh thứ nhất. Sau chiến tranh làm nhân viên địa chính, năm 1924 vào học Đại học bách khoa Leningrad và tốt nghiệp năm 1929. Ông làm kỹ sư trưởng ở một nhà máy ở Matxcova rồi sau đó làm giảng viên ở Viện cơ khí và điện khí hoá nông thôn Matxcova.
Georgy đi học phổ thông từ năm 1931 đến 1941. Mùa hè năm 1941 ông tham gia xây dựng pháo đài phòng thủ ở cửa ngõ Matxcova. Tháng 10 năm 1941 được gọi vào Hồng quân và được biên chế làm đội viên tiểu đoàn độc lập số 314 lực lượng phòng không quân khu Matxcova. Năm 1946 được giải ngũ và vào học khoa điện - vật lý Đại học năng lượng Matxcova, tốt nghiệp năm 1952 với bằng kỹ sư cơ điện.
Ông bắt đầu hoạt động sáng tạo với vị trí kỹ sư viện nghiên cứu điện công nghiệp thuộc Uỷ ban kế hoạch nhà nước ở Matxcova, tham gia nghiên cứu các thiết bị cơ điện. Năm 1954 ông được biệt phái công tác vài tháng ở phòng thí nghiệm máy điều khiển thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, ở đó dưới sự hướng dẫn của N.Ya. Matiukhin và V.V. Belưnsky ông tìm hiếu kỹ càng máy tính điện tử M-3. Cuối năm 1957 tài liệu về máy tính M-3 được chuyển cho Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc và Hungary.
Ở nhà máy điện thoại Bắc Kinh đã chế tạo máy mẫu cho Viện kỹ thuật tính toán Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc. G.P. Lopato đã đến Trung Quốc để giúp hiệu chỉnh và đưa máy tính vào khai thác. Ông đã hoàn thành tốt công việc. Sau khi trở về, ông được mời đến Minsk làm kỹ sư trưởng ở phòng nghiên cứu của nhà máy máy tính Minsk từ ngày 20 tháng 4 năm 1959. Năm năm sau ông được bổ nhiệm làm trưởng phòng nghiên cứu và năm 1972 là giám đốc viện máy tính điện tử.
Dưới sự lãnh đạo và tham gia trực tiếp của G.P. Lopato, sau 28 năm viện đã tạo ra 15 model máy tính điện tử “Minsk” thế hệ thứ nhất và thứ hai, (11 model sản xuất hàng loạt và 4 model riêng theo đơn đặt hàng), 5 model máy tính điện tử EC, 6 tổ hợp máy tính chuyên dùng, hàng loạt hệ thống vận hành và hệ thống lập trình và trên 50 loại thiết bị ngoại vi.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
  #65  
Cũ 29-06-2008, 23:15
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
G.P. Lopato là tổng công trình sư của máy tính “Minsk-1”, hệ thống nhiều máy tính “Minsk-222”, hệ thống sử dụng chung "Нарочь" liên kết 12 máy tính điện tử EC, hệ thống này là tổ hợp công cụ của Viện dùng để thiết kế các công cụ kỹ thuật và lập trình. Ông cũng là phó tổng công trình sư của hệ thống 70K1 (tổng công trình sư là viện sỹ V.S. Semenikhin) – đó là một hệ thống thông tin – logic phức tạp, bao gồm nhiều loại thiết bị có công dụng khác nhau; ông còn là tổng công trình sư của một loạt máy tính điện tử cơ động.
G.P. Lopato là một trong những nhà sáng lập trường phái thiết kế máy tính Minsk - trường phái xuất sắc, nổi trội bởi tính thực tiễn - giải quyết các vấn đề kinh tế - kỹ thuật trong nghiên cứu như một vấn đề thống nhất, trong đó đặc biệt chú ý đến giảm giá thành, tính lâu dài và tính kế thừa của kỹ thuật tính toán. Hoạt động sáng tạo của ông được tôi luyện trong thực tiễn - việc sản xuất hàng loạt sản phẩm được thực hiện trong thời gian rất ngắn (ví dụ hai tháng sau khi hoàn thành nghiên cứu đã đưa vào sản xuất máy tính “Minsk-32” và EC-1020)
Trong cuộc đời hoạt động của mình Lopato rất chú ý đào tạo cán bộ. Ông đã thành lập bộ môn “Máy tính và hệ thống máy tính” ở trường Đại học kỹ thuật vô tuyến Minsk và lãnh đạo bộ môn này 10 năm. Năm 1969 ông bảo vệ luận án phó tiến sỹ và năm 1975 - luận án tiến sỹ. Năm 1979 ông được bầu là thành viên thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô chuyên ngành kỹ thuật máy tính. Ông được phong hàm giáo sư và hiên nay là viện sỹ nước ngoài của viện Hàn lâm khoa học Nga. Ông đã xuất bản trên 120 công trình và nhận được 45 bằng tác giả.
G.P. được tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô, huân chương Lê nin (1983), huân chương Cách mạng tháng Mười (1972), huân chương Lao động cờ đỏ (1976), Bằng danh dự (1966), 9 huy chương, 4 Bằng khen của Xô viết tối cao Liên Xô.
Hiện nay ông đang sống ở Minsk. Sau khi nghỉ hưu năm 1987 ông thành lập và đứng đầu trung tâm khoa học - kỹ thuật “Neirocomputer” trong thành phần Viện hàn lâm công nghệ kỹ thuật Belorus.
Từ lâu tôi đã biết đến nhà lãnh đạo trường phái máy tính Minsk nhưng phải đến những năm đầu thập niên 1980 mới được làm quen với ông khi tìm cách liên kết lực lượng nghiên cứu máy tính cá nhân từ các bộ khác nhau. Hình như chỉ có mỗi Lopato ủng hộ ý tưởng của tôi. Viện nghiên cứu do ông lãnh đạo (có sự tham gia của Viện điều khiển học mang tên V.M. Glushkov- Viện Hàn lâm khoa học Ucraina) đã thực hiện một khối lượng lớn công việc liên quan đến việc thiết kế máy tính cá nhân và đưa vào sản xuất hàng loạt.
Chúng tôi đã lập tức tìm được tiếng nói chung ngay từ những ngày đầu làm quen với nhau. Ông đã chinh phục tôi bằng tính cách nhẹ nhàng, sự thông minh, thái độ thân thiện với mọi người và kinh nghiệm phong phú trong nghiên cứu máy tính điện tử. Ngay cả tập thể Viện nghiên cứu của ông cũng giống như chính ông vậy. Nhiều học trò và trợ lý của Lopato cũng điều chỉnh máy tính rất tôt. Ông chẳng còn bận tâm lo lắng gì khi về nghỉ hưu. Tiếp tục lãnh đạo viện là học trò của ông - V.Ya. Pưkhtin, người khi còn là sinh viên đã từng được nghe các bài giảng của S.A. Lebedev. Lopato tiếp tục làm việc ở viện nghiên cứu, kiến thức và kinh nghiệm của ông vẫn mang lại lợi ích to lớn cho những người nghiên cứu các loại máy tính mới.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
nthach (10-07-2008)
  #66  
Cũ 10-07-2008, 00:19
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
M.A. Karsev thuộc về số các nhà bác học mà công lao của họ chỉ được công nhận chính thức và đầy đủ khá lâu sau khi chết. Giới hàn lâm không phong tặng cho ông danh hiệu hàn lâm. Mười năm sau khi ông từ giã cõi đời thì Viện khoa học máy tính (Matxcova) mới được mang tên người sáng lập ra nó.
Khoa học kỹ thuật máy tính là năng khiếu thiên bẩm của ông, nó mang lại cho ông cả hạnh phúc lẫn nỗi buồn, ông đã dành tất cả thời giờ của mình cho nó - cả khi làm việc lẫn lúc nghỉ ngơi.
Con trai ông là Vladimir nhớ lại – “ Những gì tôi còn nhớ được về người cha đó là cả cuộc đời ông dành cho công việc. Lúc rỗi rãi ông chủ yếu đọc sách, thỉnh thoảng chúng tôi cùng đi xem phim. Ông không bao giờ chơi thể thao, kiên quyết phản đối nhà nghỉ và ô tô. Nhưng khi bị đau chân ông cũng mua một chiếc Volga và yêu quý nó. Ở tuổi ông học lái xe không hề dễ dàng nhưng ở Matxcova ông định hướng rất tốt. Cha tôi không thuộc về lớp người thường hay than vãn và muốn bàn luận về những khó khăn của mình, thực tế không thể moi được những hồi ức ở ông, ông không sống bằng quá khứ mà sống bằng tương lai”.
Mikhain Alecsandrovich Karsev sinh ngày 10 tháng 5 năm 1923 ở Kiev trong gia đình một nhà giáo. Bố ông chết ngay năm đó. Mikhain sống với mẹ ở Odessa, Kharkov, nhưng từ 1939 – 1941 lại về sống ở Kiev và tốt nghiệp trường trung học ở đó. Mùa hè năm 1941 ông được tham gia công cuộc phòng thủ ở vùng Donbass, tháng 9 năm đó ông nhập ngũ và phục vụủtong quân đội đến tháng 2 năm 1947. Trong những năm Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, chiến sỹ xe tăng Karsev đã chiến đấu trong đội ngũ các phương diện quân Tây – Nam, phương diện quân phía Nam, phương diện quân Bắc Kavkaz và phương diện quân Ucraina số 2. Ông tham gia giải phóng Rumani, Hungary, Tiệp Khắc, Áo. Vì tinh thần chiến đấu dũng cảm , ông, một chuẩn uý hai mươi tuổi đã được tặng thưởng huy chương “Dũng cảm”, huân chương Sao đỏ, huy chương “Giải phóng Budapet”, “Chiến thắng nước Đức”. Tháng 11 năm 1944, ngay tại mặt trận ông được giới thiệu vào đảng và đến tháng 5 năm 1945 trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Liên Xô.
Sau khi giải ngũ, Karsev vào học khoa kỹ thuật vô tuyến điện Đại học năng lượng Matxcova. Ngay khi học năm thứ ba ông đã hoàn thành kỳ thi của năm học cuối cùng với tư cách là thí sinh tự do trở thành sinh viên năm thứ năm và vào làm việc (kiêm nhiệm) ở phòng thí nghiệm hệ thống điện Viện năng lượng Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô và tham gia nghiên cứu một trong những máy tính điện tử đầu tiên của Liên Xô, máy M-1. Năm 1952 ông được phái đến Viện năng lượng VHLKH Liên Xô, làm việc ở phòng thí nghiệm hệ thống điện với tư cách là cộng tác viên khoa học sơ cấp. Khi tham gia chế tạo máy tính điện tử M-2 ông đã thể hiện những năng lực xuất chúng. Máy tính M-2 đã được một tập thể nhỏ hoàn thành trong một năm rưỡi!
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
hungmgmi (10-07-2008), nthach (10-07-2008)
  #67  
Cũ 16-07-2008, 04:08
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Đến năm 1957 ngành công nghiệp điện tử trong nước đã sản xuất hàng loạt được transistor, vì vậy máy M-4 được thiết kế hoàn toàn bằng linh kiện bán dẫn. Để tiến hành chế tạo máy điện tử điều khiển, trong Viện máy điện tử điều khiển vừa mới thành lập đã lập ra phòng thí nghiệm số 2 do Karsev lãnh đạo. Tháng 3 năm 1958 mới bảo vệ sơ đồ thiết kế thì tháng 4 đã có nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô về sản xuất máy tính M-4. Nghị quyết cũng chỉ định nhà sản xuất là một nhà máy có kinh nghiệm sản xuất máy tính điện tử do A.G. Shishilov là kỹ sư trưởng, lãnh đạo phòng thiết kế là V.S. Shemenikhin (về sau ông là viện sỹ, giám đốc Viện nghiên cứu tự động hoá, Anh hùng lao động XHCN, giải thưởng Lê nin và giải thưởng nhà nước). Tháng 4 năm 1958 bộ tài liệu thiết kế đầy đủ được đưa tới nhà máy và chuẩn bị sản xuất. Nhóm nghiên cứu máy M-4 tích cực tham gia vào tất cả các công đoạn sản xuất và hiệu chỉnh. Việc đó cho họ nhiều kinh nghiệm và những máy tính được nghiên cứu sau này của họ đều có tính công nghệ cao và đặc biệt là được hiệu chỉnh rất tốt.
Năm 1959 hai bộ máy M-4 đã được sản xuất và đưa vào hiệu chỉnh tổng thể. Cuối năm 1960 bộ đầu tiên đã bắt đầu chạy và chuyển cho Viện kỹ thuật vô tuyến.
Để giải bài toán quản lý và xử lý thông tin định vị vô tuyến theo thời gian thực cần có một thiết bị phối hợp giữa trạm và máy M-4. Tháng 1 năm 1961 giám đốc Viện nghiên cứu máy điện tử điều khiển Bruk đã phê chuẩn thoả thuận với đại diện Viện kỹ thuật vô tuyến về nghiên cứu thiết bị xử lý thông tin định vị phòng không tốc độ cao kèm theo máy M-4. Kỹ sư trưởng thời đó là Yu.V. Rogachev được giao phụ trách công trình nghiên cứu.
Mùa hè năm 1961 bộ tài liệu thiết kế đã được giao cho chính nhà máy đã chế tạo máy M-4, đến tháng 3 năm 1962 thiết bị xử lý tông tin tốc độ cao và bộ máy M-4 thứ hai đã được sản xuất trước đó được đưa vào hiệu chỉnh tổng thể và ghép nối với nhau. Tháng 7 năm 1962 hoàn thành chạy thử và bắt đầu khai thác thử nghiệm.
Tháng 11 năm 1962 có nghị quyết đưa máy M-4 vào sản xuất hàng loạt. Thế nhưng Karsev lại đề nghị nghiên cứu và sản xuất hàng loạt loại máy mới khắc phục những thiếu sót của máy M-4 bằng cách làm cho nó có tính công nghệ cao hơn trong chế tạo và hiệu chỉnh. Ngoài ra thời đó đã có những hệ linh kiện logic mới có tốc độ nhanh hơn dosử dụng transisto cao tần và xuất hiện transisto công suất cho phép loại bỏ hoàn toàn bóng điện tử.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
nthach (16-07-2008)
  #68  
Cũ 16-07-2008, 16:46
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Việc nghiên cứu thiết kế máy M-4M được làm trong thời gian rất ngắn: tháng 3 năm 1963 tài liệu thiết kế tủ đầu tiên - tủ thiết bị số học được giao cho nhà máy sản xuất nhưng đến tháng 8 năm đó đã giao toàn bộ tài liệu thiết kế đầy đủ.
Sau đúng 1 năm, tháng 8 năm 1964 nhà máy đã chế tạo và đưa vào hiệu chỉnh hai mẫu máy đầu tiên và họ chỉ cần hai tháng để kết nối và hiệu chỉnh. Tháng 10 năm 1964 cả hai mẫu máy đã vượt qua cuộc kiểm tra kỹ thuật và được khách hàng chấp nhận. Máy có tốc độ 220 nghìn phép tính một giây, vượt tốc độ dự kiến hơn hai lần. Máy tỏ ra có tính công nghệ cao trong sản xuất và thực tế không cần phải hiệu chỉnh. Máy tính M-4M được tiếp tục sản xuất đến năm 1985 (đã sản xuất hơn trăm bộ).
Seri máy tính M-4M có 3 kiểu có ký hiệu 5Э71, 5Э72 và 5Э73 khác nhau về dung lượng bộ nhớ trong. Để mở rộng khả năng ứng dụng, người ta đã làm thêm nhiều thiất bị kết nối bên ngoài. Những tổ hợp nhiều máy tính làm nên một hệ thống tính toán mạnh làm việc theo thời gian thực đã được thiết lập từ những máy tính M-4M.
M.A. Karsev xúc động và tự hào nhớ lại : “25 năm trước, năm 1957 bắt đầu nghiên cứu một trong những máy tính điện tử bán dẫn đầu tiên ở Liên Xô, máy M-4, nó đã làm việc theo thời gian thực và vượt qua các cuộc thử nghiệm.
Tháng 11 năm 1962 đã có nghị quyết đưa máy M-4 vào sản xuất hàng loạt nhưng chúng tôi hiểu rõ là máy này không đạt để đưa vào sản xuất hàng loạt. Đây là máy thử nghiệm dùng transistor đầu tiên, điều chỉnh nó rất khó khăn, rất khó lặp lại trong sản xuất. Hơn nữa trong giai đoạn 1957 – 1962 kỹ thuật bán dẫn đã có bước nhẩy vọt cho phép chúng ta làm ra những máy tính tốt hơn máy M-4, mạnh hơn những máy tính đã được sản xuất ở Liên Xô đến lúc đó. Những cuộc tranh cãi nẩy lửa diễn ra suốt mùa đông 1962 / 63. Lãnh đạo Viện (khi đó chúng tôi ở Viện máy điện tử điều khiển) kịch liệt phản đối nghiên cứu máy mới, họ khẳng định trong thời gian ngắn như vậy chúng tôi chẳng kịp làm gì cả, rằng đó là một cuộc phiêu lưu, rằng họ không bao giờ cho phép.
Quyết định của Hội đồng công nghiệp-quốc phòng Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô ra đời tháng 3 năm 1963 đã kết thúc các cuộc tranh cãi này. Cũng ngay trong tháng ấy chúng tôi giao cho xí nghiệp tài liệu về tủ đầu tiên của máy tính - tủ thiết bị số học. Tháng 8 năm 1963 giao toàn bộ tài liệu thì tháng 8 năm 1964 nhà máy đã đưa vào hiệu chỉnh hai mẫu đầu tiên. Chưa đầy hai năm sau khi có nghị quyết của Chính phủ, tháng 10 năm 1964 hai mẫu máy đầu tiên đã được vận hành, đến tháng 12 năm 1964 đã có thêm 5 máy nữa ra đời. Những máy này được sản xuất suốt hơn 15 năm và đến nay vẫn phục vụ rất tận tuỵ.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
nthach (18-07-2008)
  #69  
Cũ 17-07-2008, 21:13
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Luận án tiến sỹ của M.A. Karsev, luận án phó tiến sỹ của L.V. Yvanov, Yu.V. Rogachev, R.P. Shidlovsky, Yu.N. Melnhic, E.A. Bratelsky đã được bảo vệ dựa trên kết quả nghiên cứu khoa học tiến hành khi nghiên cứu loạt máy tính M-4M. Phân viện do M.A. Karsev lãnh đạo đã mở rộng đến 200 cộng tác viên trong quá trình làm việc. Đã thành lập 5 phòng thí nghiệm do các phó tiến sỹ Rogachev, Yvanov, Shidlovsky, Glivenko và Melnhic phụ trách. Có gần 30 nhà thiết kế và nhiều nhân viên của viện tham gia công việc. Các vị G.Y. Tanetov, V.A. Brik, L.Z. Liburkin, A.G. Konovalov, L.V. Yvanov, R.P. Shidlovsky, R.P. Makarova, G.M. Kabaenkova, V.M. Emelin, Yu.N. Melnhic đã có nhiều đóng góp cho công trình. M.A. Karsev đã được tặng giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1967.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
nthach (18-07-2008)
  #70  
Cũ 17-07-2008, 21:15
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Đi trước thời gian
Có vẻ như đã có thể nghỉ ngơi đôi chút, thoát khỏi sự căng thẳng của công việc.
Không được, đươn giản là không thể được. Một lần nữa, năm 1966 Karsev đưa ra ý tưởng tạo ra một tổ hợp tính toán từ nhiều máy tính riêng rẽ. Nghiên cứu cho thấy hiệu suất của tổ hợp lên đến hàng tỷ phép tính một giây. Thời đó không một máy tính nào trên thế giới có được tốc độ như vậy. Điều đó làm Karsev và tập thể của ông rất phấn khích và ngay trong năm 1967 họ đã hoàn thành sơ đồ thiết kế tổ hợp (BK M-9) như vậy. Khi đưa ra bảo vệ ở bộ đã được đánh giá tích cực
BK M-9 bao gồm bộ xử lý điều khiển và bốn máy tính khác loại: máy vận hành-chức năng, máy số, máy kết hợp và máy tính ngoài.
Ý tưởng cơ bản được đưa vào BK M-9 là cấu trúc của máy tính được tính toán sao cho nó không làm việc với các con số riêng rẽ mà với các nhóm số, nhóm này là sự thể hiện gần đúng các hàm số hay các vector đa chiều. Nói khác đi là cần lập sự liên kết có ý nghĩa sâu sắc hơn nữa trong thông tin so với sự liên kết được tính toán cho những máy hiện hành: không chỉ giữa các hạng riêng rẽ của một con số mà là giữa các con số riêng rẽ là giá trị của một hàm số. Tương tự như vậy, các phép toán của máy không chỉ trên không gian của con số mà trên không gian của hàm. Trong số các phép toán này có thể có phép cộng, trừ và nhân hàm số, so sánh hàm số, các phép toán analog trên hàm và số, tìm cực đại của hàm số, tính tích phân không xác định, tính tích phân xác định từ đạo hàm của hai hàm số, dịch chuyển hàm số theo trục hoành và v.v…
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
BelayaZima (17-07-2008), nthach (18-07-2008)
  #71  
Cũ 17-07-2008, 23:13
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Nhiều phép tính trong đó có thể giải thích như các phép tính vector đã biết : cộng và phép trừ hàm số như cộng và trừ vector, tính tích phân xác định từ đạo hàm của hai hàm số - như tính tích vô hướng của hai vector, dịch chuyển hàm theo trục hoành – như quay vector đối với trục toạ độ và v.v…
Điểm khác biệt chủ yếu của chiếc máy như vậy là ở cách tổ chức tương tác của các thiết bị số học. Chúng làm việc nhờ một máy phát tạo nhịp chung, hơn nữa mỗi máy thực hiện phép tính của mình trong suốt một hay hai nhịp, ở cuối mỗi một phép toán hay đầu phép toán tiếp theo (không cần tốn thêm thời gian) có duy trì việc trao đổi thông tin giữa đầu ra của một thiết bị số học bất kỳ với đầu vào của một bộ ghi nào đó (ghi phép tính trước) và giữa đầu vào của thiết bị số học bất kỳ với đầu ra của bộ ghi nào đó (đọc dữ liệu gốc cho phép tính tiếp theo) và cả giữa các thiết bị số học với nhau.
Máy số vector trong thành phần BK M-9 thực hiện các phép tính trên các phần của hàm số hay các vector nhiều hướng. Máy tính kết hợp có hiệu suất cao đảm nhận phần lớn việc về số dư và hiệu chỉnh thông tin. Máy tính số làm việc theo chương trình độc lập và theo chương trình đồng bộ với các máy khác trong BK M-9. Việc đồng bộ hoá các máy tính khác chủng loại cho phép tổ hợp giữ được hiệu suất cao khi làm việc với nhiều dạng thông tin và làm cho nó trở thành công cụ tính toán vạn năng để giải nhiều dạng toán yêu cầu hiệu suất rất cao.
Tiếc là tổ hợp tính toán M-9 không được sản xuất công nghiệp nhưng việc nghiên cứu chế tạo và khai thác có hiệu quả mẫu mô hình máy là bằng chứng rõ ràng về sức sáng tạo của tập thể do Karsev đứng đầu. Năm 1967 trở thành một mốc đáng nhớ đối với những người nghiên cứu máy BK M-9: thành lập Viện nghiên cứu – khoa học tính toán. Đội quân của Karsev trở thành nòng cốt và chính ông được bổ nhiệm làm giám đốc. Đó là sự công nhận chính thức trường phái khoa học của Karsev.
Năm 1968 chính phủ ra nghị quyết về việc chế tạo máy tính điện tử M-10 dựa trên máy tính vector của tổ hợp BK M-9. Theo lời tiến sỹ khoa học kỹ thuật L.V. Yvanov, “có một cuộc thảo luận có uy tín đã diễn ra trước khi có nghị quyết này, tại đây đã xem xét tương lai của hai công trình nghiên cứu đã tiến hành: “Elbrus” (viện sỹ S.A. Lebedev) và M-10 (m.A. Karsev). Lebedev phát biểu kiên quyết phản đối bộ T nhiều quá trình trong “Elbrus” và chọn phương án một quá trình tốc độ cao nhất. Viện sỹ Gluskov ủng hộ cả hai hướng. Và cả hai hướng đều được tán thành. Cũng chính trong năm ấy bắt đầu nghiên cứu thiết kế cấu trúc và chuyển cho nhà máy chế tao. Từ năm 1970 ở nhà máy đã bắt đầu công việc chuẩn bị sản xuất và chế tạo mẫu thử nghiệm. Giữa năm 1970 toàn bộ tài liệu thiết kế đã được chuyển cho nhà máy , một năm sau, tháng 8 năm 1971 nhà máy đã dưa mẫu máy M-10 vào hiệu chỉnh. Cùng lúc đó người ta tiến hành sửa đổi thiết kế và chế tạo mẫu máy để sản xuất công nghiệp. Đó là một năm vất vả đối với Karsev. Công việc căng thẳng đã ảnh hưởng đến sức khoẻ: bệnh nhồi máu mạch vành đã bắt ông nằm vài tháng, cũng may là ông đã vượt qua.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
nthach (18-07-2008)
  #72  
Cũ 18-07-2008, 01:47
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Đến tháng 6 năm 1973 tất cả các bộ phận của mẫu đầu tiên đã được làm xong và thử nghiệm kỹ thuật và được đưa đến để hiệu chỉnh tổng thể toàn máy. Tháng 9 năm đó mẫu máy M-10 công nghiệp đầu tiên đã được kiểm tra kỹ thuật và đưa vào khai thác thử nghiệm.
Tháng 12 năm 1973 thì chính mẫu công nghiệp thứ hai cũng được thử xong. Thực tế từ lúc đó đã bắt đầu sản xuất hàng loạt máy tính M-10 và được sản xuất trong suốt hơn 15 năm sau đó. Vài chục bộ máy đã được sản xuất, đa số vẫn được khai thác cho đến ngày nay. Hàng loạt tổ hợp tính toán mạnh đã được thiết lập dựa trên máy tính M-10. Năm 1976, máy tính M-10 đã thành công trong cuộc thử nghiệm quốc gia.
Việc chế tạo máy tính điện tử M-10 đã được ghi nhận bằng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô năm 1977 trao cho cả nhà nghiên cứu và nhà sản xuất. Trong số những người được trao danh hiệu Giải thưởng nhà nước có phó thiết kế trưởng L.V. Yvanov, A.A. Krupsky, L.Ya. Miller, Yu.V. Rogachev, R.P. Shidlovsky, A.yu. Karasik; phía nhà máy có kỹ sư trưởng Shishulov và phó thiết kế sản xuất V.A. Musnhikov, phía đơn vị lắp ráp có kỹ sư trưởng Y.N. Yarưgin. Tổng công trình sư máy tính M-10 M.A. Karsev được tặng thưởng huân chương Lê nin. Còn có 118 cộng tác viên của Viện nghiên cứu máy tính và nhà máy sản xuất được tặng thưởng nhiều huân huy chương các loại của nhà nước Liên Xô.
Máy tính M-10 là hệ thống nhiều quá trình dạng đồng bộ và thuộc về máy tính thế hệ thứ 3: máy sử dụng mạch vi điện tử seri 217 làm linh kiện logic chủ yếu. Máy dùng để duy trì hoạt động của các hệ thống điều khiển tự động phức tạp trong thời gian thực và để giải nhiều bài toán khoa học kỹ thuật khác nhau.

Nếu thua kém siêu máy tính “Sgau-1” của Mỹ thời đó về hiệu suất thì máy tính M-10 lai trội hơn về nhiều khả năng trong cấu trúc. Những khả năng này được xác định bằng các chu trình máy (trung bình) để thực hiện một phép tính. Con số này càng nhỏ thì máy càng tốt về cấu trúc. Máy tính M-10 có số này vào khoảng từ 0,9 đến 5,3 (cho toàn phổ phép tính) còn máy “Sgau-1” thì từ 0,7 đến 27,6. Ở đây giá trị nhỏ nhất là xấp xỉ nhau nhưng giá trị lớn nhất của máy M-10 nhỏ hơn nhiều so với máy “Sgau-1”.
Để độc giả hiểu được tầm quan trọng của việc chế tạo máy M-10 cần nói đôi chút về ý nghĩa cơ bản của nó. Ý nghĩa náy được giữ bí mật khá lâu vì máy được chế tạo để dùng cho Hệ thống cảnh báo cuộc tấn công tên lửa và theo rõi không gian vũ trụ. Thông tin về việc này lần đầu tiên được xuất hiện trên báo “Sự thật” ngày 1/4/1990. Nhiệm vụ của hệ thống là cung cấp cho lãnh đạo đất nước những thông tin tin cậy về khả năng tấn công tên lửa và tình hình vũ trụ, tức là thuần tuý quốc phòng. Hiện nay trên quỹ đạo gần trái đất có gần 17 nghìn vật thể có nguồn gốc khác nhau bao gồm cả vệ tinh đang hoạt động hay đã hết hạn sử dụng, các mảnh vỡ của tên lửa đẩy và nhiều thứ khác. Thê đội đầu tiên của Hệ thống cảnh báo tấn công tên lửa ở trên vũ trụ: các vệ tinh xác định được nơi phóng theo quầng sáng của tên lửa. Nòng cốt của hệ thống là thê đội hai ở mặt đất gồm các tram rada mạnh nằm ở biên giới (trước khi Liên Xô tan rã có 9 trạm ở Riga, Murmansk, Pechera, Yrkutsk, Balkhas, Min-gechaur, Sevastopol, Mukachevưi) và mạng lưới các tổ hợp tính toán M-10.
Ngay cả việc chuẩn bị chiến tranh hiện nay cũng liên quan đến việc phóng nhiều loại tên lửa. Nhưng nếu tên lửa hạt nhân rơi vào tay những kẻ phiêu lưu chính trị hay các “lãnh tụ” kiêu ngạo có thể phóng tên lửa mà không đợi “phê chuẩn”? Cần phải đánh giá nhanh chóng và chính xác những hành động như vây, nếu khác đi hậu quả sẽ là huỷ diệt cả hành tinh. Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi hoạt động của hệ thống cảnh báo và kiểm soát không gian vũ trụ có ý nghĩa toàn cầu.
Cần nhấn mạnh yêu cầu cực kỳ cao đối với kỹ thuật tính toán trong hệ thống như vậy: chỉ có vài giây để tính quỹ đạo của tên lửa còn lượng dữ liệu từ các trạm rada đổ vào máy tính là rất lớn.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
nthach (18-07-2008)
  #73  
Cũ 18-07-2008, 07:24
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Công nhận bác Thao vietnam vớ phải cái chương này "xương thật, "
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #74  
Cũ 18-07-2008, 17:47
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Đến đầu năm 1980 máy tính M-10 là máy có hiệu suất cao nhất (theo một vài đánh giá – 20-30 triệu phép tính/giây), dung lượng bộ nhớ trong và khả năng thông qua nhiều kênh. Lần đầu tiên trên thế giới trong máy đã áp dụng hàng loạt cách giải quyết tiên tiến, trong đó có khả năng xem xét trước sự phối hợp đồng bộ đến 7 máy tính có thể trao đổi thông tin trực tiếp giưac các chương trình của từng máy tính riêng rẽ và sự chia sẻ tài nguyên năng động; hiện thực hoá việc tái cấu trúc một cách tự động môi trường của các quá trình; đã đưa vào bộ nhớ trong bậc hai có dung lượng hơn 4 triệu bytes có thể tự do truy cập; có sự trao đổi bên ngoài với cả hai bậc của bộ nhớ trong.
Điểm mới lạ của các giải pháp kỹ thuật được bảo vệ bằng 18 bằng sáng chế và 5 bằng về kiểu dáng công nghiệp.

Dung lượng bộ nhớ trong lớn của máy M-10 yêu cầu số lượng linh kiện khá lớn. Nếu như tất cả linh kiện của máy đặt trong 31 tủ thì bộ nhớ linh hoạt bậc một trên lõi pherit dạng M-100П2 có đường kính ngoài 1mm đã chiếm 8 tủ như vậy, bộ nhớ cố định dạng tụ điện có phiếu đục lỗ kim loại có thể thay thế được làm vật mang thông tin cũng chiếm 8 tủ nữa, bộ nhớ lớn (bộ nhớ bậc hai) dùng lõi М-100П2 chiếm 4 tủ. Nhằm thu nhỏ kích thước máy M-10 người ta quyết định nghiên cứu khả năng chế tạo bộ nhớ có cùng dung lượng nhưng có độ tích hợp cao để thu nhỏ kích thước. Các nghiên cứu đã cho kết quả khả quan: năm 1974 bắt đầu nghiên cứu bộ nhớ mới. Người ta dùng các mạch vi điện tử làm vật mang thông tin trong các bộ nhớ linh hoạt bậc nhất và bộ nhớ lớn (bậc hai), còn trong bộ nhớ cố định thì dùng các lõi toroid có từ tính. Năm 1975 tài liệu thiết kế đã được giao cho nhà máy sản xuất để chế tạo những mẫu đầu tiên. Tất cả bộ nhớ linh hoạt được đặt trong một tủ, bộ nhớ lớn trong hai tủ và bộ nhớ cố định cũng trong hai tủ. Bộ nhớ mới hoàn toàn đáp ứng đầy đủ mọi chức năng của máy M-10.
Từ năm 1980 máy được sản xuất với bộ nhớ mới và có ký hiệu M-10M. Máy M-10 và M-10M có cùng chương trình và có thể thay thế lẫn nhau.
Chính Karsev đã viết về những năm tháng đáng nhớ đó trong báo cáo nhân dịp 15 năm thành lập Viện như sau: “Chúng tôi trải qua năm 1967 với một đề nghị khá táo bạo là dự án tổ hợp tính toán M-9. Đây cũng là năm kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười nên máy có tên gọi là Tháng Mười. Ở Bộ máy công cụ người ta cio đây là việc làm quá quắt, họ bảo : các anh hãy đi gặp xin Kalmưkov. Vậy là hôm nay chúng ta đã kỷ niệm 15 năm chính cái ngày ấy.
Dự án M-9 không được thực hiện nhưng năm 1969 đã bắt đầu nghiên cứu máy tính M-10 để đến năm 1973 đưa vào khai thác. Trong nhiều năm liền đây là máy tính mạnh nhất ở Liên Xô và hiện nay vẫn được tiếp tục sản xuất và sử dụng. Nhờ sử dụng máy mà chúng ta đã thu được những kết quả khoa học quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực vật lý. Không thể nói rằng việc nghiên cứu máy tính M-10 đã được đón nhận cởi mở. Thực ra người ta đã bảo chúng tôi là những kẻ tâm thần, rằng không thể gom đống kim loại ấy vào một chỗ và chúng sẽ chẳng bao giờ hoạt động được. Nói như vậy, về tâm lý bây giờ chúng tôi đã quen rằng máy tính lớn được cấu tạo từ nhiều thiết bị khác nhau. Thời đó không một ai chấp nhận điều đó. Và chúng tôi đã phải làm việc trong những điều kiện rất khó khăn, chúng tôi đã phải làm việc trong tầng hầm của nhiều ngôi nhà ở khắp Matxcova.

(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #75  
Cũ 19-07-2008, 20:39
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Sau khi được tách ra độc lập , tập thể chúng tôi được phân một nơi có diện tích 590 mét vuông của xưởng mộc của một xí nghiệp . Để bố trí cho cả tập thể đành phải chạy tìm khắp Matxcova và thuê chỗ ở, chủ yếu ở tầng hầm. Viện xây một toà nhà riêng có dạng trường học năm 1975 và nhà thí nghiệm theo một dự án riêng năm 1985-1986. Nhưng chúng tôi luôn nhận được sự ủng hộ từ Bộ và từ đích thân bộ trưởng P.S. Plesakov, thứ trưởng V.Y. Mirkova, từ ban lãnh đạo xí nghiệp, từ các cơ quan đảng cao nhất, từ Uỷ ban kế hoạch nhà nước, từ Đoàn chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô, từ phía các nhà máy bạn bè và cả từ phía khách hàng. “họ đã giúp chúng tôi làm việc, giúp hoàn thành sự nghiệp này. Và chúng tôi đã hoàn thành. Công trình này được ghi nhận bằng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô”.
Khi nói về thái độ của những người có uy tín đối với máy tính M-10 và các tổ hợp hai hoặc ba máy tính, Karsev nói: “Họ bảo chúng tôi là những kẻ tâm thần, …, rằng cái máy đó chẳng bao giờ chạy được”.
Không khó hiểu những người nghi ngờ nếu xem qua vài con số: máy tính M-6 dùng 60 nghìn transistor, 180 nghìn diode bán dẫn, 12 triệu lõi pherit. Tổ hợp tính toán gồm 3 máy M-10 chứa 2100 nghìn vi mạch, 1200 nghìn transistor, 120 triệu lõi pherit. Đây không chỉ là “một đống kim loại” mà còn là con số khó hình dung về các linh kiện điện tử được kết nối bởi các sơ đồ phức tạpvà phải làm việc trơn tru.
Tuy vậy, các tổ hợp tính toán đã bắt đầu làm việc …. Nhờ hoàn thiện đảm bảo toán học và các thiết bị cấu thành đã rút ngắn việc tự động xử lý số liệu trong một năm chỉ còn 10 phút!
Không phải tất lời khen thuộc về tài năng xuất chúng của Karsev và tập thể tuyệt vời của ông. Tôi còn nhớ một lần thế này.
Đâu đó khoảng cuối những năm 60 đầu những năm 70, Karsev gọi đén Kiev cho tôi với đề nghị làm người phản biện luận án tiến sỹ của V.A. Brik, một cộng tác viên của Karsev có tham gia nghiên cứu M-9. Sau khi đọc luận án tôi biết chắc rằng nó hoàn toàn không tầm thường - họ đề nghị những phương pháp hoàn toàn mới để tăng tốc thực hiện hàng loạt phép tính và các lời giải sơ đồ tương ứng đã được thực tiễn kiểm tra. Trong một lĩnh vực khoa học kỹ thuật đã được nghiên cứu rất tỷ mỷ dường như tất cả đã được nghiên cứu và sắp đặt đúng chỗ, tác giả luận án lại dám nói những lời mới mẻ và cực kỳ có trọng lượng. Và người phản biện thứ hai là nhà bác học nổi tiếng đã viết hàng loạt sách về kỹ thuật tính toán là A.A. Papernov cũng có ý kiến như vậy. Chúng tôi đã phát biểu ủng hộ luận án.
Quyết định tiêu cực của hội đồng bác học do viện sỹ V.S. Semenikhin đứng đầu đã gây sốc cho cả hai chúng tôi. Quyết định này là không khách quan. Các thành viên hội đồng có quan hệ không thiện chí với Karsev và họ đã “hành” học trò của ông.]
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #76  
Cũ 19-07-2008, 22:28
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Trận cuối cùng
Năm 1978 Karsev đề nghị chuyển sang chế tạo máy tính vector đa quá trình mới dựa trên những kinh nghiệm có được khi nghiên cứu sản xuất và khai thác máy tính M-10 và M-10M và dựa trên những thành tựu mới nhất trông công nghệ và kỹ thuật điện tử. Họ quyết định đặt tên cho máy mới là M-13.
Năm 1979 bắt đầu nghiên cứu thiết kế, họ cũng ấn định những nhà máy sẽ sản xuất máy tính M-13. Trong suốt những năm 1980-1981 họ chuyển tài liệu thiết kế cho các nhà máy này.
M-13 trở thành máy tính thế hệ thứ tư. Nó sử dụng nhiều vi mạch cỡ lớn. Máy tính điện tử vector đa quá trình này trước hết dùng để xử lý những luồng thông tin lớn trong thời gian thực, trong cấu trúc của nó dự định có 4 phần chính: phần xử lý trung tâm, các công cụ hỗ trợ hệ thống vận hành, bộ phận kết nối địa chỉ và phần xử lý đặc biệt.
Phần xử lý trung tâm có:các bộ xử lý số học (4, 8 hoặc 16), bộ nhớ linh hoạt chính, bộ nhớ cố định chính, bộ nhớ linh hoạt bậc hai, bộ kết nối trung tâm, phần điều khiển trung tâm, thiết bị hiệu chỉnh, kênh phức hợp. Các công cụ hỗ trợ hệ thống vận hành có: bộ xử lý điều khiển trung tâm, bảng nhớ ảo ba bậc, công cụ tìm kiếm. Bộ phận kết nối địa chỉ có: bộ phận kết nối điện học tiêu chuẩn, giao diện đã được lập trình, các bộ xử lý kết nối (từ 4 đến 128). Phần xử lý đặc biệt bao gồm bộ kiểm soát điều khiển kỹ thuật (sẽ quản lý bộ nhớ các giả thiết) và các bộ xử lý nhất quán (từ 4 đến 80).
Máy M-13 có cấu trúc theo từng modul cho phép lắp lẫn, cho người sử dụng có được những thông số kỹ thuật cần thiết ở mức độ tối ưu. Như vậy phần xử lý trung tâm có ba cấu hình và có thể có hiệu suất tuỳ theo nó thực hiện 12.106, 24.106 hay 48.106 phép tính một giây. Khi ấy dung lượng bộ nhớ trong, khả năng thông qua của bộ kết nối trung tâm và khả năng thông qua của kênh phức hợp cũng có thay đổi tương ứng. Như vậy dung lượng bộ nhớ trong sẽ là 8,5 17,0 hay 34,0 Mb, khả năng thông qua của bộ kết nối trung tâm sẽ là 800, 1600 hay 3200Mb/s, khả năng thông qua của kênh phức hợp sẽ là 40, 70, hay 100Mb/s.

Bộ kết nối địa chỉ và bộ xử lý đặc biệt có thể ghép nối mềm dẻo hơn.
Phần xử lý đặc biệt dùng để xử lý những khối lớn đối với những thông tin bậc thấp (phép biến đổi Furie, tính hàm tương quan, so sánh các ngưỡng, kiểm tra các giả thiết và v.v…) và có phép nhân hai số phức (biến đổi Furie hai điểm) là phép tính cơ bản. Bộ xử lý số học đặc biệt (phức hợp) sẽ thực hiện phép tính cơ bản này sau một nhịp máy. Phản ứng nhanh tương ứng của đường xử lý phức hợp sẽ nâng cao phản ứng của đường xử lý số học ở dạng so sánh số liệu. Tốc độ tương ứng của bộ xử lý đặc biệt ở máy M-13 có thể đạt đến 2.4.109 phép tính một giây.
Bộ kết nối địa chỉ của máy M-13 chứa hệ thống thao tác, hệ thống lập trình, hệ thống tệp , hệ thống tài liệu hoá, thư viện các chương trình điển hình v.v…
(còn tiếp)

Thay đổi nội dung bởi: Thao vietnam, 19-07-2008 thời gian gửi bài 22:39
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #77  
Cũ 19-07-2008, 23:32
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Tháng 5 năm 1982, kỷ niệm 15 năm thành lập viện, Karsev kết thúc bài phát biểu bằng những lời sau: “ Giờ đây chúng tôi cảm thấy rằng dường như chưa từng làm được một công trình nghiên cứu tốt như vậy (ý nói máy M-13), … rằng chưa bao giờ chúng tôi gặp khó khăn. Nhưng tôi muốn nhắc các vị rằng chúng tôi thực sự đã bị các công trình lôi cuốn mạnh mẽ và gặp phải những khó khăn không thể hình dung được. Và giờ đây tôi giật mình thức giấc hàng đêm vã mồ hôi vì quá trình sản xuất sản phẩm mới của chúng tôi chậm và khó khăn như vậy. Nhưng các vị hãy hiểu rằng, nói chung, đó là chứng mất ngủ của tuổi già. Còn thực ra từ ngày chúng tôi nhận nhiệm vụ chính phủ giao chỉ có hai năm tám tháng. Và tập thể trẻ già chúng tôi không thể làm chậm thêm nữa.
Lúc nào đó bất chợt nhớ lại chuyện này cúng tôi không tin nổi chính mình nữa, nhưng chúng ta cần một chiến thắng, một chiến thắng cho tất cả”.
Câu cuối cùng Karsev lấy từ bài hát mà nhiều người còn nhớ trong phim “Nhà ga Belorus”. Và điều đó không phải là ngẫu nhiên. Cựu trung sỹ xe tăng đã từng chiến đấu ở mặt trận, đã làm việc căng thẳng cả về thể chất và trí lực để lập công (huân chương “Vì lòng dũng cảm” và Huân chương Sao đỏ khi mới 20 tuổi), thời bình ông và tập thể của mình dường như cũng không được thong thả.
Những lời phát biểu cảm động của Karsev trước các cộng tác viên đã trở thành di huấn của ông. Một năm sau – 23 tháng 4 1983, ông đã không còn nữa”.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
virus (20-07-2008)
  #78  
Cũ 20-07-2008, 07:13
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Đôi điều nói thêm
Yu.V. Rogachev được bổ nhiệm làm giám đốc Viện và tổng công trình sư máy M-13, dướií thời Karsev ông là kỹ sư trưởng và phó tổng công trình sư thứ nhất. Thực hiện lời di huấn của người sáng lập Viện và thực hiện thành công những công việc do ông khởi xướng là những nhiệm vụ cơ bản của tập thể Viện. Rogachev tích cực tìm kiếm liên hệ các nhà máy đặc biệt để sản xuất máy tính M-13 - đứa con cuối cùng của Karsev. Và công việc này đã có kết quả: năm 1984 máy tính M-13 đã bắt đầu được sản xuất theo lối công nghiệp.
Việc sản xuất và đưa vào khai thác máy tính M-13 kèm theo chương trình đã được tiến hành có kết quả dưới sự lãnh đạo của Rogachev và sự tham gia tích cực của phó tổng công trình sư thứ nhất, phó tiến sỹ khoa học kỹ thuật Miller, phó tổng công trình sư, PTS KHKT Shidlovsky, PTS KHKT Krupsky, PTS KHKT Karasik, Tsibul, những người phụ trách các bộ phận và phòng thí nghiệm , các chuyên gia đầu ngành vè kỹ thuật tính toán và lập trình. Họ cũng tiếp tục chế tạo thành công các tổ hợp tính toán mới dựa trên máy tính M-10M có sử dụng sợi quang.
Chính phủ đánh giá cao những đóng góp của Viện vào sự phát triển của kỹ thuật máy tính nước nhà: năm 1986 Viện nghiên cứu khoa học máy tính được tặng thưởng Huân chương Lao động Cờ đỏ. Nhiều thành viên của Viện được trao tặng những phần thưởng cao quý, trong đó Rogachev được tặng Huân chương Lao động Cờ đỏ.
Trong cuộc đời hoạt động sự nghiệp của mình, Karsev thể hiện tính sáng tạo cao. Tài liệu chuyên khảo của ông về cơ sở lý thuyết thiết bị số học và cơ sở thiết kế cấu trúc máy tính đã trở thành những cuốn sách gối đầu giường của những người làm kỹ thuật máy tính. Những máy tính do Karsev chế tạo có công dụng đặc biệt được dùng trong quân đội Liên Xô ít được biết đến hơn. Chúng thường trực ở các mục tiêu quốc gia từ năm 1967 đến 1981, thời gian hỏng hóc tổng cộng chỉ khoảng 700-1000 giờ.
Từ 76 máy tính M-10 làm việc theo một thuật toán thống nhất người ta đã tạo ra một tổ hợp máy tính lớn nhất nước, làm việc suốt ngày đêm, kết nối các kênh truyền số liệu từ xa hàng chục nghìn km.
Karsev hiểu rằng máy tính do Viện chế tạo không chỉ dùng trong hệ thống phòng thủ cảnh báo tấn công tên lửa mà còn có thể mang lại lợi ích to lớn trong nghiên cứu khoa học khi thực hiện những phép tính toán khoa học kỹ thuật phức tạp nhất thời đó không một máy tính nào trong nước có thể làm được không chỉ vì tốc độ thấp mà còn vì dung lượng bộ nhớ trong quá nhỏ. Mặc dù có sự phản đối của bộ máy hành chính quân sự nhưng ông đã được phép công bố tài liệu về máy tính M-10, điều này đã tích cực tạo mối liên hệ giữa các tổ chức có nhu cầu sử dụng kỹ thuật hiệu suất cao. Theo sáng kiến của ông đã thực hiện trên máy M-10 những phép tính toán khoa học đặc biệt phức tạp: về cơ học môi trường liên tục (nhanh hơn máy EC-1040 40-45 lần), về mô hình plasma (nhanh hơn máy tính БЭСМ-6 từ 20 đến hàng trăm lần)
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
BelayaZima (20-07-2008)
  #79  
Cũ 20-07-2008, 10:01
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo)
Theo đánh giá của Viện toán ứng dụng Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, tốc độ máy tính M-10 ở định dạng 64 bậc vượt trội hơn máy БЭСМ-6 (48 bậc) đến 3,6-4,6 lần, hơn máy EC-1060 3 – 5,6 lần, hơn máy "Эльбрус-1-1" (48 bậc) 2,4 lần. Các nhân viên nghiên cứu của Bruk đã dựa trên các giải pháp kỹ thuật mới đin trước thời đại: tổ chức bộ nhớ theo từng trang, phối hợp các thuật toán với dấu phẩy trôi và dấu phẩy cố định trong máy M-2 (1952-1956), cấu trúc đường trục (“dây chuyền”) trong máy M-4M (1962-1964), tái cấu trúc thước đồng bộ các quá trình, cấu trúc vector, bộ nhớ linh hoạt bậc hai tốc độ cao trong máy M-10.
Trong hệ thống đa quá trình thế hệ thứ tư M-13 lần đầu tiên đã thực hiện sử dụng thiết bị chu trình tuần tự (cho phép các chương trình không phụ thuộc số quá trình trong hệ thống), thiết bị tổ chức bộ nhớ theo từng phần (khả năng nhấy bước của hệ thống file), bộ xử lý ngoại vi điều khiển theo chương trình dùng cho các phép tính dạng biến đổi Furie, Wolss, Adamar, Frenel, tính các hàm đối ứng, các bộ lọc không gian, v.v…. Tốc đọ trung bình của phần trung tâm - đến 50 triệu phép tính một giây (hoặc đến 200 triệu phép tính ngắn một giây), bộ nhớ trong đến 34Mb, tốc đọ trao đổi bên ngoài đến 100Mb/s, tốc độ bộ xử lý ngoại vi đến 2 tỷ phép tính một giây.
M.A. Karsev là tác giả của nhiều công trình lý thuyết căn bản về kỹ thuật máy tính (5 tài liệu chuyên khảo, 55 báo cáo, 16 sáng chế). Những cuốn sách “Thiết bị số học của máy điện tử kỹ thuật số” (xuất bản bằng tiếng Nga năm 1958 sau đó được xuất bản ở nước ngoài), “Số học máy kỹ thuật số” (1969) đã đặt cơ sở lý thuyết cho cácthiết bị số học, các kết luận trong đó đã đi vào sách giáo khoa. Những chuyên khảo cuối cùng của ông “Cấu trúc máy tính kỹ thuật số” và “ Hệ thống tính toán và số học đồng bộ” thực tế đã đặt những cơ sở khoa học đầu tiên để thiết kế cấu trúc chung của máy tính điện tử và các máy làm các phép tính song song.
Karsev là một trong những người có sáng kiến triển khai ở Liên Xô những công trình sử dụng những thành tựu quang điện trong kỹ thuật máy tính. Lần đầu tiên ở Liên Xô, Viên nghiên cứu máy tính đã sử dụng sợi quang cho tổ hợp gồm 6 máy tính M-10.
Thành tích lao động của Karsev được đánh dấu bằng Huân chương Lê nin (1978), Huân chương Lao động Cờ đỏ !971), huân chương “Danh dự” (1966), huy chương “Vì lao động quên mình”. Năm 1967 ông đã được trao Giải thưởng nhà nước Liên Xô. Năm 1993 Viện nghiên cứu khoa học máy tính đã được mang tên người sáng lập ra nó.
Tôi kết thúc câu chuyện về Karsev bằng những lời trong bức thư của con trai ông, Vladimir.
“Những trang ít ỏi mà cháu gửi đến bác này tất nhiên nhỏ bé hơn nhiều so với những đóng góp của cha cháu. Càng nghĩ nhiều về chúng cháu càng khó hiểu : ông đã là người thế nào. Không nghi ngờ gì nữa, công việc là cơ bản đối với ông, cũng không nghi ngờ là ông cũng sẽ đạt được thành tích trong những lĩnh vực khác nếu số phận thay kỹ thuật máy tính bằng một nghề gì khác cho ông.
Cha cháu rất quý tài năng và hiểu biết của con người, cho dù đó là năng lực giải quyết một vấn đề lý thuyết hay lái xe giỏi. Tiếc rằng ông thường xuyên phải giao tiếp với những người không có tài nhưng lại có quyền định đoạt số phận sự nghiệp của ông. Trong trường hợp này ông phần lớn phải chấp nhận. Có một lý do khác trong cách ứng xử của cha cháu. Một lần ông đọc to cho cháu nghe lời đề tựa cho một cuốn sách về học thuyết của các bá tước: “Khi biết một người phụ nữ sẽ đến thăm mình, Jone triển khai nhiều chuẩn bị nhộn nhịp, và mở tiệc đón khi chị này tới. Chị này ngạc nhiên khi thấy đĩa ăn bị đóng đinh xuống bàn. Sau bữa ăn Jone huýt sáo gọi lũ chó, chúng lao đến và liếm sạch đĩa. Jone nói với lũ chó “Ta tập cho các ngươi quen với việc chạy vào bàn ăn không phải đơn giản như vậy nhưng đáng phải làm như vậy, và chị này bỏ đi ngay lập tức”. Đọc xong đoạn này cha nói thêm: “Người lãnh đạo của dự án nào cũng cần sẵn sàng nhúng tay mình vào công việc, việc đó không đơn giản nhưng cần phải như vậy”.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #80  
Cũ 20-07-2008, 15:36
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo )
Xen lẫn với công việc cha cháu cũng giảng bài cho sinh viên các lớp buổi tối. Khi ấy cháu cảm thấy việc đó là tự nhiên và nghĩ khi lớn lên ai cũng sẽ là giáo sư. Một lần cháu hỏi ông khi ông đang chuẩn bị bài giảng. “Và bố đơn giản là kể cho sinh viên hết chương này đến chương khác trong cuốn sách của mình mà thôi”, thật là đơn giản, và cha cũng chẳng ngốc đâu. Cháu hỏi: “Vậy bố sẽ làm gì khi hết tất cả các chương vì cuốn sách chưa được viết xong mà?” thì ông đùa: “Khi ấy năm học kết thúc”. Cháu không còn hỏi gì nữa nhưng bây giờ càng có nhiều điều muốn hỏi hơn. Vậy cha có thể viết sách báo vào lúc nào? Cháu ngờ là ông viết ngay khi đang làm việc.
Ông làm như vậy để làm gì vì đó chỉ là gánh nặng trong sự nghiệp. Nhiều người hoạt động sáng tạo sẽ hiểu được thuật ngữ này, họ dùng ngòi bút để lưu lại những cảm hứng của mình. Ông viêt sách bất cứ lúc nào rảnh rỗi mà không viết nháp, thảo ngay trên máy chữ. Ngay bây giờ không ai hiểu đựơc quá trình nào đã diễn ra trước khi ý nghĩ được đưa ra giấy, ông viết có dễ dàng không. Ông không thích sưu tập tem hay làm nhà nghỉ. Có lẽ điều bí mật chính là ông luôn là chính mình và viết sách là thú vui của ông.
Cha cháu không thích tính nghiệp dư trong bất cứ lĩnh vực nào. Cháu nhớ những lời không hài lòng khi ông lắp một máy thu thanh theo bộ lắp ghép thiếu nhi, trong đó các linh kiện bố trí lộn xộn. Thế nhưng để khắc phục khó khăn thì ông lại kiên nhẫn không giới hạn.
Khi hỏi thi, cha cháu cho phép sinh viên mang theo bất cứ cuốn sách nào. Và tất nhiên cháu tin rằng ông không đòi hỏi họ phải biết những gì ông biết. Nhưng mọi người không coi làm bài thi với ông là dễ dàng. Ông yêu cầu không chỉ nhớ thông tin mà còn phải nhớ cả công cụ. Bao nhiêu người có thể khoác lác về chuyện này?
Trí tuệ của ca cháu ở lại trong các công trình nghiên cứu và sách vở của ông, trong công việc của những người kế tục ông, trí thức chỉ trong trí nhớ của những người biết ông. Phẩm chất cuối cùng làm cho cha cháu trở nên dễ bị tổn thương trong những trường hợp phải thỏa thuận với giới quyền lực về một việc nào đó. Con người mà tất cả chúng ta nhớ đến đó là một con người đầy trí tuệ và hài hước.
Một vài cuốn trong số sách mà cha cháu thích là “Mười hai chiếc ghế”, “Con nai vàng”,… Không chỉ sách khoa học kỹ thuật mà cả sách văn học cũng hấp dẫn ông. Ông đọc sách tiếng Anh khá thao (tài liệu khoa học), có lần ông đã nói tiếng Anh khá khéo léo với hai người Arab gặp trong quán cà phê. Khi cháu học tiếng Đức và học vẹt bài đọc thì có lúc ông đọc to lên trước cả cháu và bất chợt còn chỉ dẫn môn tiếng Đức cho cháu. Nói chung ông chỉ học tiếng Anh nhưng từ lâu đã quan tâm thứ tiếng phổ biến thời đó là tiếng Đức và đọc hết sách giáo khoa tiếng Đức. Và có lẽ như vậy là đủ.
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Thế giới công nghệ thông tin BelayaZima Công nghệ thông tin 24 24-11-2012 12:55
Đề nghị tìm giúp bài hát phucanh Nhạc Nga - Xô viết 189 05-01-2012 00:51
Bí mật của công nghệ perets Vũ khí của Hồng Quân 3 11-09-2009 15:14
học công nghệ Môi Trường ở Nga omertachinno Trao đổi kinh nghiệm du học 11 13-04-2009 23:57
Nước Nga-nơi tôi học chữ-học nghề và học làm người phambakhoa Sinh sống tại Nga 5 16-11-2008 08:45


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 06:07.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.