|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#2
|
||||
|
||||
|
Tính phức điệu thế giới quan của văn học Nga những năm 1920-1930
TS. S.G. Seminova (Tiếp theo) Còn tạm thời giờ đây là những năm tháng tiến công mạnh mẽ, lạc quan của cái ngày mới ấy, lần này tiếp nhận những đường nét của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sau nó - tác giả nói bóng gió ở nhiều chỗ - cần nhìn ra tiến trình lịch sử rộng lớn hơn của sự hiện đại hoá theo phương Tây, sự hợp lý hoá và thế tục hoá nước Nga, đã được bắt đầu từ thời Piotr. Nét đặc trưng của thời kỳ xô viết trong việc văn minh hoá bằng công nghiệp một đất nước nông dân Kitô giáo rất rộng lớn thể hiện ở phương pháp: người ta dự kiến thực hiện điều đó không phải theo lối trường kỳ của phương Tây, dựa vào các quy luật kinh tế, mà bằng bầu nhiệt huyết lý tưởng, bằng sự công phá nước rút, bằng những tác nhân đạo đức-cưỡng chế và phần nào bằng lao động nô lệ rẻ mạt của các tù nhân. Uvadiev đã nói đúng - lần này việc cày xới lại nước Nga một cách hợp lý, được trang bị về mặt tư tưởng còn nghiêm túc hơn nhiều so với thời Piotr. Đứng sau cái cày là mẫu người trung tâm của thời đại, những người bônsêvich Uvadiev và Potemkin. Họ nhận về mình trách nhiệm trước đất nước, chất lên vai một gánh nặng nề: trang bị kỹ thuật cho nước Nga, chinh phục thiên nhiên, đồng thời xoá bỏ tâm thức tối tăm bất hợp lý của người mugích, xác lập tâm thức vô sản hợp lý… Trong diện mạo của họ phảng phất những nét huyền thoại của người anh hùng văn hoá, người anh hùng-khai hoá, đem lại trật tự cho tình trạng hỗn loạn, không đáng có của thế giới tự nhiên và xã hội. Nhiệm vụ khai hoá đó, và lại được giải quyết ở tốc độ, nhịp điệu rút ngắn chưa từng có, ở cực điểm của sức lực, đòi hỏi một sự cuồng tín đặc biệt, sự khổ hạnh, việc lược giảm con người trước hết xuống thành một người lao động có hiệu quả - tất cả dành cho công việc, không thương tiếc một cái gì: sức khoẻ, cuộc sống cá nhân, sự tồn tại của những người khác; và thế là, tấn công các dòng sông, khuất phục sự chống đối của vật chất, những nhà xây dựng dường như tìm kiếm một thành luỹ tối cao nào đó của phúc lợi, giành lấy pháo đài của hạnh phúc cuối cùng. Ở đây quả có một sự hoan lạc bị đánh tráo vẫn chưa nhận thức được. Trong các nhật ký - công trình sáng tạo chính của mình - Mikhail Prishvin, một trong những nhà văn- tư tưởng gia xuất chúng của thế kỷ XX, ngay từ đầu những năm 1920 đã hiểu ra điểm chung sâu xa giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội: đó chỉ là một con đường phát triển đầy thiếu khuyết, truyền di một cảm hứng cơ khí hoá và hợp lý hoá cuộc sống. Ở cấp độ phản tư còn sâu xa hơn, con đường tiến bộ thuần tuý kỹ thuật với sự nuôi dưỡng kiểu mẫu “con người chế tạo” (homo faber) của nó, đối với Prishvin không chỉ là thiếu khuyết, mà còn là ngõ cụt về mặt tiến hoá: dưới cái "vỏ ốc tập thể" của môi trường kỹ thuật, con người đông cứng lại một cách tự thân, hữu cơ, trong bản tính của mình, thậm chí thoái hoá, dồn hết mình vào "công cuộc kiến thiết bản thân"(7). Cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội đều không đặt ra những vấn đề bản thể về sự phát triển đi lên về chất của chính bản tính tự nhiên của con người (ngoài một số nhà thơ và nhà tư tưởng, bị thời đại nhanh chóng gạt bỏ). Prishvin không chỉ không chấp nhận chủ nghĩa bônsêvich, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản và rộng hơn - toàn bộ xu hướng phát triển chung của văn minh hiện nay, mà còn đề xuất một số nền tảng của một lập trường khác hẳn về nguyên tắc đối với con người và thế giới, sự lựa chọn bản thân mình trong đó. Ví dụ, ông đánh giá nền khoa học vận hành theo cách lựa chọn nền móng hiện đại chủ nghĩa như thế này: "Dần dần khoa học sẽ tiến tới phục vụ cho tầng lớp tiểu thị dân, và thế là những giấc mơ minh tuệ cổ xưa sẽ bị lãng quên. Biết làm gì bây giờ? Quay về với cội nguồn của tri thức đích thực, với đức tin mà vẫn lưu giữ trong mình mọi kiến thức về thế giới bên ngoài" (Nhật ký, 19 tháng 12 năm 1919). Như vậy ông nhìn thấy lối thoát cho khoa học trong tinh thần Kitô giáo tích cực, trên con đường tôn giáo hoá khoa học, phục vụ cho lý tưởng tôn giáo tối cao, và ông đề xuất trong sáng tác của mình những chu tuyến nhất quán của một nền văn hoá khác, Kitô giáo hữu cơ, với việc ưu tiên kiến tạo nội giới, song hành với việc cải biến tự nhiên và thế giới bên ngoài. Trong các nhà thơ thời kỳ đó, có lẽ, Maiakovski là người đã phát hiện ra hoàn toàn không chủ tâm một cách rất sắc sảo, rõ ràng và sớm hơn nhiều người khác sự chênh vênh vô cùng về thực chất của bản thân cái nền móng mà trên đó tôn giáo Con Người được xây dựng: thật đáng kinh ngạc là sự gián cách lớn lao giữa tin mừng cứu thế mà nhà thơ mang đến cho thế giới, hiện thân bằng hình tượng nhà tiên tri chưa từng thấy, vị Nhân-Thần, người cứu chuộc "những kẻ bị hạ thấp và lăng nhục" ("và người đời sẽ đặt tên thánh cho trẻ em bằng những câu thơ của tôi") và nỗi buồn đau nội tâm, sự cô đơn, tuyệt vọng, thậm chí đến mức mong muốn tự huỷ hoại: Tôi, kẻ sáng tạo ra tất cả những gì hội hè, bản thân chẳng biết đi dự hội cùng ai. Giờ chỉ còn nước đổ sấp Và đập nát đầu mình trên đường đá đại lộ Nevski! (Ống tiêu- xương sống, 1915) Con người về bản chất là một nghịch lý sống động, mà cơ chế bản thể đặc biệt của nó từng được Derzhavin diễn đạt vào thời của mình: "Ta là Đế vương - ta là nô lệ, ta là giun dế - ta là Chúa Trời!". Còn Maiakovski khi nâng con người lên thành tuyệt đối trong bản tính mâu thuẫn, khủng hoảng-không hoàn thiện hiện tại, đã khuyếch trương và làm lộ rõ những mâu thuẫn đó - chủ yếu thông qua chính bản thân mình: một tâm hồn sống động, đầy dằn vặt khổ đau thật khó có thể được lý tưởng hoá một cách trừu tượng. Mâu thuẫn sâu xa nhất của tôn giáo Nhân- Thần là ở chỗ trong khi tỏ ra một cái gì đó tích cực, mà đó chính là trực cảm về sứ mệnh cải tạo, sứ mệnh tôn giáo của con người và loài người, thì tôn giáo ấy lại nhận thức và triển khai nó dưới một hình thức hư trá-phiến diện. "Con người là thần thánh, - S.N. Bulgakov viết, - chỉ theo nghĩa những khả năng tiềm tàng và sứ mệnh cuối cùng của nó"(8), được hiện thực hoá một cách thật sự trong viễn cảnh Nhân-thần tính, khi con người, cái "tuyệt đỉnh của sáng tạo" ấy, hiểu ra mình là công cụ tích cực có ý thức để thực hiện ý chí của Thượng Đế trong công cuộc cải tạo thế giới và bản thân mình. Tôn giáo Promethée đã vấp phải chính đối tượng của sự thần thánh hoá của nó - con người. Từ những trang chính luận của Gorki toát lên những biện hộ lạc quan biết bao cho Con Người, cho sứ mệnh vị thần khổng lồ của nó trong thế giới! Nhưng trong sáng tác nghệ thuật của ông lại lộ ra một cách ngượng ngùng và sắc nét mặt trái của con người, và điều đó phủ một bóng đen sượng sùng và phần nào mỉa mai lên cái lý tưởng Con người kỳ vĩ, kiêu hãnh kia. Tại đây con người thật không đáng tin biết bao, bị chao đảo trước bất kỳ ngọn gió nào, nó buồn bã, có phần phi lý, vô dụng hoặc hung hăng một cách "thiếu suy nghĩ", dao động giữa bản năng thấp kém và những loé sáng trí tuệ! Trong Ghi chép của một độc giả (1927), Gorki kêu gọi con người hãy ngạc nhiên trước bản thân mình với tư cách đỉnh cao của sinh tồn, "bằng toàn bộ sức mạnh sáng tạo của mình"(9). Nhưng thật thú vị là trong không gian sáng tạo nghệ thuật của mình, vẫn Gorki ấy, khi đối diện với con người, đã ngạc nhiên trước điều hoàn toàn khác: sự rối rắm của bản tính con người, tính trái khoáy và thẳm sâu của nó, sự kỳ dị vô nghĩa và phí hoài sức lực trống rỗng của nó… Chính tại đây đã diễn ra một sự hiệu chỉnh mãnh liệt cho niềm tin lạc quan tếu vào Con nguời Promethée, con người tự làm chỗ dựa cho mình, con người "vang lên một cách tự hào". Nhân vật Bugrov, một triệu phú vùng Nizhegorod, cai quản những nguồn vốn nhân lực lớn lao, một tín đồ cựu giáo có bản tính mạnh mẽ, độc đáo, thông minh, có "thái độ tôn sùng gần như tôn giáo đối với lao động" nhưng đồng thời - hoàn toàn mệt lả và buồn sầu trước cái chết đang đến gần, suy nghĩ khôn nguôi về cái đối tượng khủng khiếp và vĩnh cửu của niềm tôn thờ "gần như tôn giáo" nơi Gorki: "Chà! con người - thật là kinh khủng! Ôi, thật kinh khủng là con người! Đôi khi chợt tỉnh khỏi những xắng xở thường ngày và bỗng nhiên - tâm hồn chấn động, thầm nghĩ - Ôi, lạy Chúa!"(10). ____________________ (7) Prisvin M.M. Nhật ký 1920-1922, tr.222. (8) Bulgakov S.N. Tôn giáo Nhân-Thần của L.Pheuerbakh// Bulgakov S.N. Tuyển tập. Tập 2, Moskva, 1993, tr.200. (9) Gorki M. Toàn tập. Tập 24, tr.270. (10) Sđd. Tập 15, tr.221. TỪ THỊ LOAN dịch (Còn nữa) |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Bảy kỳ quan nước Nga | Nina | Địa lý | 27 | 30-12-2009 17:52 |
| 10 sự kiện quan trọng nhất của văn hóa Nga 2008 | Nina | Văn hóa | 3 | 15-05-2009 18:51 |
| Mười sự kiện văn học Nga năm 2008 | hungmgmi | Văn học | 6 | 09-02-2009 18:36 |
| Kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Boris Polevoi | hungmgmi | Văn học | 5 | 19-03-2008 08:47 |
| Quan chức ngân hàng Nga chết đột ngột đầy bí ẩn | weekdaysman | Đời sống, xã hội Nga | 8 | 24-12-2007 23:45 |