Trở về   Nước Nga trong tôi > Văn hóa Xô viết và Nga > Thi ca

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 29-11-2007, 14:30
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default Ba phút sự thật và các bài thơ khác của Evtushenko

Tôi vừa đọc xong cuốn "Ba phút sự thật" của cụ Phùng Quán. Không ngờ trên mạng cũng có bản đánh máy của cuốn này:
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.a...3237n1n&cochu=

Trong bài đầu tiên của cuốn KÝ này (do nhà văn Ngô Minh biên soạn với sự giúp đỡ của bà quả phụ Bội Trâm), nhà văn Phùng Quán viết:


1. Ba phút sự thật


Trong cuộc đời làm văn của tôi, tôi mắc phải một khuyết điểm trầm trọng: Diễn đạt dài dòng.
Người đầu tiên dạy cho tôi sự hàm súc, cô đọng trong nghệ thuật ngôn từ là một thanh niên Cuba. Anh tên là Angtôniô Ếchxêvania, biệt danh là Măngđana (Quả táo). Anh mới 22 tuổi, sinh viên khoa ngữ văn. Ngày đó đất nước Cuba còn sống dưới chế độ độc tài Batitsta. Thói dối trá, đạo đức giả, lừa bịp được bọn Batítsta chọn làm quốc sách cai trị dân. Quốc sách này được lũ khuyển ưng văn hóa, văn nghệ tô vẽ, dệt gấm thêu hoa, nên ngày càng trở nên độc hại, ru ngủ không ít người Cuba vốn hào hiệp, cả tin, nhiệt tâm và lương thiện.
Măngdana tham gia tổ chức bí mật nhằm lật đổ chế độ Batítsta. Anh cùng với mấy người bạn thân tín trong tổ chức hoạch định một kế hoạch xé toạc bức màn quốc sách lừa mỵ của bọn độc tài và nói rõ sự thật với nhân dân. Kế hoạch khá mạo hiểm: Đánh chiếm Đài phát thanh quốc gia vào giờ phát thanh ca nhạc, giờ mà không một người dân Cuba nào không ngồi bên máy thu thanh. Sau khi đã dự liệu tính toán kỹ lưỡng đến cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong kế hoạch đánh chiếm, Măngdana cùng với bạn anh biết chắc rằng chỉ chiếm nổi đài phát thanh trong vòng 3 phút, có nghĩa là 180 giây đồng hồ, sau đó bọn bảo vệ dài sẽ tiêu diệt anh… Vậy là bài nói chuyện của anh sẽ phải chấm hết ở giây đồng hồ thứ 181. Anh đặt tên cho kế hoạch mạo hiểm này là "Ba phút sự thật".
Điều làm Măngdana lo lắng nhất không phải là việc đánh chiếm Đài phát thanh, cũng không phải là cái chết. Cái khó là anh phải nói được sự thật với nhân dân chỉ trong vòng ba phút!
Kết quả, Măngdana cùng các bạn anh, với lòng dũng cảm siêu phàm và tn thông minh tuyệt vời của tuổi trẻ, đã thực hiện chiến công thần kỳ này một cách toàn vẹn đúng như kế hoạch đã định: Bài nói của anh chấm hết vào đúng vào lúc những loạt đạn tiểu liên bắn thẳng vào ngực anh, vào tim anh ở giây thứ 181.
Sau ngày Cách mạng Cuba thành công, Ăngtôniô Ếchxêvania được nhà nước xã hội chủ nghĩa Cuba truy tặng danh hiệu Anh hùng dân tộc. Chiến công của anh được nhà thơ Nga Xô viết Éptusenkô viết thành bản tráng ca nổi tiếng "Ba phút sự thật". Câu chuyện về Măngdana dạy tôi một bài học lớn về nghệ thuật ngôn từ. Cả những đề tài lớn lao nhất như sự thật, như chân lý, đều có thể diễn đạt nó trong vòng 180 giây đồng hồ với điều kiện tác giả phải sẵn sàng đem mạng sống trả giá cho những giây đồng hồ quý báu đó.
Sài Gòn 13-2-1993
----------------------------------------
Trong phần tôi tô đậm trên có nhắc đến tác phẩm của Evtushenco "Ba phút sự thật". Tôi tìm trên mạng nhưng không thể tìm được "три минуты правды" của Евтушенко. Bác nào biết thì làm ơn pót lên hộ với.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên:
Hồ Trương (17-12-2008), PhamNgocSan (15-03-2009)
  #2  
Cũ 29-11-2007, 14:30
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Đây là bài thơ đã được Diễm Châu dịch ra tiếng Việt, nhưng vẫn chưa biết nguyên gốc như thế nào?

BA PHÚT SỰ THẬT


Để tưởng niệm một người anh hùng dân tộc Cu-ba, José Antonio Echevarria. Bạn bè anh đã đặt cho anh cái biệt hiệu «Manzana»--«Trái táo», trong tiếng Tây-ban-nha.

Thủa ấy có một chàng trai biệt hiệu là Manzana.
Đôi mắt chàng trong như dòng suối
và tâm hồn chàng rì rào
như một căn gác nhỏ
bộn bề những chim bồ câu,
những cây đàn
và những tấm tranh.
Chàng thích ngoạm những trái bắp nhai rau ráu,
thích dã-cầu,
trẻ nhỏ, chim muông
và, trong những cơn lốc xoáy
của một đám hội ngoài trời,
không gì làm chàng vui thú cho bằng
phép mầu của một ánh mắt.
Nhưng chàng trai với biệt hiệu là Manzana ấy
chàng trai cũng hệt như một đứa trẻ ấy,
chàng hết sức ghê tởm
bọn giả nhân giả nghĩa
và bọn láo khoét.
Vậy mà, dối trá lại khoác nhiều mặt nạ kỳ cục
vào thời ấy ở Cu-ba. Nó đầy rẫy các nơi tụ tập công cộng
và chễm chệ như ngài ngự
trong xe hơi
ông tổng thống.
Nó trâng tráo tới lui những cột báo
và ngay từ buổi đầu ngày,
hòa với nhạc rock'n'roll,
nó vọt ra
từ những máy phóng thanh
của đài vô tuyến.
Lúc đó chàng trai với biệt hiệu là Manzana
– không phải vì vinh quang
mà chỉ
vì muốn sự thật được sáng tỏ ở Cu-ba –
chàng đã quyết định giành lấy máy phát thanh.
Được bạn bạn bè hỗ trợ,
với súng sáu trong tay,
chàng giật lấy máy vi âm
từ một cô ca sĩ loại quyến rũ.
Và ấy là tiếng nói,
can trường và tin tưởng,
tiếng nói của Cu-ba rốt cuộc
tuyên cáo sự thật với nhân dân.
Không hơn ba phút!
Ôi! chỉ vừa ba phút...

Một phát súng
rồi im lặng.
Viên đạn của Batista,
viên đạn đã trúng đích,
chấm hết diễn từ.
Và thế đó một lần nữa
nhạc rock'n'roll lại được phóng ra.
Chàng,
chàng nằm sóng sượt, cuộc đời hiến dâng
cho ba phút hạnh phúc,
ba phút sự thật.
Chàng nằm sóng sượt bất khuất.
Hỡi bạn trẻ thế giới, tôi muốn ngỏ lời cùng bạn.
Nếu ở một xứ nào dối trá cai trị
và nếu qua báo chí nó sống một lối sống hãi hùng,
thì xin hãy nhớ tới Manzana,
hỡi bạn trẻ.
Bạn cũng phải sống như thế
chứ không được lãng trí.
Hãy bước tới khổ hình,
hãy quên đời phẳng lặng
và tiện nghi.
và đừng bận tâm gì nữa ngoài việc nói ra,
dẫu chỉ là ba phút,
ba phút, sự thật!
Sau đó,
cái chết cứ việc tới.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
Mời xem thêm các tác phẩm của Evtushenco:
http://www.tienve.org/home/literatur...artworkId=2799
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Moskva84 (13-05-2010)
  #3  
Cũ 29-11-2007, 14:31
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default

Em thì đang ở nơi ... vùng sâu vùng xa, nhưng cũng hiểu rằng bài thơ trên khó tìm. Bằng chứng là khi em gõ cụm từ "три минуты правды" евтушенко thì Google cũng chỉ tìm được vài dòng. Em nghĩ rằng có thể đây là một phần của bài thơ trên, cũng có thể là toàn bài

ЕВГЕНИЙ ЕВТУШЕНКО

ТРИ МИНУТЫ ПРАВДЫ

Посвящается памяти кубинского
национального героя Хосе Антонио
Эчеварилья. Подпольная кличка его
была "Мансана", что по-испански
означает "яблоко".

Жил паренек по имени Мансана
с глазами родниковой чистоты,
с душой такой же шумной, как мансарда,
где голуби, гитары и холсты.

Любил он кукурузные початки,
любил бейсбол, детей, деревья, птиц
и в бешеном качании пачанги
нечаянность двух чуд из-под ресниц!

Но в пареньке по имени Мансана,
который на мальчишку был похож,
суровость отчужденная мерцала,
когда он видел ханжество и ложь.

А ложь была на Кубе разодета.
Она по всем паркетам разлилась.
Она в автомобиле президента
сидела, по-хозяйски развалясь.

Она во всех газетах чушь порола
и, начиная яростно с утра,
порой, перемежаясь с рок-н-роллом,
по радио орала — в рупора.

И паренек по имени Мансана
не ради славы — просто ради всех,
чтоб Куба правду все-таки узнала,
решил с друзьям взять радиоцентр!

И вот, туда ворвавшись с револьвером,
у шансонетки вырвав микрофон,
как голос Кубы, мужество и вера,
стал говорить народу правду он.

Лишь три минуты! Три минуты только!
И — выстрел. И — не слышно ничего.
Батистовская пуля стала точкой
в той речи незаконченной его.

И снова рок-н-ролл завыл исправно…
А он, теперь уже непобедим,
отдавший жизнь за три минуты правды,
лежал с лицом счастливо-молодым…

Я обращаюсь к молодежи мира!
Когда страной какой-то правит ложь,
когда газеты врут неутомимо, —
ты помни про Мансану, молодежь.

Так надо жить — не развлекаться праздно!
Идти на смерть, забыв покой, уют,
но говорить — хоть три минуты — правду!
Хоть три минуты!
Пусть потом убьют!

1962

Ý kiến cá nhân của em là dịch giả Diễm Châu dịch có hơi ... bịa một chút . Tất nhiên đó là một bản dịch khá tốt
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #4  
Cũ 29-11-2007, 14:34
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Cảm ơn Nina nhé, đúng là bản ấy đấy. Nhưng không hiểu tại sao dịch giả lại cho thơ của Evtushenco nhảy bậc thang thế nhỉ? Đã đành là Evtushenco có một thời gian chịu ảnh hưởng bởi Maiakovsky, nhưng trong bài này thì không hề.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #5  
Cũ 29-11-2007, 14:35
tykva tykva is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 822
Cảm ơn: 309
Được cảm ơn 998 lần trong 443 bài đăng
Default

Vì nhiều lý do tớ chẳng thích thơ của Evtushenko tí nào, nhưng hôm nay thì tớ lười không làm việc, với lại thấy dịch giả Diễm Châu nào đó bịa nhiều quá, tớ thử bịa ít hơn xem sao

Evgeni Evtushenko

Ba phút sự thật

Có một chàng trai tên là Mansana
Mắt trong veo như suối nguồn buổi sáng,
Hồn nghệ sĩ ồn ào như căn phòng áp mái
Nơi chim câu, ghita với hội họa sống chung.

Mansana thích những bắp ngô non ngọt ngào
Yêu dã cầu, trẻ con, chim chóc và cây cối
Đã không ít lần trái tim anh đập vội
Vì mắt ai vô tình liếc dưới hàng mi.

Dù ngoại hình vẫn giống một thiếu niên
Nhưng tâm hồn Mansana chín chắn,
Với những kẻ đạo đức giả và dối trá,
Anh nghiệt ngã nghiêm túc khác thường.

Mà dối trá ở Cuba thì vô cùng trắng trợn
Khắp các toà nhà công sở tràn lan,
Dối trá ngự trên xe riêng tổng thống,
Và ngả ngốn như chủ nhân đích thực.

Dối trá đầy khắp các trang nhật báo
Và bắt đầu từ sáng tinh sương
Lẫn trong các chương trình ca nhạc
Dối trá thét gào trên loa phóng thanh.

Và thế là chàng trai Mansana
Không vì vinh quang, đơn giản vì sự thật,
Mà anh muốn toàn Cuba được biết,
Cùng với các bạn mình chiếm đài phát thanh!

Vào phòng cách âm tay lăm lăm khẩu súng
Giật mic từ tay nữ ca sĩ thính phòng,
Bằng tiếng nói Cuba, niềm tin và dũng cảm
Anh nói sự thật với nhân dân.


Ba phút! Chỉ có ba phút thôi!
Tiếng súng vang. Sau đó là tĩnh lặng
Viên đạn của Batista đã trở thành dấu chấm
Hết câu. Dù anh còn nói dở dang

Rồi nhạc rock-n-roll lại vang vang...
Còn anh đã trở thành bất khuất
Mang đời mình đổi lấy ba phút cho sự thật
Anh ngã xuống hạnh phúc ngời gương mặt trẻ thơ...

Tôi muốn nói với thanh niên toàn thế giới!
Bất cứ đất nước nào dối trá vẫn hoành hành,
Khi báo chí nói dối không mệt mỏi –
Hãy nhớ gương Mansana, các bạn ơi!

Sống như anh - đừng mải miết chơi bời
Đối mặt với cái chết, quên tiện nghi êm ấm,
Nói sự thật, dù chỉ trong ba phút!
Chỉ ba phút thôi!
Rồi bị giết cũng cam lòng!

1962
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Moskva84 (13-05-2010)
  #6  
Cũ 29-11-2007, 14:37
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Cụ Nguyễn Hữu Đang vừa mất cách đây tròn một tháng, ngày 7/2/2007, thọ 94 tuổi. Cụ là Trưởng BTC ngày Lễ độc lập 2/9/1945, được coi là chủ soái của Nhân văn Giai phẩm... Xa hơn nữa, cụ là một trong những nhân vật chủ yếu của Hội truyền bá quốc ngữ. Tóm lại, cụ thật xứng đáng được Phùng Quán gọi là "bậc hào kiệt của đất nước" trong một bài viết có tên Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lậpin trong tập Ba phút sự thậtmà chúng ta đã nhắc ở trên.
Một bài viết thật xúc động. Đọc để hiểu thêm về một con người và số phận long đong của ông. Hungmgmi xin copy lại cho những ai chưa đọc:

Những ngày cuối năm, tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập

Tôi là người viết văn nhưng lại đặc biệt say mê nghệ thuật kiến trúc. Đầu năm 1990, Đại hội kiến trúc sư toàn quốc, tôi có gửi một bức điện 300 chữ, chào mừng Đại hội. Mở đầu bức điện văn, tôi viết: “Nếu đất nước xây dựng một Đền đài Nghệ thuật, tôi xin được làm thủ từ. Ngày Lễ hội, tôi xin được trải chiếu để văn nghệ sĩ ngồi.Chiếu một tôi dành riêng cho các kiến trúc sư. Vì các anh chị là những người trước tiên đem lại vinh quang, niềm tự hào hoặc ô nhục cho xứ sở, bằng chính các tác phẩm kiến trúc của mình...”. (Ở nhà tôi, ngoài hình ảnh) [1] Kim tự tháp, Vạn lí trường thành, Đền Ăngco, Chùa Vàng Miến Điện, Cố cung, Tháp Eiffel, Khải Hoàn Môn... tôi có chừng vài chục tấm hình cắt ra từ các báo như Nhân Dân, Quân Đội, Lao Động, Hà Nội Mới... chụp cảnh Lễ đài Độc lập với tổng thể vườn hoa Ba Đình trong ngày Mồng hai tháng Chín năm Một nghìn chín trăm bốn lăm. Mỗi lần ngắm nhìn cái công trình kiến trúc mỏng mảnh được xây dựng bằng gỗ, ván, đinh, vải; được thiết kế và thi công trong vòng 48 giờ - nếu chậm lại một giờ là hỏng - rồi sau đó biến mất khỏi mặt đất như một lâu đài trong cổ tích, cặp mắt mờ đục của người lính già tôi bao giờ cũng cay lệ. Lòng tôi dâng trào biết bao niềm cảm xúc và suy tưởng miên man ... về Tổ quốc và Nhân dân, về Cách mạng và Khởi nghĩa, về máu xương của lớp lớp anh hùng hào kiệt đã thấm đẫm giang sơn kể từ khi trên mặt đất xứ sở Việt Nam xuất hiện công trình kiến trúc mỏng manh này. Nó biến khỏi mặt đất, nhưng tầm vóc, hình dáng cùng với tổng chể kiến trúc của nó, đã tạc khắc đời đời vào kí ức của cả dân tộc...


Ba Đình nắng thu vàng rực rỡ, một biển người vừa bước từ đêm dài trăm năm nô lệ ra bình minh Độc lập Tự do, cờ hoa trong tay và câu hát trên môi... Người Hiệp sĩ vĩ đại của Nhân dân và hai triệu người chết đói, bước vào tuổi năm mươi lăm, râu đen, mắt sáng, lễ phục kaki... đứng trên lễ đài, mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập” bất hủ: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng...”

Ai có thể tái tạo công trình kiến trúc Lễ đài Độc lập cùng với tổng thể kì vĩ đó? Không một ai! Kể cả thánh thần... Theo ngu ý của tôi, Lễ đài Độc lập là cái cột mốc giữa đêm dài trăm năm nô lệ và bình minh của Độc lập Tự do của cả dân tộc. Kể từ khi trên mặt cỏ nắng Ba Đình mọc lên cái cột mốc này, số phận của cả dân tộc đã thay đổi, và số phận nhỏ bé, hèn mọn của cả thằng tôi cũng đã thay đổi. Từ một đứa trẻ chăn trâu mù chữ tôi đã trở thành một nhà văn... Cũng từ cái mốc kiến trúc mỏng manh này, cả dân tộc đã xuất phát, bước vào cuộc trường chinh sáng láng nhất, lâu dài nhất và dữ dội nhất của thế kỉ, với gánh nặng lịch sử trên vai: “Ta vì ta ba chục triệu người/ Cũng vì ba ngàn triệu trên đời” [2].


Ngắm nhìn một công trình kiến trúc như vậy, những người lính già dãi dầu chiến trận chúng tôi, làm sao không ứa lệ tự hào?




*



Vậy ai là tác giả cụ thể công trình kiến trúc Lễ đài Độc lập? Từ mấy chục năm nay, tôi luôn bị thôi thúc bởi niềm mong ước tìm hiểu cho ra. Nhưng cái khó bó cái khôn, và trong điều kiện và hoàn cảnh trắc trở của đời mình, tôi không sao thực hiện nổi niềm mong ước đó.


Thế rồi cách đây ba năm, tôi được một người bạn tặng tôi những tư liệu có liên quan đến sự kiện lịch sử mồng 2 tháng 9.1945 anh vừa tìm thấy trong Thư viện Quốc gia, Thư viện Bảo tàng Lịch sử, Viện Sử học, Viện Khoa học Xã hội Việt nam, và kho Lưu trữ Quốc gia. Trong số những bản sao chụp, có mấy tư liệu tôi đặc biệt chú ý:

Thư của Bộ tuyên truyền có tiêu đề VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ đề ngày 31.8.1945 gửi Thị trưởng Hà nội, về việc tổ chức Ngày Độc lập (Đây là bản chính được đánh máy bằng giấy than đen trên giấy trắng, khổ rộng 130 mm X 210 mm, đóng dấu tròn với dòng chữ “Ngày Độc lập” và C.P.C.H.D.C. vòng quanh con dấu, một ngôi sao năm cánh ở giữa, nổi lên dòng chữ BAN TỔ CHỨC). Nội dung thư:


„Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội,

Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Lâm thời sẽ tổ chức ngày 2.9.1945 một “Ngày Độc lập”.
Muốn cho ngày ấy có một tính cách thiêng liêng, Ban tổ chức chúng tôi yêu cầu Ngài hạ lệnh cho các chùa chiền, nhà thờ cho mở cửa, quét tước sạch sẽ và đốt trầm hương suốt ngày hôm ấy để mừng Ngày Độc lập.

Kính thư,

Nguyễn Hữu Đang”


Một thư khác của Ban Tổ chức “Ngày Độc lập” thuộc Bộ Thông tin và Tuyên truyền, đề ngày 31.8.1945. Hình thức và con dấu như trên. Nội dung thư:


„Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội,

Nhân “Ngày Độc lập”, chúng tôi yêu cầu Ngài cho treo cờ ở vườn hoa Ba Đình và hai bên những phố lân cận.
Còn về lễ chào Quốc kỳ, chúng tôi nhờ Ngài cho sửa soạn cho chúng tôi một chiếc cột cao 12 thước tây đủ cả giây và bánh xe (poulie); sẽ có chỉ thị về chỗ dựng cột cho phu toà Thị chính.


Kính thư,

Nguyễn Hữu Đang”


Một thư khác, hình thức, tiêu đề và con dấu giống hai bức thư trên, với nội dung:


„Kính gửi ông Thị trưởng Hà Nội,

Muốn cho Ngày Độc lập tổ chức vào ngày 2.9.1945 tới đây được hoàn hảo, chúng tôi yêu cầu Ngài thông báo ngay cho các Phố trưởng để các ông ấy báo tin cho các nhà trong khu vực mình biết rằng Cụ nào trong nam giới hay nữ giới muốn đi dự lễ ấy sẽ đến họp ở Hội quán Khai trí hồi 13 giờ trước khi đi lên vườn hoa sau Sở tài chính.


Kính thư,

Nguyễn Hữu Đang”


Sau khi đọc kỹ những tư liệu trên, tôi suy luận: ông Nguyễn Hữu Đang là Trưởng ban tổ chức Ngày Độc lập, vậy chắc ông phải biết ai là tác giả công trình kiến trúc Lễ đài. Cần phải tìm gặp ông để hỏi cho ra.



*




Anh Nguyễn Hữu Đang thì tôi được biết mặt từ mấy chục năm trước, nhưng rất ít khi được chuyện trò với anh. Mỗi lần tôi được anh hỏi chuyện, tôi bối rối, sướng mê nguời, đầu không khiến mà chân cứ rụt về tư thế đứng nghiêm, như ngày còn làm trinh sát mỗi lần được Chính uỷ Sư đoàn hỏi chuyện. Tôi nghĩ bụng: Tôi là cái thá gì mà được một người như Nguyễn Hữu Đang hỏi chuyện? Nguyễn Hữu Đang, người tham gia hoạt động cách mạng từ khi tôi chưa đẻ; nhà hoạt động báo chí công khai của Đảng cùng thời với Trường Chinh, Trần Huy Liệu; một trong những người tổ chức và lãnh đạo chủ chốt của Hội Truyền bá Quốc ngữ cùng thời với Phan Thanh, cụ Nguyễn Văn Tố. Một trong những người sáng lập và tổ chức Hội Văn hoá Cứu quốc cùng với Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Đình Thi. Và cuối cùng là Trưởng ban Tổ chức ngày Đại lễ của Đất nước: 2-9-1945.

Cách đây khoảng mười lăm năm, anh từ cao nguyên Hà Giang trở về, tá túc tại quê nhà. Hàng năm vào dịp giáp Tết, lại thấy anh đáo lên Hà Nội trên chiếc xe đạp thiếu nhi Liên Xô (cũ). Anh mang đến cho mấy bạn cũ mỗi người một cân gạo nếp. Một lần tôi cũng được anh cho một cân. Tôi cảm động và ngạc nhiên hỏi anh: “Anh kiếm đâu ra gạo nếp mà cho chúng em thế?”. Anh cười: “Mình sống ở nông thôn cũng phong lưu ra phết. Không những có gạo nếp biếu bạn, lại còn có cả thóc và rơm cho nông dân vay”. - “Hiện nay anh đang làm gì ở dưới đó?”. “Mình nghiên cứu Lão Trang và dịch lại cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên xô qua bản tiếng Pháp. Đối chiếu thấy bản dịch đã in sai nhiều quá” [3].


Hai năm trở lại đây không thấy anh lên Hà Nội nữa. Mấy anh em quen cũ chúng tôi hỏi nhau: “Không biết anh Đang có gặp chuyện gì trắc trở dưới đó không?”


Nỗi lo lắng này thường xuyên ám ảnh tôi. Nhân thể tôi muốn tìm hiểu về công trình Lễ đài Độc lập, năm đó tôi nhất quyết phải về thăm anh, mặc dầu đã gần giáp Tết. Tôi nói khó với vợ: “Em bớt cho anh một phần lương hưu tháng này; lấy tiền tàu xe, ăn đường, về Thái Bình tìm thăm anh Đang...” “Nhưng tết nhất đến nơi rồi, chờ ra giêng anh đi có được không?”. “Anh bỗng nhiên thấy nóng ruột quá... đợi đến ra giêng e chậm mất. Anh Đang đã gần cái tuổi tám mươi, mà lại một thân một mình...”. “Anh có biết địa chỉ của anh Đang không?”. “Anh chỉ biết anh ấy ở Thái Bình, địa chỉ cụ thể thì không biết”. “Cả cái tỉnh Thái Bình rộng mênh mông với hơn hai triệu dân, không có địa chỉ cụ thể làm sao anh tìm được?”. “Trời đất! Một người như anh Nguyễn Hữu Đang thì anh tin rằng về dưới đó hỏi đứa con nít nó cũng biết”. Vợ tôi đành trao cho tôi nửa số tiền lương hưu tháng cuối năm vừa lĩnh, với vẻ mặt nhẫn nhịn của người vợ phải trao cả một nửa sản nghiệp cho chồng tiêu hoang vào một việc không đâu! Tôi vội nhét mấy tờ giấy bạc vào túi, nhảy lên xe đạp, cắm đầu đạp thẳng ra ga vì sợ vợ thay đổi ý kiến.


Vừa đi tàu, vừa ô-tô, xe đạp... sáng 26 Tết, tôi có mặt tại thị xã Thái Bình. Để đỡ bớt thì giờ tìm kiếm, tôi hỏi đường đến Sở văn hoá và Hội văn nghệ tỉnh, hỏi địa chỉ của anh. Tôi thực sự ngạc nhiên khi thấy nhiều anh chị em cán bộ ở hai cơ quan này không biết Nguyễn Hữu Đang là ai. Có vài người biết nhưng lại rất lơ mơ: “Hình như ông ta ở Quỳnh Phụ, Kiến Xương hay Tiền Hải gì đó...”. Ở Hội văn nghệ tỉnh, tôi làm quen với một nhà thơ trẻ. Khi biết rõ ý định của tôi, anh hăng hái nói: “Cháu sẽ đưa chú ra cái quán thịt chó nổi tiếng, ở đó thường có mấy anh cán bộ về hưu, chắc sẽ hỏi ra”. Đến quán thịt chó, tôi đành móc số tiền còm cõi trong túi, gọi một đĩa thịt chó luộc và hai chén rượu cho phải phép. Đợi chừng nửa tiếng, có một người đứng tuổi để chiếc xe cúp trước cửa, đi vào quán. Nhà thơ trẻ bật dậy nói với tôi: “Ông này ở cơ quan an ninh tỉnh, hỏi chắc biết”. Tôi vội níu tay anh lại, dặn nhỏ: “Cậu đừng giới thiệu mình là ai, sẽ rách việc”. “Biết rồi, biết rồi, chú không phải dặn”. Anh bạn trẻ đi đến gặp anh ta, nói cái gì đó, và chỉ tay về phía tôi. Anh cán bộ an ninh tươi cười bắt tay tôi, ngồi đối diện và niềm nở hỏi: “Xin lỗi cụ, năm nay cụ hưởng thọ bao nhiêu tuổi ạ?”. Tôi đoán chắc anh ta thấy tôi ăn vận nhếch nhác – áo quần bà ba nâu, chân dép lốp – râu tóc bạc trắng, nên hỏi vậy. Tôi liền nói phứa lên: “Cám ơn đồng chí – tôi cười – cũng thất thập cổ lai hi [4] rồi đồng chí ạ”. “Trước cụ công tác ở đâu ạ?”. “Tôi làm thường trực cho một cơ quan thương nghiệp trên Hà Nội... về hưu đã gần chục năm rồi”. “Cụ là thế nào với ông Nguyễn Hữu Đang ạ?”. “Tôi có quen biết gì ông ta đâu. Thậm chí cũng chưa biết mặt. Chẳng là ở tổ hưu của tôi có một cụ nghe đâu hồi bí mật cùng hoạt động với ông ta. Biết tin tôi về thăm đứa cháu họ công tác giáo viên ở Quỳnh Côi, ông cụ gửi tôi mười ngàn bạc để biếu ông ấy, mà giao hẹn phải đưa tận tay. Tôi tưởng ông ấy ở thị xã, hỏi loanh quanh mãi không ai biết...”. Anh cán bộ cười: “Ông ấy đâu có ở thị xã. Hiện ông ấy đang ở thôn Trà Vỵ, xã Vũ Công, huyện Kiến Xương... cách đây gần hai chục cây số. Ngược gió này mà cụ đạp xe về đó cũng vất vả đấy...”. Thấy tôi chăm chú lắng nghe, anh cán bộ trở nên cởi mở: “Nói để cụ biết, trước kia cái ông Đang ấy cũng là người hoạt động cách mạng có tên tuổi... Nhưng rồi ông ta giở chứng, làm báo làm văn chống đối Đảng và Nhà nước, bị xử phạt 15 năm tù ngồi, đưa lên giam trên trại tù Hà Giang. Mãn hạn tù, ông ta xin về cư trú tại quê quán. Tuy vậy (cách đây mấy năm ông Đang này tự tiện đi) sang Nam Định không có giấy đi đường, đến nhà một đối tượng mà công an đang theo dõi. Công an hai tỉnh liền phối hợp, hỏi giấy tờ đi đường của ông ta, rồi bắt giam giữ bốn tháng ở nhà lao hai tỉnh để cảnh cáo, và tổ chức khám nhà. Sau đó thả cho về...”. Tôi tỏ ý sợ hãi gãi đầu gãi tai: “Chà... biết rắc rối thế này thì tôi chẳng gặp ông ấy nữa... đem tiền về trả lại thôi...”. Anh cán bộ xuê xoa: “Không sao đâu cụ ạ, chính sách của ta bây giờ là đổi mới tư duy. Nghe đâu trên cũng đang sửa soạn cho ông ấy được hưởng lương hưu. Nếu cụ muốn về thăm ông ấy, cứ việc về. Tôi sẽ chỉ đường cho cụ”. Anh cán bộ chấm ngón tay vào li rượu, vẽ lên mặt bàn, chỉ vẽ cho tôi rất cặn kẽ con đường từ thị xã về chỗ anh Đang tá túc. Tôi đứng lên rối rít cảm ơn anh...
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #7  
Cũ 29-11-2007, 14:38
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

(Tiếp theo)



Con đường đá mười mấy cây số chi chít ổ gà. Gió cuối đông buốt như kim châm táp thẳng vào mặt. Nhưng vừa đạp xe tôi vừa nghĩ ngợi miên man về sự thăng trầm của những kiếp người tình nguyện dấn thân vì nghĩa lớn, nên con đường cũng như bớt xa... Đến chỗ ngã ba rẽ vào trường phổ thông cấp I, II xã Vũ Công – Nơi anh Đang tá túc – tôi vào cái quán bên đường uống li rượu cho ấm bụng. Ông cụ chủ quán khi biết tôi từ Hà Nội về tìm thăm anh Đang, rót rượu tràn li và nói: “Ông ấy thỉnh thoảng vẫn ngang qua đấy, tôi đều mời vào uống nước. Ông ấy tằn tiện khét tiếng cái xã Vũ Công này. Mới cách đây dăm hôm, ông ấy đèo sau xe cái rỏ tre ràng buộc rất kỹ. Ông ấy kể với tôi tối qua bắt được con rắn gì dữ lắm, phun phè phè bò vào nhà mình. Định làm thịt ăn nhưng tiếc, chở lên chợ bán cho một tay buôn rắn độc, kiếm lấy mấy nghìn mua mấy lạng mỡ lá...”. Tôi bật phì cười: “Ông ấy bây giờ lại thêm cái tài bắt rắn độc, mà mất công đạp xe mini những mười mấy cây số để đổi lấy mấy lạng mỡ lá... Vui thật! Tôi có người bạn làm thơ tên là Tuân Nguyễn, chết lâu rồi, làm câu thơ nghe thật vô nghĩa, nhưng cứ bất chợt hiện ra trong trí nhớ tôi: Cuộc đời vui quá không buồn được!”. Ông chủ quán rót thêm li rượu nữa, giọng hào hiệp: “Li này tôi đãi cụ!... Mà khổ, ông ấy có bán được đâu. Chiều tối ông ấy đạp xe về phàn nàn: nó không chịu mua, nó bảo loại rắn này không nằm trong bộ tam xà!”. Tôi cười ngất.


Anh Đang ở gian đầu hồi cái nhà bếp của khu tập thể giáo viên, trước mặt là ao cá Bác Hồ của xã. Đứng bên kia bờ ao, một cô giáo chỉ cho tôi: “Bác ấy đang ngồi ở bậc cầu ao kia kìa! Đang cọ rửa cái gì mà chăm chú thế không biết...”. Tôi dắt xe đạp qua sân trường, vòng ra sát sau lưng anh. Anh đang dùng nắm rơm cọ rửa những viên gạch vỡ đôi, xếp thành chồng cao cạnh chỗ ngồi. Tôi đứng lặng nhìn anh. Đầu anh đội cái mũ cối méo mó, khoác cái ruột áo bông thủng be bét, quần lao động màu cháo lòng, hai ống chân ôm vòng hai dây cao su đen nom như vòng cùm sắt; chắc hẳn để nhét hai ống quần vào đó chống rét, lưng anh khòng hình chữ C viết nghiêng... Tôi chợt nhớ cách đây rất lâu, tôi được nghe những người cùng thời với anh kể. Hồi Mặt trận Bình dân, Nguyễn Hữu Đang là cán bộ Đảng được cử ra hoạt động công khai, ăn vận sang trọng như công tử loại một của Hà thành, thắt cà vạt đỏ chói, đi khắp Trung Nam Bắc diễn thuyết, oai phong, hùng biện, tuyên truyền cách mạng... Mỗi lần cách mạng cần tiền để hoạt động, Nguyễn Hữu Đang có thể đến bất kì một nhà tư sản Hà Nội nào giàu có, vay vàng, tiền. Mà những người này trao vàng, tiền cho anh đều không đòi hỏi một thứ giấy tờ gì, vì họ tin sâu sắc rằng trao vàng, tiền cho anh là trao tận tay cho cách mạng... Và bây giờ, anh ngồi đó, gần tám chục tuổi, không vợ, không con, không cửa không nhà, lưng khòng chữ C viết nghiêng, tỉ mỉ cọ rửa những viên gạch vỡ - chẳng hiểu để làm gì – như người bõ già trong truyện „Hương cuội“ của Nguyễn Tuân cọ rửa những viên cuội trắng để tẩm kẹo mạch nha vào dịp tất niên... Miên man nghĩ như vậy và tôi bật phì cười... “Anh Đang!”, tôi nghẹn ngào gọi. Anh quay lại, chớp chớp mắt, răng vàng sỉn, cùn mòn gần nửa vì năm tháng... “Phùng Quán! Chú về đây từ lúc nào thế?”. Hai anh em chúng tôi ôm chặt nhau giữa bậc cầu ao. Và cả hai gương mặt già nua phút chốc đẫm lệ...
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #8  
Cũ 29-11-2007, 14:39
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Cái chái bếp căn hộ độc thân của anh rộng chỉ khoảng 5 mét vuông, chật kín những tư trang, đồ đạc. Mấy cây sào ngọn tre gác dọc ngang sát mái, treo vắt cả chục cái khăn mặt rách xơ như giẻ lau bát, áo may-ô thủng nát, quần lao động vá víu. Cạp quần đeo lủng lẳng một chùm lục lạc làm bằng vỏ hộp dầu cao Sao vàng xuyên thủng, buộc dây thép, bên trong có hòn sỏi nhỏ. Đụng vào, chùm lục lạc rung lên leng keng, nghe rất vui tai. Sau đó tôi được anh giải thích tác dụng của chùm lục lạc: Đi lại trong đường làng những đêm tối trời, anh thường bị cánh thanh niên đi xe đạp, xe máy phóng ẩu đâm sầm vào, làm anh ngã trẹo tay, sầy gối. Học tập sáng kiến của đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc, treo mõ vào cổ trâu – trâu gõ mõ, chó leo thang – anh Đang chế chùm lục lạc đeo vào cạp quần, báo hiệu có người để họ tránh xe. Tác dụng thứ hai, quan trọng không kém... Mỗi lần đạp xe trên đường vắng, nghe tiếng lục lạc loong coong ngang thắt lưng, tự nhiên cảm thấy đỡ cô độc. Chính giữa gian chái kê cái tủ gỗ tạp nhỏ, hai cánh mọt ruỗng không khép kín được, khoá một chiếc khoá lớn như khoá nhà kho. Trên nóc tủ, xếp một chồng mũ cối, mũ vải, mũ lá mà ở Hà Nội người ta thường quẳng vào các đống rác. Cạnh tủ là một cái giường cá nhân, bốn chân giường được thống cố thêm bốn chồng gạch. Trên giường một đống chăn bông trần rách thủng, và một xấp quần áo cũ làm gối.... Sát chân giường kê chiếc bàn xiêu vẹo chỉ có hai chân, hai chân kia được thay bằng hai sợi dây thép buộc treo vào tường. Anh nói, giọng Lão Trang: “Một cái bàn bốn chân là một con vật. Khi nó chỉ còn hai chân nó là một con người”. Trên mặt bàn xếp kín các chai lọ, vỏ đồ hộp, vài con dao làm bằng mẩu thép vụn. Anh chỉ vào vài cái "hòm" được xếp bằng những viên gạch vỡ, như thuyết minh viên gSiới thiệu hiện vật trong bảo tàng nghệ thuật: “Nó là loại gạch nung rất già, gần đạt tới tiêu chuẩn của sành sứ cổ, sức nặng và độ bền của nó làm cho các loại chuột, mối, dán phải vị nể”. Bây giờ tôi mới hiểu anh cọ rửa những viên gạch vỡ để làm gì. Dưới gầm bàn là mấy chục đôi dép cao su hư nát, đứt quai, được bó thành từng bó, hai cái vại muối dưa rạn nứt, sứt miệng, một đống bản lề cửa, sắt vụn, đinh còng queo, mẩu dây thép han rỉ... Tất cả những đồ lề đó, phủ lên một lớp bụi tro... Lúc tôi bước vào, gian buồng mờ mịt khói. Anh giải thích: “Giờ này các cô giáo nấu ăn. Bếp tập thể ở sát bên kia tường. Tôi đã trộn rơm với bùn trát những khe hở sát mái, nhưng khói vẫn cứ lọt sang – anh cười - Chịu khói một chút nhưng cũng có cái lợi. Thỉnh thoảng lại được ngửi mùi xào nấu lẫn với khói, cái mũi được bồi dưỡng. Trong việc dở nào cũng có việc hay, và ngược lại”. “Để em đạp xe ra chợ mua cái gì về ăn”. “Thôi khỏi cần. Chú về chơi hôm nay là rất gặp may. Sáng nay tôi vừa chế biến được một mẻ thức ăn ngon vô địch. Chú nếm rồi sẽ biết. Cơm cũng có sẵn rồi. Tôi mới nấu lúc sáng, ủ vào lồng ủ rơm, còn nóng nguyên. À, tôi lại có cả rượu cho chú, rượu cam hẳn hoi, quà của Hội Nhà văn gửi biếu vào dịp Tết năm ngoái... Tôi chỉ mới mời mấy thầy giáo mấy chén, còn đủ cho chú say sưa suốt mấy ngày ở chơi”. Anh xăng xái lấy chùm chìa khoá buộc chung với chùm lục lạc, mở khoá tủ tìm chai rượu. Tôi liếc nhìn vào mấy ngăn tủ. Những xấp quần áo cũ nát để lẫn với những chồng báo, giấy má, sách... ố vàng. Ngăn dưới cùng để rất nhiều chai lọ, vỏ đồ hộp, vỏ lon bia, và nhiều chồng các loại bao thuốc lá. Anh lúi húi tìm một lúc khá lâu mới lôi ra được chai rượu cam còn già nửa: “Đây rồi! Bây giờ già hoá ra lẩm cẩm. Để chỗ này lại tìm sang chỗ kia”. Tôi cười, nói: “Nhìn anh, em cứ tưởng là một nhà quí tộc Nga thời Sa Hoàng, tự tay tìm chọn loại rượu quí cất giữ một trăm năm trong hầm rượu, để đãi khách quí”. Tôi chỉ những chồng vỏ bao thuốc lá, hỏi: “Anh chơi sưu tập vỏ bao thuốc lá à? Thế mà vợ em ở nhà khi em hút xong, cô ấy phải dọn nhặt đem đốt”. Anh kêu lên: “Thế có tiếc không! Lần này chú về trên đó nhớ dặn cô, có vỏ bao thuốc là ngoại cứ cất giữ cho anh Đang, càng nhiều càng tốt. Nó là hàng đối lưu của tôi đấy...”. “Hàng đối lưu?”, tôi ngạc nhiên hỏi. “Để tôi dọn cơm cho ăn rồi tôi giảng cho chú nghe thế nào là hàng đối lưu. Tôi xem ra chú mù tịt về môn kinh tế chính trị học”. Tôi ngắm nhìn căn hộ độc thân đầy khói của anh, hỏi: “Hơn mười lăm năm qua anh vẫn sống ở gian buồng này à?”. “Ngày tôi mới về xã, tôi sống ở trại lợn của Hợp tác xã. Chẳng là cán bộ xã cũng thông cảm hoàn cảnh khó khăn của tôi, nên đề nghị tôi ra đó trông coi giúp như nhân viên thường trực của trại. Ở đó một thời gian. Nhà kho cũng thoáng mát, tôi có thể ăn ở, đọc sách, viết lách kết hợp với trông coi trại. Mỗi mùa hợp tác xã trả công điểm mấy chục cân thóc, mấy chục cân rơm làm chất đốt. Số thóc, rơm này tôi không phải dùng đến, trong mấy năm tiết kiệm được hai ba tạ thóc, hai trăm sáu chục cân rơm cho bà con vay. Ngoài ra, vào dịp tết, Hợp tác xã bồi dưỡng thêm ít thóc nếp, đem lên Hà Nội biếu các chú... Khi bắt tay vào việc dịch thuật lại cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, tiếng lợn kêu âm ĩ quá làm tôi mất tập trung tư tưởng, nên phải xin thôi công việc trông coi trại, chuyển về đây để được yên tĩnh hơn”.

Anh lôi dưới gầm giường ra một cái xô tôn thủng đáy, đặt lên miệng xô tấm gỗ dán. “Đây là bàn ăn – anh giới thiệu và vần tiếp ra hai cái vại muối dưa sứt miệng – Còn đây là ghế ngồi. Bà con nông dân mình nghèo mà phí phạm thế đấy. Hai cái vại còn tốt như thế này mà đem quẳng bụi tre... Tôi nhặt về, cọ rửa sạch sẽ, lật đít lên, làm thành cái ghế ngồi vừa vững chãi lại vừa mát. Chú ngồi thử mà xem, có khác gì ngồi trên đôn sứ đời Minh?”. Anh dọn ra hai cái đĩa, rồi chọn trong hai cái bát hương đậy viên gạch vỡ gắp ra năm sáu viên gì đó tròn tròn, đen xỉn, nom rất khả nghi. Anh chỉ vào một đĩa, giới thiệu thực đơn: “Đĩa này là chả cóc, đĩa này là chả nhái. Nhờ ăn thường xuyên hai thứ đặc sản này mà tôi rất khoẻ, còn khoẻ hơn cả chú”. Anh nhắc trong cái rổ phủ đầy rơm để ở góc nhà, xoong cơm đã ăn mất một góc mà anh giới thiệu vẫn nóng nguyên. Nói đúng hơn là một thứ cháo rất đặc, có thể xắn thành từng miếng như bánh đúc. “Ba năm trở lại đây, tôi phải ăn cơm nhão, nếu ăn cơm khô thì bị nghẹn. Tôi nấu cơm với nước vo gạo nên rất bổ. Chẳng là các cô giáo thường bỏ phí nước vo gạo. Tôi đưa cho các cô cái chậu, dặn đổ nước vo gạo vào đấy cho tôi, để tôi chắt ra nấu lẫn với cơm. Tinh tuý của gạo nằm trong nước vo, bỏ đi thật phí phạm”. “Nhưng cóc nhái đâu ra mà anh bồi dưỡng được thường xuyên thế?”, tôi hỏi. “Ấy chỗ này mới là bí quyết. Phải huy động lực lượng quần chúng, tức là các cháu thiếu nhi. Biết các cháu ở đây thích chơi vỏ bao thuốc lá, nhất là các loại vỏ bao đẹp. Mỗi lần lên thị xã hoặc sang Nam Định chơi, tôi đều nhặt nhạnh về, đổi cho các cháu lấy cóc, nhái. Cũng đề ra tiêu chuẩn hẳn hoi. Một vỏ bao ba số [5] đổi 3 con cóc hoặc 5 con nhái. Các loại khác 2 cóc, 3 nhái. Bởi vậy tôi mới nói là hàng đối lưu, chú hiểu chưa. Mỗi tháng tôi chỉ cần ba bốn chục cái vỏ bao là thừa chất đạm, mà là loại đạm cao cấp… Hôm nào chú về tôi gửi biếu cô, chú Cung [6], mỗi nhà mấy viên nếm thử. Cô chú ăn thịt cóc của tôi rồi sẽ thấy các thứ thịt khác đều nhạt hoét!”.

Anh rót rượu, chọn gắp viên chả cóc, nhái bỏ vào bát cho tôi, ân cần, âu yếm, trang trọng, làm tôi ứa nước mắt. Anh hỏi: “Chú đi đâu mà lại lặn lội về tận đây, vào lúc tết nhất sắp đến nơi?”. “Em về đây chỉ một mục đích là thăm anh. Hơn hai năm nay không thấy anh lên Hà Nội, chúng em rất lo. Không biết anh ốm đau gì, liệu anh có còn sống không? Về đây thấy anh vẫn khoẻ mạnh, em rất mừng… Anh là nhân chứng của một quá khứ hào hùng của đất nước. Nếu anh chết đi, tàn lụi như cỏ cây, không nhắn gửi gì lại cho các thế hệ sinh sau, theo em là một tổn thất không gì bù đắp được…”. Tôi lấy đưa anh xem số tài liệu liên quan đến ngày Đại lễ mồng 2 tháng 9 năm 1945, vừa sao chụp: “ Em suy luận ra anh là Trưởng ban Tổ chức Ngày Độc lập như trong tư liệu hiện còn giữ được. Em muốn được tận tai nghe anh kể lại những kỉ niệm, những hồi ức mà anh cho là sâu sắc nhất… mà nếu anh không dùng đến thì cho em xin”.

Anh im lặng rất lâu, dùng đũa tém lại những mảnh vụn thịt cóc, nhái trong đĩa, gắp bỏ vào bát mình những mảnh khác rớt xuống mâm ván. Anh chăm chú nhìn vào cái đĩa đã tém gọn, như đang gắng đọc những hồi ức in lại trong lớp men sành… Anh chợt nói, mắt vẫn không rời cái đĩa:

“Thấm thoắt thế mà đã bốn mươi bảy năm trôi qua… Tôi còn nhớ như in ngày hôm đó là ngày 28 tháng 8… Tại sao tôi nhớ, vì đó là thời khắc lịch sử phải được tính từng phút một… Năm đó tôi bước vào tuổi băm ba. Chính phủ cách mạng lâm thời họp tại Bắc Bộ phủ, để quyết định ngày lễ ra mắt quốc dân đồng bào… Hôm đó, tôi có việc cần phải giải quyết gấp, nên đến nơi thì phiên họp vừa giải tán. Vừa bước lên mấy bậc thềm thì thấy cụ Nguyễn Văn Tố từ trong phòng họp đi ra. Cụ mừng rỡ chụp lấy tay tôi, nói: “Anh vào ngay đi, cụ Hồ đang đợi anh trong đó”. Tôi theo cụ Tố vào phòng họp. Đó là lần đầu tiên tôi được gặp mặt ông Cụ. Ông Cụ ngồi ở ghế tựa, mặc bộ quần áo chàm, tay chống lên ba toong. Cụ Tố kéo tôi lại trước mặt Cụ, giới thiệu: “Thưa Cụ, đây là ông Nguyễn Hữu Đang, người mà phiên họp quyết định cử làm Trưởng ban Tổ chức ngày lễ”. Cụ Hồ nhìn tôi một lúc với cặp mắt rất sáng, cặp mắt mà về sau này nhân dân cả nước đồn rằng có bốn con ngươi – như muốn cân nhắc, đánh giá người mà Cụ quyết định giao trọng trách. Cụ hỏi tôi với giọng Nghệ pha, rất giống giọng cụ Phan Bội Châu mà có lần tôi đã được nghe: “Chính phủ lâm thời quyết định làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào vào ngày mồng hai tháng chín. Chú có đảm đương được việc tổ chức buổi lễ không?”. Tôi tính rất nhanh trong đầu: tháng 8 có 31 ngày, như vậy là chỉ còn 4 ngày nữa thôi... Tôi suy nghĩ cân nhắc trong từng phút. Hình dung ra tất cả những khó khăn như núi mà tôi phải vượt qua... để tổ chức được một ngày đại lễ như vậy, trong khi mình chỉ có hai bàn tay trắng. Tôi nói với Cụ Hồ: “Thưa Cụ, việc cụ giao là quá khó vì gấp quá rồi”. Cụ Hồ nói ngay: “Có khó thì mới giao cho chú chứ!”. Anh Đang ngẩng phắt lên nhìn tôi. Vẻ già nua cùng quẫn trên con người anh như được trút bỏ hết. Dáng dấp oai phong, khí phách của người chiến sĩ cách mạng luôn luôn đứng ở hàng xung kích lại hiện nguyên hình.

“Như chú biết đấy - giọng anh vụt trở nên sang sảng – tôi là một nhà tuyên truyền, động viên thiên hạ, chuyên nghiệp. Thế mà lần này tôi lại bị ông cụ động viên một cách tài tình, bằng một lời thật ngắn gọn, giản dị! Nghe ông Cụ nói vậy lúc đó tôi thấy trong con người mình bừng bừng khí thế, muốn lập nên được những kì tích, những chiến công thật vang dội... Tôi nói với ông Cụ: “Thưa Cụ, Cụ đã nói như vậy con xin nhận nhiệm vụ. Con xin hứa sẽ cố gắng hết sức để hoàn thành trọng trách”. Cụ Hồ đứng lên, bắt tay tôi, dáng bộ, gương mặt nom rất vui vẻ, bằng lòng: “Thế thì chú trở về bắt tay ngay vào việc đi. Đến sáng ngày kia, chú đến đây báo cáo với tôi công việc được tiến hành như thế nào”. Tôi chào Cụ, ra về, lòng rạo rực lâng lâng... Nhưng khi vừa bước xuống hết những bậc thềm rộng thênh thang của Bắc Bộ phủ, tôi chợt nghĩ ra một điều. Tôi liền quay trở lại phòng họp. Cụ Hồ vẫn còn đứng đó. Cụ hỏi ngay: “Chú còn cần gì nữa?”. “Thưa Cụ, để hoàn thành trọng trách, xin Cụ trao cho con một quyền...”. “Quyền gì, chú cứ nói đi!”. “Thưa Cụ, quyền được huy động tất cả những gì cần thiết cho buổi lễ, về người cũng như về của...”. “Được, tôi trao cho chú cái quyền đó. Nếu ai hỏi huy động theo lệnh của ai, cho phép chú được trả lời: Theo lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh!”.

Công việc đầu tiên là tôi thảo một thông cáo ngắn gọn – anh gắp thêm mấy viên chả cóc trong bát hương, bỏ ra đĩa rồi kể tiếp - Nội dung như sau: ngày 2 tháng 9 năm 1945. Chính phủ cách mạng lâm thời sẽ làm lễ ra mắt quốc dân đồng bào, tuyên ngôn Độc lập tại vườn hoa Ba Đình. Đồng bào nào có nhiệt tâm, muốn đóng góp sức, góp của vào việc tổ chức ngày lễ lịch sử trọng đại này, xin mời đến Hội quán Trí Tri phố Hàng Quạt gặp Ban tổ chức. Thông cáo được gửi ngay đến tất cả các báo hàng ngày, yêu cầu đăng lên trang nhất, với hàng tít thật lớn chạy hết trang báo. Sáng hôm sau, đồng bào tập hợp trong ngoài chật kín Hội quán. Người ghi tên vào các công tác, người góp tiền, góp vàng, góp vải vóc, gỗ ván. Nhiều người từ chối không lấy giấy biên nhận: “Biết bao anh hùng, liệt nữ đóng góp cho nền độc lập của dân tộc, đâu có lấy giấy biên nhận“, họ nói vậy. Tôi mời mọi người dự cuộc họp chớp nhoáng, và đưa ra ý kiến: Việc cần thiết trước tiên là phải dựng một lễ đài Độc lập thật đẹp, thật lớn, thật uy nghi, xứng đáng với ngày lịch sử trọng đại này, tại trung tâm vườn hoa Ba Đình để Chính phủ cách mạng lâm thời đứng lên ra mắt. Vậy đồng bào nào hiện có mặt tại đây có thể đảm nhiệm trọng trách đó? Một người trạc ngoài ba mươi, ăn mặc lối nghệ sĩ, đeo kính trắng, bước ra nói: “Tôi là hoạ sĩ Lê Văn Đệ. Tôi xin tình nguyện nhận việc dựng lễ đài. Trưa nay tôi sẽ mang bản phác thảo lễ đài đến ban tổ chức xem xét”. Tôi bắt tay hoạ sĩ, nói: “Tôi được biết tên tuổi anh từ lâu và cũng nhiều lần được xem tranh của anh. Tôi xin thay mặt Ban tổ chức hoan nghênh nhiệt tâm đóng góp của anh. Nhưng Lễ đài Độc lập là một công trình kiến trúc, tuy dựng gấp rút, tạm thời, nhưng phải đạt những tiêu chuẩn không thể thiếu của nó như sự vững chắc, sự hài hoà công trình với tổng thể... Nói ví dụ nếu như không vững chắc, mấy chục con người đứng lên, nó đổ sụp xuống thì ngày lễ coi như thất bại. Bởi vậy cần một kiến trúc sư phối hợp với anh”. Một người trẻ tuổi ăn vận chỉnh tề, từ trong đám đông bước ra, tự giới thiệu: “Tôi là kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh [7], cùng hoạt động trong Hội Văn hoá Cứu quốc với anh Phạm Văn Khoa. Hôm qua tôi được anh Khoa cho biết ý đồ của Ban tổ chức, tôi đã vẽ xong bản đề án thiết kế lễ đài”. Anh Quỳnh trải cuộn giấy can cầm sẵn trên tay lên mặt bàn. Đó chính là toàn cảnh lễ đài Độc Lập mà sau này chú được nhìn thấy in hình trên báo chí. Bản vẽ thật đẹp, thật chi tiết, tỉ mỉ... Lễ đài với tổng thể vườn hoa Ba Đình, vị trí dựng lễ đài, chiều cao, chiều rộng, mặt bằng, mặt cắt ngang, cắt dọc lễ đài, độ lớn các xà gỗ, tổng diện tích mặt ván ốp lát v.v... Sau khi nghe anh Quỳnh thuyết trình, tôi xem xét, cân nhắc rồi đặt bút kí duyệt bản thiết kế, đóng dấu Ban tổ chức. Tôi nói với anh Lê Văn Đệ và anh Ngô Huy Quỳnh: “Ban tổ chức quyết định giao việc này cho hai anh. Các anh cần gì, chúng tôi sẽ lo chạy đầy đủ, Hiện nay chúng tôi có một kho ba ngàn thước len đỏ [8], cần dùng bao nhiêu các anh cứ lấy dùng. Lễ đài phải được dựng xong trong vòng 48 giờ đồng hồ. Đúng 5 giờ sáng ngày mồng 2 tháng 9, tôi sẽ đến nghiệm thu. Chúc các anh hoàn thành nhiệm vụ”.



Sáng ngày 31 tháng 8, tôi đến Bắc Bộ phủ gặp Cụ Hồ như Cụ đã chỉ thị. Sau khi nghe tôi báo cáo ngắn gọn, đầy đủ về tất cả mọi việc có liên quan tới ngày lễ, Cụ nói giọng hết sức nghiêm trang: “Chú phải nhớ ngày Mồng hai tháng Chín tới sẽ là một ngày lịch sử. Đó là ngày khép lại cuộc Cách mạng tháng Tám, và ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #9  
Cũ 29-11-2007, 14:39
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

“Ông Đang ơi! Ông Đang ơi!”, tiếng con nít gọi nheo nhéo ngoài cửa, ngắt ngang câu chuyện của anh. Tôi nhìn ra, thấy hai chú bé chạc 9, 10 tuổi, mỗi chú cầm một cành tre, đầu cành tre thõng thượt một con rắn nước, mình nhỏ bằng chuôi dao, đầu bị đập dập còn rỉ máu tươi: “Ông có đổi rắn nước không ạ?”. Anh Đang bỏ đũa bước ra cửa, xem xét cẩn thận hai con rắn nước, rồi hỏi: “Các cháu định đổi như thế nào?”. “Ông cho cháu mỗi con hai cái vỏ bao ba số”. “Các chú đừng có giở thói bắt chẹt”, giọng nói vá dáng bộ của anh đã chuyển sang giọng của dịch vụ đổi chác, “Mỗi con rắn này chỉ giá trị bằng hai con cóc. Nhưng thôi, thì ông cũng đành chịu thiệt vậy, mỗi con một vỏ bao ba số, các chú có đổi thì đổi, không đổi thì thôi”. Hai chú bé ngần ngừ một lúc, rồi nói: “Chúng cháu đổi ạ”. Anh quay vào mở khoá tủ, chọn lấy ra hai cái vỏ bao ba số, đưa cho mỗi chú một chiếc, và cầm lấy hai con rắn. Hai chú bé cũng xem xét hai cái vỏ bao cẩn thận không kém ông Đang xem xét hai con rắn. Một chú nói: “Ông đổi cho cháu cái vỏ bao khác, cái này bên trong không có tờ giấy vàng”. Anh cầm lấy cái vỏ bao xem lại, cười: “Được, ông sẽ đổi cho vỏ bao khác. Sau này chú mà làm cán bộ thu mua thì Nhà nước sẽ không phải chịu thua thiệt”.

Anh cầm hai con rắn bỏ vào cái rổ con ở góc nhà, mặt tươi hẳn lên, như người buôn bán vừa vớ được món hời: “Thịt rắn còn bổ hơn thịt nhái. Tối mai tôi sẽ đãi chú món rắn om riềng mẻ. Ăn vào chú sẽ khoẻ, bơi qua sông không cần phà Tân Đệ”.




*



Tôi ở lại chơi với anh Đang ba ngày, thuê một anh phó nháy ở xã trên xuống chụp mấy pô ảnh làm kỉ niệm. Bữa cơm tiễn tôi, anh có vẻ buồn. Vừa dùng đũa tém tém mấy khúc rắn om mặn chát nổi muối trong đĩa, anh vừa nói: “Hiện nay tôi đang cố gắng hoàn thành thiên hồi ký thuật lại tất cả những gì có liên quan đến thế sự, kể từ khi tôi bước chân vào con đường hoạt động cách mạng cho đến những năm tháng gần đây... Trong hồi ký, tôi sẽ đề cập đến những việc mà từ trước đến nay tôi chưa hề tiết lộ với ai. Ví dụ như bản thảo “Tuyên ngôn Độc lập” Cụ Hồ viết... còn hay mất, nếu còn thì bây giờ đang ở đâu... Hoặc cụ định sửa hai câu trong bản “Tuyên ngôn”, nhưng không kịp vì bản chính đã đưa in mất rồi. Là Trưởng ban Tổ chức ngày lễ, tôi phải phụ trách việc in ấn những tài liệu có liên quan đến vận mệnh đất nước này, nhưng ... như chú biết đấy, hiện nay trong Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng như Bảo tàng Lịch sử, không có bản thảo “Tuyên ngôn Độc lập” ... Tôi sợ sẽ làm không kịp mất, gần tám chục tuổi đầu rồi còn gì, mà lại không có điều kiện làm việc, ban đem coi như chịu chết, đèn đóm tù mù, đúng là đóm thật”... Anh im lặng một lúc lâu, rồi ngẩng lên nhìn tôi, hỏi tiếp: “Chú có biết điều lo lắng nhất của tôi hiện nay là gì không?”, không đợi tôi đoán, anh nói luôn: “Tôi lo nhất là không biết chết ở đâu. Lúc sống thì tôi ở nhờ nhà ai chẳng được, ở đây cũng như ở trên Hà Nội... Nhưng lúc chết thì người thân mấy cũng làm phiền người ta. Có ai muốn một người không phải ruột ra máu mủ lại nằm chết trong nhà mình? Ngay cả cái chái bếp này cũng vậy, tôi nằm chết sẽ làm phiền đến nhà trường, các thày các cô, các cháu học sinh... Bởi vậy mà hai năm nay tôi không muốn lên Hà Nội. Ở đây, tại quê hương bản quán, tôi đã chọn sẵn chỗ để nằm chết... Chú ra đây tôi chỉ cho, đứng ở đây cũng nhìn thấy...”.

Tôi theo anh ra đứng trên cái trụ xi măng cầu ao cá. Gió mùa đông bắc lạnh thấu xương thổi thốc vào mặt hai anh em. Anh chỉ tay về phía một búi tre gần cuối xóm, đơn độc giữa cánh đồng, ngọn tre đang vật vã trong gió buốt. “Đấy, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ đầy lá tre rụng, rất vừa người tôi... Tôi sẽ nằm đó chết để khỏi phải phiền ai... Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay...”

Trở vào nhà, cả người tôi nổi gai, ớn lạnh, chắc là bị cảm... Tôi dốc hết rượu ra bát uống ực một hơi chống lạnh. Rượu vào lời ra, tôi cất giọng ngâm to mấy câu thơ của Phùng Cung gửi tôi mang về tặng anh:


Mặt ra giông chớp
Rạc mái phong lưu
Gót nhọc men về thung cũ
Quỳ dưới chân quê
Trăm sự cúi đầu
Xin quê rộng lương
Chút thổ phần bò xéo cuối thôn!



Phùng Quán(Tháng 12.1992)


PHẦN VIẾT THÊMNấn ná mãi, sáng 27 Tết tôi phải rời thôn Trà Vy trở về Hà Nội. Đạp xe ngược gió trên con đường đất sống trâu dọc bờ sông Máng, tôi bỗng thấy lạnh kinh khủng. Hai ba lần, tôi ngoái lại nhìn làn khói mỏng trên cái chái bếp, bên dưới làn khói đó là một bậc hào kiệt của đất nước đang ngồi trầm tư vì thế sự giữa một đống giẻ ráchn dép lốp đứt quai, đinh còng queo, chai lọ bụi bám đầy, những cái vỏ lon bia, những mẩu sắt han rỉ chẳng biết để làm gì. Hai mắt tôi tự nhiên cay lệ. Tôi chỉ muốn quay xe lại với anh nhưng sợ anh mắng. Từ chiều hôm qua, anh gục tôi suốt : « Sáng mai chú phải về. Tết nhất đến nơi. Chú không thể để cô ấy cúng tất niên một mình như cảnh nhà những người goá bụa cô đơn… »

Đăm đăm nhìn anh, tôi tự hỏi : « Trên thế gian này, không còn ai cô đơn hơn anh ? ». Tôi khẩn khoản : « Anh cùng về Hà Nội với em, ăn Tết cùng với nhà em, anh Cung có vui hơn không ? » – Chú cứ về trước đi, chậm lắm sáng mồng hai Tết, tôi sẽ có mặt ở nhà chú hoặc ở nhà chú Cung ». – « Nhưng anh còn vướng víu gì ở đây mà không về cùng với em được ? ». « – Chuyến này lên Hà Nội tôi sẽ ở lại. Tôi muốn tìm gặp lại anh em thời Truyền bá quốc ngữ xem ai còn ai mất, liên hệ với những anh em hiện đang sống ở nước ngoài như Hoàng Xuân Hãn. Ông ta có công lớn lắm đấy. Ông được Hội giao soạn thảo học chữ quốc ngữ theo lối mới, làm sao cho dễ học, dễ thuộc, dễ nhớ và ông đá soạn thảo rất thành công. Tài tình nhất là ông đã vần vè hoá được cách nhận diện các chữ cái :

i tờ giống móc cả hai
i ngắn có chấm, tờ dài có ngang

hoặc :

o tròn như quả trứng gà
ô thì đội mũ, ơ là thêm râu

Tôi ngạc nhiên : “Hồi còn giữ trâu ở làng quê, em học truyền bá quốc ngữ cũng thuộc lòng những câu vần vè đó. Nhưng em thật không ngờ tác giả của nó lại là nhà toán học nổi danh Hoàng Xuân Hãn”. “– Đó chính là tấm lòng thương nước, thương dân của người trí thức chân chính”. Anh nói thêm : “Tấm lòng của họ đối với nước, với dân trong suốt như thuỷ tinh, không gợn chút bọt đặc quyền đặc lợi. Lần này lên Hà Nội, tôi có một mục đích là tổ chức một cuộc găp gỡ những người trước đây tham gia Hội Truyền bá quốc ngữ. Chúng tôi sẽ ôn lại hồi ức và viết hồi ký. Mà muốn làm như vậy thì phải có


(Bài viết đến đây thì dừng vì Phùng Quán bệnh nặng không còn sức để viết tiếp). *

Bài viết trên được Phùng Quán viết xong tháng 12.1992, đến tháng 1.1995, trong lúc nằm trên giường bệnh, chưa hài lòng với những gì đã viết, Phùng Quán viết thêm bằng bút chì trong tư thế nằm ngửa viết lên giấy đặt dưới tấm ván treo úp xuống trước mặt ở đầu giường. Đây chính là những dòng cuối cùng của Phùng Quán. Di cảo do bà Vũ Thị Bội Trâm, vợ nhà văn Phùng Quán cung cáp. (Phần viết thêm này lấy từ cuốn Phùng Quán, Ba phút sự thật, Nhà xuất bản Văn Nghệ, 2006)
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #10  
Cũ 29-11-2007, 14:40
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Một người bạn của Hungmgmi đọc xong cuốn Ba phút sự thật nói rằng cái ám ảnh nhất mà cuốn sách này để lại là hình ảnh cụ Nguyễn Hữu Đang chọn chỗ để chết.Đọc mà thấy lạnh cả người:

Anh im lặng một lúc lâu, rồi ngẩng lên nhìn tôi, hỏi tiếp: “Chú có biết điều lo lắng nhất của tôi hiện nay là gì không?”, không đợi tôi đoán, anh nói luôn: “Tôi lo nhất là không biết chết ở đâu. Lúc sống thì tôi ở nhờ nhà ai chẳng được, ở đây cũng như ở trên Hà Nội... Nhưng lúc chết thì người thân mấy cũng làm phiền người ta. Có ai muốn một người không phải ruột ra máu mủ lại nằm chết trong nhà mình? Ngay cả cái chái bếp này cũng vậy, tôi nằm chết sẽ làm phiền đến nhà trường, các thày các cô, các cháu học sinh... Bởi vậy mà hai năm nay tôi không muốn lên Hà Nội. Ở đây, tại quê hương bản quán, tôi đã chọn sẵn chỗ để nằm chết... Chú ra đây tôi chỉ cho, đứng ở đây cũng nhìn thấy...”.

Tôi theo anh ra đứng trên cái trụ xi măng cầu ao cá. Gió mùa đông bắc lạnh thấu xương thổi thốc vào mặt hai anh em. Anh chỉ tay về phía một búi tre gần cuối xóm, đơn độc giữa cánh đồng, ngọn tre đang vật vã trong gió buốt. “Đấy, dưới chân búi tre ấy có một chỗ trũng nhưng bằng phẳng, phủ đầy lá tre rụng, rất vừa người tôi... Tôi sẽ nằm đó chết để khỏi phải phiền ai... Tôi đã chọn con đường ngắn nhất để có thể bò kịp đến đó, trước khi nhắm mắt xuôi tay...”
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #11  
Cũ 29-11-2007, 14:41
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Evtushenco còn có một bài thơ khá "khủng khiếp" nữa, sáng tác khi còn rất trẻ. Nhà thơ trẻ trong bầu không khí hừng hực của những năm xét lại, chống sùng bái cá nhân Stalin đã viết lên những dòng thơ giàu hình ảnh, giàu sức liên tưởng một cách ma quái.
Bài thơ có tên:Наследники Сталина-Những kẻ thừa kế Stalin:

Наследники Сталина

Безмолвствовал мрамор.
Безмолвно мерцало стекло.
Безмолвно стоял караул,
на ветру бронзовея.
А гроб чуть дымился.
Дыханье из гроба текло,
когда выносили его
из дверей Мавзолея.
Гроб медленно плыл,
задевая краями штыки.
Он тоже безмолвным был -
тоже! -
но грозно безмолвным.
Угрюмо сжимая
набальзамированные кулаки,
в нем к щели глазами приник
человек, притворившийся мертвым.
Хотел он запомнить
всех тех, кто его выносил, -
рязанских и курских молоденьких новобранцев,
чтоб как-нибудь после набраться для вылазки сил,
и встать из земли,
и до них,
неразумных,
добраться.
Он что-то задумал.
Он лишь отдохнуть прикорнул.
И я обращаюсь к правительству нашему с просьбою:
удвоить,
утроить у этой плиты караул,
чтоб Сталин не встал
и со Сталиным - прошлое.
Мы сеяли честно.
Мы честно варили металл,
и честно шагали мы,
строясь в солдатские цепи.
А он нас боялся.
Он, веря в великую цель, не считал,
что средства должны быть достойны
величия цели.
Он был дальновиден.
В законах борьбы умудрен,
наследников многих
на шаре земном он оставил.
Мне чудится -
будто поставлен в гробу телефон.
Энверу Ходжа
сообщает свои указания Сталин.
Куда еще тянется провод из гроба того?
Нет, Сталин не умер.
Считает он смерть
поправимостью,
Мы вынесли
из Мавзолея
его,
но как из наследников Сталина
Сталина вынести?
Иные наследники
розы в отставке стригут,
но втайне считают,
что временна эта отставка.
Иные
и Сталина даже ругают с трибун,
А сами ночами тоскуют о времени старом.
Наследников Сталина,
видно, сегодня, не зря
хватают инфаркты.
Им, бывшим когда-то опорами,
не нравится время,
в котором пусты лагеря,
а залы, где слушают люди стихи,
переполнены.
Велела не быть успокоенным Родина мне.
Пусть мне говорят: "Успокойся!" -
спокойным я быть не сумею.
Покуда наследники Сталина
живы еще на земле,
мне будет казаться,
что Сталин - еще в Мавзолее.
Е.Евтушенко "Наследники Сталина
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #12  
Cũ 29-11-2007, 14:41
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên (tức dịch giả Ngân Xuyên) đã dịch bài thơ trên:

Những kẻ thừa kế Stalin

Bức tường đá hoa lặng câm
Mặt gương lấp lóa lặng câm
Hàng vệ binh đứng lặng câm
Nghiêm trang như tượng đồng trước gió
Còn chiếc quan tài như đang thở
luồng hơi từ trong đó bốc ra.
Khi người ta mang nó
ra phía ngoài cửa Lăng
Chiếc quan tài trôi đi chầm chậm
giữa hai hàng lưỡi lê tuốt trần
Nó cũng lặng câm -
cũng lặng câm! -
nhưng là sự câm lặng đáng sợ
Cái người chết trong quan tài đó,
như đang từ khe hở nhìn ra,
Bàn tay nhợt màu xác chết,
co thành nắm đấm dọa đe
Ông ta muốn điểm mặt từng người
đang khiêng quan tài đi -
những thanh niên tân binh
người Riazan và Kursk,
để về sau một lúc nào đó
khi sức lực phục hồi đầy đủ
từ dưới mồ ông ta nhô lên,
nhảy bổ vào đám thanh niên
những kẻ cuồng điên này
Ông ta đang suy tính điều gì
Ông ta chỉ nghỉ ngơi chốc lát
Vậy tôi xin yêu cầu Chính phủ chúng ta
một điều khẩn thiết:
tăng gấp đôi
tăng gấp ba
đội vệ binh đứng gác bên Lăng,
để Stalin không trở dậy,
và cùng với Stalin
quá khứ cũng nằm im,
Chúng ta gieo trồng một cách trung thực
Chúng ta luyện thép một cách trung thực,
và chúng ta bước đi một cách trung thực
trong hàng quân đội ngũ chỉnh tề
Thế mà ông ta sợ hãi chúng ta
Ông ta tin vào mục đích vĩ đại
nhưng lại không cho rằng
phương tiện cần phải xứng đáng
với sự vĩ đại của mục đích
Ông ta là người nhìn xa trông rộng
Ông ta hiểu thông các qui luật đấu tranh
nên trên mặt địa cầu này
Ông ta đã để lại nhiều người thừa kế
Tôi mơ thấy dường như
Trong quan tài có đặt têlêphôn:
Stalin vẫn ra những chỉ thị của mình
cho người nào đó
Từ quan tài ông ta vẫn có dây dẫn nối
đi các ngả!
Không. Stalin chưa phải chết đâu
Ông ta cho cái chết là điều có thể sửa
Chúng ta mang ông ta
ra ngoài phía Lăng
Nhưng làm thế nào mang được Stalin
ra khỏi những người thừa kế Stalin
Một số kẻ thừa kế về hưu trồng hoa
chơi cảnh nhưng thầm cho rằng
hưu chỉ tạm thôi
Số kẻ thừa kế khác
thậm chí đăng đàn chửi Stalin hết lời
nhưng bản thân đêm đêm
vẫn buồn nhớ về thời thế cũ
Rõ ràng hôm nay chẳng phải là vô cớ
những kẻ thừa kế Stalin bị mắc bệnh
nhồi máu cơ tim
Bọn họ trước đây từng là chỗ dựa
không thích được thời nay
khi những trại tập trung vắng vẻ
còn những phòng nghe thơ
thì đông chật những người
Số phận Tổ quốc khiến tôi
không thể bình yên ngồi
Dù người ta bảo tôi:
“Hãy yên tâm!”
tôi không thể nào yên được
Chừng nào những kẻ thừa kế Stalin còn
sống trên Quả đất thì tôi cho rằng
Stalin vẫn còn ở trong Lăng.

(Ngân Xuyên dịch từ nguyên bản tiếng Nga)
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #13  
Cũ 29-11-2007, 14:42
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Phạm Xuân Nguyên cho biết thêm:

Y. Yevtushenko viết bài thơ này năm ông 29 tuổi (1962) trong thời kỳ “hửng ấm” của xã hội Xô-viết sau bản báo cáo của Khrushchev phê phán Stalin tại Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô (1956). Bài thơ chỉ in báo một lần, bị phê bình gay gắt, nên không hề được đưa vào tập thơ nào của tác giả. Đến thời perestroyka (cải tổ) nó mới được in lại trên báo Nedelya (Tuần lễ) số 45 (11/1987).

Quyết liệt thế nhưng rốt cuộc Yevtushenko lại là người thích nghi, hợp thời. Năm 1981, Joseph Brodsky (1940-1996), Nobel văn học 1987, đã từ chức viện sĩ Viện Hàn lâm Văn học Mỹ để phản đối viện này kết nạp Yevtushenko. Trong câu chuyện với một người bạn, Brodsky nói: "... Anh ta là một kẻ mà tôi không thể chịu đựng nổi. Theo ý tôi, đó là một người xấu, một kẻ bất lương - đây là ấn tượng cá nhân của tôi, được chứng tỏ bởi những kinh nghiệm cá nhân - hơn thế nữa, anh ta rất có hại cả trong lĩnh vực văn học lẫn chính trị. Đối với tôi, không thể chấp nhận được việc ngồi cùng phần tử ấy trong một tổ chức. Chỉ có thế thôi" (dẫn theo Hoàng Linh trên tờ Nhịp cầu thế giới xuất bản ở Budapest, Hungary, 2000).

Yevgeny Yevtushenko trong hồi ký nhan đề Hộ chiếu sói (Moskva-Vagrius, 1998) viết: “Brodsky là nhà thơ hoàn toàn phi Xô-viết đầu tiên trong số những người sinh ra thời Xô-viết. Còn tôi là nhà thơ Xô-viết cuối cùng. Nhưng chính quyền Xô-viết đã tự làm tất cả mọi điều nhằm đánh bật cái chất ‘Xô- viết’ đó ra khỏi tôi”.

Anatoly Rybakov (1911-1998), tác giả tiểu thuyết Bọn trẻ phố Arbat, kể lại trong hồi ký của mình: Biết tin cuốn tiểu thuyết của ông gặp khó khăn, trắc trở trong việc xuất bản, tại một đại hội nhà văn Liên Xô Yevtushenko bảo là sẽ lên diễn đàn nói về chuyện đó, nhưng Yevtushenko đã lên diễn đàn mà không nói gì chuyện đó. Phát biểu xong, Yevtushenko xuống nói với Rybakov, em không nói nhưng em vẫn ủng hộ và bảo vệ anh. Ít ngày sau Rybakov được mời lên ban tuyên huấn trung ương về chuyện cuốn tiểu thuyết đó, trong câu chuyện nhân viên ban nói huỵch toẹt ra là họ biết tại đại hội, Yevtushenko định nói gì và họ đã răn đe anh ta. Nghe vậy Rybakov bình thản nói: tôi không biết chuyện của Yevtushenko và các anh ra sao, nhưng anh ta dù sao cũng là bạn tôi, xin các anh đừng xúc phạm cá nhân anh ta trước mặt tôi. (Xem Anatoly Rybakov, Tiểu thuyết-hồi tưởng, bản tiếng Nga, Moskva-Vagrius, 1997).

Lại thơ Yevtushenko:


Có thể ngày mỗi ngày qua
Tôi dần sẽ trở về già

Có thể mỗi năm một hết
Đời tôi cuối cùng vĩnh biệt

Có thể trăm năm vèo trôi
Không người nhớ tôi là ai

Nhưng sao cho mỗi năm qua
Không sống hổ thẹn xấu xa

Nhưng sao cho mỗi năm hết
Không trở thành người hai mặt

Và sao cho trăm năm trôi
Không ai nhổ vào mồ tôi

(Ngân Xuyên dịch từ nguyên bản tiếng Nga)
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #14  
Cũ 29-11-2007, 14:46
phuongnn's Avatar
phuongnn phuongnn is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,009
Cảm ơn: 1,606
Được cảm ơn 2,219 lần trong 564 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng MSN tới phuongnn Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới phuongnn Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới phuongnn
Default

Trích:
FORYTCHIA viết
Tôi không chăm để viết lại giống bạn Hungmgmi , nhưng cuối tuần lang thang nhà sách đã tìm bằng được cuốn "Ba phút sự thật" của nhà thơ Phùng Quán đọc. Cuốn này thuộc hàng " cháy" kệ sách đấy.
Thế mới biết "túi càn khôn" của mình còn cạn thật sự.
Trong cuốn sách này có nhiều trang viết rất thú vị.Bạn nào có đồng hương đồng khói với Phùng Quán thì nên thử đọc nhé.

Chuyện ông Phùng Quán này thì ông già em kể từ lâu, đến khi có cuốn "Ba phút sự thật" thì em phải mua ngay cho ông già đọc.

Năm 1959, 1960 gì đó, ông già em là kỹ sư xây dựng trẻ măng, lên chỉ huy công trường ở đâu đó trên Việt Trì (em không nhớ chính xác và hiện hay đang ở Trung Quốc không điện về hỏi được) thì ông Phùng Quán được điều lên đó lao động cải tạo. Thời đó còn trước cả thời kỳ ông ấy về Hà Nam gì đó được viết lại trong "Ba phút sự thật".

Phùng Quán là một tay chúa lười, chỉ ngồi hút thuốc, thỉnh thoảng cúi xuống buộc mấy mối dây thép. Về tư cách đạo đức, ông ta là một tay trùm cưa gái, rất đàng điếm. Hồi đó có nhiều cô gái Hà Nội, thành phố... đi lên công trường lao động, bị ổng cua tuốt, đêm dắt đi đâu đó... Ông già em kém ông Quán mấy tuổi, nhưng lại là chỉ huy, bảo, thôi thì cũng chẳng muốn đụng vào, hay hành ông ta làm gì. Nhưng cũng không thể nhận xét tốt cho ông ta được.

Về sau, ông ta chơi với "nhà văn" Nguyễn Hà, lại là người học cùng với ông già em, và "nhà văn" Băng Sơn - toàn những nhà văn mà em cũng không biết là họ viết cái gì nữa.

Khi ông già em đọc "Ba phút sự thật", bảo, chả biết ông Quán viết được mấy giây sự thật??? kể cả chuyện ông Nguyễn Hứu Đang nữa, chả biết có đúng hay không?

Riêng em, từ bé đọc "Vượt Côn Đảo" rồi "Tuổi thơ dữ dội"; xin lỗi các bác, nuốt không trôi văn của ông này... không có vụ NVGP, thì không thành nhà văn lớn được cũng đúng thôi.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #15  
Cũ 29-11-2007, 14:47
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Phuongnn thân mến, những nhận xét trên là của cá nhân đồng chí là có thể hiểu được. Đọc văn người khác khi đã bị những ấn tượng không mấy tốt đẹp ám ảnh thì khó có thể thấy cái hay, cái đẹp trong những dòng viết của họ.
Chúng ta vẫn bị ám ảnh câu Văn tức là người -một câu nhạt phèo và sai về mọi phương diện. Các nhà văn và văn nghệ sĩ nổi tiếng xứ Tây, xứ ta hầu như ai cũng vướng vào cái tật xấu nào đó... Ông thì cướp vợ người, ông thì chuyên đời vay tiền rồi quỵt, ông khác thì trăng hoa ba lăng nhăng cho đến lúc xuống mồ...Tóm lại, như mọi người thường nói, văn nghệ sĩ cũng là người, thậm chí những con người mong manh vì họ quá nhạy cảm và "nhẹ dạ"
Trong dẫn chứng hai nhà văn trong ngoặc kia của phuongnn, tôi thấy có tên một nhà văn mà tôi rất kính trọng và khâm phục. Đó là nhà văn Băng Sơn-một cây bút tài hoa viết về Hà Nội xưa và nay. Thể loại ông ưa thích và để lại dấu ấn là Tản văn. Phuongnn đã đọc Tản văn về cây ven Hồ Gươm của cụ, chắc chắn sẽ thấy là vượt xa tản văn cùng đề tài của của Tô Hoài trong cuốn tản văn "Giấc mộng ông thợ dìu" của ông Dế mèn.
Vượt Côn Đảo và Tuổi thơ dữ dội nữa, phuongnn không thích là chuyện bình thường. Bản thân Hungmgmi cũng không thích hai cuốn này của ông.
Cái được trong Ba phút sự thật chính là tư liệu. Mà đến cái này cũng nỏ tin nữa thì biết làm chi bây chừ?
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #16  
Cũ 29-11-2007, 14:49
phuongnn's Avatar
phuongnn phuongnn is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,009
Cảm ơn: 1,606
Được cảm ơn 2,219 lần trong 564 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng MSN tới phuongnn Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới phuongnn Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới phuongnn
Default

Trích:
hungmgmi viết
Trong dẫn chứng hai nhà văn trong ngoặc kia của phuongnn, tôi thấy có tên một nhà văn mà tôi rất kính trọng và khâm phục. Đó là nhà văn Băng Sơn-một cây bút tài hoa viết về Hà Nội xưa và nay. Thể loại ông ưa thích và để lại dấu ấn là Tản văn. Phuongnn đã đọc Tản văn về cây ven Hồ Gươm của cụ, chắc chắn sẽ thấy là vượt xa tản văn cùng đề tài của của Tô Hoài trong cuốn tản văn "Giấc mộng ông thợ dìu" của ông Dế mèn.

Ông Băng Sơn ấy mà, anh Hùng ạ, nhà đâu như gần nhà anh và nhà em cũ dưới quận Hai Bà Trưng thì phải. Theo như em biết ổng toàn đi nhặt nhạnh những chuyệt lặt vặt về Hà Nội để viết lại, như chuyện cây bàng đầu phố chẳng hạn. Anh thích thì thích, chứ em chẳng thể coi đó là tài năng, là nhà văn lớn được. Em thích "Thương nhớ mười hai", "Miếng ngon Hà Nội", "Chuyện cũ Hà Nội" và cái quyển gì của Tô Hoài ấy nhỉ - hình như là "Đất quê" hay "Quê nhà" gì đó thì phải - hơn.

Riêng "Ba phút sự thật" - đọc "Ba người khác" của Tô Hoài còn sướng hơn nhiều.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #17  
Cũ 29-11-2007, 15:02
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Trở lại bài thơ Những người thừa kế Stalin, Ngân Xuyên đã dịch một câu-Hungmgmi nghĩ có thể là cố tình-chưa được chuẩn lắm. Câu gốc:

Мне чудится -
будто поставлен в гробу телефон.
Энверу Ходжа
сообщает свои указания Сталин
Được dịch thành:

Tôi mơ thấy dường như
Trong quan tài có đặt têlêphôn:
Stalin vẫn ra những chỉ thị của mình
cho người nào đó
Ngân Xuyên là một dịch giả tự học nhưng khá có uy tín và nghiêm túc. Có thể dịch giả muốn đơn giản hóa bản dịch, tránh chú thích dài dòng nên đã thay một tên người cụ thể bằng cụm từ phiếm chỉ "một người nào đó". Hay là vào thời điểm in bản dịch này trên báo chí VN năm 1987, Ngân Xuyên vì lý do tế nhị nên đã không muốn nêu danh nhà lãnh đạo nước bạn Albani vừa mới qua đời trước đó 2 năm?
Trong bản gốc, "người nào đó" đã được Yevtushenco gọi đích danh. Đó là Энверу Ходжа-Enver Hoxha.

Vậy Enver Hoxha là ai?
Vào thời điểm Yevtushenco viết bài thơ trên, Hoxha đang là Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Albani. Ông đảm đương nhiệm vụ này từ năm 1941 cho đến lúc mất, năm 1985. Hoxha là người rất tôn thờ Stalin và muốn xây dựng CNXH ở Albani theo hình mấu Liên xô.
Hoxha đã tỏ rõ thái độ là người trung thành với Stalin sau khi tại Đại hội XX ĐCSLX-năm 1956, TBT N.Khrushev kết án Stalin đã phá bỏ những nguyên tắc XHCN. Albani trong cuối thập niên 50 hoàn toàn cô lập với khối XHCN Đông Âu. Năm 1960, khi Liên xô và Trung quốc mâu thuẫn, Albani đã nghiêng hẳn về TQ và chỉ một năm sau, năm 1961 Hoxha tuyên bố cắt đứt quan hệ với LX.
Cho đến tận cuối thập niên 80, Albani vẫn tổ chức kỷ niệm ngày sinh và ngày mất của Stalin, các tác phẩm của ông vẫn được xuất bản và thành phố Kuchova được vinh dự đổi tên thành thành phố Stalin.Các cộng sự của Stalin cũng được Albani rất tôn trọng. Tháng 11 năm 1986, khi Molotov-nhân vật số 2 thời Stalin qua đời, Albani đã để quốc tang.
Như vậy, trong bài thơ của mình sáng tác năm 1962, nhà thơ trẻ 29 tuổi Yevtushenco cũng đã "cập nhật" thông tin khi nêu đích danh Hoxha là một trong những người thừa kế Stalin.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #18  
Cũ 08-12-2007, 00:41
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default

Evtushenko được đề cử giải thưởng Nobel

http://www.rian.ru/culture/literatur.../91414931.html

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Евтушенко выдвинут на Нобелевскую премию
19:10 | 07/ 12/ 2007

МОСКВА, 7 дек - РИА Новости, Михаил Шиянов. Поэт Евгений Евтушенко очень горд тем, что Всемирный Конгресс Русскоязычного Еврейства (ВКРЕ), объединяющий евреев 27 стран мира, выдвинул его на Нобелевскую премию по литературе.

"Эта инициатива была для меня полной неожиданностью. Я был очень горд и тронут, потому что люди, которые стояли у истоков этой организации, были те, кто вышел из гитлеровских лагерей. Это люди, о которых я писал", - признался Евтушенко РИА Новости.

"Некоторые интерпретируют это как номинацию за "Бабий Яр". Но это номинация за разные произведения: "Наследники Сталина", "Братская ГЭС", "Хотят ли русские войны". За патриотизм, который немыслим без патриотизма человеческого, и за мою постоянную борьбу в поэтической форме против шовинизма и ксенофобии", - объяснил поэт.

"Почему-то многие решили, будто меня выдвинул Израиль. Но мне просто сообщили об этом впервые в Израиле", - добавил он, упомянув, что спикер израильского парламента Далия Ицик назвала это выдвижение "важной и своевременной инициативой".

Евтушенко также отметил, что получил в жизни очень много, может быть, даже больше, чем заслуживает. В частности, он является лауреатом Государственной премии СССР, премии ТЭФИ, престижной итальянской премии Гринцане-Кавур, высшей правительственной награды Чили и др.

"Мне не надо дополнительной славы. Я получил от жизни столько, сколько, может быть, и не заслуживаю. Премия может сделать поэта хуже, а лучше - нет", - заключил он.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #19  
Cũ 08-12-2007, 01:41
weekdaysman's Avatar
weekdaysman weekdaysman is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 478
Cảm ơn: 431
Được cảm ơn 663 lần trong 253 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới weekdaysman Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới weekdaysman
Default Evtushenko được đề cử giải thưởng Nobel

Trích:
Nina viết Xem bài viết
Evtushenko được đề cử giải thưởng Nobel
Bác ơi bác "quá bộ" dịch vắn tắt đôi dòng cho những người kém tiếng Nga như em hiểu thêm đôi chút với. Ngày xưa đi học thì bọn chúng em nghe cô giáo kể về giải Nobel cũng nhiều đứa mơ màng ngày sau lớn lên phấn đấu đoạt giải - lớn thêm chút nữa cô giáo lại bảo cái giải ấy nhiều khi cũng thiên vị lắm, người Mỹ được thì nhiều, chứ Liên Xô bao nhiêu người xứng đáng mà có được đâu!

Đúng là lâu lắm rồi không thấy người Nga nào đoạt giải các bác nhỉ! (em không kể giải Hòa bình đâu nhé ). Dù sao, ngay mới chỉ là đề cử thôi, em cũng xin chúc mừng Евгений Александрович Евтушенко!
__________________
Bài hát của WDM: Sông Hàn vẫn đợi - xemnghe, Vẫn còn mãi nhớ - xemnghe
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #20  
Cũ 08-12-2007, 03:04
weekdaysman's Avatar
weekdaysman weekdaysman is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 478
Cảm ơn: 431
Được cảm ơn 663 lần trong 253 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới weekdaysman Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới weekdaysman
Default Nhà thơ Evtushenko được đề cử cho giải thưởng Nobel

Em vừa tìm thấy tin này trên trang Vietnam Business Consulting, nhân tiện xin gửi tới các bác luôn:

Nhà thơ Evtushenko được đề cử cho giải thưởng Nobel

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

07.12 20:44
Nhà thơ Evgeny Evtushenko rất tự hào bởi Hội đồng Do thái nói tiếng Nga toàn thế giới bao gồm 27 quốc gia có người Do thái đã đề cử ông cho giải thưởng Nobel văn học.

“Ý tưởng này đối với tôi hoàn toàn bất ngờ. Tôi rất tự hào và xúc động bởi những người đứng trong tổ chức này là những người đã thoát khỏi các trại tập trung của Hitler. Tôi đã viết về những con người này” – nhà thơ cho biết.

“Một số giải thích đó như giải thưởng trao cho “Baby Yar”. Nhưng nó là giải thưởng dành cho các tác phẩm khác như “Những người kế tục của Stalin”, “Nhà máy thủy điện anh em”, “Người Nga có muốn chiến tranh hay không”. Nó là vì chủ nghĩa yêu nước mà chúng ta không thể có được nếu thiếu tinh thần ái quốc của nhân loại, nó cũng là vì cuộc đấu tranh thường xuyên của tôi cho hình thức thơ ca chống lại chủ nghĩa Sô vanh và sự bài ngoại” – nhà thơ giải thích.

“Tại sao nhiều người cho rằng Israel đã đề cử tôi. Chỉ đơn giản là tôi được thông báo về điều này lần đầu tiên tại Israel” – ông cho biết và nhớ lại rằng, chủ tịch Hạ viện Israel Dalia Itsik đã gọi sự đề cử này “là một ý tưởng quan trọng và độc đáo”.

Nhà thơ Evtushenko cho biết, ông đã nhận được rất nhiều giải thưởng trong đời, có thể còn nhiều hơn những gì ông đã cống hiến. Ông đạt giải thưởng quốc gia của Liên xô, giải thưởng TEFI, giải thưởng danh giá Grintsane – Kavur của Italia, giải thưởng cấp cao của Chile và nhiều giải khác.

“Tôi không cần thêm một giải thưởng nào nữa. Tôi đã nhận được từ cuộc đời rất nhiều nhưng chưa phục vụ nó được bao nhiêu. Giải thưởng có thể làm nhà thơ tồi hơn, chứ không hề tốt hơn” – ông kết luận.

Nguồn: T.Giang, VBC
__________________
Bài hát của WDM: Sông Hàn vẫn đợi - xemnghe, Vẫn còn mãi nhớ - xemnghe
Trả lời kèm theo trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:41.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.