|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
|||
|
|||
|
– Mẹ ơi, sao vua lại ngồi trong kiệu để người ta khênh? Ông ta làm sao, đau chân à? Câu hỏi của đứa con làm người mẹ bật cười nhưng đồng thời cũng làm bà lo ngại:
- Không đâu con ơi, ông ấy không đau chân gì đâu. Đã quy định vậy rồi, vua đi là phải ngồi kiệu .[112] - Thế sao cha không đội khăn vàng? Như thế đẹp mà? - Chỉ vua mới được đội khăn vàng con ạ, - người mẹ giải thích. Nhưng tất cả những điều đó càng làm cho cậu Cung bé nhỏ thấy lạ lùng. - Thế tại sao quân lính của ông ta lại quấn xà cạp vàng? Họ không sợ vua hay sao? – Cung không chịu. Không phải lúc nào mẹ cũng giải đáp được những thắc mắc bất ngờ của con trai. Cung rất yêu mẹ. Khi bà ốm rồi mất, cậu đã phải rất chật vật vượt qua nỗi đau quá lớn. Đúng vào ngày hôm đó trong cung vua có một nghi lễ nào đó. Theo lệnh vua, những người ở gần cung vua bị nghiêm cấm khóc. Nghe thấy tiếng khóc của Cung, một người hàng xóm vội lấy tay bịt miệng cậu lại. - Thôi ngay! Im ngay! Đây ở gần cung vua mà cháu cứ rống lên như ở ngoài chợ ấy à? Nhưng Cung không thể kìm được tiếng nức nở. Và có thể cậu là người đầu tiên phạm phải sắc lệnh hà khắc của nhà vua. Mất mát quá lớn làm cha Cung buồn bã tuyệt vọng. Cụ đã từng có thể làm tri huyện, nhưng cụ vốn không ham tước vị cao, hơn nữa do gia cảnh tha hương, ông Nguyễn Sinh Sắc từ chối mọi lời mời làm quan và trở về quê ở Kim Liên. Từ đó Cung đổi tên khác là Nguyễn Tất Thành, cậu vừa đầy mười một tuổi. Năm 1901 đi qua, hai năm sau nữa người cha lại trở vào Huế. Thành đi học trong trường Việt-Pháp lớn nhất ở An Nam. Trong trường, ngoài bốn lớp sơ học và hai lớp bậc tú tài còn có một chương trình nâng cao kiến thức. Chương trình học gồm có toán học, tự nhiên học, lịch sử, hội họa nhưng môn chính là dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt và ngược lại. Tiếng Hán vẫn chưa bị loại bỏ hoàn toàn khỏi chương trình học và Thành đã giành nhiều thành tích trong học tập. |
|
#2
|
|||
|
|||
|
Thời gian đầu, so với những đứa trẻ ở Huế, Khiêm và Thành chỉ là học sinh trung bình về môn tiếng Pháp, nhưng trong môn tiếng Hán họ lại không có ai sánh bằng.
Trong những năm đó kinh đô Huế thay đổi diện mạo nhanh chóng. Ở kinh thành người ta xây dựng một cây cầu lớn, bắt đầu có đoàn tàu hỏa đầu tiên, ban đầu chạy đến Đà Nẵng và một năm sau đó chạy đến Đông Hà. Xuất hiện ngày càng nhiều người Pháp và cùng họ là sự xa hoa hào nhoáng. Dân chúng nghèo khổ cùng cực nhưng chi tiêu để nuôi dưỡng cung điện xa xỉ của nhà vua lại tăng lên mỗi ngày. Bọn quan lại không chịu thua kém tầng lớp tư sản đang hình thành về sự giàu có, chúng tham nhũng ngày càng lộ liễu. Chưa có tên gọi “người Việt mới” nhưng đã có chữ nouveau riche (người mới giàu) nghe đầy tôn kính. Nó không phù hợp với Thành, Khiêm và nhiều người khác. Năm 1911, sau khi rời nhà trường, Thành đi vào Sài Gòn, ở đó mới mở một trường kỹ thuật với khóa học ba năm. Nó đào tạo công nhân đóng tàu cho nhà máy Ba Son. Thành vào học ở trường này. Chàng thanh niên vào Sài Gòn với ước mơ trở thành công nhân “điều khiển máy móc”. Với nghề nghiệp thì mọi sự đã rõ, nhưng làm thế nào để giành được tự do? Và Thành quyết định đi tìm tự do ở nước ngoài. Trưa ngày 2 tháng sáu năm 1911 Thàng đến bến Nhà Rồng, nơi có một con tàu từ Turan (nay là Đà Nẵng) ghé vào. Đó là con tàu “Latouche Tréville” của công ty hàng hải “Năm sao”. Thành lên tàu xin vào làm việc. Nhìn chàng thanh niên có bộ dạng gầy gò, thuyền trưởng không tin anh có khả năng làm được những công việc chân tay nặng nhọc, nhưng chợt nhớ một chân phụ việc trong nhà bếp còn trống, ông liền hẹn chàng trai hôm khác lại đến. Vậy là Thành đã lên con tàu thủy Pháp sau khi lấy tên là Văn Ba. …Nhà bếp phục vụ cho bảy tám trăm người là thủy thủ đoàn và hành khách. Vì thế chàng trai nhỏ nhắn không có một phút nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng lại nghe thấy: - Ba, mang nước lại đây! - Ba, rửa nồi! - Ba, xúc than! Công việc trong bếp thường kết thúc vào chín giờ tối. Đến lúc đó thì Ba đã hoàn toàn kiệt sức. Tuy thế nhưng khi một số người đi ngủ, một số đánh bài thì Ba lại đọc sách hay viết gì đó. Anh giúp những người bạn không biết chữ viết thư về nhà. Anh luôn lễ phép và sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Một lần Ba suýt chết đuối. Mặt biển bỗng nổi lên một cơn bão. Sóng biển trùm lên cơ thể nhỏ nhắn của cậu bé và cuốn cậu khỏi boong tàu. Anh thoát được nhờ một sự kỳ diệu, vào khoảnh khắc cuối cùng anh đã kịp túm được sợi dây chão… |
|
#3
|
|||
|
|||
|
Trong số khách đi tàu có hai người lính Pháp trẻ, họ mới được giải ngũ và đang trở về quê hương. Họ đã kết bạn với Ba.
- Mai biết không, - Ba nói với người bạn Việt Nam của mình, - hóa ra trong số người Pháp cũng có những người rất tốt… Khi tàu đến Marseille họ mới phát tiền công cho mọi người. Tiền công của nhân viên người Việt Nam khoảng chừng một hai trăm phrăng. Người phụ bếp Ba chỉ được mười phrăng. Nhưng từng ấy thôi cũng làm anh vui rồi. Chuyến đi đã mang lại cho anh nhiều điều thú vị. Ở Marseille tàu điện làm cho anh ngạc nhiên. Đây là lần đầu tiên anh nhìn thấy “ngôi nhà biết đi” này. Mọi thứ đều làm anh chú ý, có vẻ như mọi thứ đều mới lạ. Ba thường nói: “Lần đầu trên đời tôi thấy cái này…” Sau giờ làm việc, anh thay quần áo và đến một quán cà phê trên phố, theo anh phát âm là Cannebier. Đây là quán cà phê Pháp đầu tiên mà anh đến. Ở đây Ba để ý thấy người Pháp ở nhà, ở quê hương cư xử tốt hơn, lịch sự hơn so với ở Đông Dương. Sau đó anh ở Le Havre, nơi con tàu dừng lại sửa chữa. Mọi người chuyển sang con tàu khác sắp đi Đông Dương. Nhưng Ba không muốn trở về. Thuyền trưởng bèn đưa anh ấy về nhà mình và từ đó tôi không biết tin tức gì về Ba nữa… Các thuyền viên khi ấy sao có thể nghĩ được là chàng trai nhỏ nhắn, sáng dạ, yêu lao động ấy nhiều năm sau lại là người đứng đầu chính phủ, là người khai sinh một quốc gia độc lập ở Đông Nam Á, người sáng lập quân đội, hạm đội, mọi lực lượng của quốc gia ấy. Tóm lại, - Hồ Chí Minh là “hồ nước có chí khí trong sáng”… Nhưng chuyện đó phải hơn 30 năm sau mới diễn ra… |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Ngày thứ chín, 31 tháng 12 năm 1967. Trái tim nóng bỏng của Ngọc
Họ mang hoa đến tặng tôi, những bông hoa đủ màu: đỏ, trắng, xanh trong bình hoa trên ban công. Gió nhè nhẹ thổi vào phòng lay động rung rinh những cánh hoa tuyệt đẹp. Tôi rời khách sạn Thống Nhất đi ra phố phường Hà Nội. Tôi yêu thành phố này, thành phố hoa, thành phố của hầm hào. …Cách thủ đô Việt nam vài km, dưới bóng những cây đa cây nhãn cao lớn, giữa những quả đồi và khóm tre lúp xúp rải rác mấy cái nhà của một làng quê nhỏ. Đây rồi, ngoài rìa làng có hai ngôi mộ. Một ngôi dưới cây đa – loài cây trăm tuổi, ngôi kia dưới cây nhãn, nghĩa là “mắt rồng”. Hai ngôi mộ này là kết cục bi thương của hai sinh mạng: một người đã dâng hiến đời mình cho dân tộc, trở thành tấm gương cho nhiều người. Ngôi mộ kia là của tên phi công Mỹ đã gieo rắc cái chết trên mảnh đất Việt Nam. Bên hai ngôi mộ này tôi được dân địa phương kể cho nghe câu chuyện sau đây. Chuyện ấy xảy ra vào một buổi sáng mùa hè nóng nực năm 1967, -một bác nông dân đứng tuổi tên Khoai kể với tôi. Báo động phòng không. Một tốp máy bay F-105 Mỹ bay gần Hà Nội. Chúng nối đuôi nhau bổ nhào xuống một vùng quê hiền hòa, ném bom xuống nhà dân, đồng lúa, bờ đê, đường sá. Mặt đất rung lên vì bom đạn. Dù bị thương nhưng không chịu khuất phục, dù bị lưỡi lửa tham lam bao trùm, mặt đất vẫn kiên cường đánh trả. Các chiến sĩ pháo cao xạ và dân quân tự vệ không rời trận địa. Bỗng trên trời bùng lên một bông hoa lửa vàng rực, chớp mắt sau từ trong đó chui ra một chiếc máy bay Mỹ với những cuộn khói đen. Tên phi công đã kịp nhảy dù. Các chiến sĩ đội tự vệ triển khai vây bắt tên phi công, trong đội có cô gái 18 tuổi Lã Thị Ngọc, nghĩa là “Viên ngọc trai”, người cùng làng gọi cô bằng một cái tên dịu dàng làm sao. Tên phi công Mỹ rơi vào một bụi duối, sau khi tháo dù hắn đã kịp đốt bản đồ và những tài liệu quân sự khác. Ngọc là người đầu tiên phát hiện tên địch. “Không được, không đời nào cho nó kịp đốt bản đồ, có thể trong bản đồ có mục tiêu sẽ ném bom”, - một ý nghĩ vụt qua. Nếu kịp báo cho mọi người nơi sẽ bị ném bom nghĩa là sẽ cứu được hàng chục, có khi hàng trăm người. - Giơ tay lên! Ngọc hô lớn. Bên sườn tên phi công lộ ra một nòng súng ngắn. Nhưng lúc ấy Ngọc thấy đống lửa nhỏ tên phi công nhóm lên đang gặm nhấm tấm bản đồ quý giá có đánh dấu những mục tiêu ném bom. Quên mất mối nguy hiểm, không kịp tước vũ khí tên địch, cô gái nhảy bổ đến đống lửa. Sự bất cẩn thật là nguy hại. Tên phi công rút súng bắn cả một băng đạn vào lưng Ngọc. “Viên ngọc” đã ngã xuống nhưng cô đã kịp giành lấy tấm bản đổ khỏi ngọn lửa đang cháy. |
|
#5
|
|||
|
|||
|
Mấy phút sau, các chiến sĩ dân quân đã bắt tên phi công làm tù binh, hắn không kịp hủy bản đồ. Tuy đã hy sinh rồi nhưng Ngọc vẫn cứu được nhiều người khác. Cô được chôn cất ở ngay rìa làng. Một loạt súng tiễn biệt vang lên bên ngôi mộ còn tươi màu đất của cô gái – chiến sĩ. Ngay bây giờ hầu như ngày nào cũng có người đến đây, đến nấm đất nhỏ của Ngọc để cẩn thận đặt lên đó những bó hoa đỏ thắm. Và tôi cũng đặt lên nấm đất nhỏ của Ngọc bó hoa đỏ thắm, đỏ như trái tim của Ngọc...
Nhưng ở cái làng gần Hà Nội này còn có một ngôi mộ khác. Hình như chuyện này xảy ra vào tháng 8 năm 1967. Cái nắng nóng bỏng đang thiêu đốt những quả đồi xanh um. Sau khi ném bom Hà Nội, một tốp bốn chiếc máy bay ném bom Mỹ đang trở về tàu sân bay Hạm đội 7. Chúng bay tít cao trên bầu trời xanh, chắc là chúng đang thích thú tận hưởng cảm giác khoan khoái vì hành động ăn cướp của chúng không bị trừng phạt. Nhưng bất ngờ chúng rơi vào vùng hỏa lực của phòng không Việt Nam. Quả tên lửa bắn trúng một chiếc máy bay. Nó lao xuống đất như một bó đuốc, cách mộ Ngọc không xa. Tên phi công bị thương nặng James Foster vẫn kịp nhảy dù. Sau khi rơi vào khu vực làng, hắn dùng điện đài phát tín hiệu gọi máy bay đến cứu. Một lúc sau một tốp máy bay Mỹ khác kéo đến vùng này, chắc là chúng đã nhận được tín hiệu cầu cứu. Thế là bắt đầu một trận bom ác liệt xuống khắp khu vực này. Foster nằm dưới đất đơn độc đối mặt với cái chết. Hắn đã bay ném bom xuống nước Việt Nam dân chủ không chỉ một lần. Nhiều lần dưới bụng máy bay hắn đã nhả ra những con rắn lửa mang theo chết chóc, bung ra hàng khối bom đạn. Chính xác như những gì đang diễn ra lúc này. Phi công bao giờ cũng nhìn mặt đất từ trên cao. Bây giờ hắn nhìn theo máy bay từ mặt đất. Trước đây bom nổ cách hắn rất xa, không hề đe dọa tính mạng hắn. Những cột khói đen, những cột bụi dựng đứng sau tiếng nổ, những công trình đổ nát, thậm chí cả mạng người, với hắn chỉ là mục tiêu bị tiêu bị đánh trúng. Giống như trên thao trường huấn luyện vậy. Giờ thì bản thân Forter phải chịu đòn của chính quân mình – không quân Mỹ. Phi công bị hạ trên không tìm cái kết trên mặt đất. Nhưng trước cái chết là nỗi khiếp sợ. Sợ khủng khiếp. Nỗi sợ ra lệnh, bắt Foster phải bò đi. Từng phút, từng giờ... tìm nơi trú ẩn, tìm mọi người, mặc kệ những người đó chỉ một giờ trước hắn coi là kẻ thù. Giờ thì hắn sẵn sàng cầu nguyện sự giúp đỡ của họ. Sống bằng bất kỳ giá nào, chỉ cần được sống! Foster bò ra khỏi vùng ném bom vào làng đầu hàng để làm tù binh. Bác sĩ Thu đã cứu chữa cho hắn, Anh rửa vết thương và băng bó lại. Nhưng đó là vết thương chết người. Khi dân quân cáng hắn về làng, hắn đã xin Thu gọi cho hắn một mục sư để xưng tội. Trong làng không có linh mục. Người bác sĩ Việt Nam đã tiếp nhận lời xưng tội của tên phi công Mỹ đang hấp hối. Trước mắt Foster hiện lên New York, tuổi thơ, cha mẹ… như một áo ảnh viễn tưởng. Có lẽ trước cái chết nhận thức đã tỉnh lại trong con người. Trong lúc hấp hối, Foster dùng chút sức lực cuối cùng nắm tay người bác sĩ Việt Nam thều thào: “Chiến tranh này đáng nguyền rủa!” |
|
#6
|
|||
|
|||
|
Bọn cướp biển và tàu “Turkestan”
… Tỉnh Quảng Ninh, vùng Cẩm Phả. “Ngày 2 tháng 6 năm 1967, 15 giờ 32 phút. Báo động phòng không. Cả đội đành phải nấp trong phòng. 15 giờ 40 phút. Bốn chiếc máy bay phản lực siêu âm Mỹ từ phía trước bay thẳng về con tàu. Hai chiếc lấy được độ cao liền bay vọt qua trên tàu. Cùng lúc ấy hai chiếc khác bay chéo góc và bổ nhào xuống tàu Turkestan. Một quả bom từ chiếc bên phải rơi xuống cách tàu một trăm mét. Sau đó cả hai chiếc máy bay bắn đạn phản lực vào con tàu, chủ yếu chúng ngắm vào phần thân tàu phía trên”. Những dòng này do N. Marienco trợ lý thứ hai của thuyền trưởng tàu Turkestan ghi lại, tôi đọc trong sổ nhật ký tàu. Chúng được ghi vào đây vài phút sau khi một thảm họa xảy ra ngày 2 tháng 6 năm 1967 trên bến cảng Cẩm Phả Việt Nam. …Lúc này đang là đêm rất khuya nhiệt đới tối đen. Con tàu thủy Liên Xô Turkestan với những ngọn lửa vừa dập tắt đang đỗ ở bến chính của hải cảng. Đội thủy thủ đang ngủ. Đó là một ngày vất vả, vất vả đến khó tin. Ngày đó đã cướp đi sinh mạng của một trong những người xô viết. Trong lúc đánh phá, thợ cơ điện Nicolai Nikitich Rưbachuk đã bị thương nặng trong buồng ngủ của mình. Anh ấy đã ra đi sau bốn giờ bị ngất. Buồng ngủ của Rưbachuk. Trên đồng hồ hàng hải treo tường là 3 giờ 15 phút. Đồng hồ không dừng lại mặc dầu cuộc đời người chủ của nó đã dừng lại. Có lẽ quả đạn 20 milimet nổ vả bật nẩy khỏi lớp kim loại bọc cửa buồng và làm tử thương người thủy thủ. Chiếc áo đen thủy thủ bị mảnh vỡ đâm thủng lỗ chỗ vắt trên ghế… Tôi đi khắp con tàu. Buồng lái. Rất nhiều lỗ thủng và mảnh vỡ. Máy móc bị hỏng. Cầu trên nóc tàu bị hỏng. Thân xuồng cứu hộ cũng bị thủng. Cửa sổ cửa ra vào nhiều buồng bị vỡ, nhiều phòng ở bị hư hỏng. Chỉ có phòng ở. Máy bay mang phù hiệu của hải quân Mỹ đã bắn rất có chủ đích. - Không còn nghi ngờ gì nữa, - thuyền trưởng tàu Turkestan V.V. Sokolov nói như để khẳng định những suy nghĩ của tôi. Máy bay chỉ nhằm bắn vào phòng người ở. Không thể nào coi cuộc tấn công là ngẫu nhiên. Tàu treo cờ Liên Xô thả neo trong cảng Cẩm Phả. Bên cạnh không có con tàu nào. Thời tiết tốt, tầm nhìn trên biển là mười dặm. -Tàu chúng tôi tới cảng Cẩm Phả với mục đích hòa bình: bốc than Hòn Gai lên và chở sang Nhật Bản. Hay nói khác đi là để giúp nước VNDCCH thực hiện quan hệ kinh tế - thương mại của họ. |
|
#7
|
|||
|
|||
|
Năm 1967 tàu Turkestan đã ba lần ghé vào cảng của Việt Nam. Lần cập cảng ngày 2 tháng 6 là chuyến đi thường lệ…
- Đội thủy thủ con tàu - thuyền trưởng nói tiếp, - không bao giờ quên được ngày này. Chúng tôi đã bị cướp đi một người bạn tốt là Nicolai Rưbachuk. Sáu thủy thủ khác bị thương. Thợ máy Ivan Zemtsov bị thương nặng vào bụng. Cậu ấy mới lên tàu làm việc… Zemtsov được đưa vào bệnh viện ở Hà Nội. Ca phẫu thuật của các bác sĩ Việt Nam làm đã cứu được mạng sống của anh. - Chúng tôi đã chứng kiến chúng bắn tàu “Turkestan”, giám đốc cảng Cẩm Phả bảo tôi, - Hành động khiêu khích này của bon quân phiệt Mỹ nhằm cản trở Liên Xô giúp đỡ đất nước chúng tôi. Thay mặt công nhân cảng Cẩm Phả, thợ mỏ Hòn Gai, thay mặt nhân dân Việt Nam, chúng tôi cảm ơn các thủy thủ xô viết vì lao động anh hùng của họ. Chúng tôi sẽ nhớ mãi đồng chí Nicolai Rưbachuk… Ngày 5 tháng 6, thủy thủ đoàn làm tang lễ, mặc niệm Rưbachuk. Con tàu treo cờ rủ rời cảng Cẩm Phả về Vladivostoc. Mọi nghi thức lãnh sự do bí thư thứ ba đại sứ quán Liên Xô, nhà ngoại giao, nhà tình báo Georgi Pesherikov tiến hành. Trên đường về Hà Nội xe ô tô của ông trúng một quả tên lửa. Georgi còn sống sót là nhờ một phép mầu. Nước Nga và Chúa che chở chúng ta mà… Mấy tháng sau tàu thủy Liên Xô Turkestan lại đến VNDCCH, ngay trong những năm 70, một con tàu khác của chúng ta lại rẽ sóng trên những vùng biển rộng lớn, tàu “Nicolai Rưbachuk”. |
|
#8
|
|||
|
|||
|
Trích nhật ký. Cửa biển
Nếu như để đánh dấu điểm cực bắc và cực nam trên đất liền Việt Nam người ta thường nói: Cao Bằng và Cà Mau thì khi xác định bờ biển của nước cộng hòa này người ta lại nhắc đến những cái tên khác: Móng Cái và Hà Tiên. Bờ biển Việt Nam trải dài suốt hơn 3260 km giữa hai nơi này. Thiên nhiên ban tặng cho đất nước này hàng trăm vịnh đẹp như tranh và kín gió nhờ những vách đá. Có hàng nghìn dòng sông đổ về biển, ở cửa sông họ xây dựng những hải cảng thuận tiện có bến tàu, nhà kho, xưởng đóng tàu hiện đại. Hải Phòng và Cẩm Phả, Đà Nẵng và Cam Ranh, Nha Trang và những bến cảng của thành phố Hồ Chí Minh trong nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau đã giữ những vai trò khác nhau trong đời sống của dân tộc Việt Nam. Nhưng Hải Phòng, bến cảng lớn nhất ở miền Bắc Việt Nam, cửa biển chính của nước cộng hòa đã đóng góp nhiều nhất cho sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Từ nơi đây, những đơn vị cuối cùng của đội quân viễn chinh Pháp đã rút đi tháng 5 năm 1955. Cũng từ đây những con tàu của hạm đội non trẻ Việt Nam bắt đầu những chuyến đi biển đầu tiên. Hải quân nhân dân Việt Nam mở đầu trang sử chiến đấu vẻ vang của mình ở đây năm 1964. Trong những năm chiến tranh, cảng đã hoàn thành những nhiệm vụ phức tạp, nặng nề. Tàu của hải quân và đội tàu thương mại Việt Nam đã thực hiện nhiều chuyến đi nguy hiểm. Họ đã bảo vệ bờ biển, chuyên chở hàng hóa thiết yếu, súng đạn, thuốc men tới những nơi xa xôi nhất của đất nước. Ở phố Kim Mã Hà Nội, trong khu vực triển lãm tổ chức nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập nước VNCCH có một con tàu phóng ngư lôi của Hải Phòng được đặt trang trọng trên bệ. Con tàu này đã tham gia đánh trả những cuộc tập kích ăn cướp của Hạm đội 7 Mỹ, là một trong những con tàu đã tham gia sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Cùng với toàn dân tộc bảo vệ đất nước, các thủy thủ dân sự và chiến sĩ hải quân đã phải trải qua hơn 800 trận đánh với không quân địch, bắn rơi 118 máy bay các loại. (Tổng cộng trên vùng trời Hải Phòng đã có hơn 370 máy bay Mỹ bị bắn rơi) Hơn một nghìn quả thủy lôi do bọn xâm lược thả trong thời gian phong tỏa bờ biển miền Bắc Việt Nam đã bị các thủy thủ Việt Nam vô hiệu hóa để mở ra những con đường trên biển vào Hải Phòng và những hải cảng khác. Mùa xuân năm 1975 trong chiến dịch Hồ Chí Minh, các chiến sĩ hải quân đã tới quần đảo Trường Sa ngoài Biển Đông và dựng lên những lá cờ chiến thắng của Việt Nam . Có bao nhiêu người Liên Xô thường xuyên ở Hải Phòng trong những năm đầu chiến tranh? Tạm thời thì có đến hàng trăm. Ở thường xuyên liên tục thì chỉ có các đại diện Hàng hải Liên Xô, và, nói riêng, là Nicolai Ivanovich Kovalev, thượng tá hải quân, Georgi Popov và mấy người nữa. Họ không có hầm tránh bom. Họ làm việc ngoài bến tàu và không nghĩ đến nguy hiểm. |
|
#9
|
|||
|
|||
|
“Mỗi người đều có bảo vật của mình. Mỗi thành phố lưu giữ biết bao sản vật. Hãy tìm đi, thậm chí ngay cả một làng nghèo nhất cũng sẽ trở nên đẹp đẽ trong mắt anh”, mọi người trên quần đảo Long Châu nói thế, đó là quần đảo nằm ngoài xa trong vịnh Bắc Bộ thuộc Hải Phòng.{3} Những người đi biển dũng cảm chạy thuyền buồm hay thuyền máy từ đảo tới những hải cảng lớn để chuyên chở từ đây cá tôm, một loại nước chấm nổi tiếng chế từ tôm: mắm tôm, công cụ, dược thảo – tất cả những gì mà hợp tác xã của họ khai thác và sản xuất... Và cứ như vậy suốt những năm chiến tranh, khi ấy họ phải vượt qua 25-30 km mặt biển giữa những bãi mìn.
Ở gần cảng Hải Phòng, tôi làm quen với một người dân quần đảo Long Châu. Ông lôi từ chiếc thuyền tam bản lên một chiếc xe đạp, lôi ra mấy cái giỏ nặng đậy lá chuối cẩn thận buộc lên giá đèo hàng. Thành thạo nhồi thuốc vào một cái ống tre chứa nước, một cái điếu ống. Tôi quẹt diêm châm lửa cho ông hút thuốc. Ông rít một hơi thật sâu, thổi ra một luồng khói rồi chìa cái ống điếu cho tôi. Đối với người đi biển cũng như nhiều người dân khác trên mảnh đất Việt Nam thì điếu cày là cái “ống kết bạn” độc đáo, là cái ống tạo thiện cảm với nhau. Chúng tôi hẹn với người đánh cá tối nay, sau ngày làm việc, lại gặp nhau ở đúng chỗ này, bên cạnh cảng. Người tôi mới quen hóa ra không chỉ là người đánh cá mà còn là người khai thác thảo dược dưới biển. Hôm nay anh phải đến gặp các dược sĩ Hải Phòng để nhận đơn hàng cho hợp tác xã của mình. Lương gò mình lên chiếc xe đạp già nua, sau vài giây đồng hồ thì cái lưng gù của anh đã lẫn vào dòng người đi xe đạp trên đường đôi Trần Hưng Đạo. Tôi đi ra hàng cây san sát bên nhà hát trung tâm thành phố, cách cảng không xa lắm. Tháng 12 năm 1972 một quả bom 250 kg đã rơi xuống đây, chính giữa trung tâm Hải Phòng. Hố bom đã được lấp từ lâu và chỗ ấy bây giờ là một vườn hoa. Những bông hoa đỏ, hoa tím vươn thẳng lên bầu trời. Một toán trẻ con mặc áo kẻ sọc xanh chạy vụt về phía mương nước. Chúng trèo lên một chiếc thuyền nhỏ rồi nhanh nhẹn giương buồm. Tôi bước đi trong những khu phố mới hồi sinh của Hải Phòng. Tôi sẽ không quên thành phố này, thành phố đang khoác bộ trang phục mặt trận khắc khổ. Chiến tranh từ vịnh Bắc Bộ đổ ập xuống Hải Phòng vào tháng 8 năm 1964. Quân xâm lược ném bom thành lũy ven biển của nước Việt Nam trong ba giai đoạn. Ban đầu các cuộc ném bom vào thành phố có mật danh là “Tiếng sấm”, sau đó là “Biển lửa”, và cuối cùng là những cuộc ném bom “rải thảm” của không quân chiến lược vào tháng 12 năm 1972. Bây giờ chuyện đó đã là lịch sử. |
|
#10
|
|||
|
|||
|
Trong những năm tháng khó khăn, trẻ em Liên Xô đã gửi quà cho những người bạn Việt Nam cùng trang lứa. Nhà hoạt động xã hội nổi tiếng Grigori Loksin và nhà văn Ted Gladkov mang quà đến Hải Phòng. Tôi đón họ ở cầu cảng.
Nhưng có lẽ những hậu quả khủng khiếp của bom đạn không bao giờ phai mờ được trong ký ức. Hầu như tất cả đều bị ném bom – nhà ở, những con đường dẫn vào thành phố, cầu cống, bến cảng. Luồng nước hẹp của sông Cấm nối cảng với vịnh Bắc Bộ đã bị rải mìn. Ở trung tâm thành phố Hải Phòng, từ cây cầu Ngự gần bưu điện thành phố, từ Bảo tàng cách mạng đến đường Điện Biên Phủ, trên một vùng đất gần bẳng một km vuông chúng đã ném xuống hàng chục quả bom bi mẹ… Con tàu Liên Xô Pereyaslavl-Zaleski đang đậu ở cảng bị hư hại, tháng 7 năm 1968 tàu Aleksandr Grin cũng bị bắt lửa. Chỉ có lòng dũng cảm của thủy thủ Liên Xô và công nhân cảng Việt Nam mới cứu được bến cảng và thành phố. Vì nếu như xảy ra nổ thì hậu quả sẽ rất khủng khiếp. Sức phá hủy sẽ bằng hai quả bom Mỹ đã ném xuống Hiroshima tháng 8 năm 1945. Trong số các nhà báo trên tàu Grin có phóng viên APN Boris Shumeev. Trong những năm đầu sau chiến tranh, các cấp ủy Đảng và chính quyền Hải Phòng đã tập trung mọi nỗ lực vào việc khôi phục đường sá, tiềm năng công nghiệp và quỹ nhà ở của thành phố. Một trong những đối tượng khôi phục trước tiên của Hải Phòng là cây cầu qua sông Cấm ngay cửa ngõ thành phố. Không có cầu thì việc chuyên chở hàng hóa ra khỏi cảng là cực kỳ chậm. Sau đó nhiều công trình công nghiệp đã mọc lên, những ống khói đã mọc lên trên nhà máy xi măng Hải Phòng. Vậy mà nhà máy xi măng này đã từng phải hứng chịu hơn 300 trận ném bom trong thời gian chiến tranh! Ở khu Mê Linh, phố Cầu Đất nhà cửa đã được dựng lại, khai trương những cửa hàng mới. Dòng xe đạp lại tuôn theo những hàng cây non. Chợ Sắt và chợ An Dương đã đông người từ sáng sớm. Thật khó tưởng tượng trước đây nơi này chỉ là những đống đổ nát điêu tàn. Tháng 2 năm 1967 tôi đã được chứng kiến bọn Mỹ bắn phá khu phố Mê Linh như thế nào. ... Chiều tối tôi lại trở về đường Trần Hưng Đạo, nơi tôi đã hẹn gặp anh Lương. Anh ấy vẫn còn một việc nữa chưa làm. Chúng tôi ghé vào một hiệu sách nhỏ, Lương mua mấy quyển sách giáo khoa mới tinh cho cậu con trai: sắp đến năm học mới rồi. Và thằng cu của anh cùng 300 nghìn trẻ em sắp bước vào ngưỡng cửa nhà trường. Tôi chia tay anh Lương ở bến tàu. Anh đưa xe đạp lên thuyền và thân thiện vẫy tay tạm biệt. |
|
#11
|
|||
|
|||
|
Giữa núi non Cao Bằng
Từ Hòn Gai – Cẩm Phả tôi theo đường sắt đi Cao Bằng. Mấy hôm sau thì đường sắt bị ném bom. Tháng 4 năm 1967 bọn Mỹ bắn phá đường Hà Nội – Lạng Sơn, đường sắt sang Trung Quốc bị gián đoạn. Người cuối cùng đi theo con đường này là đại sứ và tùy viên quân sự nước Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ ở VNDCCH. Ở cực bắc của nước Việt Nam, trên những vùng núi non ở Việt Bắc {5} diện tích chỉ khoảng 14 nghìn km vuông là tỉnh Cao Lạng, hình thành từ việc hợp nhất hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn. Ở đó có sáu dân tộc sinh sống. Họ sinh sống ở vùng đông bắc Việt Nam đã nhiều thế kỷ. Thời trước họ sống du canh du cư, về sau họ định cư và xây dựng làng mạc ven sông hay ở những thung lũng và cả trên núi cao. Những ngôi nhà sàn bằng gỗ cao ráo rộng rãi nhô lên xen lẫn vườn cam.. Nhà mái ngói đỏ, nóc nhọn cùng những ống dẫn nước bằng tre cầu kỳ rất điển hình cho những làng người Tày, người Nùng và người Dao. Vùng này có nhiều phong tục tập quán đa dạng phong phú. Chẳng hạn như, từ trước tới nay khi chú rể tới đón cô dâu thì phải đi cùng một người hát hay nhất làng. Còn cô dâu phải mặc váy sặc sỡ gắn rất nhiều dây nhỏ. Họ đưa ra nhiều chướng ngại vật tượng trưng bắt chú rể phải vượt qua. Phong tục này vẫn không thay đổi ngay cả trong thời chiến. Người Nùng dân số gần 350 nghìn là dân tộc đông người nhất của Cao Bằng. Họ đã sinh sống ở đây từ rất lâu bênh cạnh người Tày và những quan hệ gia đình của họ bện chặt với nhau. Người Nùng và người Tày chịu ảnh hưởng rất nhiều của văn hóa của những người sinh sống ở những vùng thấp là người Việt hay người Kinh, chiếm khoảng 87% dân số Việt Nam. Ngôn ngữ và chữ viết của người Kinh - Việt là ngôn ngữ chính và được tất cả các dân tộc ở Việt Nam sử dụng phổ biến. Nhưng người Tày, người Nùng và người Dao cũng có chữ viết riêng, lập ra trong những năm 50, đó là kết quả những nghiên cứu lâu dài của các nhà khoa học Việt nam áp dụng kinh nghiệm của các dân tộc Liên Xô. Các đài phát thanh địa phương phát bằng bốn thứ tiếng dân tộc. Nhà thơ nổi tiếng Bàn Tài Đoàn, nhà biên kịch Lương Viết Quảng đã sáng tác bằng tiếng các dân tộc miền Bắc Việt Nam. Các tác phẩm của nhạc sĩ Đỗ Minh người Tày, truyện dân gian của người Dao, điệu hát “sli”, điệu múa “siên tàng” của người Nùng được cả nước biết đến. Người ta xem Cao Bằng là một trong những vùng có phong cảnh đẹp nhất Việt Nam. Mùa đông nhiệt độ trên núi hạ xuống dưới không độ, chuyện này không có ở nơi nào khác trong nước. Ví dụ, mùa đông năm 1946, bên cạnh Cao Bằng, ở khu vực đỉnh núi cao nhất Việt Nam – đỉnh Phanxipan (3142m), - có tuyết rơi. Tuyết cũng phủ dày 10 cm trên núi ở khu vực Sa Pa – một trong những khu nghỉ mát lớn nhất Việt Nam. Nhưng chỉ mấy tuần sau Sa Pa lại đã tràn ngập sắc xuân. Những vườn đào vườ quít bao quanh Sa Pa như những dải thắt lưng đỏ hồng. Những con sông con suối nước chảy ào ào dưới những chiếc cầu đơn sơ bắc qua khe sâu. Với mỗi người Việt Nam thì Cao Bằng được biết đến như một tỉnh miền núi xa xôi, có thác Bản Giốc nằm trong số những thác nước lớn trong nước, nó được nâng niu giữa những khe đá của một cái hồ hùng vĩ – hồ Thang Hem. Bên dòng nước trong vắt va vào đá tung lên thành hàng trăm tia lấp lánh bạn sẽ cảm nhận được mùi hăng hăng cay nồng của rừng nhiệt đới. Không khí ở đây sạch sẽ như pha lê. Và có vẻ như mỗi khi gió thổi nó vang lên ngân nga như như pha lê. Lịch sử của vùng núi xa xôi này gắn liền với trang sử đấu tranh hào hùng vì độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập trong khu rừng mang tên người anh hùng huyền thoại Trần Hưng Đạo. Đội quân vũ trang non trẻ của Việt Nam đã đánh thắng trận đầu, tiêu diệt đơn vị đồn trú của thực dân Pháp ở Đông Khê… * * * |
|
#12
|
|||
|
|||
|
“Sáng ra bờ suối tối vào hang,
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng. Bàn đá chông chênh dịch sử đảng …” Đây là những vần thơ Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ở vùng rừng núi đông bắc Cao Bằng, trong hang Pác Bó. Theo tiếng dân tộc Nùng thì Pác Bó nghĩa là “nguồn nước”. Nơi đây bắt nguồn một trong những dòng sông lớn nhất ở vung núi miền Bắc Việt Nam – sông Bằng Giang. Chính ở nơi đây chủ tịch Hồ Chí Minh đã ẩn tránh sự lùng bắt của bọn mật thám. … Sáng sớm tinh mơ, khi màn sương còn vắt nhẹ trên đỉnh núi, tôi đến một thung lũng nhỏ tuyệt đẹp nằm giữa những vách đá dựng đứng. Hồ Chí Minh đã ở đây, ở Cao Bằng này năm 1941 với tên gọi khi ấy là Nguyễn Ái Quốc, tức là ông Nguyễn yêu nước. Mặt trời nhô lên xua tan mây mù, mở ra trước mắt những vách núi, những đám ruộng bậc thang xanh mướt lúa, những ngôi nhà sàn tre lá dựa vào vách đá. Người ta khẳng định là 60 năm trước, khi Bác Hồ đến đây, Pác Bó nhìn vẫn như thế này. Dòng nước suối trong vắt, khi thì đổ xuống thác, khi lại luồn lách giữa những tảng đá, lúc lại thoải mái tỏa ra khắp thung lũng làm cho cuộc sổng ở cái góc nhỏ của Cao Bằng này dường như thêm thơ mộng. Không dễ vượt qua suối trên những hòn đá trơn nhẫy. Bên bờ suối có mấy tảng đá dựng lên giống như một chiếc bàn viết và một chiếc ghế đá. Hồ Chí Minh đã ngồi làm việc ở đây. Từ suối có một lối mòn hình thành từ mấy chục năm trước đi thẳng lên dốc. Gai rừng sắc nhọn, những hòn đá chênh vênh thỉnh thoảng lại bật ra dưới bước chân lăn rào rào xuống dưới. Ngày trước Hồ Chí Minh đã lên xuống nơi này biết bao lần... Tiếp tục leo lên khoảng 15 phút nữa. Cuối cùng một lối đi hẹp hiện ra. Vòm hang treo đầy nhũ đá, trong hang ánh sáng lờ mờ. Chỉ có một tia sáng dài giống như một chiếc đèn tự nhiên chiếu sáng đáy hang. Ông Nguyễn yêu nước đã sống và làm việc ở đây. Cho đến nay trong bảo tàng Pác Bó gần đó vẫn lưu giữ những vật dụng cá nhân của Hồ Chí Minh - chiếc va li mây Người mang theo khi đến Pác Bó, chiếc nồi Người nấu cơm... - Trong hang này, - bạn tôi, thượng tướng Chu Văn Tấn nhớ lại, - tôi đã ở cùng Chủ tịch mấy tháng. Chiều chiều chúng tôi tập hợp lại ở Pác Bó. Hồ Chí Minh kể cho chúng tôi những chuyến Người đi đến Liên Xô, về việc Người không kịp gặp V. I. Lenin ra sao, rằng hồi đó Moskva như thế nào. Người kể hay đến nỗi trước mắt chúng như hiện ra phong cảnh nước Nga với những công trình to lớn. Nhiều người chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy tuyết vậy nhưng ai cũng tưởng tượng thấy rõ những miền băng giá phương bắc xa xôi. Nhờ có Hồ Chí Minh mà chúng tôi biết về lòng dũng cảm của những con người xô viết đã chinh phục Bắc Cực, về chiến công của các phi công Liên Xô lần đầu bay qua Bắc Cực tới Châu Mỹ. * * * |
|
#13
|
|||
|
|||
|
Hồ Chí Minh đến Liên Xô lần đầu tiên năm 1923 và làm việc ở Irkutsk. Nhưng có một chuyến như thế này... Tàu thả neo ở cảng Leningrad. Hồ Chí Minh cùng hai lính thủy đến đại lộ Nevski.
- Xin cho biết họ tên của anh! - một nhân viên anh ninh hỏi. - Tôi là Nguyễn. - Mục đích anh đến đây là gì? - Là để gặp đồng chí Lenin. Vậy là Hồ Chí Minh đến Liên Xô với tên là Nguyễn. Người đã nhiều năm xa cách bến bờ quê hương. Trong những năm 20 Hồ Chí Minh tham gia phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân Pháp, tham gia Quốc tế cộng sản III. Tại đại hội của những người xã hội chủ nghĩa Pháp ở Тours, Người đã bỏ phiếu tán đồng thành lập Đảng Cộng sản Pháp và sáp nhập đảng này với Quốc tế cộng sản III. Chín năm sau, chính quyền thực dân Pháp đã kết án tử hình vắng mặt Người. Chính quyền thực dân Anh đã bắt giữ Người ở Hồng Công. Người đã phải trải qua hai năm trong nhà tù Quốc dân đảng ở Trung Quốc. Vào giữa những năm 20 Người tham gia vào công việc của nhiều hội nghị quốc tế, trong đó có Đại hội V Quốc tế cộng sản, là ủy viên thường trực của Ban phương Đông của Quốc tế cộng sản. Có một bí mật nhỏ. Hồ Chí Minh có phải lòng ai không? Có, Người đã từng yêu một cô gái Nga. Đó là Vera Yakovlevna Vasilieva, nhân viên Quốc tế cộng sản. Họ không có con. Người có gặp Stalin không? Có, thậm chí Stalin còn ký tặng trên trang bìa tạp chí “Ngọn lửa nhỏ”, nhưng cuốn tạp chí của Bác Hồ đã biến mất một cách bí ẩn. Người coi ai trong số người nước ngoài sống ẩn danh là bạn? Đó là Richard Sorge (Ri-hác Giooc-giơ), người đã ở phòng bên cạnh trong khách sạn “Astoria” ở Moskva. Vào giai đó cuộc đấu tranh quần chúng của giai cấp công nhân và nông dân ở bán đảo Đông Dương ngày càng mở rộng, đưa đến quá trình hình thành ý thức giác ngộ giai cấp của những người vô sản Việt Nam. Trong hoàn cảnh như vậy, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đã diễn ra một hội nghị các nhóm cộng sản Việt Nam nhằm thống nhất các tổ chức mác xít tản mạn thành một đảng duy nhất. Vậy là ngày 3 tháng 2 năm 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, sau đó đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. ... Năm 1943 – 1944, nhân dân Liên Xô đánh tan phát xít Hitle trên tất cả các mặt trận. Ở Việt Nam cuộc đấu tranh chống bọn quân phiệt Nhật Bản và thực dân Pháp ngày càng mở rộng. Từ Cao Bằng, Hồ Chí Minh ra lệnh thành lập đội vũ trang Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Đội quân này được thành lập ở ngay tại đây, ở Cao Bằng ngày 22 tháng 12 năm 1944. Hết chươngIII |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Huonghongvang (06-03-2013) | ||
|
#14
|
|||
|
|||
|
Chương IV ĐI DỌC VĨ TUYẾN 17 Đất này vô chủ sao? Những đám mây bồng bềnh trên đầu. Phía dưới là dòng nước trong xanh thanh bình của dòng sông Bến Hải. Ngót nửa thế kỷ trước cả dòng sông lẫn cây cầu đều được gọi là Hiền Lương, có nghĩa là “dịu dàng, tốt bụng”. Năm 1954, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ định ra đường giới tuyến tạm thời giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam theo vĩ tuyến 17 không ai có thể nhớ tên gọi của dòng sông nhỏ dài 70km ở ngay vùng này. Lúc ấy người ta đề nghị đặt tên sông là Bến Hải, nghĩa là “chảy về biển”. Nay thì nó đã nổi tiếng khắp thế giới. Tôi còn nhớ người ta đã kẻ đường ranh giới trên cây cầu cũ bảy nhịp dài 178 mét như thế nào. Mặt cầu có 894 tấm ván lát, phần thuộc về VNDCCH có nhiều hơn phần phía nam 6 tấm, điều này làm cho Sài Gòn cực kỳ bực tức. Giờ đây cây cầu này không còn mang ý nghĩa xưa là phân chia nước Việt Nam, cũng như không còn các chốt biên phòng của Sài Gòn ở bờ nam với binh lính mặc quần soóc đỏ. Làng mạc mọc lên và những cánh đồng lúa trải dài dọc theo đôi bờ của dòng sông. Cây cầu cũ thời thuộc địa đã bị bom đạn Mỹ phá hủy cuối năm 1967, chính tôi và người bạn thời đại học của mình là phóng viên chiến trường báo “Sự thật” Aleksei Vasiliev được thấy lần cuối nó còn nguyên vẹn và hầu như không hư hỏng gì. Thời chiến chắc là không ai nghĩ đến việc xây lại nó. Sau khi ký kết Hiệp định Paris, cầu được những người yêu nước Việt Nam khôi phục lại. Bây giờ là chiếc cầu bê tông trắng, mãi mãi nối đôi bờ của dòng sông “Chảy về biển”. Những năm chiến tranh tôi đã từng đến khu phi quân sự nhiều lần, sống dưới công sự đặc khu Vĩnh Linh, đi theo những con đường mòn của du kích miền Nam. Sau khi giành thắng lợi và thống nhất đất nước, vùng đất này đã hoàn toàn thay đổi với tầm quốc gia, nhưng ngay cả bây giờ nhiều thứ ở đó vẫn gợi nhớ về một thời chiến tranh. |
|
#15
|
|||
|
|||
|
Cuộc chiến thứ ba. Câu chuyện bên bờ Bến Hải. Chấm dứt huyền thoại “pháo đài bay”.
Trong bộ quần áo nông dân, đội chiếc mũ rơm do dân làng tặng, ống quần xắn cao, tôi vượt qua mấy trăm mét cuối cùng của Quốc lộ 1 đi vào vùng phía bắc khu phi quân sự. Chúng tôi không mang vũ khí. Nhưng ở Vĩnh Linh chúng tôi được một tiểu đội an ninh và bộ đội địa phương bảo vệ. Năm 1967. Chiến tranh. Dải lụa xanh của sông Bến Hải hiện ra phía trước. Nó đã chia hai miền Nam Bắc Việt Nam suốt 30 năm và là đường trục thuỷ đặc biệt của khu phi quân sự. Phía trên sông một tốp hai máy bay phản lực quân sự Mỹ lượn đi lượn lại. Chúng tìm mục tiêu cho trận ném bom tiếp theo. Dọc hai bên đường đi qua phần phía bắc khu phi quân sự dài 3 km là những thửa ruộng lúa hình chữ nhật của hợp tác xã Hiền Lương. Nông dân đã thu hoạch xong vụ chiêm. Thỉnh thoảng họ lại ngẩng đầu lấy tay che mắt nhìn bầu trời xanh thăm thẳm, bất cứ lúc nào nó cũng có thể giáng xuống họ những thứ chết chóc. Bến Hải đây rồi. Cầu Hiền Lương đây rồi. Nó nối hai miền Nam Bắc Việt Nam. Nối ư? Chính nó cũng như cả nước đã bị chia làm hai phần. Cạnh nó là một cột cây số không biết vì sao vẫn còn nguyên vẹn ghi: “Quảng Trị, Nam Việt Nam, 37 km”. Những hố bom sâu hoắm cách đường vài mét. - Hố bom 500 cân đấy, - chiến sĩ biên phòng Kênh giải thích, - Chắc là tên phi công Mỹ nhằm vào cái cột 35 mét này. Trên đó là lá cờ đỏ sao vàng – quốc kỳ VNDCCH tung bay. Nhưng không rõ vì sao mà chúng tôi lại cảm thấy an toàn khi ở đây, ở dải đất trung lập này, thậm chí chúng tôi còn chụp ảnh mà không đội mũ sắt. Tôi đứng trên cầu Hiền Lương. Trên thành cầu đầy vết bom đạn. Dưới chân tôi dòng sông Bến Hải vẫn lặng lẽ mải miết đưa nước về biển Đông, nó vẫn chảy như hàng nghìn năm trước. |
|
#16
|
|||
|
|||
|
Đứng bên tôi là ủy viên Ủy ban hành chính Vĩnh Linh Trần Đức Hạnh, anh kể:
– Bên kia sông là đất của tỉnh Quảng Trị, là vùng giải phóng rộng lớn. Suốt hai năm rưỡi quân viễn chinh và lính thủy đánh bộ Mỹ nhiều lần càn quét những người yêu nước nhưng uổng công. Máy bay Mỹ liên tục ném bom bất kể ngày đêm. Tháng 5 năm 1967 mấy tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ và quân ngụy Sài Gòn đã tràn vào phía nam khu phi quân sự, vi phạm quy chế quốc tế của khu vực này. Mảnh đất Vĩnh Linh ở bờ bắc sông Bến Hải phải hứng chịu hoả lực chồng lên nhau, từ những trận bom khốc liệt nhất của máy bay đến đạn pháo từ các trận địa pháo cách sông bờ nam Bến Hải 4-8 km, từ tàu chiến của Hạm đội 7, từ các căn cứ Mỹ ở Dốc Miếu, Cồn Tiên, Trung Lương, Gio Linh. Các xã miền núi của huyện bị máy bay chiến lược B-52 ném bom. Ở đây, trên đất Vĩnh Linh, “Pháo đài bay” của Mỹ đầu tiên bị bắn rơi. Người Mỹ khẳng định không thể có chuyện đó được. Người Việt Nam đưa ra số hiệu máy bay, họ tên các phi công. Washington không nói thêm lời nào, nhưng trên báo Mỹ ai đó vẫn nhiều lần tuyên bố lực lượng phòng không Bắc Việt Nam không thể “gặm” được máy bay B-52. Nhưng rồi ngày 17 tháng 9 năm 1967, vào lúc 17 giờ 03 và 17 giờ 34 hai “pháo đài bay” đã kết thúc cuộc “dạo chơi” trên không của mình dưới đất Vĩnh Linh. Trong một căn hầm ở cách cầu Hiền Lương không xa, tôi gặp Lê Niệm, biên tập viên của tờ báo địa phương “Thống Nhất”. Anh tới đây để lấy tư liệu cho bài ký sự tố cáo tội ác của quân phiệt Mỹ đối với dân thường ở phần phía bắc khu phi quân sự. – Hôm nọ chúng ta không có thời gian để nói chuyện, - Niệm mỉm cười, - Còn lúc này bom đạn không cho chúng ta ra khỏi hầm trước khi trời tối. Như vậy thời gian để nói chuyện là quá đủ. (Hầm sâu 20 – 25 mét, một ống thông hơi để lấy không khí thò lên mặt đất ở giữa vườn dứa. Nhưng ở đây không quan tâm đến dứa, người Mỹ đã quẳng xuống đây những quả “bom dứa màu vàng” (bom bi - người dịch) của họ rồi. Ngay lập tức, như để khẳng định lời anh, một tiếng nổ rung lên. – Tớ sẽ kể cậu nghe về huyện Vĩnh Linh của tớ, - Niệm mở đầu, - Rồi cậu sẽ hiểu tại sao ở mảnh đất này của nước Việt Nam, ở bờ bắc sông Bến Hải, bất chấp những gian khó vượt quá sức chịu đựng của con người, vẫn tiếp tục làm việc, chiến đấu và chiến thắng. Vĩnh Linh có 6 xã miền núi, còn 17 xã và thị trấn Hồ Xá nằm ở vùng đồng bằng ven biển. Từ cửa sông Bến Hải, từ biển đến biên giới Lào là 70 km. Từ khu phi quân sự đến đến tỉnh bên cạnh thuộc miền Bắc Việt Nam, tỉnh Quảng Bình 40 km. Cậu thấy đấy, chỉ là một mảnh đất nhỏ mà phải chịu đựng biết bao đau thương. |
|
#17
|
|||
|
|||
|
Trước năm 1954 Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị và được biết đến như một huyện nghèo nhất Việt Nam. Lũ lụt, gió Lào khô, bão tố đã hủy hoại mùa màng làm cho nông dân phải chịu nghèo đói. Thời Pháp thuộc, dân Vĩnh Linh ba ngày mới được ăn một bát cơm. Khoai sắn thì không phải ngày nào cũng có. Ở miền núi người ta phải ăn cả vỏ cây để khỏi chết đói.
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 nổ ra. Người Vĩnh Linh kiên quyết đứng về phía các chiến sĩ đấu tranh cho tự do và độc lập. Niệm châm một điếu thuốc. Vào lúc đó một quả bom nổ đâu đó bên cạnh. Ngọn đèn hoa kỳ rung lên bần bật. - Chúng ném bom bi đấy, - Niệm bình tĩnh giải thích và hít sâu một hơi thuốc.- Còn loại bom nào mà bọn xâm lược chưa dùng ở đây cơ chứ. Chúng định cướp đi những gì nhân dân chúng tôi đã giành được bằng máu và mồ hôi. Ban đầu bọn Mỹ đánh vào đảo Cồn Cỏ, tiếp sau chúng biến thị trấn Hồ Xá thành đống đổ nát (trong thị trấn tôi không thấy một ngôi nhà nào còn nguyên vẹn). Từ trên không, quân xâm lược đã ném hàng tấn kim loại xuống huyện, rồi sau đó từ ngoài biển, bay giờ thì tiếp tục bắn phá Vĩnh Linh từ các căn cứ pháo binh ở miền Nam. 20 ngàn quả đạn pháo đã băm nát mấy làng Tân Lý, Sô Mi(?), Gio An. Thực tế hầu hết nhà cửa ở xã Vinh Quang đã bị phá hủy. Khu vực Vĩnh Tú bị ném bom 17 ngày đêm liền không ngưng nghỉ. Ở đây tính trung bình mỗi người dân phải hứng chịu 60 - 70 quả bom cỡ lớn. Những cánh đồng bị đốt cháy, những ngôi làng bị phá hủy, nương rẫy bị chất độc hóa học hủy diệt, những vườn dừa trước đây trải dài mấy km giờ chỉ còn những cái thân cháy trụi... - Kẻ thù định dùng súng đạn để cướp đi của người Vĩnh Linh những gì họ đã làm nên trong những năm cách mạng, - Niệm kể tiếp, - Nhưng đến tháng 5 năm 1967 thì gần 200 máy bay địch đã bị các chiến sĩ phòng không Vĩnh Linh bắn hạ. Các đội pháo bờ biển đã bắn chìm và bắn hỏng hơn 30 tàu địch, đập tan nhiều nhóm gián điệp biệt kích. Giữa các xã có hệ thống liên lạc vững chắc. Đường dây liên lạc từ làng này sang làng kia kéo dài nhiều km. Đường dây liên lạc ở Vĩnh Linh phải hơn 1500 km. Đường hào trở thành đường giao thông của huyện, có lẽ đây là những con đường chưa có trong cuộc chiến tranh nào trên thế giới. Toàn bộ cuộc sống của Vĩnh Linh thực tế diễn ra dưới đất. Tôi đã thấy những căn hầm dưới đất được xây dựng cho những công xưởng nhỏ. Nơi ở cho người cũng dưới đất. Bệnh viện, trường học cũng ở ngay đây, dưới đất. Những đứa con của Vĩnh Linh chiến đấu đã sinh ra, lớn lên và đi học ở đây. |
|
#18
|
|||
|
|||
|
Xã Vinh Quang bất khuất
Hầm trú ẩn. Tôi viết những phác thảo đầu tiên cho loạt phóng sự về vĩ tuyến 17 ở xã Vinh Quang, cách sông Bến Hải chừng 3 km, dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu ở sâu trong lòng đất. Bắt đầu từ đâu đây? Đúng là máy bay Mỹ không ngừng gầm rú một phút nào. Thậm chí chỉ cả tiếng gió rít cũng đặc biệt, giống như tiếng máy bay, khi thổi qua đường dây điện, không hiểu bằng cách nào, vẫn còn sót lại nguyên vẹn một cách khó tin. Pháo tầm xa của Mỹ ở bên kia sông Bến Hải, trên những ngọn đồi ở Dốc Miếu, Cồn Tiên, Gio Linh, vẫn tiếp tục oanh tạc. Pháo từ Hạm đội 7 bắn sâu vào huyện Vĩnh Linh. Bụi đất mù mịt, những cột khói lên bầu trời không gợn mây. Đất như rên rỉ. Từ tháng 4 năm 1967 xã Vinh Quang phải hứng chịu những trận oanh tạc liệt nhất. Chỉ trong một tháng – từ 28 tháng 4 đến 27 tháng 5 – quân xâm lược đã trút xuống làng mạc Vinh Quang hơn 10 nghìn quả đạn pháo, hàng trăm quả bom cỡ lớn, hàng nghìn bom bi mẹ {6}. Thương vong chủ yếu là phụ nữ và trẻ em. Nhưng nếu như trước đây còn có những thời điểm tạm ngưng giữa các đợt ném bom, oanh tạc, thì bắt đầu từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 25 tháng 6 Quang Vinh bị oanh tạc liên tục cả ngày lẫn đêm. Có lẽ quân xâm lược quyết hủy diệt tất cả mọi sinh vật ở khu vực này. Chỉ từ 20 đến 25 tháng 6 chúng đã trút xuống Vinh Quang hơn 5 nghìn quả bom, phá hủy hơn 500 ngôi nhà. Trích nhật ký: “20.6. Nhiều tốp máy bay Mỹ thực hiện 22 cuộc không kích vào xã. 21.6. Chúng ném bom xuống Vinh Quang 63 lần. Quân xâm lược nghĩ ra chiến thuật tàn sát dân địa phương thế này: đầu tiên chúng ném bom phá hạng nặng, sau đó, nếu mọi người chạy ra khỏi nơi trú ẩn chúng sẽ ném thêm bom bi. Kim đồng hồ chầm chậm nhích. Cuối cùng sao Hôm sáng lên phía chân trời. Đêm miền nhiệt đới xuống rất nhanh. 21.00. Chúng tôi đi ra sông. Ở chỗ hẹn, một chiếc thuyền đánh cá đang đợi chúng tôi. Pháo sáng lơ lửng trên sông. Một chiếc máy bay Mỹ vọt qua trên thuyền chỉ cách hơn một trăm mét. Chớp mắt sau trên bờ bừng lên một lưỡi lửa dài. Một loạt tiếng nổ inh tai nhức óc. - Lại ném đấy. Không chần chừ được, nhổ sào đi! - tổ trưởng Khoái ra lệnh. Thuyền trườn ngược dòng, nhẹ nhàng đằm vào sóng nước lấp lánh lân tinh của dòng sông. Mỗi nhịp chèo khua nước lại tạo ra hàng nghìn tia bạc lấp lánh. Trong lúc đó thì trên bầu trời đêm, loé lên từng đốm chói sáng của pháo sáng, giống như mắt của bầy sói trong rừng taiga. Chúng tôi nhấn mạnh mái chèo. Sao lâu đến bờ thế! Cuối cùng thì thuyền cũng chạm đáy cát. Chúng tôi rời thuyền lội nước vài trăm mét. Sau đó băng qua một làng, rồi làng nữa. Lại có pháo sáng trên trời. Chúng tôi nấp vào chỗ trú ẩn gần nhất. Ngay sát cạnh tiếng nổ lại vang lên. - Chúng ném bom vào làng thôi, đi ra đi, - tiếng ai đó trong bống tối. Anh tổ trưởng lách ra gần cửa hầm và chui ra ngoài. - Cháy làng rồi. Chúng ném bom lân tinh và bom bi, - một anh bộ đội bên trên nói vọng xuống. Chúng tôi rời nơi trú ẩn. Trước mắt là một cảnh tượng khủng khiếp. Nhà cửa cháy rần rật. Tiếng kêu, tiếng khóc, tiếng rên. Các chiến sĩ của đội cứu hộ ở gần đấy đã chạy đến làng. - Bây giờ trong làng liệu còn ai mà cứu nữa không! - có tiếng của ai đó. Với phốt pho và napal thì cả đất cũng phải cháy. Lửa vẫn gầm réo trong làng. Bàng hoàng, ngần ấy đau thương lại có thể ập xuống chỉ trong có mấy giây đồng hồ. Như hiểu được ý nghĩ của tôi, người đội trưởng căm hờn thốt lên: - Chúng sẽ phải sẽ phải trả giá đắt cho việc này. Chúng sẽ phải đền tội! * * * |
|
#19
|
|||
|
|||
|
Kể từ hôm đó mấy tuần sau tôi không còn gặp được đội trưởng Khoái trên các trận địa pháo ở Vĩnh Linh nữa. Nhưng mỗi chiến sĩ đều có điểm gì đó làm tôi nhớ đến anh. Điểm gì nhỉ?
- Ở đây, trên hoả tuyến đầu này, chúng tôi hành động như một cỗ máy thống nhất, như một khẩu pháo, - chính ủy đội pháo binh 100mm Mai Văn Dần nói, - mỗi quả đạn chúng tôi bắn ra là để trả thù cho những tội ác mà bọn xâm lược gây ra trên đất Việt Nam. Tôi lại nhớ đến ngôi làng bên bờ Bến Hải, những ngôi làng ở xã Vinh Quang và lời của anh Khoái: “Chúng sẽ phải trả giá đắt cho việc này”. Tôi đang ở sở chỉ huy của đội pháo binh đã nhiều lần đấu pháo với địch. – Đội pháo có nhiệm vụ, - đại diện huyện đội Vĩnh Linh, phó chính ủy quân sự khu vực Vũ Kỳ Lân nói với tôi, - tiêu diệt các trận địa pháo của Mỹ ở miền Nam. Đây không phải là sự gây chiến mà là đòn giáng trả. – Phân đội chúng tôi, - chính ủy Dân nhớ lại những ngày đó, - tham gia đánh nhau từ tháng 3 năm 1967. Từ nơi huấn luyện, chúng tôi hành quân tới Vĩnh Linh mà không có tổn thất nào, chúng tôi vượt qua sông Gianh và nhiều đoạn vất vả khác trên Quốc lộ 1 hướng về sông Bến Hải. Chúng tôi chiếm lĩnh trận địa. Lúc đó bọn xâm lược đặc biệt tăng cường đánh phá Vĩnh Linh. Chỉ một làng trong huyện đã phải chịu hàng nghìn quả đạn pháo trong vài ngày. Từ đầu tháng 3 đến tháng 7 năm 1967 pháo binh Mỹ đã bắn từ phía Nam vào đất Vĩnh Linh 60-65 nghìn quả đạn. Ở đây không thể tìm thấy một khoảnh đất nào, một làng xã nào, một mảnh vườn, một đoạn đường nào mà không có dấu vết bom đạn. “Đến bao giờ chúng ta đánh trả bọn giặc? – các chiến sĩ hỏi, - Còn phải chịu đựng bao lâu nữa đây?” “Hãy đợi lệnh” – đó là câu trả lời của chỉ huy. Đòn giáng trả cần phải bất ngờ và cực kỳ chính xác. Cần phải đánh giập những trận địa pháo Mỹ ở Cồn Tiên và Dốc Miếu. Nhưng hiện thời phải đợi tin trinh sát từ miền Nam ra. Tôi thấy các chiến sĩ pháo binh Vĩnh Linh luôn nắm số liệu trinh sát chính xác về các trận địa pháo Mỹ ở miền Nam. Chẳng hạn họ biết ở Dốc Miếu địch bắn từ 4 khẩu pháo 175 mm, 10 khẩu 155 mm và 10 khẩu 105 mm. Cuối cùng, đêm 18 tháng 3 cũng đến. Các chiến sĩ nhận lệnh vào vị trí chiến đấu. Giờ X được ấn định để trút đạn xuống quân thù. Mỗi người làm việc bằng ba. Lần đầu tiên họ được oanh tạc các vị trí ở miền Nam. – Có thể đã hiểu được các chiến sĩ, - chính ủy Dân nói tiếp, - gia đình ai cũng có người thân bị sát hại. Thời khắc chờ đợi từ lâu đang đến gần. Giờ trừng phạt. 18 giờ 25 phút ngày 13 tháng ba là giờ X. Lúc đó địch bắn dữ dội sang Vĩnh Linh. 18 giờ 25 phút, pháo binh VNDCCH lên tiếng. Rất chính xác. - Lúc bắn tập các chiến sĩ chỉ bắn được 4 quả đạn một phút,- anh Dân nhớ lại, - ngày 23 tháng 3 họ đã bắn được 5 quả một phút. Chẳng hạn như khẩu đội Phạm Văn Sen bắn hơn một trăm quả đạn. Trận bắn phá Dốc Miếu và Cồn Tiên kéo dài đến tận sáng. Hơn nghìn tên địch bị tiêu diệt và nhiều phương tiện chiến đấu bị phá hủy. Sau trận này chúng tôi thay đổi vị trí tác chiến rồi trở về căn cứ. Các chiến sĩ rất hân hoan. Vài hôm sau trung ương gửi điện mật: chuẩn bị đánh trận mới. Các chiến sĩ ngày ngày luyện tập trên sa hình. Mấy tiếng đồng hồ trước giờ đã định, chúng tôi đưa vũ khí ra trận địa mới. Lúc này máy bay Mỹ xuất hiện: một chiếc do thám L-19 và mấy chiếc A-4H. Pháo cao xạ bắn lên. Việc phối hợp tác chiến giữa các chốt hỏa lực đã được chuẩn bị từ trước. Máy bay Mỹ buộc phải rời Vĩnh Linh. 27 tháng 4 năm 1967, 17 giờ. Pháo của ta lại dội lửa xuống trận địa 175 mm của địch ở Cồn Tiên. Pháo địch bị phá hủy, một chiếc L-19 bị bắn rơi. Chặng đường chiến đấu sau này của đơn vị như thế nào? Theo lệnh của trên, chúng tôi đã chốt tại những nơi nguy hiểm nhất. Tháng 5 năm 1967 chúng tôi cùng đơn vị pháo bờ biển bắn các tàu chiến của Hạm đội 7, trong đó, ngày 27 tháng 5 chúng tôi đã bắn hỏng một tàu khu trục Mỹ. Hôm đó, một tàu tuần dương và 2 tàu khu trục xuất hiện ven biển Vĩnh Linh. Chúng tôi tập trung hỏa lực vào một tàu khu trục. Sau vài loạt đạn chính xác thì boong tàu bốc cháy. Khói đen trùm kín con tàu. Địch không chịu nổi đòn của pháo binh phải rút ra biển. Thành lũy phia nam của VNDCCH vẫn đứng vững. |
|
#20
|
|||
|
|||
|
Đội pháo trên cao.
Rạng đông. Mặt trời ló ra vàng ruộm, như mọc lên từ sóng biển, như mọc ra từ bên sườn một quả đồi không tên. Chân trời còn đang phủ màn sương sớm làm nổi lên những chấm đen thẫm – hình thù những tàu chiến hạng nặng của Hạm đội 7 Mỹ. Cứ cách 3-5 phút đạn từ pháo trên tàu Mỹ bắn vào lại rít lên chói tai. Mặt đất ở gần rung rên bần bật. Ngọn đồi nơi tôi đang đứng dày đặc chiến hào ngang dọc. Trận địa pháo bờ biển ở đây. Các chiến sĩ vừa thức dậy. Họ đã ngủ một giấc sâu sau phiên gác. Tiếng gầm réo của bom đạn không phá được giấc ngủ của họ. Nhưng ngay khi tiếng còi báo động vừa rít lên họ đã bật dậy vào vị trí chiến đấu. Trên đài quan sát tôi gặp một trung úy trẻ vóc dáng nhỏ nhắn. “Lê Quang Thắng, chỉ huy phó” – anh ta tự giới thiệu rồi lại dán mắt vào ống nhòm. – “Đại bàng, đại bàng!” “Hải âu gọi! Hải âu gọi”. Chân trời hiện lên hai chiếc tàu khu trục của địch, - Thắng gào vào điện thoại. - Không được bắn! Hãy đợi lệnh! Trận địa lặng im căng thẳng. Các pháo thủ đã sẵn sàng chiến đấu. Có vẻ như quả đồi sắp bùng lên từng loạt pháo. Nhưng quả đồi vẫn lặng thinh. Bóng 5 chiếc tàu Mỹ đứng bất động phía chân trời. - Sao không bắn? – Tôi hỏi chính ủy Trương Đình Thế. - Nếu tàu địch đến gần hơn chúng tôi sẽ bắn, như thế sẽ dễ trúng hơn. Lúc này có lẽ chỉ là tàu thám thính thôi. Bọn địch trên tàu đang đợi chúng ta bắn là chạy ngay ra biển. Khi ấy chúng đã định vị được trận địa của chúng ta. Trên đầu một tốp 4 chiếc Skyraider lượn đi lượn lại. Những gương mặt cương nghị, rắn rỏi, bình tĩnh bên những khẩu pháo. Những động tác nhịp nhàng. Nửa giờ sau, còi báo yên. Các chiến sĩ xuống giao thông hào về hầm trú ẩn. Khom người chui vào hầm, họ như trở về ngôi nhà yêu dấu, bằng động tác quen thuộc cởi bỏ mũ sắt treo lên những chiếc đinh đóng trên gỗ vách hầm. Mũ của tôi không còn chỗ, tôi đành để nó trên đầu gối. Họ ngồi quây quần quanh bàn ăn. Đẩy chiếc nồi quân dụng sang một bên, trực ban bày ra những cốc trà xanh thơm ngát. “Báo động làm hỏng bữa sáng của anh em, - Thế mỉm cười, - Nhiều lần như thế rồi, thời chiến mà”. - Hai chiếc khu trục đổi hướng chạy về phía bắc rồi, - tiếng trung úy Thắng vọng xuống, - Ba chiếc tiếp tục bắn vào bờ... Và ngày nào cũng như vậy suốt những năm dài chiến tranh. |
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Anton Makarenko (1888 - 1939) | Nina | Con người | 8 | 06-08-2011 02:07 |
| Hồ sơ thế chiến thứ hai - 1939 | nthach | Hồ sơ chiến tranh thế giới | 3 | 02-07-2009 14:40 |
| Nicolai Tikhonov (Николай Тихонов, 1896-1979) | Bạch Tuyết | Thi ca | 3 | 18-03-2009 15:18 |