|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#6
|
||||
|
||||
|
Vâng, người Mỹ đã thử thực hiện vai trò ”sen đầm quốc tế”, cứu Nam Việt Nam khỏi ”xâm lăng phương Bắc”, cản trở quá trình thống nhất Việt Nam. Đồng thời Washington cũng tiến hành kiểm tra tất cả các loại vũ khí hiện đại trong các điều kiện tác chiến, chỉ trừ mỗi vũ khí hạt nhân. Đây là một thao trường lớn.
Liên Xô thực hiện và đã thực hiện xong nghĩa vụ quốc tế giúp Việt Nam, đồng thời cũng thử nghiệm vũ khí của mình và nghiên cứu vũ khí của người khác. Gần 60% sự giúp đỡ (thể hiện trong giá trị vật chất) là của nhân dân Liên Xô; 35% - của Trung Quốc và 5% của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn lại và của tất cả loài người tiến bộ. Sự giúp đỡ này không vụ lợi, nhưng Moskva cũng xem Việt Nam như một ”bãi” thử nghiệm đặc biệt. Trong thời gian chiến tranh có 22 ngàn chuyên gia làm việc tại Việt Nam. Vũ khí chiến đấu của Mỹ không thể không khiến các chuyên gia quân sự Liên Xô chú ý. Ví dụ, ở Việt Nam các bác sỹ quân y Xô viết lần đầu tiên được tiếp cận với bom bi, với các loại đạn gây sát thương rộng và các ”phát minh” khác của trí tuệ quân sự Hoa Kỳ. Đại tá quân y Karl Tabatagie, công dân Moskva, người đầu tiên trong điều kiện dã chiến, không có máy chụp X-quang, đã tiến hành phẫu thuật cứu người bị thương bởi bom bi. Đại uý tên lửa Valery Kuplevakhsky, một trong những người đầu tiên tìm ra cách vừa tiêu diệt được muc tiêu là máy bay Mỹ, vừa bảo vệ được các trạm ra-đa của mình. Nhóm chuyên gia của tuỳ viên quân sự, Anh hùng Liên Xô, phi công chiến đấu, đại tá (sau được phong thiếu tướng) Aleksei Ivanovich Lebedev đã khẳng định được rằng ”Mig-19” và ”Mig-21” trong tay phi công Việt Nam hoàn toàn có khả năng đọ sức ”ngang ngửa” với bất kỳ loại máy bay nào của Mỹ. Còn ”B-52” bất khả chiến bại trong thập kỷ 50, hay máy bay tiêm kích cánh cụp cánh xoè ”F-111A”-sản phẩm mới của không quân Mỹ thập kỷ 60, bị ”tơi tả” bởi các đơn vị tên lửa. Bây giờ người Mỹ nhớ lại những chuyện đó để làm gì?! Màn ”quảng cáo” thất bại trên thị trường vũ khí, cũng là đòn giáng vào tinh thần yêu nước Hoa Kỳ. Còn cán cân trong lĩnh vực thông tin đại chúng ra sao? Trong giai đoạn đầu của cuộc xâm lược Mỹ có hơn 2,5 ngàn nhà báo Mỹ và phương Tây tác nghiệp tại Sài Gòn. Tại Hà Nội chỉ có 5 phóng viên đến từ Moskva đăng ký. Thật khó để viết về chiến tranh. Nhiều thứ bị giấu kín. Phải có giấy phép của cơ quan kiểm duyệt quân sự. Không có nó thì không một bức ảnh nào từ mặt trận được đăng tải. Danh tính của đại đa số người tử trận không được công bố. Không ai biết gì về họ. Những người như thế trong số công dân Liên Xô làm việc ở Việt Nam, xin nhắc lại, là 30 người. Bây giờ người ta đặt ra cho chúng tôi - các nhà báo - những câu hỏi đã từng được cho là tế nhị. Ví dụ, chính quyền Việt Nam có cho phép nhà báo nước ngoài phỏng vấn phi công tù binh Mỹ không? Các cuộc gặp gỡ với tù binh được Bộ Ngoại giao VNDCCH tổ chức thường xuyên. Tất nhiên lúc đó không có và không thể có những cuộc phỏng vấn đúng nghĩa như thường thấy ngày nay. Trước hết, việc này không được các công ước quốc tế cho phép. Phi công trong tình trạng sốc nặng sau khi máy bay bị bắn hạ, phải nhảy dù. Được phép nhìn thấy mặt họ, chụp ảnh họ, nhưng đừng đề cập đến chuyện hỏi-đáp. Song bao giờ cũng công khai cái quan trọng nhất: số hiệu trên bộ áo liền quần đặc trưng của phi công. Các phóng sự của chúng tôi, trong đó có dẫn ra số hiệu riêng của ”các phi công mặc pijama”, một mặt như là bằng chứng rằng ”tên giặc lái” đã bị trừng phạt, mặt khác chứng minh là phi công Mỹ còn sống và sau này biết người để mà tìm, mà lập và tra soát thông tin, để họ được trở về Tổ quốc. Đây giống như ”sứ mệnh kép” của chúng tôi: vửa tố cáo các chứng cứ xâm lược và thông tin về dư luận xã hội của thế giới, vừa thông báo cho Lầu năm góc về số phận của các phi công Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời Việt Nam. Bộ Ngoại giao VNDCCH có biết và chú ý đến điều này. Một trong những phi công như vậy là đại uý Peterson, bị bắn rơi cách Hà Nội 60 km vào một đêm tháng 2 năm 1968. Ông ngồi trong trại giam của Việt Nam 6 năm rưỡi, sau đó về Mỹ phục vụ quân đội tiếp tới hàm đại tá, giải ngũ và trở thành nghị sỹ, còn sau đó thành… đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Việt Nam. Trường hợp hy hữu nhưng không phải nó không xảy ra! Bây giờ, sau cái chết của bà vợ Sharlotta, ông thậm chí còn cưới một phụ nữ Việt Nam, chỉ có điều bà mang quốc tịch Úc.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST! |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên: | ||
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Anton Makarenko (1888 - 1939) | Nina | Con người | 8 | 06-08-2011 02:07 |
| Hồ sơ thế chiến thứ hai - 1939 | nthach | Hồ sơ chiến tranh thế giới | 3 | 02-07-2009 14:40 |
| Nicolai Tikhonov (Николай Тихонов, 1896-1979) | Bạch Tuyết | Thi ca | 3 | 18-03-2009 15:18 |