Trở về   Nước Nga trong tôi > Chiến tranh giữ nước vĩ đại > Hồ sơ chiến tranh thế giới

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #21  
Cũ 23-02-2013, 09:51
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Bộ chỉ huy Việt Nam quyết định mở chiến dịch dọc theo biên giới Trung Quốc (Chiến dịch Biên giới). Ngày 18 tháng 9, sau đợt tấn công mạnh mẽ của quân đội Việt Nam, cứ điểm Đông Khê thất thủ, buộc Pháp phải điều quân từ Cao Bằng ra ứng cứu. Những toán quân rút chạy và lực lượng đến ứng cứu từ Thất Khê bị đánh tơi tả. Người ta nói rằng kháng chiến Việt Nam chống Pháp là “châu chấu đá voi”. Nhưng voi đã cụt ngà, còn quân đội của dân đã thành “con hổ”. Sau 98 ngày đêm giao chiến ở vùng biên giới, phía Pháp mất 8000 binh lính và sỹ quan bị chết và thương vong, buộc phải rút khỏi Lạng Sơn, Thất Khê, Lộc Bình và cả Lào Cai, căn cứ quan trọng ở phía tây bắc đất nước. Toàn bộ khu vực phía bắc dọc theo 750 km biên giới Việt-Trung sạch bóng quân chiếm đóng. VNDCCH mở được cánh cửa tới các nước phe XHCN. Ý tưởng thành lập các quốc gia “tự trị” bù nhìn tại các vùng Bắc Việt Nam bị phá sản hoàn toàn.

Ngay tại chính nước Pháp phong trào phản đối chiến tranh ở Đông Dương của quần chúng nhân dân lan rộng. Mâu thuẫn trong giới cầm quyền Pháp ngày càng sâu sắc. Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp được trao cho tướng de Lattre de Tassgny, lúc đó được coi là nhà quân sự và chiến lược đầy triển vọng của Pháp. De Lattre đưa ra các biện pháp hàng đầu là tăng số lượng quân chi viện từ Pháp và Châu Phi, tăng cường phương tiện chiến tranh, đặc biệt là không quân.

- Cũng phải công nhận là de Lattre cũng đạt được một cái gì đó, - ông Vũ Đăng Ất chia sẻ với tôi- Cuối năm 1951 vùng đồng bằng sông Hồng bị bao vây bốn phía, 2200 lô cốt và đồn bốt được dựng lên. Chỉ ở đồng bằng, ngoài 55 tiểu đoàn quân thường trú, Bộ chỉ huy Pháp tăng cường thêm 46 tiểu đoàn cơ động. Số lượng quân đội bù nhìn tăng tới 112 ngàn người. Mỹ cung cấp cho Pháp hàng chục máy bay, hàng trăm xe bọc thép và pháo đại bác. Bộ máy tuyên truyền Pháp-Mỹ cũng không ngồi im. Tướng de Lattre được đề cao như một “thiên tài” và người đại diện cho “chiến thắng của chủ nghĩa thực dân Pháp”. Cũng trong thời gian đó ở Pháp quần chúng nhân dân đòi trả tự do cho thủy thủ Henry Martin, người từ chối sang Việt Nam đánh nhau, ủng hộ hành động dũng cảm của cô gái Pháp Raymonde Dien, người nằm chắn ngang đường tàu hỏa chở vũ khí cho quân đội Pháp ở Việt Nam. Ngoài ra, chính Liên minh Pháp-Mỹ cũng không tránh khỏi các mâu thuẫn. Pa-ri hiểu rằng Mỹ âm mưu dần dần đẩy thực dân Pháp ra khỏi Đông Dương.

* * *

Chướng ngại vật chính để thực thi kế hoạch của tướng de Lattre là sự lớn mạnh không ngừng của phong trào kháng chiến trên các mặt trận chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao. Tháng 12 năm 1951 tại Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam. Tháng 3 diễn ra đại hội sáp nhập của Mặt trận Việt Minh và Liên Việt, mở rộng hàng ngũ mặt trận dân tộc. Hội nghị đại biểu liên minh nhân dân 3 nước Đông Dương công bố thành lập khối liên minh nhân dân Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia chống kẻ thù chung vì độc lập, tự do. Các mối quan hệ chính trị quốc tế của VNDCCH được mở rộng.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #22  
Cũ 23-02-2013, 10:19
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

THẤT BẠI VÀ CÁI CHẾT CỦA TƯỚNG DE LATTRE

Tháng 1 năm 1951, lực lượng vũ trang nhân dân mở tấn công vùng trung du tây bắc châu thổ sông Hồng, chiếm 10 cứ điểm của địch, tiêu diệt 3 tiểu đoàn cơ động của đối phương.

Ngày 20 tháng 3, sau các đợt tấn công tại vùng Đông Triều, quân kháng chiến giành được các vị trí thuận lợi để chiếm các mỏ than lộ thiên Hòn Gai và cảng Cẩm Phả và Hải Phòng. Tháng 5 tấn công thị xã Ninh Bình, cách Hà Nội 90 km. Bộ chỉ huy Pháp rất khó khăn mới điều được lực lượng tiếp viện tới những khu vực bị tấn công. De Lattre cố gắng tập trung một số binh đoàn cơ động để thực hiện đòn đáp trả trong cách vô vọng. Ông ta đã không giành lại được lợi thế.

Ngày 14 tháng 10 năm 1951 viên chỉ huy này ném 3 tiểu đoàn lính dù, 15 tiểu đoàn bộ binh cùng với 7 đơn vị pháo binh và 2 trung đoàn xe tăng đánh chiếm Hoà Bình. Các trận chiến xảy ra tại nơi cách Hà Nội có 75 km, trên bờ sông Đà. Quân Việt Nam không có ý định giữ thị xã, đã rút lui chiến thuật vào vùng núi. Bộ chỉ huy Pháp tiến hành thành lập xung quanh Hoà Bình hệ thống phòng thủ rộng với ý đồ chốt tại đó các đơn vị tinh nhuệ của quân đội viễn chinh.

Bộ chỉ huy Việt Nam tổ chức họp bí mật và đi đến kết luận de Lattre tấn công Hoà Bình đã làm lực lượng định bị phân tán, vì vậy Quân đội nhân dân có cơ hội tấn công cụm quân đối phương “đã rã đám”, đồng thời mở rộng các hoạt động du kích ở đồng bằng, nơi phòng thủ của đối phương trở nên đặc biệt yếu. Để thực hiện kế hoạch này 3 sư đoàn quân chủ lực Việt Nam, được pháo binh yểm trợ tiến, về Hoà Bình, 2 sư đoàn khác chọc thủng vòng vây vùng châu thổ sông Hồng. Các trận chiến nổ ra trên cả 2 mặt trận - khu vực Hoà Bình và khu vực đồng bằng.

Ngày 10 tháng 12 bắt đầu chiến dịch giải phóng Hoà Bình. Các cứ điểm của Pháp dọc theo sông Đà lần lượt rơi vào tay lực lượng kháng chiến đã cắt đứt tuyến tiếp tế đường sông của quân địch. Các đoàn xe cung cấp lương thực và vũ khí tới thị xã Hoà Bình theo đường số 6 bị đột kích tới tấp. Để bảo vệ chúng địch phải điều động 12 tiểu đoàn tăng và bộ binh mô-tô. Hệ thống cứ điểm tua tủa (dạng “con nhím”) không thể bảo vệ các trại lính Pháp trước những đợt tấn công của Quân đội nhân dân. Các cuộc tấn công ào ạt được kết hợp với chiến thuật bắn tỉa chính xác của các xạ thủ miền núi. Hình thức chiến đấu này lần đầu tiên được bộ đội Việt Nam sử dụng lúc đó. Ngày 24 tháng 3 năm 1951, Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh cho các đơn vị rút khỏi Hoà Bình. Việc rút lui kéo dài trong 3 ngày đêm. Quân Pháp còn thiệt hại thêm 6 đại đội, hàng chục xe quân sự. Trong giai đoạn từ 14 tháng 10 năm 1950 đến 23 tháng 3 năm 1951 quân đội viễn chinh mất 22 ngàn binh sỹ, trong đó hơn 6000 chỉ riêng tại Hoà Bình. De Lattre de Tassigny chết bệnh từ trước khi được chứng kiến các kế hoạch của mình bị đổ bể. Con trai của de Lattre tử trận gần thành phố Thanh Hoá, cách Hà Nội 150 km. Cây thánh giá gỗ to trên đỉnh tảng đá bazan cao nhất - tấm bia không tệ nhất cho viên trung uý. Nó được thấy rõ từ cách xa nhiều cây số.

Sau thất bại Hoà Bình quân Pháp chuyển sang phòng thủ trên tất cả các mặt trận. Quân đội Việt Nam, vừa tấn công bằng lực lượng chủ lực vừa kết hợp mở rộng chiến tranh du kích, đã giải phóng hết vùng này đến vùng khác trên toàn quốc. Tháng 10 năm 1952 lực lượng kháng chiến đã làm chủ vùng thung lũng giữa sông Đà và sông Mã diện tích 28 ngàn km2 với 250 ngàn dân. Đầu năm 1953, phối hợp với các lực lượng mặt trận Pa thét Lào, quân tình nguyện Việt Nam giải phóng thị trấn Sầm Nưa vùng Thượng Lào. Một vùng giải phóng rộng lớn được hình thành với diện tích 40 ngàn km2 cùng 300 ngàn dân.

***
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #23  
Cũ 23-02-2013, 10:25
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Tháng 5 năm 1953 chính phủ Pháp bổ nhiệm tướng Henri Navarre, người thứ 7 kể từ năm 1945, làm Tổng chỉ huy quân đội ở Đông Dương. Trước đó vị tướng này giữ chức Tổng tư lệnh lực lượng bộ binh của NATO ở Trung Âu. Cùng với Lầu năm góc, Navarre vạch ra kế hoạch giành thế chủ động chiến lược và tiêu diệt hoàn toàn lực lượng kháng chiến Việt Nam trong vòng 18 tháng. Sau đó sẽ tiến hành ký kết hiệp ước hoà bình có lợi cho Pháp.

Để thực hiện kế hoạch này, Navarre tập trung tại miền Bắc Việt Nam 112 tiểu đoàn, trong đó có 44 tiểu đoàn cơ động. Lực lượng này phải thực hiện các đợt tấn công chớp nhoáng để làm tiêu hao lực lượng kháng chiến tập trung chủ yếu tại miền Bắc. Đến cuối mùa đông năm 1953, khi quân Việt Nam mất khả năng tác chiến sau những tổn thất dự kiến, Bộ chỉ huy Pháp sẽ có kế hoạch chuyển các đơn vị tinh nhuệ vào miền Nam, nơi lực lượng chủ lực của phong trào kháng chiến được coi là tương đối yếu. Vì vậy việc tiến hành “bình định” toàn bộ miền Nam, chuyển chức năng chiếm đóng cho quân đội bù nhìn được củng cố cũng được đặt ra. Còn đến mùa thu năm 1954 sẽ lại tập trung quân tinh nhuệ tấn công miền Bắc tiêu diệt hoàn toàn các lực lượng vũ trang nhân dân và ép lãnh đạo kháng chiến phải chấp nhận các điều kiện hoà bình do Pháp và Mỹ đưa ra.

Cuồng vọng chiến thắng cuộc chiến bằng bất kỳ giá nào đã đưa thực dân Pháp đến chỗ càng ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào Mỹ. Năm 1953 viện trợ Mỹ cho Pháp đã lên đến 385 triệu đô la, bằng 60% chi phí quân sự của Pháp ở Đông Dương. Cũng trong năm này, khối lượng vũ khí Mỹ cung cấp cho quân đội viễn chinh Pháp đạt 25 ngàn tấn mỗi tháng. Từ các căn cứ của Mỹ tại Pháp, Phi-lip-pin và Nhật Bản vũ khí, khí tài được chuyển đến Đông Dương bằng đường hàng không. Các phi công Mỹ trực tiếp tham chiến trong các chiến dịch quân sự.

Đến cuối năm 1953 quân đội viễn chinh Pháp có 250 ngàn binh sỹ. Nó có 26 tiểu đoàn pháo binh, 528 máy bay, 390 tàu chiến và ca nô. Quân số quân đội bù nhìn lên tới 300 ngàn người.

Bộ chỉ huy Pháp vẫn chờ đợi lực lượng tiếp viện mới. Trong điều kiện này các kế hoạch chiến lược được lập với các mục tiêu dài hạn. Pháp bắt đầu mở các đợt tấn công lên Lạng Sơn cùng lúc với Ninh Bình, Nam Định và Thái Bình, các tỉnh được giải phóng năm 1952. Các chiến dịch càn quét quy mô lớn được thực hiện song song tại các tỉnh miền Trung Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Tưởng rằng Pháp lại giành thế chủ động lần nữa.

Quân đội chủ lực Việt Nam tập trung tại 2 hướng chính - tây bắc Bắc bộ và cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên). Ngoài ra họ còn phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Pa thét Lào tấn công vào các vị trí đối phương tại vùng Trung và Thượng Lào. Tóm lại, chiến sự đã vượt ra khỏi biên giới Việt Nam và chiếm phần lớn Đông Dương. Hàng triệu người được huy động đi mở đường, phục vụ hậu cần cho các đơn vị quân đội hoạt động xa căn cứ chính hàng trăm km. Nguồn nhân lực và vật lực chủ yếu của đất nước luôn tập trung tại các vùng đồng bằng, trong khi chiến trận lại diễn ra tại các vùng núi xa xôi. Đặc điểm tình hình chính là ở chỗ này. Về quy mô và tầm cỡ của công tác hậu cần cho các chiến dịch tấn công của Quân đội nhân dân có thể đánh giá chỉ cần qua những ví dụ như việc mở đường từ Yên Bái đến Sơn La tổng số mất hơn 2 triệu ngày công, còn làm đường nối liền Quân khu 2 với Quân khu 3 mất 2,6 triệu ngày công. Hơn 90% sỹ quan và chiến sỹ của Quân đội nhân dân là con em nông dân, họ biết làm việc với đất, đá.

- Chưa khi nào có từng ấy con người ra mặt trận. Chưa bao giờ trai gái thanh niên Việt Nam chất phác lại đi xa làng quê ruột thịt của họ đến thế, - ông Ất nói. - Ở đồng bằng, cũng như ở miền núi, trên rừng hay dưới biển, trên đường quốc lộ hay đường làng, trên sông hay trên suối - đâu đâu cũng có hàng ngàn người. Hậu phương gửi họ ra tiền tuyến, hậu phương cùng quân đội tham gia đánh giặc giải phóng đất nước.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 23-02-2013 thời gian gửi bài 13:04
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #24  
Cũ 23-02-2013, 10:51
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

ĐIỆN BIÊN PHỦ

Đông xuân năm 1953-1954 Tây Bắc - vùng chiến lược quan trọng phía tây bắc trên biên giới Việt Nam, Lào và Trung Quốc, trở thành sân khấu chính của các hoạt động quân sự Tháng 11 năm 1953 quân đội Việt Nam bắt đầu tấn công thị xã Lai Châu, trung tâm hành chính của tỉnh cùng tên. Như dự đoán, Pháp ngay lập tức bổ sung lực lượng và vũ khí, khí tài để củng cố vị trí tại vùng này. Ngày 20 tháng 11, 6 tiểu đoàn lính dù nhảy xuống Điện Biên Phủ, thung lũng nằm giữa vùng núi cao Tây Bắc gần biên giới Việt-Lào. Ngay đầu tháng 12, số tàn quân Pháp tại Lai Châu cũng kéo về đóng tại Điện Biên Phủ.

Thung lũng Điện Biên Phủ giữ vị trí đặc biệt trong các kế hoạch của Bộ chỉ huy Pháp. Tại đây Pháp tính cố thủ lâu dài, dựng lên một căn cứ quân sự lớn có thể thường xuyên đe doạ vị trí của các lực lượng yêu nước vùng Thượng Lào và tây bắc Việt Nam. Từ đây, đến thu năm 1954, theo kế hoạch sẽ giáng một đòn sấm sét vào cơ quan đầu não của lực lượng kháng chiến tại Việt Bắc. Dường như hình thành 2 tuyến di chuyển đối lập nhau của các lực lượng quân sự. Sau giải phóng Lai Châu, lực lượng chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam tiến về Điện Biên Phủ, còn đối phương lại ném xuống đây các đơn vị chi viện mới: bộ binh, pháo binh, xe tăng, không quân và công binh, xây dựng công sự bê tông, phủ kín thung lũng bằng hệ thống hầm hào và mạng lưới giao thông, liên lạc.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ kể lại:
- Ngày 21 tháng 11 năm 1953, gần như đồng thời với chiến dịch Lai Châu, quân đội Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang Pa thét Lào mở đợt tấn công vào vùng Bắc và Trung Lào, đến ngày 27 tháng 12 chiến được thị xã Thà Khẹt. Navarre vội vã tung lực lượng mới của quân đội viễn chinh tới hỗ trợ một cứ điểm đang bị đe doạ gần Sa-van-na-khẹt. Nhưng việc này cũng không cứu được các cánh quân tại Nam Lào khỏi thất bại. Ngày 31 tháng 12, thị xã Attop thất thủ sau các trận đánh của lực lượng yêu nước, còn đến tháng giêng năm 1954 toàn bộ cao nguyên Bô-lô-ven rơi vào tay những người yêu nước.

Bộ chỉ huy Pháp nhận định rằng sức mạnh tấn công của lực lượng kháng chiến Việt Nam đã cạn và bắt đầu triển khai kế hoạch phản công “Atlante”. 20 tiểu đoàn bộ binh và cơ động với sự hỗ trợ của 4 tiểu đoàn pháo binh tấn công vào các tỉnh vùng giải phóng thuộc Khu 5 Trung bộ. Nhưng lực lượng chính của những người yêu nước đã được chuyển về vùng cao nguyên Trung phần. Tại đây, từ 26 tháng 1 đến 17 tháng 2, sau các trận chiến khốc liệt, tỉnh Kon Tum được giải phóng hoàn toàn. Navarre buộc phải khẩn cấp điều động 13 tiểu đoàn đến giải vây cho thị xã Pleiku. Lực lượng Quân đội nhân dân tấn công vào các vị trí yếu của quân Pháp và giành được các thắng lợi chiến thuật.

Đến lúc này Bộ chỉ huy Việt Nam thông qua quyết định bí mật bắt đầu chuẩn bị chiến dịch công phá tập đoàn cứ điểm của Pháp tại Điện Biên Phủ. Để đánh lạc hướng và buộc đối phương tiếp tục phải phân tán lực lượng, hàng loạt cuộc tấn công nghi binh vào các vùng do Pháp kiểm soát tại Thượng Lào được thực hiện. Cùng lúc hoạt động vũ trang của du kích đột ngột tăng mạnh tại vùng châu thổ sông Hồng, sông Mekong và duyên hải Trung bộ. Quốc lộ 5 nối Hà Nội với Hải Phòng trở thành mục tiêu tấn công dồn dập của lực lượng dân quân. Ngày 4 và 7 tháng 3 năm 1954, lực lượng đặc công của Quân đội nhân dân đột nhập vào sân bay Cát Bi và Gia Lâm, phá huỷ hàng chục máy bay, gây khó khăn lớn trong việc tiếp tế vũ khí, lương thực bằng đường hàng không cho các cánh quân bị bao vây tại Điện Biên Phủ.

Tuy vậy Bộ chỉ huy Pháp cho rằng căn cứ quân sự Điện Biên Phủ được xây dựng kiên cố, được 17 tiểu đoàn bộ binh cùng các đơn vị pháo binh, xe tăng, máy bay, công binh bảo vệ sẽ trụ được và trở thành cái bẫy nhử lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 23-02-2013 thời gian gửi bài 13:11
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #25  
Cũ 23-02-2013, 10:53
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Từ đồng bằng, nơi tập trung các nguồn vật lực của phong trào kháng chiến, đến Điện Biên Phủ cần phải vượt khoảng cách 500 km theo các con đường mòn băng qua núi cao, rừng rậm. Cả lương thực, cả vũ khí đều được chuyển ra mặt trận chủ yếu bằng gồng gánh, xe thồ, thuyền, bè nhỏ, hiếm lắm mới bằng xe tải. Công việc còn phức tạp hơn vì Điện Biên Phủ là khu vực lòng chảo, tứ bề xung quanh được che chắn bởi các dãy núi cao hơn 1000 m. Cần phải kéo các khẩu pháo hạng nặng lên đỉnh núi, sau đó lại phải hạ chúng xuống thung lũng đến những vị trí cắm chốt dưới làn bom đạn oanh tạc của pháo binh, không quân kẻ thù. Quân đội Việt Nam, vốn không được trang bị kỹ thuật hiện đại, đứng trước những khó khăn, thử thách tưởng như không thể vượt qua. Tháng 2 năm 1954 tướng Mỹ O’Daniel đi thị sát cứ điểm này. Sau khi xem xét các vị trí, viên tướng đã tuyên bố sự “hài lòng đặc biệt” của mình về viễn cảnh cuộc chiến. Rồi với tâm trạng thoải mái, ngày 12 tháng 3, một ngày trước khi chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu, Bộ chỉ huy Pháp điều tới Quy Nhơn lực lượng đáng kể để chuẩn bị cho chiến dịch “Atlante". Như vậy, lực lượng quân dự phòng đã được điều đến không đúng vùng hoạt động.

Ngày 13 tháng 3 quân Việt Nam bắt đầu tấn công Điện Biên Phủ, trước tiên là vào một trong số cứ điểm đề kháng - đồi Him Lam.

Việc này hoàn toàn bất ngờ đối với người Pháp, vốn không bao giờ nghĩ rằng vũ khí hạng nặng lại có thể chuyển qua núi cao rồi lại được nguỵ trang giỏi như vậy. Thật không tưởng khi quân đội Việt Nam chỉ trong một thời gian rất ngắn lại có thể huấn luyện được những pháo thủ giỏi đến thế. Chỉ sau vài giờ cứ điểm Him Lam đã thất thủ. Ngày 14 tháng 3 cứ điểm đề kháng thứ 2 - đồi Độc Lập cũng bị tiêu diệt, còn ngày 17 tháng 3 cánh quân bảo vệ vị trí Bản Kéo, cũng thuộc phân khu phòng thủ phía bắc, đã đầu hàng. Các cứ điểm mang những cái tên phụ nữ ái mộ của các tướng lĩnh Pháp (“Marie”, "Isabelle” …) lần lượt bị tiêu diệt.

Chỉ còn lại phân khu trung tâm Mường Thanh và phân khu phía nam Hồng Cúm. Để tiếp cận đến đó phải vượt qua vùng đất bằng được “rà soát” bởi lưới lửa dày đặc của pháo và xe tăng địch. Lực lượng công binh Việt Nam đã đào mạng lưới giao thông hào và đường hầm và mỗi ngày tiến lại một gần các chốt địch. Tổng cộng có tới hơn 100 km giao thông hào và đường hầm được đào, khoét. Vòng vây khép dần lại xung quanh cứ điểm mà chỉ có thể tiếp viện được bằng đường hàng không. Cùng thời gian đó tình hình quân Pháp trên các mặt trận khác - đồng bằng Bắc bộ và cao nguyên Trung phần cũng xấu đi rất nhanh.

Lo lắng, Bộ chỉ huy Pháp cử tướng Ely sang Washington xin cứu viện. Với sự đồng ý của Tổng thống Eisenhower, kế hoạch giải thoát Điện Biên Phủ có tên “Chim kền kền” được vạch ra. Theo kế hoạch này, không quân Mỹ sẽ oanh tạc dồn dập các vị trí của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 30 tháng 3. Mọi khâu chuẩn bị đã hoàn tất. Kháng chiến bắt đầu đợt sóng tấn công thứ 2, chiếm các cứ điểm phía đông phân khu trung tâm. Các trận đánh chiếm các cứ điểm phòng thủ then chốt diễn ra hết sức khốc liệt. Đặc biệt cứ điểm tại đồi A1 và C1 bị giành đi, cướp lại nhiều lần. Đến cuối tháng 4 bộ đội Việt Nam đã đào đường hào tới sân bay trung tâm, nơi tiếp nhận hàng cứu viện cho Điện Biên Phủ. Quân Pháp tổ chức các đợt phản công tuyệt vọng, cố giành lại các khu vực này, nhưng thất bại. Số lượng lớn lương thực và vũ khí, khí tài người Pháp thả dù xuống lại rơi vào các vị trí của người Việt Nam. Không quân Pháp tăng cường các chuyến bay oanh tạc giới tuyến mặt trận và đường giao thông của các đội quân kháng chiến. Nhưng các chiến sỹ Việt Nam vẫn giữ chắc các cứ điểm đã chiếm được, còn các đoàn dân công vẫn tiếp tục chuyển tới mặt trận tất cả những thứ cần thiết. Ngày 15 tháng 4 một nhóm sỹ quan cao cấp Mỹ tới Hà Nội để thảo luận việc triển khai kế hoạch “Chim kền kền”. Các bên đã nhận thức được rằng, sự can thiệp của không quân Mỹ không thể xoay chuyển được tình thế ở Điện Biên Phủ. Kế hoạch “Chim kền kền” bị huỷ bỏ…

***

Ngày 1 tháng 5 bắt đầu giai đoạn 3, giai đoạn kết thúc của đợt tấn công. Đồi A1, C1 và nhiều cứ điểm khác hoàn toàn rơi vào tay lực lượng kháng chiến. Chiều ngày 7 tháng 5, sau những đợt tấn công dồn dập quân đội Việt Nam đã chiếm được vùng trung tâm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nơi có sở chỉ huy quân đội Pháp. Toàn bộ nhóm chỉ huy, đứng đầu là tướng de Castries bị bắt làm tù binh. Cũng đêm đó Quân đội nhân dân Việt Nam chiếm nốt phân khu phía nam. Cuộc chiến lớn nhất kết thúc bằng chiến thắng hoàn toàn của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hơn 16 ngàn binh lính và sỹ quan thành tù binh, trong đó có một tướng và 16 đại tá…

Trong chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 các trận giao chiến ác liệt xảy ra trên khắp các mặt trận. Tại vùng cao nguyên Trung phần quân đội Việt Nam đã tiêu diệt hoàn toàn trung đoàn số 100 mà Pháp điều đến từ Triều Tiên. Chiến tranh du kích ở đồng bằng sông Mekong và sông Hồng, ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên đạt tới quy mô sánh được với các chiến dịch của quân chủ lực. Tổng thiệt hại của Quân đội viễn chính Pháp và quân đội bù nhìn tới 112 ngàn binh lính và sỹ quan, 117 máy bay và nhiều khí tài quân sự khác.

Thất bại tại Điện Biên Phủ và tại các mặt trận khác vào đông xuân 1953-1954 buộc chính phủ Pháp phải ngồi xuống bàn đàm phán hoà bình. Tâm trạng phản chiến thậm chí còn bao trùm tất cả lực lượng cánh hữu trong xã hội Pháp.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 23-02-2013 thời gian gửi bài 13:21
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Huonghongvang (26-02-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #26  
Cũ 23-02-2013, 11:12
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

CUỘC ĐẤU SÚNG NGOẠI GIAO Ở GIƠ-NE-VƠ

Tháng 2 năm 1954 hội nghị các bộ trưởng ngoại giao của các cường quốc tại Bec-lin đã quyết định triệu tập một hội nghị quốc tế xem xét vấn đề chiến tranh Đông Dương cùng với vấn đề về giải pháp hòa bình tại Triều Tiên.

Ngày 26 tháng 4 Hội nghị Giơ-ne-vơ về Triều Tiên và Đông Dương bắt đầu công việc của mình. Đêm 20 rạng ngày 21 tháng 7 các hiệp ước về chấm dứt các hoạt động quân sự tại Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia được ký kết, tuyên bố Hội nghị Giơ-ne-vơ được thông qua.

Các hiệp ước về Việt Nam trù định việc bố trí lại lực lượng của các quân đội tham chiến vì tính chất đặc thù của chiến tranh bị phân bố đan xen với nhau, chuyển quân về 2 miền đất nước - miền Bắc và miền Nam với ranh giới là vĩ tuyến 17. Thời gian để bố trí lại lực lượng được xác định trong thời hạn 300 ngày.

Về mặt chính trị, Hiệp định Giơ-ne-vơ công nhận quyền độc lập, tự chủ, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Đông Dương - Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào. Giới tuyến theo vĩ tuyến 17 không được xem như là đường biên giới quốc gia. Muộn nhất đến tháng 7 năm 1956 Việt Nam phải thực hiện bầu cử tự do toàn dân dưới hình thức bỏ phiếu kín để thành lập chính phủ Việt Nam thống nhất.

Trước khi thống nhất, 2 miền đất nước không được gia nhập vào bất kỳ khối quân sự nào, không được xây dựng căn cứ quân sự nước ngoài trên lãnh thổ của mình, không cho phép nhập cảnh nhân viên quân sự mới và vũ khí. Mỹ tìm mọi cách để phá hoại công việc của Hội nghị, không đặt bút ký vào văn kiện cuối cùng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói với chúng tôi:

“Nhân dân và quân đội Việt Nam chiến thắng kẻ thù mạnh hơn vì quân và dân kiên quyết chiến đấu vì độc lập dân tộc, vì ruộng đất cho nông dân...Chúng tôi cho rằng, trong thời đại của chúng ta không đội quân đế quốc nào, dù nó có mạnh đến đâu, không một tướng đế quốc nào, dù tài giỏi đến mấy, cũng không thể chiến thắng được nhân dân, dù bé nhỏ và yếu ớt nhưng đoàn kết kiên quyết đứng lên đấu tranh và trong cuộc đấu tranh ấy được lãnh đạo bởi một đường lối chính trị và quân sự đúng đắn. Kinh nghiệm của chúng tôi đã chỉ ra rằng, không được ảo tưởng về sự thiện chí của đế quốc, rằng chủ nghĩa thực dân mới trong tất cả biểu hiện của nó nguy hiểm hơn chủ nghĩa thực dân cũ. Chúng ta không sợ sức mạnh của vũ khí hiện đại, bởi vì con người, với các phẩm chất đạo đức và tinh thần của mình, quyết định kết quả cuối cùng của cuộc chiến...”

Hiệp ước Giơ-ne-vơ năm 1954 củng cố sự công nhận quốc tế đối với các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam: quyền độc lập, tự chủ, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng tương quan lực lượng giữa phong trào kháng chiến Việt Nam và phe đế quốc nói chung, liên minh Pháp-Mỹ nói riêng, tại thời điểm đó ở mức mà chỉ có thể giải phóng nửa phía bắc đất nước. Ranh giới tạm thời nằm dọc theo sông Bến Hải chảy về hướng biển.

Ngay sau khi Hiệp ước được ký kết, Mỹ, với sự đồng thuận của Chính phủ Pháp đã thiết lập tại miền Nam Việt Nam chế độ thực dân mớí - công cụ để chia cắt Việt Nam vĩnh viễn và biến phần phía nam đất nước thành căn cứ quân sự của Hoa Kỳ, thành thuộc địa kiểu mới. Trong hoàn cảnh này, nhân dân Việt Nam cần đồng thời thực hiện 2 nhiệm vụ: xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc, bảo vệ miền Bắc trước mọi xâm hại từ bên ngoài và đấu tranh giải phóng miền Nam.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #27  
Cũ 23-02-2013, 11:15
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

- Nhưng Washington từ trước năm 1954 rất lâu đã bắt đầu can thiệp vào công việc của Việt Nam, ông Ngô Điền, tuỳ viên báo chí của đoàn Việt Nam tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, sau này là Vụ trưởng vụ báo chí Bộ Ngoại giao Việt Nam, đại sứ Cộng hoà xã hộ chủ nghĩa Việt Nam tại Cam-pu-chia, nói với tôi. - Đặt mục tiêu bóp chết phong trào giải phóng của nhân dân Việt Nam, biến Việt Nam thành bàn đạp quân sự chống lại phong trào cách mạng ở Đông Nam Á. Lãnh đạo 3 đế quốc lớn nhất Mỹ, Anh, Pháp, ngay từ tháng 4 năm 1950 tại hội nghị các bộ trưởng ngoại giao tại London đã thoả thuận chương trình hợp tác ở Đông Dương. Sau hội nghị này Mỹ tăng mạnh viện trợ quân sự và tài chính cho thực dân Pháp. Ngày 27 tháng 6 năm 1950 Tổng thống Mỹ Truman cử đến Đông Dương một phái đoàn quân sự đặc biệt có nhiệm vụ phải làm việc trong sự phối hợp chặt chẽ với Bộ chỉ huy quân sự Pháp. Ngày 23 tháng 12 năm 1950, Mỹ ký với Pháp và “các nước gia nhập” Đông Dương hiệp ước “phòng thủ chung”, theo đó “Pháp và các nước gia nhập cam kết tiếp nhận tất cả biên chế cần thiết đến từ Mỹ để đưa hiệp ước này vào cuộc sống, tạo các điều kiện cần thiết để các tổ chức Mỹ có thể hoàn thành sứ mệnh của họ”.

Sau khi ký hiệp ước này Washington tiến hành sự can thiệp của mình một cách dữ dội. Tháng 9 năm 1951, Mỹ ký với chính phủ Bảo Đại thoả thuận về hợp tác kinh tế. Người Mỹ cài tay chân của mình vào bộ máy hành chính bù nhìn một cách có hệ thống. Năm 1953, đổi lấy sự viện trợ quân sự lớn để thực hiện “Kế hoạch Navarre” Mỹ đã được Pháp đồng ý cho nhân viên Mỹ trực tiếp tham gia huấn luyện quân đội bù nhìn. Từ năm 1954 quyền lãnh đạo việc tổ chức và huấn luyện quân đội bù nhìn đã chuyển vào tay tướng Mỹ O’Daniel. Nhưng lần đầu tiên không phải tất cả các tướng lĩnh Mỹ đều ủng hộ việc can thiệp vào công việc của nhân dân Đông Dương. Tướng Ridgway, nguyên tư lệnh quân đội Mỹ tại Triều Tiên, đã phát biểu chống lại việc triển khai kế hoạch “Chim kền kền”. Bằng chính kinh nghiệm của mình ông khẳng định rằng, việc đưa quân viễn chinh đến Châu Á đe doạ Mỹ và các nước khác bị sa vào cuộc chiến tranh dai dẳng mà kết cục chẳng vẻ vang gì… Nhưng những tiếng nói này bị “chìm nghỉm” trong tiếng thét gào của tập đoàn quân phiệt.

Sau Hiệp ước Giơ-ne-vơ về Đông Dương Mỹ vội vàng liên kết các nước đế quốc, các lực lượng phản động địa phương vào khối quân sự khu vực để tiếp tục chiến tranh. Người Mỹ đòi được từ người Pháp một nhượng bộ quan trọng: Ngô Đình Diệm, tay chân của Washington, được CIA tuyển chọn [68] năm 1948 và được đào tạo bài bản tại Mỹ từ cuối những năm 30, được bổ nhiệm vào ghế Thủ tướng ở Sài Gòn.

***

Tháng 9 năm 1954 những cố gắng ngoại giao của Mỹ kết thúc bằng việc thành lập tại khu vực này của thế giới khối quan sự xâm lược SEATO gồm có Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Pakistan, Thái Lan, Phi-lip-pin và Niu Di-lân. Trong biên bản hiệp ước thành lập khối này có đề cập rằng “Lào, Cam-pu-chia và phần lãnh thổ tự do nằm dưới chính quyền quốc gia Việt Nam thuộc phạm vi hoạt động của hiệp ước”. Như vây, cánh cửa can thiệp quân sự trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam và các nước Đông Dương khác đã được mở toang bằng “chìa khoá ngoại giao”.

Washington đã tăng cao biên chế bộ máy ngoại giao quân sự và kinh tế của mình ở miền Nam Việt Nam. Các phái đoàn, “cố vấn” Mỹ giành sự lãnh đạo tất cả hoạt động của chế độ Sài Gòn - từ việc dự thảo hiến pháp, huấn luyện quân đội và cảnh sát cho đến xây dựng các chương trình học tập bậc phổ thông và đại học. Tháng 12 năm 1954 tại Pa-ri một hiệp định được ký kết, theo đó Mỹ nhận trách nhiệm tổ chức toàn bộ cơ cấu chính trị-xã hội của chế độ thực dân mới tại miền Nam Việt Nam. Sự tham gia của Pháp bị hạn chế và trở thành thứ yếu, không quyết định.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #28  
Cũ 23-02-2013, 11:18
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Ngày 26 tháng 10 năm 1955 Sài Gòn tuyên bố thành lập nước “Việt Nam cộng hoà”, ngay lập tức được chính phủ Mỹ và Anh công nhận, sau một chút là Pháp. Cuộc trưng cầu dân ý được lập trình sẵn giúp Ngô Đình Diệm lấn át và thậm chí gạt bỏ Bảo Đại, khẳng định với vai trò của độc tài duy nhất. (Bảo Đại, tên thật là Vĩnh Thuỵ, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1913, lên ngôi năm 1926. “Thiên Tử” lấy Nam Phương (hoàng hậu “phượng hoàng phương Nam”, thời con gái có tên Nguyễn Hữu Thị Lan), thường xuyên có ảnh hưởng tích cực đến “vị hoàng đế phóng khoáng, vui tính, nhưng tư duy tỉnh táo”. Tôi thấy Bảo Đại tại Pa-ri vào những năm 1995-1996. Ngày 26 tháng 10 năm 1955, sau khi thua Ngô Đình Diệm, Bảo Đại vĩnh viễn rời Việt Nam và sang Pháp, nơi nhận được học vấn rất tốt thời trẻ. Bảo Long, con trai ông, định cư tại thành phố Nice, nơi có thể thấy ông trên con đường ven biển, ngồi trầm ngâm trên cái ghế dài, mắt nhìn về phía biển xa xăm với những chấm trắng của những cánh buồm phía chân trời...)

Đúng nửa năm sau khi Bảo Đại rời tổ quốc, ngày 28 tháng 4 năm 1956 người lính Pháp cuối cùng rời miền Bắc Việt Nam từ Hải Phòng. “Chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam gạt bỏ tất cả đề nghị của VNDCCH tiến hành hiệp thương chuẩn bị cho tổng tuyển cử tự do, tăng cường lực lượng quân đội và hô hào “Bắc tiến”. Mỹ đưa vũ khí, khí tài quân sự vào miền Nam, tiến hành xây dựng các căn cứ không quân và hải quân và hệ thống giao thông chiến lược. Trong giai đoạn từ 1955 đến 1960 quân đội Sài Gòn nhận từ Lầu năm góc số lượng quân trang trị giá 463 triệu đô la.”

- Từ năm 1954, - nhà sử học tiếp tục, - chính sách của Mỹ ở Việt Nam theo đuổi các mục đích sau: gạt Pháp ra khỏi Đông Dương và kiểm soát miền Nam Việt Nam; thiết lập chế độ thực dân mới độc tài phía nam vĩ tuyến 17, tiêu diệt các lực lượng cách mạng và dân tộc ở miền Nam Việt Nam; chuẩn bị và tiến hành chiến tranh chống VNDCCH.

Phong trào giải phóng dân tộc bị đàn áp, làn sóng khủng bố ác liệt lan khắp miền Nam Việt Nam từ Sài Gòn đến các vùng xa xôi hẻo lánh nhất ở Quảng Trị, Thừa Thiên. Nhân dân miền Nam chưa từng thấy thời kỳ đen tối nào như vậy trong lịch sử của mình: giết người, thủ tiêu, tra tấn hàng loạt, trại tập trung, các chiến dịch tàn sát xảy ra khắp nơi. Trong những năm1955-1959 được gọi là “hoà bình” đồng bào miền Nam chịu tổn thất nhiều hơn 7 năm chiến tranh đẫm máu với thực dân Pháp.

Đến năm 1959 việc đàn áp được luật pháp hoá. “Quốc hội” Sài Gòn bỏ phiếu thông qua Luật 10/59 cho phép toà án binh quyền không chỉ được kết án ngay lập tức những người bị cảnh sát bắt, cũng như trong các cuộc truy sát mà còn được thi hành án tại chỗ. Mối đe doạ bị tước mạng sống treo lơ lửng không chỉ trên phòng trào yêu nước mà còn trên đầu tất cả dân chúng miền Nam đất nước.

Nhân dân miền Nam không còn con đường nào khác, ngoài việc cầm vũ khí đứng lên tranh đấu chống lại chế độ độc tài. Vào thời điểm khi những tên đao phủ lê máy chém đi khắp nước, khi chế độ độc tài của Diệm tỏ ra đặc biệt vững chắc đối với những kẻ hà hơi tiếp sức Mỹ (Diệm thậm chí còn được Mỹ gọi là “Churchill Châu Á”), thì sự căm phẫn và phản kháng của các tầng lớp nhân dân chuyển thành khởi nghĩa vũ trang. Tháng giêng năm 1960, tại tỉnh Bến Tre, trung tâm của đồng bằng sông Mekong, nông dân khởi nghĩa đã lật đổ chính quyền Diệm, thành lập chính quyền tự quản nhân dân… Ngày 11 tháng 11 năm 1960 một nhóm sỹ quan định thực hiện đảo chính vũ trang. Đảo chính thất bại nhưng nó lần đầu tiên cho thấy sự lung lay của chế độ thân Mỹ, chỉ ra rằng ngay cả quân nhân Sài Gòn cũng sẵn sàng hợp tác với các lực lượng yêu nước.

Ngày 20 tháng 12 năm 1960 các lực lượng cách mạng và yêu nước miền Nam Việt Nam tuyên bố thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng (MTDTGP). Mặt trận đặt mục tiêu lật đổ chế độ Diệm, đưa đất nước thoát khỏi sự can thiệp của nước ngoài, thành lập chính phủ liên hiệp dân tộc, xác lập chế độ dân chủ và tiến tới hoà bình thống nhất đất nước.

Tháng 2 năm 1961 các tổ chức vũ trang quần chúng liên kết thành Quân đội giải phóng miền Nam - Lực lượng giải phóng vũ trang nhân dân. Việt Cộng (gọi tắt của “Việt Nam cộng sản ”) đã thay thế Việt Minh.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Huonghongvang (26-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #29  
Cũ 23-02-2013, 11:19
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT”

Sau khi bầu J.F. Kennedy làm Tổng thống Hoa Kỳ, Nhà trắng đứng trước sự lựa chọn: hoặc từ bỏ ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm, đồng thời từ bỏ duy trì sự thống trị của mình tại miền Nam Việt Nam, hoặc tiến hành chiến tranh chống lại tất cả nhân dân Việt Nam. Kennedy đã chọn chiến tranh. Chính lúc đó chiến lược chiến tranh “đặc biệt” ra đời. Miền Nam Việt Nam trở thành bãi thử của nó.

Mọi sự chuẩn bị được hoàn tất vào đầu năm 1962. Vào tháng 2 Bộ chỉ huy chiến dịch Mỹ và đội “cố vấn” đến Sài Gòn. Đến năm 1964 ở miền Nam Việt Nam có đến 25 ngàn “cố vấn” Mỹ.

- Quân số quân đội Sài Gòn, - Chủ tịch Ban Chấp hành trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng Nguyễn Hữu Thọ kể với tôi, - lên tới 500 ngàn người, trang bị gồm gần 500 máy bay chiến đấu, hàng trăm xe tăng, xe thiết giáp, tàu chiến, pháo binh hạng nặng, phương tiện trinh sát và do thám điện tử hiện đại. Tại Nam Việt Nam lần đầu tiên các chất hoá học độc hại được sử dụng. Cây cối và hoa màu ở các vùng giải phóng bị huỷ diệt - khắp nơi, kể cả những vùng bị nghi ngờ hoặc có thể trở thành căn cứ của du kích.

Để thực hiện “chiến tranh đặc biệt” Mỹ đã huy động quân đội và vũ khí gấp nhiều lần Pháp khi tiến hành chiến dịch Điện Biên Phủ. Từ năm 1962 bộ máy chiến tranh Mỹ-Sài Gòn nhiều lần tiến hành các chiến dịch càn quét với sự tham gia của gần 20 ngàn lính.

Washington theo đuổi một mục đích kép: tiêu diệt các lực lượng của Quân đội giải phóng trong các chiến dịch quân sự và đồng thời gom dân nông thôn vào 16 ngàn “ấp chiến lược” - một dạng trại tập trung được rào quanh bằng dây thép gai, nơi chính quyền Sài Gòn có thể kiểm soát chặt được dân chúng, cắt đứt mọi tiếp xúc với những người Việt Cộng cách mạng.

Ưu thế hoàn toàn của quân đội Sài Gòn được bảo đảm nhờ các máy bay lên trực thăng của Mỹ. Chúng cho phép chiến đấu tại bất cứ vùng nào, “tóm gọn đối phương như diều hâu tóm chim sẻ”. Trong năm 1962 lực lượng quân đội Mỹ-Sài Gòn tiến hành gần 20 ngàn cuộc “bình định”, “càn quét”; viện trợ quân sự của Mỹ cho chế độ Sài Gòn lên đến 600 triệu đô la một năm. Theo tính toán của các chiến lược gia Hoa Kỳ, việc “bình định” miền Nam Việt Nam phải được kết thúc vào cuối năm 1962. Nhưng “bình định” bị phá sản.

Thất bại quân sự hàng loạt, việc dồn dân vào “ấp chiến lược” phá sản và mâu thuẫn ngay trong nội bộ lãnh đạo chóp bu Sài Gòn đã dẫn đến việc là với hậu thuẫn của Mỹ, ngày 1 tháng 11 năm 1963 tướng lĩnh Nam Việt Nam thực hiện lật đổ quân sự. Diệm và em trai Ngô Đình Nhu bị bắn chết. Đám sỹ quan đảo chính đứng đầu là tướng Dương Văn Minh (tên lóng là “Minh Cồ” hay “Big Minh”) được Mỹ “đỡ đầu” lên nắm chính quyền. Ở Pa-ri tôi quen bà Nhu (Trần Lệ Xuân - người dịch). Dễ hiểu khi bà ta không đánh giá cao “Minh Cồ”. Tuy nhiên hiếm ai được bà Nhu đánh giá tích cực.

Năm 1964 Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara đến Sài Gòn để xây dựng các kế hoạch quân sự mới. Theo tham mưu của vị Bộ trưởng này Washington cấp bổ sung cho Nam Việt Nam tài chính và phương tiện chiến tranh. Chính quyền và quân đội Sài Gòn lúc đó đã rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc kinh niên. Hết cuộc đảo chính này đến cuộc đảo chính khác và đều có bàn tay can thiệp của các cơ quan tình báo Mỹ muốn tìm kiếm một chính phủ có thể tiếp tục chiến tranh hiệu quả hơn. Kế hoạch được gọi bằng tên của chính McNamara. Bây giờ, sau hơn 30 năm, ông ta đã nhìn nhận lại các quan điểm của mình và coi chiến tranh Việt Nam là sai lầm của nước Mỹ.

Còn vào thời gian đó những vùng do Mặt trận dân tộc giải phóng kiểm soát đã chiếm tới 4/5 lãnh thổ và 2/3 dân số miền Nam Việt Nam. Đó là tình thực tế ở Việt Nam trước sự kiện Vịnh Bắc bộ dẫn đến cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam lần thứ nhất của Hoa Kỳ. Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh, cuộc chiến 2 trong 1 được bắt đầu: một (ở Miền Bắc) là cuộc chiến trên không, “không tiếp xúc”, hai (ở Miền Nam) là cuộc chiến khốc liệt, đến cả đánh nhau tay không, nhưng không có giới tuyến chiến trường.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #30  
Cũ 27-02-2013, 09:09
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

Chương III
SỐNG DƯỚI ĐẠN BOM. VIỆT NAM NGÀY VÀ ĐÊM

Năm 1966 qua đi. Tôi mất hơn một tháng để đến được Lào qua Ấn Độ, Pakistan, Myanma, Thái Lan và Cam-pu-chia. Và chỉ từ đó mới bay được đi Hà Nội. Thời đó chưa có đường bay thẳng giữa Moskva và nước Việt Nam dân chủ. Đối với tôi, một phóng viên của “Tin tức” thì ngả qua Trung Quốc lúc ấy bị cấm. Cũng có thể đi tàu thủy từ Vladivostok qua Hồng Công, nhưng… Thế là tôi đã ở Việt Nam.
Trời mưa dầm dề mấy ngày liền. Nhưng hôm nay có vẻ như mây đen đã quang trên thành phố. Nắng lung linh nhảy múa trên mặt hồ tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp, nắng hong khô vỉa hè, nắng làm hồi sinh những tán cây cổ thụ cao lớn của Hà Nội-cây sấu. Tôi ngồi ở ghế đá bên hồ Hoàn Kiếm ghi nhật ký.

Ngày đầu tiên. Tìm thấy “người mất tích”
Hà Nội bây giờ là thành phố thời chiến. Hà Nội thức dậy trước bình minh. (Đối với tôi thì phóng sự này dường như mãi mãi ở thời hiện tại).
“Tôi đi trên phố phường Hà Nội trong sương sớm. Một đoàn tàu hàng đang qua cầu Long Biên. Dường như để thay nhạc hiệu, mấy con tàu kéo trên sông thỉnh thoảng lại kéo còi. Trên phố là những dòng xe đạp mãi không kết thúc. Đúng 5 giờ sáng các cơ quan, nhà nhà máy bắt đầu làm việc. Áp phích trên phố: “Chương trình ca nhạc hôm nay ở Nhà hát Lớn Hà Nội …”

Nhưng bỗng còi báo động phòng không bỗng vang lên.
Các chiến sĩ tự vệ vào vị trí chiến đấu. Nhiều tiếng nổ đâu đó gần đây.
- Chúng ném bom khu vực sân bay Gia Lâm, - bác công nhân Nhà máy cơ khí Hà Nội bảo tôi – ngày 16 tháng 12 năm 1966 là lần đầu tiên chúng ném bom cầu Long Biên qua sông Hồng. Còn bây giờ thì ngày nào cũng đánh…”
Những vị trí đầu não quan trọng nhất của VNDCCH đều bị ném bom.
…Ngày 25 tháng 4 lần đầu tiên sau hai năm rưỡi chiến tranh, không quân Mỹ đánh sân bay dân sự ở ngoại ô Gia Lâm. Những khu phố đông dân bị phá hủy. Trường học và bệnh viện ở ngoại thành bị phá tan tành. Hơn trăm dân lành bị giết hại. Vào ngày hôm đó có vài chục máy bay Mỹ tham gia oanh tạc thủ đô Việt Nam.

Khách sạn Thống Nhất. Khách sạn “Metropol” cũ của người Pháp . Bàn làm việc tại văn phòng thường trú Hà Nội của “Tin tức”. Tôi biết chuông điện thoại sẽ reo vang vào đúng 4 giờ như liên tục trong nhiều tháng gần đây. Giọng nói của chị nhân viên tốc ký ở Moskva Rima Gasparian hay Zoia Solomina sẽ lặp đi lặp lại một câu quen thuộc: “Cậu sẽ gửi tư liệu chứ? Có nhiều không? Lại đánh bom, lại đẫm máu hả? Chiến tranh mà… Nào!...”

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 04-03-2013 thời gian gửi bài 16:52
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #31  
Cũ 27-02-2013, 09:12
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

Trong lúc chờ điện thoại, tôi dò tìm sóng trên chiếc đài bán dẫn. Đài Hà Nội đưa tin: “Mỹ tiếp tục ném bom Hải Phòng - cửa biển của nước VNDCCH, khu Liên hợp gang thép Thái Nguyên, nhiều thành phố đông dân của VNDCCH. Ở Hải Phòng máy bay Mỹ oanh tạc cả tàu buôn Anh “Dartford” có độ mớn nước 4 ngàn tấn. Quốc kỳ Anh trên tàu bị rụng. Buồng máy và phần mũi tàu bị bắn phá. Sáu thủy thủ bị thương nặng... Lực lượng phòng không VNDCCH đánh trả quyết liệt. Bốn máy bay Mỹ bị bắn hạ trên bầu trời Hà Nội, Hải Phòng cũng tiêu diệt 12 “giặc trời”.
Tôi chuyển sang sóng của đài Sài Gòn: “Không lực Hoa Kỳ chỉ tấn công mục tiêu quân sự của Bắc Việt, không lực Hoa Kỳ không có tổn thất nào...” Dù sao nhà báo luôn có vị thế đặc quyền: họ có nhiều nguồn tin khác nhau, họ nhìn thấy nhiều và tự so sánh, đối chiếu...
Tôi tắt đài. Trước mắt tôi là trường học, bệnh viện tan hoang, những khu phố đổ nát. Đó chính là những “mục tiêu quân sự” ư?

Ghi chép trong sổ tay. 25 tháng 4 năm 1967.
“14 giờ 00 tôi gửi bài về Moskva. Cuối giờ chiều tôi đến một xóm nhỏ gần Hà Nội, ở đó có xác chiếc máy bay Mỹ “F-105” bị bắn rơi hôm nay. Phi công Robert Larry Westcamp bị thương nặng đã bị hai cô dân quân bắt làm tù binh”.
Lúc đó tôi không ngờ rằng chính cái tên của viên phi công lại trở thành một tin tình báo. Gần ba mươi năm sau người ta nói với tôi rằng phi công Westcamp bị liệt vào danh sách “bị mất tích”. Hóa ra tôi là người tìm thấy anh ta.
Cánh đồng lúa. Những hố bom sâu hoắm. Trong một cái hố như vậy là xác máy bay. Viên phi công nằm trong một ngôi nhà nhỏ vách đất. Anh ta đã chết nửa giờ trước đó. Trước mắt tôi là giấy tờ, vũ khí, trang bị, tiền bạt Thái Lan, tiền pesô Philippin, đô la Mỹ... Chứng minh thư sĩ quan ghi tên trung úy Robert Larry Westcamp, sinh ngày 4 tháng 7 năm 1942. Số sĩ quan 3152424. Phục vụ trong phi đội ném bom số 354 đóng ở sân bay Tacli Thái Lan.
Sinh năm 1942, kém tôi có ba tuổi... Tôi chợt nhớ lại tin của đài Sài Gòn: “Không lực Hoa Kỳ không bị tổn thất”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
Huonghongvang (27-02-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #32  
Cũ 28-02-2013, 07:34
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

Ngày thứ hai, 29 tháng 4. Ở trận địa pháo cao xạ.

Ngoại thành Hà Nội. Bến phà đã ở sau lưng. Trước mặt là con đê xanh chạy ngoằn ngoèo như con rắn. Bốn bề là đồng lúa xanh rờn. Mặt trời nhiệt đới nóng bỏng treo trên đỉnh đầu. Còn phải đi 10 phút nữa. Cuối cùng tôi lọt vào bóng râm của một vườn chuối nhỏ. Ven vườn chuối có một trận địa pháo cao xạ. Ba hôm trước tôi đã ở với đội pháo này. Tôi còn nhớ, chỉ trong ngày hôm đó các chiến sĩ phòng không đã đánh nhau với bọn cướp trời tám lần. Lúc ngưng nghỉ giữa các trận đánh, các chiến sĩ quây quần quanh nồi quân dụng. Họ ăn cơm rồi sau đó ngồi lặng lẽ. Có vẻ như không ai muốn phá hỏng sự tĩnh lặng quý giá như thế.

Các chiến sĩ biết nâng niu những giây phút bình yên hiếm hoi. Ai cũng tư lự nghĩ về chuyện của mình. Trung sĩ Hùng thổi kèn acmonica một giai điệu nào đó, có thể do chính anh sáng tác ra ở ngay đây, ở đội pháo này. Binh nhì Điền 20 tuổi thì ngồi thoải mái trên càng khẩu pháo 57mm (do Trung Quốc sản xuất) viết nốt bức thư viết dở từ hôm qua cho người vợ chưa cưới ở một làng nhỏ xa xôi mãi tận Đồng Hới. Như thường lệ, Điền viết thư bằng thơ, xong gấp tờ giấy lại rồi nở một nụ cười vu vơ như trẻ con. Ai mà biết được, có thể anh ta vừa kể câu chuyện thầm kín nhất của mình trên trang giấy nhỏ.
15 giờ 20 phút. Sở chỉ huy thông báo: Một tốp máy bay “F-105” đang bay theo hướng thẳng đến trận địa. Các khẩu đội pháo đo đạc căng thẳng. Tôi nấp dưới hào giao thông chuẩn bị máy ảnh. Đây là lúc dùng nó. Bỏ bút đi!

Hùng đưa quả đạn đầu tiên lên nòng...và cũng là cú bấm máy đầu tiên của tôi. Mỗi giây qua đi đám máy bay càng đến gần hơn. Từ hầm trú ẩn, tôi chụp ảnh đội pháo. Trước mắt tôi nhóm người này là một thực thể thống nhất - hạt nhân đặc biệt được gắn chặt bằng một thanh nam châm vĩ đại mà những người khác nhau gọi theo cách khác nhau: nghĩa vụ, lòng dũng cảm, tình yêu tổ quốc. Nhưng có lẽ là cả ba.
Mỗi phút giây chờ đợi trận đánh dài như vô tận. Thời gian ở đây đánh lừa như vậy đấy. Hai chiếc F-105 bổ nhào xuống trận địa. Mấy quả “Shrike” – tên lửa có điều khiển nổ ngay bên phải cách trận địa vài chục mét. Nhưng kìa một chiếc F-105 lọt vào ống ngắm của Điền. Bắn! Trúng rồi. Chiếc máy bay bùng cháy. Mấy giây sau nó lao xuống ruộng lúa. Những chiếc khác bay về hướng mặt trời. Nhưng một quả bom vẫn kịp nổ ngay gần trận địa. Bùn đất nhão nhoét trùm lên các chiến sĩ. Hùng bị sức ép. Chân Điền bị thương nặng. Nhưng còn phải đánh trả một cuộc tập kích nữa…

Cô y tá Đào đồng thời cũng là bạn chiến đấu của các chiến sĩ cao xạ, vừa băng bó cho Điền vừa dỗ dành:
- Anh cố chịu nhé. Chúng em sẽ mau chóng đưa anh vào bệnh xá.
- Không sao đâu, nó sẽ liền trước đám cưới của anh. Em biết Liên của anh mà. Em nghĩ sao, cô ấy sẽ đợi anh chứ? Nếu chẳng may mất một chân thì sao nhỉ? Im lặng một chút rồi anh thều thào qua cặp môi khô nẻ: - Nói với anh em là vết thương không nguy hiểm đâu. Anh sẽ ở lại với anh em đến tối. Đừng đưa anh đi sớm quá. Có việc cho anh làm. Đừng loại anh ra sớm thế, Đào nhé. Được không em? Chúng ta còn chiến đấu mà. Tối nay gửi cái thư cho Liên hộ anh, nhớ thay phong bì đi, cái này dính máu rồi…

Ngay trong tối 29 tháng 4 ấy Điền được đưa vào bệnh xá, các bác sĩ đã cứu được cái chân của anh và lá thư đã bay về cái làng nhỏ xa xôi gần Đồng Hới.
Tôi nhớ chuyện này khi gặp lại Điền mấy tháng sau, vẫn ở đội pháo cao xạ đó. Cậu ta vẫn như ngày ấy, ngồi trên càng pháo 57mm và viết viết cái gì đó.

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 04-03-2013 thời gian gửi bài 16:53
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
Huonghongvang (06-03-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #33  
Cũ 28-02-2013, 07:36
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

Ngày thứ ba, Mùng 1 tháng 5. Bí mật rừng tên lửa.

Chúng tôi đã quen với việc máy bay Mỹ xuất hiện trên bầu trời Hà Nội chính xác vào lúc 15 giờ 30 phút nếu thời tiết cho phép. Vào ngày 1 tháng 5 năm 1967 cũng như vậy. Còi báo động phòng không vang lên. Đạn pháo cao xạ nổ rầm trời. Đâu đó trong những đám mây trên vùng trời phía bắc Hà Nội đang có một trận không chiến. Những chiếc MIG Việt Nam quần nhau với lũ Fantom, Skyraider Mỹ.
Ở Việt Nam đã nhiều lần tôi được nghe: “Tít trên cao ấy, nơi đạn cao xạ đã không còn nguy hiểm và ngay cả máy bay địch cũng không lên tới đã có tên lửa đất đối không để trị bọn giặc. Tên lửa Nga hay Xô viết cũng đều là “tên lửa Liên Xô”. Ngày nào cũng có tên lửa hạ được máy bay địch trên khắp miền Bắc Việt Nam. “Bí quyết” thành công của bộ đội phòng không VNDCCH là gì? Các chiến sĩ tên lửa Việt Nam đã hé lộ cho tôi.

Sâu trong những cánh rừng nhỏ, họ đắp những lũy đất cao. Giống như thành lũy phòng thủ ở những thế kỷ trước vậy. Ở giữa chiến lũy này là vũ khí hiện đại – tên lửa. Trên đó ghi rõ bằng tiếng Việt: “Chế tạo tại Liên Xô”. Mũi nhọn chĩa thẳng lên trời đầy hăm dọa.
…Nhiều tốp máy bay Mỹ đang bay vào Hà Nội. Độ cao là 3 ngàn mét. Báo động chiến đấu. Tên lửa được đưa vào trạng thái sẵn sàng cấp một. Tiểu đoàn pháo bên cạnh cũng tham gia vào trận đánh đối mặt. Nhiều loạt đạn nối tiếp nhau bắn lên. Một trong số những mũi tên rực lửa bay lên chặn đường máy bay địch. Phát hiện thấy tên lửa, tên phi công Mỹ bay ngoặt đi ngoặt lại cố tránh. Tôi xem cuộc rượt đuổi rợn người này. Bám sát cái hình tam giác sáng bạc của máy bay là một cây kim khổng lồ đang nóng đỏ. Cảnh này thật khó có gì sánh nổi. Chớp mắt sau, một đám mây da cam sáng chói bùng lên. Mục tiêu bị diệt. – “Thế là bớt một chiếc”- Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu.

Trên trời, cuộc đấu tay đôi giữa máy bay và tên lửa vẫn tiếp tục. Tôi chợt nghĩ: những tia chớp lửa tàn khốc được điều khiển bằng bộ não điện tử này do chính đồng bào mình làm ra. Và ở đây, tại Việt Nam, chúng trừng phạt kẻ xâm lược để bảo vệ bầu trời tự do và yên bình. Trên nóc khách sạn Thống Nhất của tôi (nói là “của tôi” là vì năm 1967 tôi thường là khách trọ duy nhất của khách sạn) tôi thiết kế trên mái nhà một điểm quan sát để theo dõi bầu trời. Có lần tôi cùng chuyên gia quân sự Liên Xô, đại tá Henric Baldynov được chứng kiến chỉ trong một ô vuông trên trời sau vài giây đồng hồ có ba máy bay Mỹ liên tiếp bị bắn cháy ngay lập tức. Tôi không còn được chứng kiến cuộc xạ kích nào thiện xạ như thế nữa. Cứ như trong phim vậy!

…Chỉ trong hai năm chiến đấu bảo vệ Hà Nội, tiểu đoàn tên lửa mà tôi từng đến thăm đã bắn hạ hàng chục máy bay Mỹ. Tôi biết điều đó là từ thông cáo của Bộ tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.
- Tôi nhớ ở Ninh Bình năm 1965, - thượng úy Lê Đồng, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn tên lửa 61 kể - Khi ấy phân đội tên lửa còn non trẻ của chúng tôi bước vào trận đánh đầu tiên với máy bay Mỹ. Tiểu đoàn phóng hai quả tên lửa và hai máy bay địch bị tiêu diệt. Đó là chiến công đầu tiên.

Kể từ đó các bệ phóng tên lửa của Tiểu đoàn 61 đã tham gia vài chục trận đánh. Càng ngày càng có kinh nghiệm, con người cũng được đào tạo tốt hơn. Họ không bắn sau khi đã tắt rada định vị. Họ hành động dũng cảm, thậm chí phiêu lưu. Nếu dũng cảm là tốt thì phiêu lưu lại rất nguy hiểm, nguy hiểm nhưng cần thiết trong chiến đấu… Trong những năm chiến tranh tiểu đoàn phải liên tục di chuyển, thay đổi trận địa chiến đấu. Chẳng có nơi nào mà Trung đoàn tên lửa số 6 lại không chiến đấu! Chỉ riêng Tiểu đoàn 61 đã mài lốp hơn hai ngàn dặm máu lửa trên những con đường bị bom đánh tan nát, lầy lội ổ voi, ổ gà của Việt Nam. Chiến thuật cơ động của chiến tranh hiện đại đòi hỏi phải như vậy. Biết điều động binh lực là sự đảm bảo chiến thắng cho mỗi trận đánh.

Trong những chuyến di chuyển dài ngày vất vả, không ít lần nhân dân địa phương đã giúp đỡ các chiến sĩ tên lửa. Họ dùng đòn tre đẩy kéo những bệ phóng bị sa lầy. Không phải lúc nào trên đường cũng tìm được kích hay các phương tiện nâng, cẩu khác. Mà thời gian không chờ đợi. Phía trước là trận địa mới, trận đánh mới. Nhiều lần nông dân ở các làng lân cận mang cuốc xẻng đến giúp các chiến sĩ xây dựng trận địa. Họ tự nguyện đến sau một ngày lao động, sau những trận ném bom và cái nắng thiêu đốt.

Tôi lúc nào cũng gặp các đội dân quân súng máy bên cạnh các trận địa tên lửa. Bởi vì máy bay Mỹ thường xuyên thay đổi chiến thuật đánh phá, chúng thường tấn công mục tiêu từ những độ cao khác nhau. Vì vậy phối hợp chặt chẽ hỏa lực súng máy phòng không với tên lửa sẽ mang lại kết quả tốt nhất. Súng máy không “đuổi theo” máy bay mà chỉ bắn trong phân vùng của mình và như vậy tạo nên lưới lửa dày hơn và có thể mang lại thành công.

- Ví dụ như sáng nay, – Lê Đồng kể tiếp, – trên màn hình rada xuất hiện máy bay địch đang đến gần Hà Nội. Còi báo động. Các bệ phóng tên lửa sẵn sàng chiến đấu. Pháo cao xạ, súng máy phòng không cỡ lớn và thậm chí cả súng bộ binh bắn chặn dồn dập buộc máy bay địch phải vọt lên tránh lưới đạn này. Và trên độ cao này máy bay là mục tiêu ngon ăn của tên lửa.
Các chiến sĩ trẻ Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Xuân Đài thao tác dứt khoát. Tên lửa đã lên bệ. Phóng! Vài giây sau thêm một chiếc máy bay F-4H nữa của hải quân Mỹ bị hạ trên bầu trời Hà Nội.

Tôi đề nghị Lê Đồng kể về bản thân mình. Nhưng anh ấy làm như vô tình chuyển câu chuyện sang chủ đề khác, rất vui vẻ nói về những người bạn cùng đơn vị. Nhưng với tình cảm đặc biệt anh kể cho tôi về những người đồng nghiệp – các sĩ quan Liên Xô. Nhưng lúc ấy chúng tôi không thể viết một chữ nào về chuyện này. Bí mật quân sự mà. Nếu như chuyển bằng điện thoại đi qua cả thế giới này về Moskva thì tin này cũng không được khen đâu. Cả mục tiêu lẫn con người có thể bị giải mã.
Bây giờ thì tất những thứ “bảo mật” đang ở trước mặt tôi…

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 04-03-2013 thời gian gửi bài 16:54
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
Huonghongvang (06-03-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #34  
Cũ 28-02-2013, 07:38
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

… Cuốn sách này sắp xong, đã đưa đi sắp chữ. Bỗng một buổi sáng, nhà tổ chức khắp chốn đồng thời là bạn tôi, Nicolai Nicolaevich Kolesnic, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch tổ chức liên khu vực cựu chiến binh Việt Nam (tôi là thành viên từ khi thành lập) gọi điện hỏi: “Cậu có thể đến Viện lịch sử quân sự Bộ quốc phòng LB Nga ở số 14 đại lộ Universitet Moskva được không? Có hội thảo khoa học thực tế về chủ đề “hợp tác quân sự và kinh tế Xô-Việt trong thời gian Mỹ xâm lược Việt Nam (1964 – 1973). Sẽ có những người này tham gia: Cựu công sứ - cố vấn Evgeni Pavlovich Glazunov (còn là bạn thời đại học của tôi); giáo sư, trung tướng nghỉ hưu, cựu trưởng nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô ở Việt Nam thời kỳ 1972 – 1975, chủ tịch Hội liên hiệp cựu chiến binh phòng không Hiupenen Anatoli Ivanovich; trưởng đại diện nhóm của Tổng cục 4 Bộ quốc phòng ở Việt Nam, trung tướng Vorobiov Mark Ivanovich; tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn tên lửa phòng không ở Việt Nam năm 1966-1967, nay là trung tướng Belousov Vladimir Alecseievich; chỉ huy trung đoàn tên lửa phòng không; Đại tá Zaika Anatoli Borisoich; người được thưởng huân chương Chiến công hạng 3 của nước CHXHCN Việt Nam Shapkun Ivan Petrovich; chỉ huy quân y trung đoàn tên lửa phòng không vùng “V” ở Việt Nam, bác sĩ công huân LB Nga, đại tá quân y Nazarenco Evgeni Tikhonovich và những người khác. Sẽ có cả lính tên lửa Valeri Kuplevakhsky, các cố vấn ngoại giao Leshev Spartak Ivanovich, Shestopolov Lev Nilolaevich, Zuev Vladimir Andreievich, bà bạn chiến đấu của chúng ta Lidia và các người khác.

…Hội trường của Viện chật kín người. Hơn trăm người chúng tôi không chỉ là cựu chiến binh của các cuộc xung đột vũ trang khu vực mà còn là những người tham gia chống xâm lược Mỹ ở Việt Nam.
Giờ đây chúng tôi có thể nói công khai nhiều chuyện. Tôi nhớ lại câu chuyện với đại úy tên lửa Việt Nam ở trận địa. Tất cả chuyện này từng là bí mật…

– Đến hết năm 1965 thì đã có 800 máy bay Mỹ bị bắn rơi ở VNDCCH, - E.P. Glazunov nói, - Sau một năm thì số lượng lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã tăng từ 30 ngàn lên 200 ngàn, tức là tăng những 7 lần. Ngoài ra, trên vùng biển Việt Nam còn tập trung 56 ngàn lính thủy và phi công trên các con tàu của Hạm đội 7. Thêm vào số này còn có lực lượng đồng minh của Mỹ - Nam Triều Tiên, Úc, Thái Lan, Niu Di-lân (quân số từ 25 ngàn mau chóng tăng lên 75 ngàn). Quân số của chế độ Sài Gòn tăng lên 600 ngàn trong năm 1965. (Các chuyên gia Mỹ đã tính khi ấy quân số Việt cộng, tức lực lượng yêu nước, là 230 ngàn). Trong khoảng 1964 – 1967 người Mỹ đã sử dụng hơn 50 loại máy bay phản lực và trực thăng tối tân nhất.

Những cuộc ném bom ác liệt nhất bắt đầu từ năm 1968 và sau đó là từ ngày 18 đến 30 tháng 12 năm 1972. Chỉ sau 12 ngày đêm đó Mỹ đã mất hơn 80 máy bay, trong đó có cả B-52.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
Huonghongvang (06-03-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #35  
Cũ 28-02-2013, 14:30
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

– Liên Xô đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của nhân dân Việt Nam, - E.P. Glazunov nói, - Trong những năm chiến tranh. Liên Xô viện trợ cho Việt Nam chừng 1,5 triệu rúp, hay là, theo nhận định của các chuyên gia Mỹ, gần 2 triệu đô la mỗi ngày. Trong những năm chiến tranh đã có 22 ngàn người Liên Xô làm việc ở Việt Nam. Chính phủ VNDCCH đánh giá cao lao động xương máu của các chuyên gia Liên Xô, - trong thực tế tất cả chuyên gia Liên Xô đều được Chính phủ Việt Nam tặng thưởng.

Chuyên gia quân sự cũng như tên lửa Liên Xô bắt đầu có mặt ở VNDCCH từ mùa xuân 1965 và ngày 25 tháng 7 các đơn vị hỗn hợp Việt - Xô này đánh trận đầu tiên và tiêu diệt 3 máy bay Mỹ. Vào những năm đó báo chí xô viết không viết gì về chủ đề này nhưng ở Mỹ và nhiều nước khác người ta biết rõ là lực lượng phòng không VNDCCH được trang bị vũ khí Liên Xô. Tháng 12 năm 1966 báo Sao đỏ lần đầu đăng một phóng sự trong đó có nói rằng “tên lửa và máy bay do người Liên Xô chế tạo đang bảo vệ bầu trời VNDCCH”. (Báo Sao đỏ ngày 21.12.1966).

Tháng 6 năm 1967 khi chiếc máy bay Mỹ thứ 2000 bị bắn rơi trên miền Bắc Việt Nam, Bộ Quốc phòng VNDCCH đã gửi lời chúc mừng tới các chuyên gia quân sự Liên Xô, trong đó bày tỏ lòng biết ơn về sự lao động hy sinh quên mình của họ, những đóng góp của họ cho tình hữu nghị và tình đoàn kết của nhân dân hai nước. Ít lâu sau, nhân dịp kỷ niệm hai năm binh chủng tên lửa phòng không Việt Nam, báo Nhân dân viết rằng binh chủng tên lửa phòng không cùng với các binh chủng khác đã bảo vệ vững chắc bầu trời VNDCCH. Mỗi độc giả Việt Nam cũng như nước ngoài đều hiểu rõ rằng đây là binh chủng hiện đại nhất ở Việt Nam được hình thành nhờ sự giúp đỡ tích cực của Liên Xô và chuyên gia quân sự xô viết. Trong cuốn sách xuất bản ở New York năm 1968 với tên gọi gây tò mò: “Việt Nam: chúng ta sa lầy và thoát ra như thế nào”, tác giả là chuyên gia nổi tiếng về Việt Nam David Schönbrunn đã chỉ rõ ý nghĩa to lớn của viện trợ quân sự và kinh tế của Liên Xô cho Việt Nam: “Hầu hết xe vận tải, pháo cao xạ, tên lửa và máy bay, – ông viết, – đều có nguồn gốc xô viết”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
Huonghongvang (06-03-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #36  
Cũ 28-02-2013, 14:34
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

– Năm 1965 – trung tướng nghỉ hưu Mark Vorobiov nói – Liên Xô đã cung cấp cho binh chủng tên lửa phòng không VNDCCH tổ hợp tên lửa phòng không CA-75M “Dvina”.
Các phân đội tên lửa phòng không bắt đầu tham gia chiến đấu ngày 25 tháng 7 năm 1965 và hôm đó đã bắn rơi 3 máy bay. Binh chủng tên lửa phòng không nhanh chóng trở thành lực lượng chủ yếu của quân chủng phòng không không quân Việt Nam. Họ đã kết thúc chiến tranh với chiến thắng vang dội sau khi tiêu diệt 31 máy bay ném bom chiến lược B-52 trên bầu trời Hà Nội trong thời gian từ 12 đến 29 tháng 12 năm 1972.
Tổng kết chiến tranh, chính phủ Việt Nam đã tặng binh chủng tên lửa phòng không danh hiệu cao quý: “Binh chủng anh hùng”.

Từ 1965 đến 1972 đã có 95 tổ hợp tên lửa phòng không và 7658 quả tên lửa được đưa tới Việt Nam. Đến cuối cuộc chiến (tháng 1 năm 1973) lượng tên lửa đã sử dụng cộng với tổn thất trong chiến đấu và hư hỏng là 6806 quả. Số bệ phóng sẵn sàng chiến đấu còn lại là 39.
Bệ phóng tên lửa CA-75M là loại bệ phóng di động đầu tiên. Nhà sản xuất hàng đầu là Tổ hợp khoa học sản xuất Almaz (tổng công trình sư A.A. Raspletin), nhà sản xuất tên lửa là Phòng nghiên cứu Fakel (tổng công trình sư P. D. Grushin). Đơn vị đặt hàng là Tổng cục 4 Bộ quốc phòng (thủ trưởng là thượng tướng không quân G. F. Baidukov). Về việc này thiếu tướng M. I. Vorobiov đã viết ở trang 108 tạp chí “Duyệt binh”.

Đến thời chiến tranh Việt Nam thì tổ hợp này có đặc tính không cao so với trình độ tính năng kỹ thuật bay của máy bay chiến đấu Mỹ. Tuy nhiên ban đầu nó bắn thành công máy bay chiến thuật và máy bay hải quân. Trong năm 1965 lượng đạn tiêu hao là thấp nhất – 1-2 quả tên lửa để hạ một máy bay. Yếu tố bất ngờ đã lên tiếng.

Để giảm tổn thất, người Mỹ bắt đầu thích nghi với hoàn cảnh bằng cách dùng các biện pháp ban đầu là chiến thuật và sau đó là biện pháp kỹ thuật tùy theo mức độ thể hiện mặt yếu của tổ hợp Dvina: tiếp cận mục tiêu ném bom ở độ cao thấp, cơ động linh hoạt trong vùng hỏa lực, tăng cường gây nhiễu (từ máy bay có máy gây nhiễu EV-66). Tất cả các biện pháp đó có kết quả rõ rệt. Đến giữa năm 1966 để diệt một máy bay phải tốn đến 3-4 quả tên lửa. Đến năm 1967 thì người Mỹ chế tạo và lắp trên máy bay cường kích thiết bị gây nhiễu cho tổ hợp phóng trên tần số của kênh ngắm mục tiêu làm cho hiệu suất bắn giảm đi đáng kể.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #37  
Cũ 28-02-2013, 14:43
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

Đến cuối năm 1967 tình hình còn phức tạp hơn nữa đối với tổ hợp tên lửa phòng không, khi người Mỹ bắt đầu lắp máy gây nhiễu ở tần số của tên lửa trên máy bay cường kích, do vậy trong hàng loạt trường hợp tên lửa không “bắt” được sóng điều khiển và rơi, - M. I. Borobiov cho biết.
Nhìn chung thì hiệu suất của binh chủng tên lửa phòng không giảm một phần nữa là do các trận địa tên lửa bị đánh phá. Chúng ném bom phá và bom bi, phóng tên lửa “Shrike”.

Phía phòng không cũng áp dụng các biện pháp duy trì hiệu suất chiến đấu của các bệ phóng tên lửa theo hai hướng: theo hướng chiến thuật
- bằng cách nghiên cứu cách sử dụng bệ phóng tên lửa trong chiến đấu thích ứng với thay đổi chiến thuật của không quân Mỹ, và theo hướng kỹ thuật- bằng cách cải tiến một số hệ thống, trực tiếp hoàn chỉnh thiết bị ngay trong thực tiễn chiến đâu. Các tổ hợp mới cung cấp đã được hiện đại hóa, áp dụng những cách giải quyết mới về nguyên tắc được tìm ra bằng kinh nghiệm tác chiến. Chẳng hạn như dùng mô hình bệ phóng tên lửa giả.

Phân tích những lần bắn thất bại trong tháng 12 năm 1967, lúc ấy sau khi phóng lên thì nhiều quả tên lửa không bắt được tín hiệu điều khiển và rơi, - M. I. Vorobiov nêu rõ, - các chuyên gia Liên Xô kết luận rằng nguyên nhân có lẽ chỉ do nhiễu vô tuyến ở tần số của kênh dẫn đường tên lửa. Người Việt Nam cũng cho biết là cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1967 trên máy bay cường kích Mỹ đã lắp máy gây nhiễu vô tuyến “chống phát hiện, chống tên lửa đang bay”. Lập tức ngay sau đó, được chỉ huy cho phép, trong lúc không kích, trên một tổ hợp không phóng tên lửa, các công trình sư chúng ta phân tích tình trạng nhiễu trên màn hình trạm dẫn đường tên lửa và trên các thiết bị rồi tiến hành điều chỉnh tần số ra khỏi vùng nhiễu. Dựa trên kết quả thực nghiệm này, phòng nghiên cứu ở Moskva khẩn trương hoàn thành nghiên cứu, soạn thảo tài liệu kỹ thuật và chế tạo các linh kiện để cải tiến hoàn thiện máy móc. Trong lúc đó thì chiến tranh vẫn tiếp tục...

Từ năm 1967 ở Việt Nam đã có một nhóm nghiên cứu khoa học (bao gồm đại diện của đơn vị đặt hàng của Bộ quốc phòng, viện nghiên cứu khoa học, bãi thử nghiệm phòng không, phòng thiết kế công nghiệp). Nhóm này không chỉ phân tích kết quả bắn và những điều kiện cụ thể mà còn thử nghiệm nhanh những cơ sở cúa của một vài giải pháp kỹ thuật nào đó, chẳng hạn như nâng cao khả năng chống nhiễu của kênh dẫn đường tên lửa hay việc lựa chọn chủng loại đầu nổ mới của tên lửa.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #38  
Cũ 01-03-2013, 09:09
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

Khi tổng kết chiến tranh, trong cuộc gặp đoàn đại biểu Liên Xô và chỉ huy nhóm chuyên gia quân sự xô viết ngày 7 tháng 2 năm 1973 tại Hà Nội, Bộ trưởng quốc phòng VNDCCH, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói thế này: “Nếu như binh chủng tên lửa phòng không không đánh thắng B-52 ở Hà Nội thì cuộc đàm phán ở Pa-ri sẽ vẫn tiếp tục kéo dài, và sẽ không ký được Hiệp định. Hay nói khác đi thì, thắng lợi của binh chủng tên lửa phòng không là thắng lợi chính trị”.

Và đây là những hồi ức của một người thực khác, sĩ quan chỉ huy tổ trung gian Anatoli Borisovich Zaika, giờ là đại tá nghỉ hưu.
- Trung đoàn 248 tên lửa phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam. – ông kể tại hội thảo, - bước vào chiến đấu khi chưa hoàn thành chương trình huấn luyện. Huấn luyện cho đội tác chiến của trung đoàn là các chuyên gia phòng không của Quân khu Bacu. Hầu hết họ là sĩ quan và chiến sĩ tại ngũ, có hai ba sĩ quan là giảng viên Trường sĩ quan phòng không Ordzonikidze. Đáng lẽ phải huấn luyện theo chương trình một năm thì sau 3 tháng Trung đoàn đã nhận lệnh chiếm lĩnh trận địa chiến đấu với nhiệm vụ vừa chiến đấu vừa tiếp tục huấn luyện. Trung đoàn thành lập và trang bị khí tài xong thì vừa hết tháng 8. Đến tháng 9-1965 thì tất cả các tiểu đoàn đã ra trận địa. Họ lần lượt đi chiến đấu, ai huấn luyện trước thì đi trước. Họ lắp đặt bệ phóng tên lửa trong thời hạn cực kỳ gấp rút rồi tiến hành điều chỉnh.

Đại tá (từ tháng 9 năm 1965 là thiếu tướng) Bazhenov Nicolai Vasilievich – chỉ huy tổ chuyên gia Liên Xô chỉ đạo việc thành lập trung đoàn (khi ấy thiếu tá Zaika Anatoli Borisovich là kỹ sư trưởng của tổ).
Bazhenov N. V – người đã tham gia Chiến tranh giữ nước vĩ đại tỏ ra là một người rất có kinh nghiêm trong công tác tổ chức. Bên phía Việt Nam, chỉ huy trung đoàn là đại tá Hội, - người có lẽ đã tham gia tất cả các cuộc chiến tranh mà dân tộc Việt Nam đã tiến hành để giành độc lập, ông cũng đã tham gia cả cuộc chiến tranh Triều Tiên. Là một người thực tiễn, có học vấn cao, trước sau như một, ông không ngừng học hỏi để hoàn thiện kiến thức của mình. Đội ngũ sĩ quan được học hành đầy đủ. Nhiều người biết tiếng Nga vì học ở Liên Xô về, đã có kinh nghiệm chiến đấu trong giai đoạn cuộc chiến tranh thứ nhất là Kháng chiến chống Pháp.

– Thời gian đầu, chiến thuật sử dụng tổ hợp tên lửa phòng không đại khái thế này, - đại tá nói. - Sau mấy tháng huấn luyện đã định, các tiểu đoàn ra chiếm lĩnh trận địa dưới sự yểm trợ của pháo cao xạ. Chúng tôi thành lập các cụm hỗn hợp, khác nhau về quân số, tùy theo mục tiêu cần bảo vệ và tầm quan trọng của nhiệm vụ. Tất cả được làm bí mật. với các biện pháp đề phòng và ngụy trang có thể, chúng tôi giữ kín việc di chuyển và chiếm lĩnh trận địa. Chiến thuật này đã đem lại kết quả tích cực. Nó làm cho máy bay trinh sát Mỹ nhầm lẫn, tạo điều kiện để tung ra đòn đánh bất ngờ và có hiệu quả vào các tốp máy bay, làm cho chúng luôn luôn căng thẳng, bắt chúng phải tốn nhiều lực lượng và phương tiện để trinh sát và duy trì chiến đấu trên không, tức là tăng “sức đề kháng của phòng không Việt Nam”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
Huonghongvang (06-03-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #39  
Cũ 01-03-2013, 09:11
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

Chiến thuật mai phục được sử dụng nhiều đủ để tạo ra những “cái bẫy du kích” trên trời. Tham gia mai phục có cả những trận địa hỗn hợp cũng như các tổ hợp tên lửa đơn lẻ.
Trận địa mai phục được bố trí gần các mục tiêu hay bị máy bay Mỹ ném bom hay trên đường máy bay địch có thể đi qua. Ý nghĩa của những cái bẫy mai phục này như sau: bí mật lập ra những cụm pháo phòng không đủ mạnh kèm theo tên lửa. Khi mục tiêu xuất hiện thì tên lửa bắn. Kết thúc trận đánh thì tên lửa rút đi để lại trận địa giả được làm y như thật. Đội quân mai phục nín thở chờ đợi nhưng thường thì chờ đợi không uổng công vô ích.
Không quân Mỹ tìm mọi cách có thể để tiêu diệt các trận địa tên lửa và thường đánh vào các tiểu đoàn tên lửa. Sự đáp trả rất khốc liệt, bão lửa hất lên lũ máy bay đang bổ nhào ở độ cao thấp. Hai ba chiếc máy bay bị bắn rơi, đôi khi còn nhiều hơn nữa. Thật sướng khi thắng trận như vậy.

Xin kể thêm một ví dụ nữa về mai phục. Trước khi bắt đầu ném bom thì phía trên các ngọn núi ở miền Bắc Việt Nam thường xuất hiện một chiếc máy bay chỉ điểm. Nó cất cánh từ Thái Lan và được máy bay tiêm kích bảo vệ kỹ lưỡng. Ngoài việc hướng dẫn bay cho không quân Mỹ nó còn thực hiện rải nhiễu tích cực. Nói ngắn gọn là nó làm ai cũng bực. Bộ tư lệnh phòng không không quân Việt Nam giao cho chỉ huy trung đoàn tên lửa 248 nhiệm vụ tìm cách bắn hạ chiếc máy bay này. Thoạt nhìn thì nhiệm vụ này có vẻ rất phiêu lưu vì có quá nhiều khó khăn. Các chiến sĩ Việt Nam đi trinh sát nhiều ngày, họ tìm được một bãi đất bằng nhỏ hẹp, bố trí vào đó một đội vô tuyến điện và hai ba bệ phóng. Họ đặt các cabin vô tuyến điện sát nhau dưới tán cây rừng. Bệ phóng tên lửa ở dưới cây khác gần nhất. Họ giữ kín và chờ đợi. Nhưng họ không uổng công và đã hạ được chiếc máy bay này.

– Kéo bệ phóng lên núi như thế nào? Làm gì có đường đi lên đó. Đây là mặt thứ hai của chiến tích. Người Mỹ không thể ngờ được rằng có trận địa tên lửa của ta ở đó, - đại tá Zaika kể tiếp.

Cần phải thừa nhận rằng trong quân sự thì, ở một mức độ nào đó, thành công và thất bại luôn luôn thay chỗ cho nhau. Sau những chiến thắng đầu tiên thì bắt đầu có những trận với kết quả thay đổi. Người Mỹ không mơ ngủ. Họ đã nghiên cứu cách đánh vào tiểu đoàn, bắt đầu tấn công từ độ cao thấp, trên máy bay có thiết bị cảnh báo khi đi vào vùng có bức xạ của ra đa phòng không, gây nhiễu tích cực, nghiên cứu các chiến thuật chống tên lửa. Họ bắt đầu sử dụng tên lửa “Shrike”, loại tên lửa tự dẫn đường theo sóng bức xạ của ra đa phòng không. Bắt đầu cuộc đấu trí tuệ. Từ người lính vận hành máy vô tuyến, sĩ quan dẫn đường, người chỉ huy bắn của tiểu đoàn đến phòng nghiên cứu trung ương, các nhà kỹ thuật chế tạo.

- Trong hoàn cảnh như vậy thì mấu chốt là; - ông đại tá gập dần từng ngón tay, - thứ nhất, kinh nghiệm và tài nghệ của người bắn, sự điềm tĩnh và gan dạ của anh ta. Thứ hai: tài nghệ của sĩ quan dẫn đường, sự điềm tĩnh của anh ta và sự nhịp nhàng của toàn bộ những người vận hành ra đa. Thứ ba: tài nghệ và sự nhịp nhàng của cả đội vô tuyến điện và đội phóng.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
toan.phamvan (01-03-2013)
  #40  
Cũ 01-03-2013, 09:15
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

Tài nghệ tác chiến giữ vai trò quan trọng. Đây là ví dụ.

Để bảo vệ một cây cầu đường sắt qua sông Hồng ở vùng thị xã Hải Dương, có một trận địa pháo phòng không đủ mạnh kèm theo một tiểu đoàn tên lửa của chúng ta. Việc phối hợp chiến đấu không được ăn ý. Điều này làm chỉ huy phía Việt Nam lo lắng, chúng tôi cũng lo không kém. Kiểm tra mới vỡ lẽ ra là cần thay người bắn. Viên sĩ quan có hiểu biết, được đào tạo bài bản này hay cáu gắt trong khi chiến đấu. Và việc này ảnh hưởng đến mọi tính toán.

Chúng tôi thay ngay người bắn. Đại úy Yu. P. Bogdanov được chọn. Yuri Petrovich chui vào cabin “U” (điều khiển - người dịch) ngày thứ hai với tâm trạng thế nào thì đến ngày thứ bảy, lúc ra khỏi cabin cũng vẫn y như vậy. Thức ăn được đưa tới cabin cho anh ta. Nhưng vấn đề không phải là chuyện ăn uống mà là anh ấy hoàn toàn tập trung vào công việc tác chiến và bắt toàn đơn vị làm việc hết sức lực. Sau 3 ngày tiểu đoàn đã bắn rơi 5 máy bay. Gương mặt người lính thay đổi ngay. Có vẻ như cả bầu không khí trên trận địa của tiểu đoàn vừa giành thắng lợi cũng thay đổi. Sau mấy trận này Yuri Petrovich được đề nghị khen thưởng và đã được tặng thưởng Huân chương Sao Đỏ lần thứ hai. Thủ trưởng của chúng ta thường hay hà tiện phần thưởng. Nhưng thực chất vấn đề không phải ở đó. Sau này Bondavov Yu. P. còn chỉ huy lữ đoàn, quân đoàn, tốt nghiệp Viện hàn lâm Bộ tổng tham mưu, công tác ở Bộ tổng tham mưu.

Một ví dụ nữa. Các trận không kích từ độ cao thấp vào tiểu đoàn làm phiền chúng tôi khá nhiều. Vùng tác chiến của trung đoàn là miền Bắc Việt Nam. Về mặt địa lý thì đó là miền núi. Có rất nhiều điều kiện để bí mật hành quân chiếm lĩnh trận địa. Ở hướng nguy hiểm nhất thiếu tá Teresenco A.G. bố trí một chiến sĩ có điện thoại trên một ngọn đồi. Chỉ thị duy nhất: “Không bỏ lọt tốp nào từ hướng này! Thấy là gọi ngay! Buộc ống nghe vào tai ấy”. Ông cũng buộc ống nghe vào tai một chiến sĩ khác ngồi trong cabin “U” gần chỉ huy. Ý tưởng đơn giản, thực hiện dễ dàng, nhưng lại đạt được mục đích. Vào thời điểm tiểu đoàn chuẩn bị bắn mục tiêu đang tới từ phía bắc thì đài quan sát báo cáo: “Mục tiêu bên sườn đang lao vào tiểu đoàn!” Lập tức quay anten, sục sạo, tóm được mục tiêu, phóng. Mục tiêu bị tiêu diệt. Lại tức tốc quay anten và thời gian vừa đủ để bắn mục tiêu từ hướng bắc.

Điển hình là trận đánh ngày 17 tháng 10 năm 1965 của tiểu đoàn 2 do trung tá Liakishov I. A. chỉ huy. Tiểu đoàn đóng quân ở một vùng bán sơn địa. Các góc lộ rất lớn, đặc biệt là từ hướng bắc, vị trí này không đạt về phương diện công binh, chỉ có vài khe núi để giấu quân.

Tiểu đoàn phát hiện mục tiêu ở hướng bắc, đang chuẩn bị bắn. Bất ngờ máy bay ở độ cao thấp đánh vào tiểu đoàn từ hướng nam. Máy phát điện, cabin phát sóng bốc cháy, hỏng ba quả tên lửa và chừng ấy bệ phóng. Hỏng cả đài dẫn đường tên lửa. Theo mệnh lệnh của đại úy Petrov Yu. K., bắt đầu sửa chữa đài dẫn đường tên lửa, dập lửa trong cabin phát sóng, kíp trắc thủ phóng chuẩn bị ngay hai bệ phóng. Đúng là chỉ sau vài phút thì tiểu đoàn lại sẵn sàng chiến đấu với hai đường đạn. Họ vừa phát sóng thì thấy ngay máy bay địch đang lao vào tiểu đoàn từ hướng bắc. Đại úy Petrov Yu. K. điểm hỏa. Tiểu đoàn đã diệt được hai máy bay. Bọn Mỹ không dám đánh vào tiểu đoàn nữa. Trong trận này chiến sĩ Smironov bị tử thương. Đấy, chúng tôi huấn luyện chiến sĩ tên lửa Việt Nam trong điều kiện như vậy đấy.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
Huonghongvang (06-03-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Anton Makarenko (1888 - 1939) Nina Con người 8 06-08-2011 02:07
Hồ sơ thế chiến thứ hai - 1939 nthach Hồ sơ chiến tranh thế giới 3 02-07-2009 14:40
Nicolai Tikhonov (Николай Тихонов, 1896-1979) Bạch Tuyết Thi ca 3 18-03-2009 15:18


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 18:43.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.