Trở về   Nước Nga trong tôi > Nước Nga ngày nay > Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

 
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Prev Previous Post   Next Post Next
  #11  
Cũ 14-06-2013, 00:22
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20

Độ chính xác

Một trong những bất lương sâu sắc nhất của dữ liệu nhật thực đã phạm là với độ chính xác. Nói cách khác, có thể đọc được dữ liệu với bao nhiêu chữ số có nghĩa? Theo Eddington, nó có thể đọc dữ liệu đến độ chính xác 1/100 giây cung: điều này cũng được lặp lại trong một bài viết trên tờ Scientific American. [23] Nhỏ như thế nào là 1/100 giây cung: Tôi sẽ nói nó là ngang bằng với việc cố gắng xác định bề rộng của sợi tóc người bằng mắt thường khi nhìn từ khoảng cách 3 mét. Theo Ian McCausland, sự khác biệt trên các tấm ảnh là tương đương của 1/100 của 1 millimeter.

Rõ ràng, không ai trong số các nhà khoa học có được mảy may nhận thức về độ chính xác tối đa mà các trang thiết bị và điều kiện cho phép. Trước hết, kính thiên văn được sử dụng bởi Eddington, một nhà vật lý nắm được báo với tôi, nó cùng cỡ với chiếc kính thiên văn người ta có thể mua từ Wal-Mart với giá dưới $100. Thứ hai, điều kiện mà từ đó các dữ liệu được thu thập chỉ tốt hơn một chút so với nhìn các ngôi sao bị "bẻ cong" qua một ngọn núi lửa phun trào.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Đó là 97 độ ban ngày và 75 độ ban đêm (độ F). Điều này vượt quá dải cho phép của thiết bị để chúng hoạt động. Không ngạc nhiên, chiều dài tiêu cự của một trong những kính viễn vọng bị thay đổi, và một kính viễn vọng dự phòng đã được sử dụng.

Khi mặt trăng đi qua phía trước mặt trời, nó chắn tất cả các bức xạ tới. Điều này ngay lập tức gây ra giảm mạnh và nhanh nhiệt độ mặt đất và thảm thực vật bắt đầu phát nhiệt. Điều này gây ra sự nhiễu loạn không khí và các phản ứng có thể đoán trước, các ngôi sao "nhảy múa" trong ảnh làm cho chúng là bị "cong" ở chỗ này chỗ kia và đằng này đằng kia, một số chạy sang một bên, một số khác ngược lại. [37] Đương nhiên, đây là lỗi ngẫu nhiên. Nói cách khác, nếu dữ liệu hỗ trợ lý thuyết, đó là dữ liệu “tốt”, và nếu nó không hỗ trợ lý thuyết, gọi là "sai số vô tình". Thực sự là sửng sốt khi có thể thấy những sai số ngẫu nhiên trên các tấm ảnh, một số ngôi sao di chuyển theo những cách hoàn toàn không thể đoán trước trong khi cái khác bị bẻ cong theo chiều thuận!

Nhật thực năm 1922 cũng được sử dụng để hỗ trợ thuyết tương đối rộng. Đây là một đoạn trích từ Jamal Munshi cung cấp bởi Marmet , "tiến sĩ F. Schmeider của Đài quan sát Munich đã công bố một bài báo [49] có tiêu đề ‘Dịch chuyển Anhxtanh, vấn đề rối loạn' và một lô dịch chuyển của 92 ngôi sao trong nhật thực 1922 cho thấy sự dịch chuyển đi theo mọi hướng, nhiều trong số chúng dịch chuyển theo hướng sai với độ lệch lớn đến mức cũng như là dịch chuyển theo hướng dự đoán! " [38]

Bertolli, Brill và Krotkov, xác định 5 nguồn sai số trên tấm ảnh: "1. Khúc xạ ánh sáng trong vầng hào quang của mặt trời và/hoặc trong bầu khí quyển trái đất, 2. Độ méo trong hệ thống quang học gây ra bởi thay đổi nhiệt độ trong quá trình nhật thực, 3. Thay đổi về tỉ lệ giữa các tấm phim chụp nhật và tấm phim so sánh, 4. Biến dạng trong nhũ tương ảnh trong khi sấy, 5. Sai sót trong các phép đo hình ảnh trên các tấm phim." [39]

Một trong những vấn đề lớn nhất với dữ liệu nhật thực là có ít nhất 5 nguồn sai số trên tấm phim so sánh. Để có thể nói nếu một ngôi sao đã bị uốn cong, thì cần phải so sánh nó với một tấm ảnh khi các ngôi sao ra khỏi ảnh hưởng của mặt trời, có nghĩa là cần thiết phải so sánh các ngôi sao bị "cong" với các ngôi sao trước khi chúng bị "uốn cong ". Điều này mang các sai số quan trọng vào trong quá trình. Đây là những gì ông Poor nói về việc này: 1. Tỷ lệ khác biệt giữa hai tấm, có nghĩa là các tấm được thực hiện tại các vị trí khác nhau, tại các mùa khác nhau trong năm, và trong điều kiện không khí hoàn toàn khác nhau, [40] 2. "Sự nghiên khác nhau của hai tấm ảnh với trục quang học của kính thiên văn" 3, "biến dạng quang học của hệ thống ống kính", 4. "Sự không chính xác đúng tâm của hai tấm ảnh", 5. "Định vị không chính xác của hai tấm trong quá trình đo. Trong quá trình kẹp hai tấm với tấm tham khảo, chúng sẽ luôn luôn xảy một bị vặn xoắn một chút trong tham chiếu đến cái khác". [40]

Vì vậy, độ chính xác nào là cho phép để dữ liệu được xem là trong giới hạn cho phép của thiết bị, điều kiện khí quyển, và các biến dạng trong tấm ảnh? "Một kính thiên văn có đường kính 10 inch với quang học hoàn hảo có thể phân giải 1 giây cung." [41] "Bầu khí quyển trái đất cũng khúc xạ ánh sáng, và bởi vì nó là liên tục di chuyển, nó làm mờ và nhòe ảnh trong kính thiên văn. Các nhà thiên văn học gọi đó là khả năng "nhìn thấy”. Độ nhòe thực sự thực sự chiếm ưu thế gây ra bởi nhiễu xạ trong nhiều trường hợp và thường giới hạn độ phân giải trong thực tế ở khoảng 0,5-2 giây cung." [41]

"Hiếm là về đêm, tại các địa điểm thiên văn, kính thiên văn bất kỳ nào, có độ mở lớn và hoàn hảo quang học có thể phân giải tốt hơn hơn 1 giây cung. Thông thường hơn là tại các địa điểm quan sát bình thường là 2-3 giây cung do độ nhòe hoặc tệ hơn." [42]

Eddington đã làm những gì để chứng minh Anhxtanh đúng là quá lố bịch, ở trên cái ranh giới siêu phàm. Đây là những gì Eddington đã làm để có được kết quả ông ta muốn theo ông Poor, [40] "4. Không có dù chỉ là một cuộc thám hiểm nào nữa cho đến nay đưa tin là đã thực hiện nghiên cứu có hệ thống tất cả các dữ liệu thu được. Ở nhật thực năm 1919, có ít hơn 15% của số liệu đo đạc thực tế đã được sử dụng trong việc đưa ra kết quả công bố... Tất cả các thành phần không xuyên tâm của đo lường bị loại bỏ như là ‘lỗi vô tình’." [40]

Điều đó là đúng: Eddington đã ném đi hơn 85% dữ liệu! Nếu bạn ném đi tất cả các dữ liệu khác với kết quả dự đoán của thuyết tương đối, thì những gì còn lại, theo định nghĩa, sẽ phù hợp với thuyết tương đối!

"7. Chuyển vị của các ngôi sao thực sự, khi được giải thoát ra khỏi tất cả các giả định, không cho thấy có sự tương đồng nhỏ nhất nào để dự đoán độ lệch Anhxtanh: chúng không thuận về hướng, độ lớn, hoặc tỷ lệ giảm đi theo khoảng cách từ mặt trời." " 8. Chuyển vị đo được thực tế, nếu có thực, có thể là tốt nhất để được giải thích bởi một số hiệu ứng khúc xạ của bầu khí quyển trái đất: bởi sự kết hợp của hiệu ứng Courvoisier, khúc xạ ánh sáng ban ngày, và các hiệu ứng nhiệt độ gây ra bởi bóng tối nhật thực." [40]

Alice trong thế giới thần tiên của dữ liệu được phô ra, "... Thành công quá mong đợi, như trong tất cả các tính toán và các tu sửa khác của ông ta, cho rằng đúng với các qui định của dữ liệu nhật thực như đã được tổ chức để kiểm tra. Và ông tự nhiên thấy rằng kết quả của mình là biểu thị bởi cái qui luật mà từ đó họ đã có được." [40]

"Không một điều gì trong số các khái niệm cơ bản của thời gian thay đổi, không gian biến dạng hoặc xoắn, của sự đồng thời, hoặc tính tương đối của chuyển động theo bất cứ cách nào liên quan đến dự đoán của Anhxtanh, hay công thức tính toán độ lệch ánh sáng. Rất nhiều các cuộc thám hiểm nhật thực công phu phức tạp đã, do đó, tạo ra một quyền thế hư cấu. Kết quả của họ không thể chứng minh, cũng không bác bỏ lý thuyết tương đối: tại kết quả tốt nhất của họ có thể chứng minh rằng ánh sáng bị trễ bởi tác động hấp dẫn, và là bị trễ bởi một số hạn định rõ ràng nào đó." [40]

"Tuy nhiên, kết quả thực tế của các cuộc thám hiểm thậm chí cũng không chứng minh điều này. Không một cuộc thám hiểm nào, cho đến nay công bố, đã sử dụng hiệu ứng để kiểm tra hoặc kiểm soát để loại bỏ những ảnh hưởng của nhiệt độ trên dụng cụ hoặc để xác định những tác động có thể của điều kiện khí quyển bất thường trong quá trình nhật thực." [40]

"Việc xem xét các bảng khác nhau về độ lệch quan sát thấy cho thấy nhiều trong số chúng là xa vời so với lượng dự đoán. Lượng xấp xỉ dự đoán một khi có được bằng cách trung bình một vài chọn lọc của các quan sát." [43] "Bất kỳ người đọc nào, mặc dù còn xa mới là một chuyên gia thiên văn hay vật lý, những người xem xét mô tả máy móc thiết bị sử dụng trong các quan sát và biên độ lớn của sai số có thể vì lý do khuyết tật trong đó, sẽ dễ dàng hiểu rằng, theo quan điểm đo lường chính xác trong quan sát hiện tượng cần quan sát, thì thận trọng trong việc phân tích các kết quả quan sát là cần thiết." [43] Điều này đã không làm bận tâm Eddington hoặc những người ủng hộ dữ liệu nhật thực khác.

Rõ ràng, không ai trong số các nhà khoa học này lại có nhiều quan tâm đến một thực tế là các dữ liệu được thu thập bởi Eddington gần như là không tồn tại. "Chúng đều tốt dưới mặt trời, cho thấy sự phi thường lỗi lạc; nhưng các đám mây đã làm nhiễu các hình ảnh ngôi sao. Sáu bức ảnh cuối cùng hiển thị một số hình ảnh mà tôi hy vọng sẽ cho chúng ta những gì chúng ta cần." [5] "Thời tiết nhiều mây làm buồn ý định của tôi và tôi đã phải xử lý các phép đo theo một cách khác với những gì tôi dự định, do đó tôi đã không thể đưa ra bất kỳ thông báo kết quả sơ bộ nào. Nhưng một tấm mà tôi đo đạc đã cho kết quả đồng thuận với Anhxtanh." [5]

Đây là những gì tôi nghĩ Eddington đã làm: Ông ta làm việc ngược tức là ông ta "biết" độ lệch nào ông ta muốn, vì vậy ông đã phát minh ra độ dài chính xác của độ lệch để nó tạo ra kết quả ông mong muốn có được. Nó là, hoặc ông ta là hoàn toàn không đủ năng lực để làm một nhà khoa học.

5.Clark, R.W. 1984. Anhxtanh The Life and Times, Avon Books, New York, 284.

37.Brown, G.B. 1967. “What is Wrong with Relativity,” Bull. Inst. Physics and Physical
Soc. 18, 71-77.

38.Munshi, J. Weird But True, http//www.munshi.sonoma.edu/jamal/physicsmath.html.

39.Bertotti, B., Brill, D. and Krotkov, R. 1962. “Experiments on Gravitation,” in
Gravitation: An Introduction to Current Research, L.Witten, ed. John Wiley, New York,
1-48.

40.Poor, C.L. 1930. “The Deflection of Light as Observed at Total Solar Eclipses,” J.
Opt. Soc. Amer. 20, 173-211

41.O’Connell, “14 Telescopes” Diffraction, http//www.astro.virginia.edu/class/oconnell/astr121/guide14.html.

42.MacRobert, A.M. 1995. “Beating the Seeing,” Sky & Telescope, 89, 40.

43.Guggenheimer, S.H. 1925. The Anhxtanh Theory: Explained and Analyzed, Macmillan, New York, 298-9.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên:
chipvn (19-06-2013), doi_bung_wa (02-11-2013)
 

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
ĐẤT VỠ HOANG 1959 - Поднятая целина - No sub Dzũng mèo Điện ảnh - Truyền hình 8 31-05-2014 21:24
Các tác phẩm của M. Sholokhov - Đất vỡ hoang và Sông Đông êm đềm vasily Văn học 31 13-09-2012 22:23
Chó hoang Đin-gô weekdaysman Văn học 57 11-06-2009 10:07


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 02:18.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.