Trở về   Nước Nga trong tôi > Chiến tranh giữ nước vĩ đại > Vũ khí của Hồng Quân

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 20-01-2013, 00:18
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Súng trường xung phong và súng trường đối kháng
Thế hệ AK là súng trường xung phong, còn thế hệ Mauser-Mosin là súng trường đối kháng. AK là Assault Rifle , còn Mosin là Battle Rifle.

Có thể hiểu thế này. AK có mặt trội khi cầm xúng tấn công xung phong, bắn ngắm ẩu hay thậm chí là không ngắm những mục tiêu xuất hiện đột ngột trên đường đi bằng cách bắn liên thanh trùm lên mục tiêu. Mosin thì hai bên nấp trong hào ngắn bắn nhau cẩn thận đoàn từng phát. Mosin khi xung phong thì bắn từng phát một không thể trùm lên địch khi ngắm ẩu.

Vào thời AK thì người ta vẫn sản xuất các súng có chức năng như Mosin tuy là cải tiến bắn tự động từng phát một, như SVD. Nhưng lúc đó SVD được sản xuất để bắn tỉa, chức năng còn lại của những súng như Mosin. Vào hồi Mosin phát một không sợ giật, đạn không có nhiều, không lo lính mang nặng, nên người ta có xu thế làm đạn to để khai thác tối đa khả năng bắn phát một của một khẩu súng cỡ 3-4kg. Những súng như Mosin có thể sát thương ở 2km, bắn chính xác ở 600 mét (Mosin là súng trường mạnh nhất hồi đó). Điều này là thừa, vì đại bộ phận các binh nhất chỉ ngắm bắn được 250 mét (tỳu cách đánh giá, một số cách đánh giá là 250 mét). Sau này các súng máy dùng các cỡ đạn này để bắn xuyên tưởng, xuyên rừng, hay các súng trường để bắn tỉa bởi các xạ thủy hàng tuyển.

AK phải dùng đạn có động lượng yếu hơn. Ví dụ, một cỡ súng trường cầm tay khoảng 3-4kg như AVS-36 bắn đạn Mosin (youtube), súng rất giật. Việc làm đạn có động lượng yếu hơn mà vẫn sát thương bắn xa là một khó khăn khi thiết kế súng.

Súng ngắn liên thanh (PP/MP) cũng có khả năng xung phong, nhưng chúng không bắn xa được, không khai thác hết khả năng bắn của binh nhất. Một định nghĩa súng trường tối thiểu là tầm bắn hiệu quả 250 mét (300 mét). Tầm bắn hiệu quả là tầm bắn mà trừ các viên đạn hỏng thì tất cả trúng bia số 4 (hay bia tròn đường kính 40" kiểu Mỹ), thử bắn bằng phát một.

Người ta có thể hiểu tầm bắn hiệu quả theo nhiều cách khác nhau. Nòng mới của M16 đúng bằng điểm thay nòng của AK.

Bên Đức. Cuộc đấu súng trường xung phong và súng ngắn liên thanh.
Đức gặp nhiều khó khăn vì các lệnh cấm súng sau khi bại trận. Từ 192x phái bác học già bâu quanh Mauser đã đề xuất các thiết kế súng hiện đại. Tuy nhiên, đặc điểm chung của thời này là Đức bị cấm làm súng máy, nên các chương trình súng máy bí mật rất ít, điều này làm máy súng máy tụt hậu xa so với Liên Xô. Tuy nhiên, Đức đánh giá súng ống vẫn như Liên Xô, hàng đầu thế giới, vượt xa các nước khác.

Ví dụ, trong một thời gian dài Đức dùng hệ thống khí Bang system. Nó gồm một piston có lỗ tâm cho đầu đạn chui qua đặt ở đầu nòng, khi súng nổ, khí thuốc thổi piston này về trước, kéo một cần, cần này chuyển thành chuyển động lùi qua đòn bẩy, đẩy máy súng chạy. Cả hai khẩu súng trường bắn phát một lên đạn tự động G-41 đều dùng cái này và chưa được chấp nhận chính thức, chỉ sản xuất vài vạn khẩu chờ quân đội đánh giá. Đó là G.41(M) mauser và G.41(W) Walther. Khẩu G.41(W) Walther sau đó thắng thầu thành G43 sản xuất lớn cùng với việc mang trích khí SVT copy ngay trong chiến tranh.

Máy súng G.41(W) Walther là kiểu máy súng tự động phác thảo bởi nhà khoa học Thụy Điển Rudolf Henrik Kjellman ăm 1907, nhưng chưa có thử nghiệm nào. Đây là họ máy súng tự động được dùng rất rộng ở Nga và Đức, nó hơn hẳn những chèn nghiêng và quay nhiều tai của Tây Âu. Bên Liên Xô chính là máy DP, còn Đức có MP45, MG42 và G43. Sau này, khẩu súng thử nghiệm Anh trong thập niên 196x sử dụng lại khóa nòng G43, nhưng chỉ dùng để thử nghiệm. Trong các kiểu khóa nòng cùng họ đó, thì các máy súng kia biến đổi rất khác phác thảo của Rudolf Henrik Kjellman, riêng G43 thì như hệt. Thực tế là, nguyên lý máy của G43 đã chứng minh rằng, kiểu máy này có nhiều nhược điểm. Nhược điểm chính của nó là nó không thoáng, cần chăm sóc kỹ, không chịu được sai số do mòn, cũng như cần vật liệu cứng, gia công khó, khó tháo lau.

Nguyên lý phác thảo của Rudolf Henrik Kjellman, từ trang gotavapen
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Một thành công nữa của súng Đức là MG42. Cần phân biệt với FG42 chúng ta sẽ nói sau. MG42 dùng máy có động cơ lùi nòng. Máy lùi nòng được dùng ở súng ngắn như C96 cũng như các pistol ngày nay, C96 có nòng dài và báng để lắp vào và dùng như một súng trường nhỏ. Fedorov Avtomat có máy như C96, kiểu máy này không hợp với súng bắn nhiều đạn vì nó va đập mạnh không bền. Những súng máy Đức như MG30, MG34 của Rheinmetall (một nhánh của phái Mauser) cũng là lùi nòng nhưng khóa nòng quay kiểu khác. Đức cũng không hoàn thiện được khóa nòng quay nên các súng này được thay thế. MG42 dùng nguyên lý được phác thảo của nhà khoa học Thụy Điển Rudolf Henrik Kjellman, nhưng biến đổi đi nhiều. Súng cũng có máy như DP, nhưng hai ngạnh chống của DP được thay bằng con lăn. Vòng bi Đức số dách toàn cầu cho đến nay, nên cũng vì thế mà ít công ty làm được cái con lăn này. MG42 sau chiến trang được tây Đức dùng lại với tên MG3, cải đạn NATO 7,62x51.

Nguyên lý chiến đấu của MG42 rất xuất sắc. Có hai điểm quan trọng, một là chụm loạt cực nhanh 1200, giá súng chuyển động rất cân trong loạt, nhgowf đó trùm một số lượng lớn đạn lên mục tiêu điểm ở xa khó ngắm bắn. Nguyên lý chiến đấu của súng máy Nga-Đức hoàn toàn khác nguyên lý của súng máy Tây Âu. Ở Tây Âu người ta được nhồi sọ bởi những phim răm bô, bắn súng ngắn cả ngày không hết đạn, nên dùng súng máy để quét diện tích. Còn Nga-Đức dùng súng máy để bắn loạt diệt mục tiêu điểm. Điểm thứ hai, MG42 là súng máy toàn năng, nó có các giá bắn 2 càng trung liên, 3 chân đại liên và giá bắn cao xạ. Cách thiết kế súng máy toàn năng này được áp dụng lên DPM và PK sau này của Liên Xô. Khi làm trung liên, súng có 1 nòng và ít đạn, còn khi làm đại liên thì súng mang theo nòng thay nhanh.

MG42 cũng là súng của phái bác học già. Ba công ty phái này Johannes Grossfuss AG, Stubgen AG, Rheinmetall-Borsig AG nhận thầu thiết kế, thiết kế được duyệt là của Grossfuss.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Một kiểu máy tương tự nhưng không lùi nòng, chỉ có bịt đáy nòng lùi có hãm, khác với các súng ngắn liên thanh MP/PP bịt đáy nòng lùi tự do. Súng cũng dùng con lăn. MP45 ra đời lúc gần hết chiến tranh. Một số MP44 sản xuất đầu năm 1945 cũng được dập lên dòng MP45, nhưng không phải loại MP45 được nói ở đây. Sau chiến tranh kiểu máy này được Pháp thử nghiệm rồi bỏ, sau đó được dùng ở Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Thụy Điển... là nững nước thân mật với Đức.
Súng này thì thuộc bác học già chính chủ Mauser (mẫu thử có tên Mauser Gerat 06 ). Sau chiến tranh Đức dùng lại kiểu máy này ở G3, khi cấm vận nhàn nhạt thì họ bán nhiều nơi như Pakistan, Iran... và một số nước khác.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Chúng ta tham quan lại máy DP cùng họ phác thảo của nhà khoa học Thụy Điển Rudolf Henrik Kjellman, máy dùng động cơ trích khí. Như đã nói trên, bên Đức trích khí không phát triển tốt, trong chiến tranh phải copy trích khí SVT. Trích khí DP là tridchs khí mẫu mực ngày đó, chỉ có khẩu trung liên Pháp fusil-mitrailleur de 7,5 mm modèle 1924 (FM mle 1924) là có trích khí ngần sánh được với DP, Brno ZB-26 Tiệp Khắc là một dòng khác tốt xấu ta nói sau, các trích khí khác hạng từ BAR đều đụt xa. Trích khí FM mle 1924 có cấu tạo đã gần giống DP, chỉ thiếu tuye thổi và lỗ thoát bẩn. DP-27/28 được chấp nhận sau FM mle 1924. Trích khí SVT là bản cải tiến từ trích khí dùng cho súng nhẹ, đến nay vẫn là mẫu mực của trích khí Mỹ, được dùng trên AR-18. Các trích khí FN FAL và G36 cải tiến một để chuyển động đều và dễ tháo lau nhưng vẫn là cấu tạo từ SVT.

Máy DP là 2 máy chèn nghiêng hai bên để bù rung ngang, máy này khá nặng cho súng cá nhân, sau được dùng trên RPD.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Một kiểu súng nữa cần quan tâm trong này là FG42, cùng được chấp nhận một năm với MG42. Súng dùng trích khí, trích khí của nó có nhiều vấn đề ta sẽ đề cập dịp khác. Sau này Mỹ copy thành M60. Về nguyên lý chiến đấu, FG-42 là súng trường xung phong, nhẹ như súng trường cá nhân 4,3kg, súng máy dùng cho nhảy dù, nhưng vẫn bắn đạn súng trường to Mauser, điều này không hợp lý khi bắn liên thanh vì súng rất giật như bản SVT liên thanh-vì súng rất nhẹ so với động lượng đầu đạn, nên nó vẫn được xếp vào hạng súng trường thường, nguyên lý chiến đấu này bất hợp lý. Các súng trường xung phong về sau này khi dùng đạn súng trường chiến đấu đều phải cắt ngắn nòng đi, làm yếu đạn, giảm sức giật.

Ở đây, ta chỉ quan tâm đến cơ cấu máy súng, nó là khóa nòng quay hai tai, và chúng ta cần so chúng với AK cũng là khóa nòng quay 2 tai.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Trước khi quan tâm đến khóa nòng quay 2 tai, chúng ta xem loại máy điển hình của súng máy Tây Âu nó kém Nga Đức thế nào. Lúc bấy giờ hầu hết súng trung liên Tâu Âu .

Đây là kiểu máy chèn nghiên. Rõ ràng, nó chỉ là một nmuwar máy DP, và vì DP cần hai nửa bù rung nên kiểu máy này rung ngang, không bao giờ được Nga-Đức chấp nhận đàng hoàng. FM mle 1924 (Pháp), BAR (Mỹ), ZB-26 (Tiệp Khắc), Bren (Anh) đều dùng loại máy súng này. ZB-26 (Tiệp Khắc), Bren (Anh) có cấu tạo nguyên thuỷe rất giống hình này, Bren thật ra là bản ZB-30 cải trích khí và đạn bán li xăng sang Anh. FM mle 1924 được thiết kế theo BAR tiền nhiệm , có cái khớp gập.

Bên Xô-Đức, cũng có 3 phiên bản chèn nghiên được chấp nhận và tham chiến. Đó là ZB-26(t), chính là ZB-26, sau khi sát nhập Tiệp Khắc và MG-42 chưa ra đời, chữ t tỏ ý miệt thị nên viết thường (Tschechoslowakei=Tiệp Khắc trong tiếng Đức). MP44 là câu chuyện bi hài của phái súng ngắn liên thanh mà chúng ta sắp đề cập, thật ra chỉ là thu nhỏ ZB-26. Còn AS-44 là khẩu súng đầu tiên trong chương trình M43 Liên Xô thiết kế xong, được đem ra trận với 3-4 phiên bản, gồm súng trung liên súng trường xung phong, súng trường nòng dài bắn phát một tự động... coi như là một thử nghiệm trên chiến trường của cỡ đạn này. Như đang nói, chương trình M43 có đích đến là AK năm 1949. Lý do của 3 khẩu chèn nghiêng liên thanh được châpos nhận ở Xô-Đức là như vậy.

Máy chèn nghiêng cũng là kiểu máy của SVT và SKS, tất nhiên chúng đều phát một nên không sợ rung. Sau này, Thụy Điển copy SVT thành AG42 (gotavapen), nhưng Thụy Điển sai lầm dùng trích khí trực tiếp kiểu Pháp mà không dùng trích khí SVT. Đọc trong link trên để biết người Thụy Điển đã đánh giá sai lầm của họ. Sau này, hãng FN Bỉ làm lại FN FAL rất giống AG42 chỉ trừ việc dùng lại trích khí SVT có cải tiến. FN FAL sau đó có người em là FN FNC là một bản sao AK, nhưng nhiều nước vẫn mua FAL cho rẻ và dễ nhập kỹ thuật về chế tạo. Sau này AR-15 bê nguyên xi trích khí AG42 vào vua đẻ non M16 cho đến nay, còn Armalite thì thay mặt AG42 xin lỗi SVT bằng cách copy y hệt trích khí SVT, không cần những cải tiến của FAL, áp dụng trong AR-18.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

FM mle 1924 với cái khớp gập như BAR
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Trước khi phân tích, chúng ta tham chiếu đến laọi máy tự động khác. Các súng khóa nòng quay nhiều tai. Nguyên tắc chịu lực khỏe là cái kiềng ba chân sẽ chia đều lực, với khóa nòng quay hai tai thì 2 tai chịu lực là chính, cái chân thứ 3 là đuôi khóa nòng. Khi có nhiều tai, nếu như chân khấp khểnh thì những chân nào co lên không chịu lực, lực dồn vào những chân dài, nhanh hỏng súng và hỏng không đều. Chính vì thế M16 ngày nay không được lắp lẫn khóa nòng vào máy súng đã qua sử dụng, vì các súng khác nhau sẽ mòn khác nhau. Đức trước đây khi vội cũng dùng nhiều tai, nhưng về sau họ có những máy trên. Liên Xô thì không bao giờ.
Le fusil (semi-)automatique de 7 mm Meunier A6 modèle 1916. Còn M16 có thuỷ tổ là Mondragon Mexico.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Nhìn xa hơn, thì toàn bộ các máy súng trên, trừ bọn quay nhiều tai, là của ba họ
Rudolf Henrik Kjellman
Vetterli M1869 Thụy Sỹ
Mannlicher Model 1885 Áo Hung

Vetterli 1869 và Mannlicher 1885 là những súng bắn phát một lên cò tay, nhưng là "Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng. Những Mauser, Mosin đều phải quay - kéo lùi - đẩy lên - quay để lên cò nạp đạn, nhưng những "Straight-pull bolt action" chỉ cần kéo lùi đẩy lên. Như thế, chúng ta có thể hiểu, chỉ cần thêm trích khí là chúng tự động. Vetterli là khóa nòng quay hai tai, còn Mannlicher là chèn nghiêng.

Vấn đề chèn nghiên chúng ta đã đi khá nhiều, Xô-Đức không thể chấp nhận loại mạt hạng này. Rudolf Henrik Kjellman lại đem lại những giải pháp không tốt cho Liên Xô, DP thì nặng, còn con lăn thì khó làm. Còn quay hai tai cũng là loại khóa nòng của AK ?.

Dòng súng trường phát một lên cò tay thì thế giới chủ yếu là những khóa nòng quay hai tai từ 189x, như Mauser, Mosin... Vetterli và FG42 thi hành y đúc loại khóa nòng này chuyển lên liên thanh. So với phát một lên cò tay, thì súng có thêm cái bệ khóa nòng, bệ khóa nòng chứa khóa nòng và bệ chuyển động tiến lui. Khóa nòng có thêm một tai quay tương tác với rãnh xoắn trên bệ khóa nòng. Người ta lắp trích khí vào bệ khóa nòng là Mauser-Mosin bắn tự động. Những mâu thuẫn khi chuyển từ p[hát một lên liên thanh đuwocj đắp bằng những hợp kim quý

Nhắc lại là, súng máy cho đến WW2 là hàng quý tộc-trừ súng ngắn liên thanh, rất đắt, rất ít, nên thả cửa đắp thêm hợp kim quý. Đó là điểm mà AK không thể chấp nhận, nó không thể chỉ có vài vạn khẩu, mà hàng trăm triệu khẩu.

............... để sau.

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 21-01-2013 thời gian gửi bài 16:08
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (20-01-2013), tolaind (22-01-2013)
  #2  
Cũ 21-01-2013, 15:34
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Chúng ta đang dừng ở phần mô tả những loay hoay của người Đức trước WW2. Là vị trí hàng đầu về súng ống, Đức có súng rất tốt, có các cơ quan đánh giá súng sáng suốt, nhưng vì họ bị cấm sản xuất súng máy một thời gian dài, nên họ tụt hậu sau Liên Xô xa. Cho đến liền trước WW2 thì Đức chưa có các kiểu máy súng đủ chất lượng. Trong WW2 Đức có các khẩu súng danh tiếng MG42, MP45, G43.... nhưng chúng vẫn chứa những nhược điểm chưa hoản hảo. MG42 và MP45 khó chế tạo quy mô lớn con lăn. G43 copy trích khí Liên Xô ngay trong chiến tranh, đồng thời nó chứa đựng nhược điểm cần chăm sóc kỹ trong khóa nòng, và khi chuyển sang liên thanh điều đó không chấp nhận được.

Còn các nước Anh Pháp Mỹ thì đơn giản là chấp nhận những kiểu súng mà Xô-Đức không thể ngửi nổi.
================

Để hình dung ra cuộc đấu súng trường xung phong-súng ngắn liên thanh bên Đức, chúng ta cần nhìn lại cuộc cách mạng súng từ súng trường cổ sang súng hiện đại chút. Cuộc cách mạng này bắt đầu vào khoảng giữa tk19, có năm bước liên tục cho đến 198x. Đến nay, các kỹ thuật mới được nói đến nhiều nhưng không đem lạc hiệu quả đáng kể, nên chưa hình thành một đợt súng mới. Những thay đổi từ 1990 đến nay, sau năm 2010, kể cả là lớn nhất, cũng khó sánh được với những đợt thay đổi giữa các đợt cách mạng lớn, như AK nguyên thủy 1949 sang AKM 1959. Ngày nay thì thay đổi đáng kể nhất với súng gồm máy tính đạn đạo và kính nhìn đêm. Máy tính đạn đạo thì không cần cho súng trường, mà chỉ ích lợi cho nòng phóng lựu đi kèm nó. Còn kính nhìn đêm đang được do dự để trên súng hay là trang bị cho lính dùng cho nhiều việc khác chứ không chỉ dùng súng trường.

Đợt 1: giữa thế kỷ 19
súng hiện đại ra đời với những đại diện Mauser IG71 1871 Đế Quốc Đức, Berdan M1870 Đế Quốc Nga, Vetterli M1969 Thụy Sỹ (sau được vài nước đùng trong đó có Ý), "Gendarmerie Repetier Gewehr System - Fruwirth M1872" Đế Quốc Áo-Hung. Gras mle 1874 Pháp.... và những tiến bộ của chúng như Austro-Hungarian Mannlicher Model 1885 , Khẩu súng mà các chó các lợn xưng là "chống trên mũi nhọn" nhưng vẫn thuộc lớp này là Lebel 1886 Pháp (Le fusil de 8 mm modèle 1886), nó sao chép lại khẩu súng Áo-Hung bán cho Pháp cũng thuộc lớp này Kropatschek Model 1881 Gendarmerie Carbine, thu nhỏ lại đạn so với mẫu trước Fruwirth M1872.

Ngoài ra, có các khẩu súng hàng "tiền khởi nghĩa", tức có cấu tạo trung gian, là "Le fusil d'infanterie de 11 mm modèle 1866", thường gọi là Chassepot 1866, Pháp, vỏ giấy, đường kính 11mm, sơ tốc 375 m/s, đầu đạn 25 gram. Trước đó có Dreyse M1841 "súng mỳ" Zündnadelgewehr của Phổ, đường kính 15,4mm đầu như trên, sơ tốc 305 m/s (http://oldmilitaryrifles.eu/germany/germany.htm) (ảnh http://www.littlegun.info/arme%20all...reyse%20gb.htm). Súng trung gian còn có một số súng rẻ tiền và các súng hoán cải từ súng cổ sang có vỏ nạp sau.

Các súng này được gọi là súng trường đối kháng battle rifle, chúng được phát triển và có vai trò là súng chủ lực cho đến khi AK xuất hiện.

đợt hai: 189x, súng dùng băng hộp lò xo ngang
Những súng có băng là Repeter, nhưng băng ống gỗ dọc không thật sự là băng. Khi bắn hết đạn không thay băng được nên thà lắp từng viên như không băng còn hơn là lắp đầy băng đánh nhau tiếp. Ban đầu băng ngang cố định nhưng có cái kẹp đạn lắp đạn cho nhanh, sau đó là băng thay nhanh.

"Súng Hội Đồng" Phổ (Đế Quốc Đức) G88 năm 1888, Mosin nguyên thủy Nga M1891, Lee Enfield Anh, Berthier 1892 "Le mousqueton d'artillerie de 8 mm modèle 1892" của Pháp.

Súng Áo-Hung Austro-Hungarian Kropatschek Carbine M1881, cũng như bản nhái của nó là Lebel Pháp, đều là trung gian giữa hai đợt, đã thu nhỏ đạn nhưng vẫn dùng băng ống gỗ dọc.

Austro-Hungarian Mannlicher Model 1885 là đại diện đợt này của Áo-Hung, nó là súng "Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng, kiểu khóa chèn nghiêng sau này sẽ phát triển thành những BAR-ZB-Bren-SVT-FN FAL... Krag-Jorgensen được dùng ở các nước Bắc Đức Đan Mạch/Na Uy (không sát nhập vào Đế Quốc Đức của Phổ) và sau đó truyền sang Mỹ.

Tuy có nhiều, nhưng các súng đợt này thì trừ các bản "Straight-pull bolt action" đều xoay quanh các thiết kế Mauser và Mosin. Mauser có bộ kim hỏa tinh vi hơn bao gồm chức năng khóa an toàn.

Winchester Lee Navy rifle model 1895 Mỹ cũng là "Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng, nhưng đơn giản hóa chèn nghiêng thành bản lề sau này sẽ tiến thành các trung liên BAR Mỹ và FM 1924 Pháp.


Đợt 3: chống trên mũi nhọn 190x
Đó là các bản G88 Mauser, Mosin M1908, ".3006" Mỹ.... và các súng khác. Các súng này có cỡ nòng giống như trước, bắn được lẫn đạn, ở nhiều nước không có phân biệt rõ rệt. Cải tiến đợt này chủ yếu là ở đạn, chuyển sang lõi thép vỏ đồng.

Đợt 4, súng trường xung phong lần 1
Gồm các súng trường xung phong assault rifle bắn đạn có cỡ đường kính nòng như súng trường cũ. Như AK 7,62mm (thường gọi không đúng lắm là AK=47), FN FAL, FN FNC Bỉ bán cho rất nhiều nước, G3 Đức và bán cho một số nước.

Cải tiến lớn nhất của đợt này là giảm động lượng đầu đạn để có thể bắn liên thanh trên tay.

M14 Mỹ thật ra là M1 Garand liên thanh cũng thi đua trong đợt này nhưng không thể xung phong vì nó giật như AVS-36 hay AVT (bản liên thanh của SVT). M16A1 cũng thuộc nhóm quái thai a dua đợt này mặc dù đạn nhỏ, vì nó quá lởm đạn yếu.

Đợt 5, súng trường xung phong lần 2
Thu nhỏ đầu đạn xuống AK-74. NATO chấp nhận sử dụng bản nòng-đạn FN SS109 (FN= Fabrique Nationale Bỉ), Mỹ áp dụng nòng đạn này lên M16 thành M16A2.
==================



Súng trường và súng ngắn cổ truyền trước cách mạng súng ống hiện đại
Súng trường cổ. Trước khi có súng hiện đại, thì súng cổ là súng nạp miệng, đã chuyển sang hạt nổ , thôi không dùng đã lửa, ví như anh Phú Lãng Sa "Le fusil d'infanterie de 18 mm modèle 1842 T". Những súng cổ này xuất hiện ở châu Âu từ trước chiến tranh Bắc Âu 1700 ở Ottoman và Thụy Điển, trong chiến tranh này Piotr làm ở Nga, sau đó truyền đến Pháp 1717 và Anh 1747. Ban đầu chúng là đá lửa, sau đó chuyển sang hạt nổ đầu tk19. Cỡ nòng của chúng khoảng trên dưới 17mm, đầu đạn khoảng 30 gram , như Thiên Tự "trọng bát tiền diên tử" 17mm đạn nặng 8 đồng cân. Cỡ đó là cỡ hòn chì hình cầu khoảng 17mm.

Chúng ta vinh dự có Hồ Nguyên Trừng đã chỉ huy format khẩu súng trường đầu tiên trên thế giới, tuy rằng lúc đó nó còn yếu do chưa có kỹ thuật khoan nòng dài. Thiên Tự là tên Trung Quốc đặt cho súng này khi Hồ Nguyên Trừng bị bắt sang đó cùng 17 ngàn kỹ thuật viên của ông, bắn đầu sản xuất khoảng 1409.

Có thể nô tả súng cổ đó như sau, nạp miệng thuốc rời, cả lê dài hơn 2 mét, nặng 4-5kg, nòng trơn, súng dài để làm cán lê giáp lá cà. Sơ tốc 250-300 m/s vừa đủ sức chịu giật của người. Cũng có một số nỗ lực làm xoắn nòng trơn, như siêu súng siêu đạn Miniê Pháp, bán sang Mỹ đăng ký phát minh năm 1959, nhưng siêu súng Minie cũng không khác gì siêu xe tăng, siêu máy bay nhà Mỹ ngày nay, toàn nổ tung trời.

Một số nước tiên tiến trong nhóm súng cổ sẽ dùng cỡ đường kính nòng bé hơn một chút, còn những nước ngớ ngẩn như Anh Pháp thì chỉ thích to. Nga-Phổ dùng khoảng 15-17mm, Anh-Pháp 17-19mm. Cỡ nòng to làm súng hơi nặng khi đấu lê, ngày đó không thể nạp đạn được khi giáp lá cà.

Tầm bắn hiệu quả của súng cổ rất kém, có thể sát thương được ngoài 300 mét nhưng bắn chính xác bia to hình người đứng chỉ đạn dưới 50 mét.

Súng trường cổ dùng bộ máy cò flint-lock, thường được gọi ở ta và Tầu là súng điểu đầu, đầu chim, do các nước Đông Nam Âu và Pháp-Tây-Bồ-Ottoman thường quan hệ với phương đông manhg theo kiểu "đầu thiên nga" của họ. Còn Anh Thụy Điển... dùng "đầu chó". Đó là hình dáng cái búa. Búa súng chạy bằng lò xo lá ngắn, búa nặng gây rung theo chiều xoắn và ngang trục nòng, làm lệch trục rất nhiều trước khi điểm hỏa. Tuy nhiên, với độ chính xác của súng nòng trơn thì điều này không quan trọng.


Vật liệu làm súng cổ
Súng trường cổ chủ yếu được làm từ thép rèn. Đây là loại thép cổ không nóng chảy, có một số phương pháp sản xuất chúng, nhưng đều cho chất lượng không ổn định và thành phần không đồng đều trong mỗi khối thép. Một phương pháp được dùng để rèn kiếm Nhật, xuất phát từ phương pháp rèn thép Đa-mát (Damacus), là người ta làm gang xám dễ nấu chảy trong lò cao, nung đỏ khối gang xám, đập dẹt, gập lại.... nung đỏ đập dẹt gập lại... . Lớp gang xám gần ngoài khối gang nóng đỏ bị thấm oxy không khí cháy bớt carbon, dần dần cả khối gang dẻo dần thành thép. Vì kỹ thuật làm thép tốt nên Nhật Bản nhanh chóng thực hiện được súng hỏa mai tốt, khẩu súng mồi thừng có nòng dài 1 mét đường kính lỗ 10mm từ 1530. Tuy nhiên họ không kiếm được đủ trình độ làm lò xo để bỏ cái thừng mồi lửa như người Mèo ta.

Bên châu Âu, thép rèn sản lượng cao được làm từ các lò thấm carbone theo phương pháp xi măng, sắt xốp được làm từ các lò không nóng chảy như nung vôi, được rèn thanh thanh, lèn vữa trong các hộc lò, vữa chứa carbone như than củi hay bồ hóng, và có thể có chất thấm phốt pho chống gỉ như bột xương, tuy phốt pho làm thép ròn. Lò thấm carbone là lò lửa quặt như lò mác tanh nhưng nhiệt độ thấp 600-800 độ C rất dễ thực hiện, lò xây bằng đá sa thạch, có nguồn gốc Ấn Độ.

Thép rèn xấu đó chỉ làm nòng không cho ra bộ máy cò tốt. Ví dụ Anh Quốc đến đầu tk19 mới tự chủ được bộ máy cò. Trước đó họ nhập nguyên bộ từ Thụy Điển nên thừa kế kiểu dáng "đầu chó", Pháp nhập từ Ottoman sau đó là Áo thừa kế dáng "thiên nga" điểu đầu. Thụy Điển và các nước tiên tiến nấu chảy được thép mà không biến chất, cho ra "thép trắng" đồng đều, dẻo, đàn hồi, dai.... để làm bộ máy cò.



Súng ngắn cổ cũng dùng nhiều, có một bản đặc biệt là "hộp hạt tiêu" pepper box, tiền thân của các revolver. Súng "hộp hạt tiêu" có nhiều nòng nạp sẵn, mỗi phát bắn một nòng, thuận lợi khi giáp lá cà-xung phong, chính là tiền thân của "súng ngắn liên thanh" MP/PP. Loại súng này phát triển thành các revolver, đầu tiên là hạt nổ sườn Lefaucheux , sau đó có các revolver hạt nổ tâm như ngày nay. Các "hộp hạt tiêu", revolver , Lefaucheux .... là những súng có thể bắn được nhiều phát không cần nạp lại, nhưng không thể là súng tự động vì nó không tự động nạp đạn. Các súng này khi bắn hết đạn thì nạp vào rất lâu, đồng thời chúng có nhiều buồng đốt nên mỗi buồng đều mỏng yếu, không thể có đạn khỏe. Revolver , Lefaucheux.... và các súng ngắn nạp miệng cổ truyền cũng dễ dàng làm rãnh xoắn vì nòng nó ngắn, gia công và nạp đạn đều dễ.
=======================



Cách mạng súng và cách mạng thép.
Cuộc cách mạng súng ống ra đời cùng với việc thép chất lượng cao ngày càng nhiều, đặc biệt sau Siemens chế ra lò mác tanh ngày nay 185x, cho phép có nhiều công cụ gia công kim loại tốt. Đây cũng là điểm khởi đầu của thời hiện đại.

Lò Siemens cũng là loại lò lửa quặt nhưng lớn và dùng máy thổi, than cốc (than luyện), cho nhiệt độ cao. Lò Mác Tanh Martin là gọi theo tên phiên bản cải tiến năm 187x chủ yếu là các lò vớt nhiệt. Các lò này tiết kiệm nhiên liệu, rất nóng, có thể ủ lâu ở nhiệt độ cao mà không tốn nhiều để carbone cầu hóa, đồng thời thử đi thử lại cho thành phần thép thật đúng chuẩn.


Cuộc cách mạng súng ống đầu tiên "đợt một giữ thế kỷ 19" là nỗ lực chuyển sang nạp sau, nhờ đó thuận lợi cho dùng rãnh xoắn cho súng trường. Đạn xoáy cho phép trục đạn ổn định khi bay nên làm được đạn dài thay cho đạn cầu, vì vậy, các súng đợt này giảm đường kính từ 17mm xuống 11mm. Ở tỷ lệ giảm đường kính này, diện tích tiết diện đạn giảm gấp đôi tương ứng với kép dài đạn gấp đôi. Khối lượng đầu đạn vẫn như đạn nòng trơn cổ truyền, động lượng đầu đạn vẫn như cũ vì tuân theo lực giật điển hình .

Đặc điểm của đợt này là vẫn dùng thuốc nổ đen truyền thống. Đạn vẫn là đạn chì đúc.

Những súng tốt hơn sẽ có đầu đạn nhẹ hơn một chút đổi lấy sơ tốc, cho phép chính xác hơn chút. Khối lượng đầu đạn 25-30 gram, sơ tốc 300-375 m/s. Lúc này súng đã chính xác hơn, nhưng tầm bắn hiệu quả vẫn chưa khai thác được điểm 250 (300 tùy cách đánh giá rộng), để khai thác tối đa năng lực ngắm bắn của đa số binh nhất. Tầm bắn hiệu quả của súng thời này đạt 150 mét trong những bản đầu tiên và nâng dần lên. Đến cuối đợt này, khoảng cuối 187x đầu 188x thì những súng Áo 8mm đã đạt tầm bắn hiệu quả 250 (300).

Berdan 1870, Mauser IG71 và Gras 1874 đều là súng khóa nòng quay, cái đế tay cầm là tai khóa nòng dụy nhất. Thao tác kiểu bolt action / kéo khóa bằng tay , động tác kéo khóa vừa nhả vỏ (lên đạn nếu có băng) và lên búa cò.

Kết quả của đợt này là các súng dùng vỏ đồng có vai, hạt nổ tâm như ngày nay, nhưng có gờ móc như đạn Mosin (đạn PK) (hình ảnh đạn Mauser IG71). Gờ móc cản trở chuyển động của đạn trong băng hộp lò xo đẩy ngang như ngày nay. Gờ móc vừa để móc vỏ đạn ( extractor ) của khóa nòng làm việc, vừa để vỏ đạn không tụt sâu vào trong ổ đạn trong điều kiện gia công kém chính xác. Ký hiệu đạn gờ móc là R, như Mosin 7,62x54R.

Vỏ đạn làm bằng đồng thau có thành phần chính là đồng Cu, và phụ gia chính là kẽm Zn. Đồng thau dễ dập tạo hình và đàn hồi, dai (lâu bở khi va đập trong sức bền gọi là dai). Đuôi vỏ đạn là phần đặc để tránh sai số quá rộng giữa bịt đáy nòng và đuôi nòng. Khi đạn nổ, vỏ đồng thau nở ra thành van một chiều bịt kín, ngăn khí thuốc lọt về sau.

Hạt nổ đặt trong một lỗ khoan nông ở tâm đáy vỏ đạn dầy, có ống dẫn lửa vào khoang trong. Nga và Áo-Hung dùng ống dẫn hai bên thường được gọi sai là kiểu Berdan (xuất hiện rất lâu trước súng Berdan như Krnka 1857/67) , kiểu này đen đặt hạt nổ lồi tâm lên thành một kim hỏa phụ nên rất nhậy, vì gia công đắt nên Đức không theo vẫn dùng lỗ tâm.

Hồi đó dùng vỏ đạn dùng nhiều lần, xạ thủ có thể tự đúc đầu, chỉ mua thuốc và hạt nổ. Đầu đạn được đúc bằng các "khuôn tiêu chuẩn", nhiều khi đơn giản trông như cái kìm, gập vào để làm khuôn đúc, mở ra lấy đầu. Đầu đạn làm bằng chì pha 1-2% nikel. Người ta lấy giấy dầu lót chặt đầu đạn.

Xoắn đều chuyển sang xoắn chữ nhật thay cho xoắn tam giác (rãnh xoắn hình tam giác dễ gia công nhưng chóng hỏng) và xoắn đa giác (không cõ rãnh xoắn mà nòng hình đa giác xoắn dễ gia công và nạp miệng).

Ngoài các bản súng mới trung gian như Chassepot 1866 Pháp, Dreyse M1841 "súng mỳ" Zündnadelgewehr của Phổ, thì đợt này người ta hoán cải rất nhiều súng nạp miệng cổ sang nạp sau bằng khóa nòng lật trap door như Wanzl Infanterie Gewehr M1954/67 und M1862/67 (các model 1854/1862 hoán cải năm 1867). Một số súng dùng đạn mới cũng dùng trap door như các súng Mỹ đến 189x hay Áo-Hung bán lừa đảo các chư hầu loại súng Werndl Model 1867 Infantry . Trap door thao tác phức tạp, dễ kẹt vỏ đạn và đạn chưa bắn trong ổ vì không có móc vỏ đạn.

Hầu hết các súng của các nước lớn và tiên tiến Nga-Đức đều dùng 1 viên như Mauser IG71 nguyên thủy, Berdan 1870, Gras 1874. Anh Mỹ lúc này súng ống thậm tệ không đáng bàn, Anh vẫn dùng xoắn đa giác, Anh-Mỹ thì vẫn dùng cửa lập trap door.

Một số súng đợt này có băng đạn ống dọc như Fruwirth M1872 Áo-Hung. Băng này ngày nay chỉ dùng cho súng bắn đạn ria vì đạn ngày nay cứng nhọn đâm chọc nhau gây nổ trong băng. Lebel M1886 cũng băng ống gỗ dọc. Mauser IG71/1880 cũng băng ống gỗ dọc. Một số súng có ""Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng" như Vetterli 1869Mannlicher 1885 , tiền thân của súng tự động.

Băng ống gỗ dọc cũng như súng ngắn revolver đều không thay nhanh lắp nhanh được, nên khi hết đạn trong băng mà đang chiến đấu thì thà lắp từng viên coi như không có băng, còn hơn là nhồi từng viên đến khi đầy băng. Vì thế ít nước dùng băng ống gỗ dọc kể cả những nước quân sự mạnh như Nga-Đức, mà Áo cũng chỉ dùng cho một vài mục đích, như hiến binh đuổi trộm cần bắn thật nhanh, hay thủy quân lục chiến xung phong.


Súng trung gian của đợt 1. Súng hiện đại đầu tiên, M1941 Dreyse súng mỳ Zündnadelgewehr của Phổ.
Các súng M1841 Phổ và mle 1866 Pháp đều dùng vỏ giấy, chúng là những sản phẩm trung gian. M1841 Phổ vẫn dùng cỡ đường kính nòng gần như cũ 15,4mm, nên đạn không nhỏ dài được bao nhiêu, vẫn gần như hình cầu, ban đầu là hình cầu, rồi dài ra chút hình trứng. Sau người ta làm đai đạn bao quanh trụ để có những ránh bớt khối lượng, đầu đạn dài ra chút. Tiếp sau nữa thì lõm đuôi được dùng để đạn dễ nở và dài ra mà không cần thay tiêu chuẩn nòng súng toàn quân rất rắc rối trong thời súng sản xuất rất chậm. Đường kính đạn lớn đương nhiên bị cản nhiều trong không khí. Súng có khóa nòng quay một tai như kể trên, tiến thành Berdan M1870-Mauser IG71-Gras mle 1874, và sau này phát triển thành khóa nòng quay 2 tai như Mauser-Mosin. Vỏ giấy thoát khí rất nhiều nên các súng này yếu, và hay kẹt máy súng do bột giấy không cháy hết khi lọt vào khe khóa nòng.

M1941 Dreyse súng mỳ Zündnadelgewehr có xoắn tăng độ chính xác và cái búa điểu đầu gây phiền. M1841 sử dụng lò xo xoắn ruột gà đẩy búa theo chiều dọc, cái lò xo ruột gà ngày đó hiếm có khó tìm và được gọi là mỳ. Như trên, cơ cấu này là cơ cấu chung của súng trường cho đến Mauser-Mosin. Các súng hoán cải và các súng chế tạo mới nhưng lạc hậu rẻ tiền dùng cửa lật trap door và búa điểu đầu không hưởng được việc tránh rung xoắn và đứng của ruột gà "mỳ". Mặt khác, một động tác kéo về đẩy lên của M1941 Dreyse vừa mở cửa, lên cò, còn cửa lật trap door thì lên búa thay đạn rời nhau làm lần lượt. M1871 - M1889 British Martini-Henry có một cơ cấu mở cửa lật để lên cả búa lẫn lật cửa, nhưng các súng cửa lật trap door lại không thằng nào có móc vỏ đạn , và không tiến lên có băng được. Martini-Henry là xoắn đa giác sao rất ngớ ngẩn sản xuất đến năm 1906 (ảnh đã sao lưu, ảnh to gốc, kích thước xoắn).

M1941 Dreyse súng mỳ Zündnadelgewehr đi trước quá nhiều thời gian trong thời này. Nó là một vinh quang của Phổ. Lúc đó, Đức chưa thống nhất được đến như ngày nay, vẫn còn nhiều nước Đức lớn chưa chịu nhập, (không kể các nước còn lại đến ngày nay như Đan Mạch Hà Lan....). Các nước Đức khác đều có súng riêng, vào thời điểm chiến tranh Pháp-Phổ 1870 thì các súng các nước nói trên đã có nhiều vỏ đồng 11mm ngon lành hơn Phổ về đạn, như Bavaria ban đầu dùng nạp miệng 13,9mm, hoán cải thành súng tuy hoán cải những vẫn cỡ nòng bẽ hơn Phổ Podewils M1858/67. Sau đó là M1869 Werder 11,5x50 R, Tuy nhiên, bản này lại dùng búa điểu đầu và khóa nòng lật như hoán cải.

Chưa hết sung sướng nếu đọc những nước Đức theo Tây khác, cũng dễ hiểu việc chúng bị Phổ làm thịt sạch. Mới nhìn cấu tạo súng đã thấy ngân sách các anh đầy giun sán giòi bọ. Mặc dủ các anh có thể sản xuất súng tốt như Mauser, nhưng cách anh không biết thế nào là súng tốt vì chóp bu các anh thối nát. Baden Jägerbüchse M1863 và Bavaria Gewehr M1867 đều có vỏ giấy như Prussia Dreyse IG M1841, nhưng vẫn dùng búa điều đầu, và đặc sắc nữa là hạt nổ rời như súng đá lửa Tây Phú Lãng Sa mle 1842 nói trên, búa không hề hiệu chỉnh để bớt rung đứng mà vẫn bổ chửng từ trên xuống. Đương nhiên hoán cải này rất dễ thực hiện nhưng nó không có kết quả của nạp sau là bắn chính xác.

Sau chiến tranh Pháp-Phổ thì có Mauser IG71 chung cho toàn nước Đức vì Tây Phú bị cưỡng bức rồi, mấy anh theo tây bị Phổ xích tuốt trừ mấy anh Bắc Đức như Đan Mạch dẻo mỏ còn đến ngày nay.

M1841 Phổ đặt hạt nổ ở tâm đuôi viên đạn, khi bắn kim hỏa phải xuyên qua thuốc, nên so với ngày nay có nhiều phát xịt. Chassepot mle 1866 thì đặt hạt nổ như vị trí ngày nay, nhưng đế đe của hạt nổ là vỏ giấy, kết quả thử nghiệm được làm giả để nhận thầu ồ ạt trước chiến tranh, Pháp bị Phổ bắn thua. Sau chiến tranh Pháp khoan rộng buồng đốt Chassepot mle 1866 để chèn sửa thành Gras mle 1874. Chassepot mle 1866 có cỡ nòng điển hình của đợt này 11mm, hiện đại hơn M1841.

Dễ thấy, Pháp thay súng trước chiến tranh dễn đến nhiều điều. Phổ vì thế vẫn dùng súng khá lạc hậu mặc dù trước đó 30 năm nó số một thế giới, mà không thay súng. Sau chiến tranh thì Phổ lấy vàng của Pháp mua Mauser IG71, Pháp thì hoán cải như trên, đến lúc người Pháp trắng mắt ra thì đã muộn, họ thay súng trước chiến tranh với một đống các quân xưởng bâu đầy các nhà thầu giun sán giòi bọ, họ ỉm đi kết quả thử nghiệm để có thầu, và ngớ ngẩn là bại trận rồi, mất vàng đền chiến phí rồi, mới làm vỏ đồng.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 21-01-2013 thời gian gửi bài 22:20
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (22-01-2013), tolaind (22-01-2013)
  #3  
Cũ 21-01-2013, 20:30
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Nối tiếp đợt 1 của cái post trên


Khi tinh thần cách mạng bên Đông Âu nổi lên, thì cách mạng là món hàng có giá và vẫn thường được tây Âu làm giả, cuộc cách mạng to nhỏ nào cũng vậy. Ví dụ sau.

Pháp không phải là không biết đến vỏ đồng, khẩu cạc bin vệ binh hoàng gia mle 1854 đã là vỏ đồng, nhưng vỏ đồng này hạt nổ lệch như súng ngắn Lefaucheux . Mút cơ tông mle 1954 có hạt nổ sườn, búa đập ngang, vì thế nó không thừa kế việc nạp sau dùng xoắn có mục tiêu để bắn chính xác, chỉ a dua a tòng dùng vỏ đồng mà không biết tại sao người ta lại dùng vỏ đồng. Súng này có đường kính rất hiện đại lúc đó 9mm, đầu đạn 11 gram, sơ tốc 547 m/s, phải nói là cực kỳ nếu như không đập ngang súng trước khi điểm hỏa. Được cái, súng được điểm sơ tốc như thế với một cái máy súng siêu đơn giản, khóa nòng then trượt đứng đồng thời là búa, không cần mì tôm mỳ sợi gì cả. Súng được nạm vàng, nên nó chứng minh rằng càng nhiều tiền càng dễ mua phải súng lởm.

Chưa hết, bác Tây Phú Lãng Sa còn có thêm đạn Minie làm xiếc súng nạp miệng xoắn. Minié ball là đăng ký phát minh tại Mỹ của một sỹ quan Pháp Claude-Étienne Minié lang thang sang kiếm ăn. Đạn có lỗ nở đằng sau, đường kính bé hơn nòng, khi bắn đạn nở ra khớp với xoắn trên thành nòng. Tất nhiên, các hãng bán súng Mỹ sau này sản xuất cả trơn và xoắn, vì nếu như viên đạn chì trứ danh Miniê có thành mỏng mà cong méo, thì phải đem súng đến lò rèn. Cái hài là, sau lần này thì lỗ nở này Anh-Pháp-Mỹ không dùng cho đến nay. Cùng là đạn NATO nhưng Đức cứ dùng đạn Đức. Bao giờ Đức-Nga cũng phải có lỗ nở, từ Krnka 1867 cho đến AK hiện đại. Người Pháp dùng lỗ nở để biểu diễn xiếc, còn Nga Đức để đạn gia công không chính xác khít với nòng mòn, nên súng của họ rất chính xác.

Sau hai lần dùng xoắn kiểu đó, thì bác Phú chuẩn bị chiến tranh với vỏ giấy giả vờ vỏ đồng bằng cách đặt hạt nổ y như vỏ đồng, và vì thế hạt nổ đặt trên đe bằng giấy. Napoleon III trước chiến tranh có câu "Đã chuẩn bị đến cái khuy áo cuối cùng trên quân phục người lính cuối cùng". Sau Napoleon (I, Bô na pác), những sức mạnh và vinh quang Pháp bị tiêu diệt, người Pháp tủi nhục, ngai vàng Pháp là những ông vua xác khô liệt não được ngoại bang dựng lên, nghiện ngập những đức tính cao quý của súc vật. Ngân sách thối nát bâu đầy chặt giun sán giòi bọ.


Ngoài những súng đó thì có khẩu Kammerlader 1842 Na-Uy. Súng nạp sau dùng nòng xoắn, đạn đai như M1841, nhưng không có vỏ. Phần buồng đốt lật lên đổ thuốc nạp đạn. Khẩu súng này có cơ cấu máy giống như khẩu "trung liên bắn đạn ria" "Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831". Tuy nhiên "Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831" không cần bắn chính xác như súng trường, nó là súng trợ chiến nặng 8,6 kg, đường kính 21,8mm; xoắn tam giác, vai trò như trung liên ngày nay. Kammerlader 1842 và "Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831" đều yếu do thoát khí quá nhiều, dùng hạt nổ.


Lùi lại thời gian, có bác Patrick Ferguson Anh-Mỹ. Bác là một sỹ quan Anh sang Mỹ đàn áp Washington. Trận đầu tiên tham chiến bác chết, thế là súng hết. Bác dùng một con ốc để đóng mở cửa hậu, thuốc bột rời, đá lửa.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Chúng ta cần hiểu rằng, không phải cứ có vỏ nạp sau là hiện đại, vì súng thế kỷ 15 đã có vỏ nạp sau để bắn cho nhanh. Cái buồng đốt là vỏ đạn, có thể có nhiều nhóm nhồi đạn , nhiều vỏ... phục vụ một khẩu súng bắn cho nhanh. Tiếng Thụy Điển là Vögler , Tiếng Bồ Đào Nhà là Ninigret , tiếng Đức là Vogler...

Vì khó đánh giá thế nào là hiện đại nên các chính khác tha hồ lừa đaqor ngân sách. Từ đây xuất hiện nạ quảng cáo súng, súng được quyết định bằng đoàn chó dại cùng ngu cực xuẩn và điên rồ hết cỡ trong xã hội thông qua quảng cáo, át lời thiểu số bác học.
=========================





Đợt hai 189x xuất hiện cùng với việc "gia công tấm mỏng" xuất hiện trong kỹ nghệ kim loại. Ban đầu, gia công tấm mỏng chỉ là làm thủ công, người ta đập dẹt kim loại bằng lò rèn thủ công. Sau đó các máy cán thép cho ra các tấm-dây sản lượng lớn, đem đột cắt, rồi dập nóng (rèn) hay dập nguội (nguội) , gò tán hàn... thành công cụ và chi tiết máy rất rẻ so với rèn và cắt gọt như cũ.

Thời này xuất nhiện băng hộp lò xo chuyển động ngang viên đạn như các băng đứng của AK hay băng trống của RPK như ngày nay. Cũng thời này xuất hiện nhiều băng đạn dây cho súng máy cũng tấm mỏng. Như nói trên, băng ống gỗ dọc không thay băng nhanh, nên khi hết đạn trong băng thì nếu như đang chiến đấu, thà là lắp từng viên coi như không có băng còn hơn. Băng ngang ban đầu là cố định, nhưng xạ thủ đem sau các kẹp đạn đã lắp sẵn đầy đạn để trút sang băng nhanh. Một số súng có cơ cấu hãm khóa nòng ở sau để dễ trút đạn. Ban đầu một số băng có 3 viên, về sau này tăng lên 5 và hơn nữa. Một số súng thay cả kẹp đạn, người ta nhét luôn kẹp đạn rẻ tiền vào băng, bắn xong vứt đi.

Việc dùng băng ngang dẫn đến việc cái gờ móc lạc hậu, nó cản chuyển động của vỏ đạn trong băng ngang. Điều này dẫn đến việc dùng vỏ đạn có rãnh móc thay gờ móc như G88 dùng đạn Mauser 7,92x57. Vỏ đạn có rãnh nặng hơn vỏ đạn có gờ một chút. Điều quan trọng với vỏ đạn có rãnh là nó cần gia công vai buồng đạn và vỏ đạn chính xác vì vỏ đạn không tụt sâu vào nòng bằng vai chứ không phải là bằng gờ móc nữa, điều này dẫn đến các máy móc khoan buồng đốt của nòng đắt đỏ hơn. Có một câu chuyện buồn là Mosin chấp nhận dùng gờ móc lạc hậu để dành việc cho các quân xưởng cổ truyền như Tula, nhưng những đợt hàng lớn đầu tiên của Mosin vẫn bị bán đứng sang Anh-Pháp-Mỹ, có lẽ vì thế mà cho đến nay PK không bỏ gờ móc để nhắc lính Nga cái thời Nga Hoàng bán nước toàn diện.



Đợt hai cũng đánh dấu việc bỏ thuốc nổ đen. Đông Âu chuyển sang thuốc súng cháy chậm, cùng một động lượng đầu đạn thì nòng súng mỏng hơn nhẹ hơn. Anh Mỹ dùng cordite vẫn cháy nhanh nhưng không khói.

Đích của việc thay thuốc đến WW2 mới đủ chức năng và cho đến nay vẫn hoàn thiện. Thuốc súng cháy chậm được làm bằng những chất rắn, cứng chắc, không vỡ khi bắn, không truyền chấn động vào sâu viên thuốc, nên chỉ cháy ở bề mặt viên thuốc, tốc độ cháy bão hòa tỷ lệ thuận vởi tổng diện tích bề mặt các viên thuốc. Nhờ thế người ta có thể tạo hình những viên thuốc sao cho nó thay đổi diện tích bề mặt như ý muốn. Ví dụ, đạn pháo ngày nay làm bằng những viên hình trụ rỗng to như ngón tay người, vừa cháy ngoài vào, vừa cháy trong ra, nên ít thay đổi diện tích mặt ngoài. Pháo có viên to dễ làm, còn súng trường cần viên rất nhỏ nên khó làm, đến thời AK viên thuốc mới gọi là đều hình dẹt, còn trước đó vẫn là những dạng như đùn sợi hay vê viên giống như viên cám chăn nuôi.

Việc thay thuốc súng bắt đầu bởi pháo to ở Nga-Đức 187x. Bởi vì gia tốc đạn pháo nhỏ, thời gian chuyển động lâu, cần thuốc cháy chậm. Ban đầu thuốc súng thay bởi nitrô-xenlulôz (nitrocellulose) như poudre B Pháp. Poudre B là nitrô-xenlulôz khử acid, trộn keo da trâu gelatin và 2% nến faraffin, hòa dung môi ê-te (ether), cán, sấy thành giấy mỏng, cuộn thành cuộn hay cắt vụn cho vào vỏ đạn lebel (giống như kỹ thuật làm phim chụp ảnh ngày đó). "Viên giấy cắt vụn" này quá sơ khai. Sau đó Nobel đưa "thuốc súng đường đạn" "Ballistite" và đăng ký phát minh ở nhiều nước để bán thương mại, sau khi ông đăng ký ở Thụy Điển quê ông. "Thuốc súng đường đạn" ghồm 2% chất Diphenylamine (C6H5)2NH để ổn định, còn lại là hỗn hợp nitrô-xenlulôz (nitrocellulose) và nitrô-glyxêrin (nitroglycerin), hỗn hợp được hóa keo trong long não camphor C10H16O, tạo hình rồi sấy khô. Với súng trường có viên thuốc nhỏ thì tạo hình thường là đùn thành sợi rồi cắt lát. Tùy từng loại súng mà người ta gia giảm hai thành phần chính và kích thước hình dang viên thuốc đễ có tốc độ cháy và tốc độ tỏa năng lượng như ý. Đến năm 1907 thì long não được sản xuất nhân tạo quy mô lớn ở Tainionkoski/Phần Lan, nên thuốc súng tốt đã quá dễ để cho ra Mosin M1908.



=
Tây Âu đánh giá thuốc súng Đông Âu.... và đưa ra hai kết luận như sau.
Một là nó không có khói
Hai là mật độ năng lượng / khối lượng cao

Thế là Anh Mỹ đưa ra cordite, thuốc súng thừng. Thuốc này không có khói và mật độ năng / khối rất chi cao.... VL Tây Âu. Quá dễ để các nhà khoa học Tây Âu hồi đó nghiên cứu các bài báo khoa học Đông Âu cũng như phân tích thuốc súng Nobel xem có những chất gì. Không có khói và mật độ năng lượng cao thì đúng là mạnh rồi còn gì nữa nào.

Vấn đề là, cordite làm bằng phương pháp đùn sợi. Để trơn tru dễ đùn, cordite có lượng khá lớn vadelin, tức là mỡ gốc dầu khoáng, nó nhẹ hơn một chút loại mỡ cho vào vòng bi, các quý cô cũng hay dùng làm trơn da. Vadelin cũng kỵ nước nên về sau này nó có tác dụng bảo quản rất tốt, chống ngấm nước hút ẩm. Nhưng vấn đề là, cordite có thành phần vadelin nên nó là một thuốc nổ dẻo, truyền phản ứng cháy vào bên trong khối thuốc, không thể làm thuốc súng hiện đại được.

Một điều ngu xuẩn là. Dù cho có dùng thuốc nổ đen làm thuốc súng như cổ truyền, thì lượng thuốc súng cũng rất nhỏ so với khối lượng đầu đạn. Đến đạn hiện đại mạnh như AK chẳng hạn, thì chỉ có hơn 1 gram thuốc súng hiện đại, nếu thay thuốc nổ đen là 3 gram, vẫn nhồi thừa thãi vào cái vỏ đạn AK hiện đại. Đầu đạn AK nặng 8 gram và cả vỏ là 16 gram. Như thế, nếu AK dùng thuốc nổ đen thì nó sẽ nặng 18 thay cho 16, tăng không đáng kể. Thuốc nổ đen hiện đại cũng không khói và được sản xuất rất nhiều, không khói vì hiện nay người ta dùng đường ăn trộn với NH4NO3, là những chất dễ kiếm và rẻ tiền hơn nhiều KNO3-S-C.

Lee Enfield đã có tai chịu lực kéo dài phần thép dầy ở vỏ máy súng, lại có thuốc súng "thuốc nỏo đen cổ truyền không khói" nên sơ tốc hàng 700m/s không bằng các bản cạc bin cưa nòng cho ngắn của Mauser-Mosin. ".30-06" Springfield cùa Mỹ đạt sơ tốc đến hàng 800m/s gần bằng Mosin thì vỏ đạn nặng ục, 64x7,62 so với 54R x 7,62 (Mosin).

Còn Pháp, thì Giáo Chủ Ri-sơ-li-ơ, thiết giáp hạm Richelieu , soái hạm Pháp, đã bay mất nòng trong trận đánh đầu tiên tại Dakar Senegan 23-25 tháng 9-1940. Thuốc poudre B Pháp được cải tiến nhiều lần. Nhưng như chúng ta thấy, thuốc súng tốt không phải là một thứ thuốc, mà mỗi súng người ta sẽ trộn tỷ lệ thuốc khác nhau, ép thành các viên hình dang kích thước khác nhau, không có thứ thuốc nào chúng như mopij loại súng như poudre B Pháp hay cordite Anh-Mỹ cả.


Tuy nhiên. Vấn đề gia công đạn lõi thép vỏ đồng không đơn giản, nên bước 2 chỉ dừng ở băng ngang, và cải tiến chút thuốc súng, vẫn là đạn chì đúc tuy nhanh hơn chút. Sau khoảng 10 năm thì vẫn các súng đó chuyển sang bước 4 thay đạn "chống trên mũi nhọn", hầu hết đều bắn được chung đạn, nhưng phair thay thước ngắm chẳng hạn.




Đồng thời các mác thép đã chuẩn nên thép súng đã tốt hơn, gia công bằng máy chính xác hơn cắt gọt bằng các công cụ thủ công, nên máy súng chau chuốt hơn. Các súng khóa nòng quay Mauser, Mosin.... và các súng khác đều dùng 2 tai nhỏ thay cho 1 tai trên cán tay cầm như Berdan và IG71. Hai tai trước (ngay sau nòng) cho phép đường truyền lực rất ngắn, khóa nòng và vỏ máy súng đều nhẹ đi mà đắp vào nòng, nhưng Lee-Enfield và các súng Mỹ cho tai chịu lực về sau để gia công rẻ, né được cái cổ vỏ máy súng khoan khoáy phức tạp. Lee-Enfield có đạn yếu xìu so với Mauser, Mosin, thậm chí không bằng những bản cạc bin nòng ngắn.


Lúc này chuyển đường kính đạn xuống 8mm (Lebel, nhưng Lebel chỉ cải đạn mà cấu tạo súng vẫn cũ, Berthier mới là súng thế hệ mới nhưng bên Pháp Lebel đã làm vua không cho Berthier được trang bị, nên 1900 thì súng thuộc địa Pháp tốt hơn súng chính quốc Pháp), 7,62mm (Mosin), 7,92mm (Mauser G98 và súng trường "hội đồng" G88).

Sơ tốc đầu đạn đạt 500-600 m/s. đợt này phổ biến dùng các đầu đạn 15 gram. Vẫn là đầu đạn chì đúc.

Các ví dụ về đợt 2 có G88 Đức, Mosin 1891 Nga, Berthier Pháp như trên chính là Anh Đô Si Noa nhà ta sau này, Krag – Jorgensen của Đan Mạch Na Uy Mỹ, Lee Enfield Anh, Mannlicher Model 1885 là đại diện đợt này của Áo-Hung.




Đợt 4. Đợt 3 có thể được chia làm đôi, đợt sau của đợt 3 là "đợt 3,5", đó là chống trên mũi nhọn 190x. Nhưng ở đây ta đánh số đợt 4

Mấu chốt kỹ thuật của đợt 3 này là gia công được đầu đạn lõi thép vỏ đồng. Điều này cho phép sử dụng sức mạnh của thuốc súng mới. Hầu hết các súng đều không có thời điểm chính xác chuyển sang kiểu này trừ Mauser G98 năm 1898, ".30-06" năm 1906, Mosin M1908.

Riêng bác Lebel thì bác chống trên mũi tù vì băng ống dọc đạn thép chọc hạt nổ nhau gây tai nạn, không cho Berthier lên. Hài hước là từ khoảng gần 1900 thì súng thuộc địa như ANh Đô Si Noa nhà ta tốt hơn súng chính quốc vì dùng Berthier không có băng ống gỗ dọc phải cưa bằng đầu đạn lõi thép.

Tuy nhiên, bên Nga thì không dùng thuốc lởm của Anh-Mỹ-Pháp poudre B/cordite, muốn dùng "thuốc súng đường đạn" của Nobel, nhưng lại không có nhiều long não, trước đây được chưng cất từ một số loại gỗ. Thuốc súng dùng cho pháo lớn dên làm hơn, viên nó to, Nga tìm ra một số giải pháp đúc rắn tạo hình... nhưng súng trường thì khoai. Mosin đi hợ chậm M1908 nhưng là súng vừa mạnh nhất vừa chính xác nhất trong số các súng trường phổ thông ngày đó.



Các súng đợt này đầu tiên phải là Mauser G98 Đức/Phổ (Phổ thống nhất các miền dân Đức thì đặt tên đế quốc là Đức). G88 được gọi là súng hội đồng mặc dù nó rất giống các súng khác của nhà Mauser, nhưng nhà Mauser không hiểu vì sao dỗi không tham gia hội đồng. Mosin bắt đầu M1908 với việc Long Não để sản xuất thuốc súng đường đạn Nobel đã được tổng hợp bên Phần Lan thuốc Đế Quốc Nga năm 1907. Mỹ có ".30-06" nói trên.

Sơ tốc lúc này đạt 700 m/s (Lee Enfield Anh), 800m/s (Mauser), 870 m/s (Mosin, về sau còn 860 vì bỏ bản nòng dài).... và ".3006" Mỹ gần như Mosin nhưng đổi lấy cái vỏ đạn to tướng báo hại súng máy. Sơ tốc này làm vỡ đầu đạn chì, vì vậy các súng chuyển sang đạn thép có vỏ mềm bằng đồng. Đạn lõi thép vỏ đồng đầu nhọn sinh ra việc áp dụng thuật phóng "chống trên mũi nhọn". Trong thuật phóng này, đầu đạn có một cái "mũi đường đạn" xé không khí, toàn bộ viên đạn sau mũi đó nằm trên buồng chân không do mũi tạo ra. Việc đạn xoáy và vì thế nó như con quay, luôn muốn chổng ngược trọng tâm lên mũi đinh quay. Điều này giúp đầu đạn uốn dẻo theo đường cong của đường đạn.

Đạn xoáy cũ không có đầu nhọn do đúc chì, đồng thời đạn bay chậm buồng chân không bé, mà đạn thì lại to dài thò ra khỏi buồng đó, chỉ cố định trục đường đạn.

Khối lượng đầu đạn giảm xuống còn 9,5 gram cho đạn sát thương điển hình, 12 gram cho đạn súng máy có khả năng xuyên tốt hơn. Khả năng bắn trúng bia hình người (tầm bắn hiệu quả) lên đến 600 mét, thừa gấp đôi khả năng ngắm bắn của binh nhất điển hình. Mức động lượng của đầu đạn vẫn giữ gần bằng cũ - tính từ thời nạp miệng. Các đạn cầu nạp miệng Nga-Đức thời Napoleon cởi truồng khoảng 15-17 mm có động lượng cũng ngang với Mosin-Mauser ( đạn cũ nặng 27-30 gram sơ tốc 300 m/s, đạn mới 9,5-12 gram sơ tốc 800-900). Đây gần như là "tiêu chuẩn động lượng" phù hợp với sức chịu giật người lớn khi bắn phát một.

Ban đầu, các đầu đạn như G98 chọn cỡ 12-13 gram. Tuy Mosin chưa được duyệt loại đạn mới (năm 1908), nhưng đã chỉ ra cỡ đầu 9,5 gram. Loại đầu nhẹ này xuyên giáp, xuyên rừng... không bằng đạn nặng, nhưng sơ tốc lớn-buồng chân không dài, đạn ngắn, nên chính xác hơn trong khoảng 600 mét đầu tiên, và xuyên qua phần lớn các giáp cá nhân kể cả như ngày nay. Đến năm 1930 thì có một số ý kiến quay lại đạn nặng vì xe thiết giáp lúc đó nhiều, nhưng sau đó ý kiến này nhạt vì đạn súng trường thôi không hy vọng đánh xe tăng nữa. Tokarev đến 1936 đưa ra đạn phức tạp như đạn pháo có sức xuyên và chính xác tốt cho Mosin.

Bên Anh Mỹ thì muốn dùng súng máy bắn diện tích, nên sử dụng đạn nặng. Đức thì phái Hitler không giỏi về súng ống lắm nên nửa nhẹ nửa nặng 12 gram

Các đường đạn chống trên mũi nhọn ngày đó vẫn được dùng cho đến nay như Mosin và NATO 7,62x51. Sau này các súng này chuyển sang tự động lên đạn. Cỡ đạn này không cho phép dùng liên thanh với cỡ súng cá nhân 3-4-5 kg vì rất giật. Xô-Đức đều có những súng như thế ví dụ AVS-36, AVT-40 (bản liên thanh của SVT), nhưng đều không dùng. Còn Mỹ thì có bác M14 sang Việt Nam bán vung và còn nhồi cho Nhật Bản bại trận. Các bản xung phong của FN FAL, FN FNC, G3, CETME.... đều cắt ngắn nòng đi để giảm động lượng khi xung phong. Để ổn định, thì ít nhất súng phải nặng 7kg, quá nặng với cá nhân.




Đợt 4 của cách mạng súng ống là AK năm 1949.
Nhưng như chúng ta đã biết, do 3 đế quốc Đông Âu tan vỡ nên chương trình chậm lại, đáng ra đợt 4 đã xuất hiện cùng với các súng Mondragon (Mexico, Thụy Sỹ và Đức thiết kế chế tạo), Fedorov Avtomat (Nga).

Bản chất của đợt 4 là các máy móc gia công hàng loạt đạn đã nhiều, cũng như các máy móc gia công hàng loạt các mặt hàng khác. Điều này cho phép tạo hình thuốc viện điểu khiển đúng tốc độ cháy, đạn mạnh, cũng như đạn nhiều như biển và rẻ.

Tác dụng với súng ống của đợt này là cắt bớt động lượng đầu đạn để có thể bắn liên thanh trên tay khi xung phong.

Mỹ đưa ra khẩu súng lởm M16A1 năm 1967. Nó lởm quá đến nỗi chẳng nước nào mua, chúng ta sẽ nói sau. Lúc đó ngoài quân bộ binh Mỹ thì chỉ có các cỡ Nam Hàn, Nam Việt... là dùng M16. Kể các các đồng chí thân nhất của Mỹ, hay bị Mỹ đô hộ nhưng còn có chút quyền... như Úc, Canada, Anh, Nhật... đều chổng mông vào M16. Các nước trên trừ Nhật dùng FN FAL, các nước đánh giá súng tiên tiến hơn dùng FN FNC. Nhật dùng M14 là bản liên thanh của M1 Garand.

Các súng FN FAL, FN FNC (Bỉ), G3 (Đức), CETME (Tây Ban Nha-Thụy Sỹ) đeeuf dùng bản nòng ngắn để xung phong. Làm đạn to nặng, nhưng ném sức đạn đi... là NATO sỉ nhục Mỹ trong thời AK.

Hầu hết thế giới dùng FN FAL, đây là bản copy SVT có cải tiến một chút để dễ tháo lau trích khí, đồng thời khung vỏ máy kiểu gập thích hợp với điều kiện gia công truyền thống của nước này (giống khung súng DP). Một số các nước dùng FN FNC, đây là bản nhái AK nhưng có 2 cải tiến, một là khung súng gập như trên, hai là chuyển tai quay từ đầu to xuống chuôi khóa nòng, điều này sẽ thuận tiện hơn khi gia công trên máy phay/tiện đa năng thường (phôi được đặt trên trục quay như máy tiện, lưỡi gia công quay như mũi khoan), sau đó là máy điều khiển số CNC. Còn AK thì bệ-khóa phải dùng bộ gá chuyên dụng, không thích hợp với các nhà máy làm ra nhiều loại súng bán nhiều nơi.

Chúng ta đang nói đến súng ngắn liên thanh tranh ngôi súng trường xung phong, xuất phát từ những rối loạn chính trị bên Đức và sự tan vỡ khó khăn của 3 đế quốc Đông Âu, chính điều này là nguyên nhân chủ yếu đẩy lùi đợt 4 đến 40 năm.



Đợt 5 của cách mạng súng ống là AK-74 năm 1974
Đạn AK-74 phức tạp như đạn pháo, thực hiện được bằng các máy móc điện tử mới xuất hiện. Như thế, cho phép giảm động lượng đầu đạn xuống nữa mà súng vẫn khỏe, giảm khối lượng đạn, lính mang được nhiều đạn.

AK chuyển từ 7,62x39 xuống 5,45x39. AK chỉ giảm đường kính nòng đạn, chiều dài nòng đạn và các chi tiết khác giữ nguyên.

Đạn NATO 7,62x51 nặng 25 gram. Đạn Mosin nặng 22 gram, đạn có gờ móc nhẹ hơn một chút vì đạn có khe móc đế dầy, đồng thời Liên Xô cách mạng luôn cái vỏ đạn chuyển sang vỏ sắt. Đạn AK 7,62mm nặng 16 gram, đạn AK 5,45mm nặng 11 gram.

Đến đây, thì các FN FAL, FN FNC, G3, CETME.... dùng đạn NATO 7,62x51mm quá nặng sop với đạn AK. Tỷ số là 25 gram / 11 gram, suýt soát 2,5 lần. Vậy nên NATO mới thống nhất nòng / đạn mới do FN Bỉ đề xuất, là FN SS 109. Mỹ chuyển tiêu chuẩn này samng hệ inch là M855 Mỹ. Nòng đạn này mạnh nước nào nước ấy áp dụng. Mỹ là M16A2. Chương trình này bắt đầu áp dụng đầu 198x.

ôi trời, mạng ở nhà đang dỡ nhà hàng xóm phải thay dây, ra quán chát mãi mới chọn được cái key, thì đang gõ mất mouse, thôi, pause hôm nay.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 21-01-2013 thời gian gửi bài 23:49
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (21-01-2013), tolaind (22-01-2013)
  #4  
Cũ 22-01-2013, 01:04
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Như trên. Nước Đức bước vào chiến tranh Xô Đức không có vũ khí tốt so với Liên Xô, nhưng tiến nhanh ào ào bởi hai thứ, một là các binh đoàn cơ giới thiết giáp, hai là súng ngắn liên thanh MP.

Tuy nhiên, chiến tranh không lâu thì người Đức thấy súng của họ không tốt, nên có MG42, G43 và sau đó là MP45. Kể cả họ có điều đó bằng copy luôn bộ phận máy Liên Xô mà tất cả lính Đức đều biết.

Liên Xô chủ quan không coi trọng súng ngắn liên thanh, đúng là súng ngắn liên thanh là súng lởm, nhưng sai lầm của Liên Xô là không kịp phát triển bản súng trường xung phong thay thế, nên Liên Xô thiếu súng xung phong. May cho Liên Xô là Tokarev đã làm cỡ đạn súng ngắn chuyên dùng cho súng ngắn liên thanh 7,62x25 Tokarev, nên súng ngắn liên thanh Liên Xô PP dễ dàng nhanh chóng vượt mặt MP Đức chỉ bằng khẩu súng ra đời cùng chiến tranh PPSh-41. Có khoảng 6 triệu PPSh được sản xuất trong chiến tranh so với 1,2 triệu SVT.

Không phải là SVT đáng khinh hơn, mà thật sự súng ngắn liên thanh quá rẻ mạt. Đức dựa vào cái rẻ mạt đó nên ưu thế của họ cũng rẻ mạt dễ mất.


Lúc bấy giờ, súng máy là mặt hàng quýt sờ toọc, rất đắt đỏ, nhưng trừ súng ngắn liên thanh vì súng ngắn liên thanh rất rẻ mạt. Chính vì thế, Hitler và băng đảng đã lừa đảo, rồi hút máu ngân sách quân sự Đức từ lúc chưa chiến tranh, và Đức bại dễ dàng trước Liên Xô.

Chúng ta đã nói nhiều đến khóa nòng, trích khí... Súng ngắn liên thanh hầu hết đều không cần quan tâm đến khóa nòng trích khí. Chúng ta thấy Đức trong chiến tranh không thật sự hoàn thiện khóa nòng và trích khí, nên súng ngắn liên thanh quả thật là súng máy .... thành công nhất của Đức.


Thế này, súng ngắn liên thanh không có khóa nòng, không có trích khí, mà là lùi tự do. Phản lực của đạn đẩy bịt đáy nòng lùi, bịt đáy nòng chuyển động theo quán tính và lò xo lùi về tiến lên, thực hiện tháo vỏ nạp đạn điểm hỏa. Hầu hết súng ngắn liên thanh chỉ bắn được khi khóa nòng mở. Cái khóa an toàn của MP Đức càng siêu đơn giản nữa.


Súng máy lo nóng nòng ? súng ngắn liên thanh dek lo vì áp suất nhiệt độ thấp, đạn yếu xìu.

Vấn đề là, súng ngắn liên thanh rất dễ thực hiện nhưng không khai thác đủ sức ngắm của người lính, nên chẳng nhẽ mỗi lính mang 2 súng, một PPSh và một SVT.

PPSh-41 mạnh mẽ vì đường đạn là chính, súng làm việc không êm bằng MP38/40, nặng hơn một chút. Ưu điểm của PPSh chỉ là không quá lệ thuộc vào gia công tấm mỏng, mà những bộ phận quan trọng nhất như khối lùi và phần dưới vỏ máy súng được rèn, điều này huy động một sức sản xuất lớn nhanh chóng bằng các máy rèn khuôn đơn giản.

Đường đạn Tokarev 7,62x25mm mạnh vì nó được thiết kế ban đầu là đạn cho súng cầm hai tay trên tiền duyên, chứ không phải là loại súng ngắn cầm một tay. Như đã nói trên, ban đầu Tokarev thử một loại súng ngắn liên thanh năm 1927, sau đó ông đi làm đạn, áp dụng trên súng ngắn cầm một tay K54 TT-33, rồi ông bị triệu đi làm đại liên và SVT quan trọng hơn, bỏ bễ súng ngắn liên thanh. Vì thế, nên đạn Tokarev là đạn súng ngắn liên thanh nhưng lại được áp dụng lần đầu trên súng ngắn cầm một tay.

Đạn Đức 9×19mm Parabellum dùng cho súng ngắn cầm một tay P08. Đạn có đường kính lớn hơn cỡ súng trường, nhờ đó, đầu đạn ngắn gia tốc mạnh thích hợp với cái nòng ngắn tũn của súng ngắn cầm một tay. Nhưng đạn đường kính lớn bị không khí cản nhiều, bắn gần. Sau này, Đức cải quá áp hết cỡ, đến mức bắn trên súng ngắn cầm một tay sẽ tai nạn, nên ghi "chỉ dùng cho MP". Phóng to đường kính đạn lên cho nòng ngắn, vì thế yếu quá nên cải quá áp... cũng là nghịch lý bên Đức, chính điều này làm đạn Xô mạnh hơn.

Hài hước là. Tuy phát triển với ứng dụng thuốc mới, nhưng Tokarev 7,62x25 được format từ đạn Mauser C96. Bản thân C96 cũng có nòng và báng cạc bin, rất dễ để trở thành đạn một súng ngắn liên thanh mạnh của Đức, nhưng Hitler không chọn, đương nhiên vì đó là đạn của phái bác học già Mauser.




Thật ra, bên Đức, phái Hitler không phải là đại diện cho đám bác học cốt lõi như các nhà chế súng bác học già bâu quanh Mauser. Chúng ta có thể ví dụ ngay cái ông Vollmer của Erma, đã chế ra MP38/40.

Vollmer có biệt tài về gia công tấm mỏng. Như post trên, gia công tấm mỏng bắt đầu đơn giản từ cuối 188x, rồi trở thành một ngành công nghiệp lớn. Khi người ta cán ra một số lượng lớn thép mỏng thì cưa cắt đột dập cho ra sản phẩm rẻ nhiều hơn rất nhiều cắt gọt và rèn. Mà trong súng ống thì băng đạn xuất hiện.

Vollmer trở thành ông chủ khi bán một mẫu máy cưa do ông sáng chế khi mới 2x tuổi. Rồi ông mở công ty, dây dần vào chiến tranh với việc gia công băng đạn. Đức bại trận và Volmer không thể trả được nợ cho đến đầu 193x. Trong thời gian đó ông đã bán một số mẫu súng cho Trung Quốc (Thập Lục Thức 1927), Tây Ban Nha (các VMP 35). Cuối cùng Vollmer sát nhập vào ERMA, cũng là một nhà buôn trẻ và một hãng súng trẻ.

Toàn bộ MP38 hầu hết là gia công tấm mỏng.

Với các công ty súng ngắn liên thanh Đức khác cũng thế. Những công ty và những nhà khoa học mỏng, thiếu tiềm lực toàn diện về khoa học, thiếu vốn tài chính... cùng đường phá sản bâu quanh Hitler.

Như bạn SSX đã post, Hitler tập hợp quanh mình các tư tưởng hận thù Do Thái và Nga. Nga đã phản bội liên minh Đông Âu Nga Đức và Áo Hung, tấn công vào sau lưng Đức cứu Pháp năm 1914, cả 3 đế quốc Đông ÂU bại trận thê thảm và tan vỡ. Sau đó Do Thái làm bần cùng hóa Đức 192x.

Và Hitler cũng tập hợp quanh mình các nhà khoa học và công ty cùng đường, chứ không phải các đại diện của súng ống Đức. Từ khi Hitler lên, thì lần lượt các nhà lãnh đạo MP làm "lãnh tụ công nghiệp chiến tranh" của đảng NAZI, Vollmer cũng làm một lần. Điều này đã gây họa cho súng máy Đức.

Trong các lĩnh vực khác như máy bay tên lửa cũng như vậy. Ví dụ, đạn tự hành-tự dẫn chống hạm được bỏ bễ, hay Panzer Faust (súng chống tăng cá nhân như B40/B41) đã có thể là ông Bụt hiện ra cứu Đức, nhưng bị bỏ bễ coi rẻ từ đầu chiến tranh. Đức miệt mài làm tên lửa V2 chả ăn nhằn gì mặt dù rất nổi tiếng và hiện đại, còn Liên Xô thì cứ Ca Chiu Sa đơn giản mà quạt.





Từ năm 192zx Mauser đã phát triển súng trường tự động như đã nói trên, và hầu hết các chương trình Đức đều dùng trích khí kiểu Bang. Năm 192x Mauser đã thử nghiệm kiểu súng như là G41(M) sau này.

Đến 1935 thì cục hậu cần Đức đã đưa ra chương trinh MKB35, cạc bin liên thanh. Cạc bin là súng trường nhẹ, và như thế đã rất gần súng trường xung phong. Đến năm 1939 thì lần đầu tiên tên súng trường xung phong được dùng, SK39, cạc bin xung phong sturm karabiner, từ bão tố sturrm được dùng để chỉ vũ khí tấn công.

Tuy nhiên, chỉ có vài chục mẫu SK39 được thử nghiệm trước khi quên.

Nếu nhìn lại những yêu cầu của hội đồng năm 1935 thì dễ thấy. Hội đồng bất lực. Những yêu cầu cảu hội đồng có điểm cốt yếu nhất, lại chung chung và không thể thực hiện nổi, do phái súng ngắn liên thanh phá đám, họ đứng đầu hội đồng mà. Ví dụ, hội đồng yêu cầu tầm bắn hiệu quả 600 mét, như thế là bằng Mosin-Mauser, và không thể bắn liên thanh được trên tay, chỉ giảm giật được khi súng nặng trên 7kg bắn trên giá 2 chân. Một súng như thế Xô-Đức đầy rẫy nhưng không dùng vào việc gì được.


Hài hước là, sau đó thì Đức gặp PPSh-41. Đức đã bóp chết súng trường xung phong rồi, mới định phóng to súng ngắn xung phong ra. Từ đó ra con MKB-42. Xưng là cạc bin làm cả làng chế súng Đức cười, nên khi được biên chế nó dập lên thân nó dòng chữ MP44, tức là súng ngắn liên thanh. Đầu đạn bằng AK, nhưng cỡ vỏ đạn quá bé, dù đã cải quá áp hết cỡ vẫn yếu. Thậm chí súng nặng đến hơn 5kg mặc dù là súng ngắn, ngang với trung liên RPK sau này, vì cải quá quá áp. Súng MP44 cũng dek cần có đến cái ốp lót trước để kéo dài bán kính tay cầm trước đặc trưng cho súng trường.

Máy MP44 cũng đơn giản, nó thu bé lại khẩu ZB-26(t) và lộn ngược xuống. ZB-26 là súng Tiệp Khắc bị sát nhập vào Đức, Đức tạm dùng vì không có súng máy tốt trước khi có Mg42. Trích khí xiên ngược của ZB khóm làm thì bỏ đi thay bằng tiết lưu sơ khai. Lúc đó, bên Nga kiểu chèn nghiêng đã phát triển thành 2 tai sườn SVT sau là FN FAL, một nhánh là đuôi bẹt rộng PTRS-SKS về sau có AS-44 cùng năm với MP44. Nhưng MP44 vẫn là khóa lưng cao thuần chủng sơ khai của ZB-26. Nhắc lại là, Xô-Đức không như Tây Âu Anh-Pháp-Mỹ, trừ ba phiên bản này thì không bao giời chấp nhận chèn nghiêng trong liên thanh. ZB-26(t) là súng Tiệp Khắc dùng tạm. AS-44 ra vội để thử nghiệm chiến trường loại đạn M43, AS-44 có kiểu khóa nòng chèn nghiêng nhưng đuôi bẹt như PTRS vàd SKS. Và một là MP44 bất đắc dĩ.

Có thể hiểu về các loại chèn nghiêng thế này. Chèn nghiêng gây rung ngang nên người Nga cố hết sức để giảm rung, những cũng chỉ áp dụng trên súng phát một trừ AS-44. Khi giảm chuyển động đứng của khóa nòng thì chiều dài chuyển động bệ khóa nòng ngắn, máy súng gọn nhẹ. Để giảm chuyển động đứng có kiểu 2 tai hai bên của SVT/AG42/FN FAL và kiểu đuôi bẹt rộng của PTRS/SKS/AS-44. Đuôi rộng ra khỏe hơn nên có thể làm bẹp để giảm chuyển động đứng. Từ kiểu ZB-26 đến SKS là một chặng đường rất dài nên MP44 sao lại dáng ZB-26 quá tụt xa.

MP44 dùng đạn 7,92×33mm, Pistolenpatrone 43, cùng năm với M43 AK. Pistolenpatrone là đạn súng ngắn, nó cũng như là chữ MP dập trên vỏ súng có nghĩa là Maschine Pistole, MP=súng ngắn liên thanh. Tuy nhiên, rất nhiều đám lợn cố chứng minmh đó là súng trường.



Chúng ta có thể so sánh, khẩu AS-44 ra đời sau MP44 một chút, cũng nặng bằng MP44, nhưng dùng đạn mạnh mẽ hơn nhiều. và nhắc lại là AS-44 là súng thiết kế vội vàng, chứ không như MP44/MKB42 mấy năm liền.


=====

Thế SK39 dùng đạn gì.

Trả lời là, rất giống đạn M43 Liên Xô. Khẩu súng thử các loại đạn tương ứng với các cỡ đường kính súng trường thông dụng Đức. Sau cùng, chương trình tiếp tục với GECO 7,92x40mm. 7,92 là cỡ đạn súng trường Đức Mauser, 7,62 là cỡ đạn súng trường Liên Xô Mosin. Người ta dùng cỡ đường kính đạn súng trường để không xáo trộn mạnh công nghiệp trong chiến tranh. Đạn M43 Liên Xô ban đầu là 7,62x41mm. Đến năm 1948-1949 AK mới dùng 7,92x39mm.

Như thế, Liên Xô tí nữa không có cơ hội format đạn M43, và bị tràn ngập bởi SK39. May cho Liên Xô là chỉ có đâu 60-70 mẫu SK-39 được chế tạo thử nghiệm, và nó còn rất lâu nữa mới thành công. Nhắc lại là, lúc đó Đức chưa có máy súng phù hợp, cả khóa nòng và trích khí. Một máy súng "thiết bị 06" về sau thành máy G3, CETME, MP45.... đã có, nhưng lại của bọn bác học già Mauser đáng ghét.

===
Câu chuyện là như vậy Hội đồng lợn thế giới thường chỉ AK bảo giống MP44. Thật ra, MP44 là súng ngắn chứ không phải súng trường, những thằng chế tạo nó và dùng nó dập lên đạn và súng chữ MP, nhưng hội đồng lợn quyết tâm bảo đó là súng trường. Thật ra, MP44 quá lạc hậu, quá sai, và là súng ngắn.

Đạn M43 Liên Xô format theo SK39 và chả liên quan gì đến M43 Đức bắn trên MP44 cả.

Đức có tham khảo Fedorov Avtomat không thì không biết. Nhưng rõ ràng Fedorov Avtomat là khẩu súng trường xung phong đầu tiên trên thế giới. Loay hoay 30 năm thì Fyodrov cũng xin được tiền format một loại đạn như ý, không phải dùng đạn Nhật Bản.
=============

Chương trình M43 được đầu tư rất lớn, có rất nhiều nhà khoa học tham gia. Ngoài AS-44 đến vòng cuối cũng còn kha khá. Đây là chương trình chế súng lớn nhất trong lịch sử cho đến nay.

Hầu hết các súng tham gia, toàn bộ những bản chung kết đều dùng kiểu khung súng Liên Xô, bao gồm phần trên vỏ máy súng bằng tôn mỏng dập. phần dưới khỏe hơn cố định, thay cho kiểu bản lề gập phần dưới xuống truyền thống, như DP trước đây, hay FN FAL/FN FNC sau này.

Alexey Ivanovich Sudayev đưa ra bản gia công tấm mỏng thay thế PPSh-41 là PPS-42/43. Súng có thể làm được và ban đầu làm trong Leningrad bị bao vây, được chú ý sản xuất khá nhiều. Khoảng nửa triệu súng được sản xuất từ năm 1943. Súng rất nhẹ và rẻ, nặng khoảng 3kg. Súng tiếp tục được sản xuất sau này đến năm 195x. Bản AS-44 có khóa nòng như là SKS. Súng đem ra chiến trường vài bản, từ trung liên đến súng phát một. Đây là thử thách đầu tiên của đạn M43, kết luận là súng khá nặng hơn 5kg.

Nhà Tokarev đưa ra một bản thử nghiệm nửa sau 1945. Tất nhiên là trích khí khóa nòng SVT rất giống FN FAL sau này, tất nhiên trừ cái bản lề gập phần dưới vỏ máy xuống của FN FAL.

Bulkin AB-46 giống AK nhất, thật ra AK đã học rất nhiều từ Bulkin AB-46. Bulkin AB-46 về đại thể giống AK phiên bản được chấp nhận, chỉ khác khóa nòng và trích khí. Trích khí Bulkin AB-46 là tiết lưu, nhưng liền với bệ klhoas nòng nhứ không rời như SVT, không có cốc như DP-SVT. Khóa nòng của Bulkin AB-46 cũng là quay hai tai, có chuôi to và khe quay trên chuôi.

Sau AB-46 thì AK giữ lại khóa nòng và trích khí, còn khung vỏ, cần đẩy về.... theo Bulkin AB-46. AK-46 vẫn còn cái cần piston rời và lò xo đẩy về như là SVT. Đến AK-47 thì đã đem khóa nòng trích khí lắp vào khung vỏ/đẩy về của Bulkin AB-46.


AK-46, cần piston rời và lò xo đẩy về như SVT
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


AB-46. Giống như AK sau này trừ trích khí và khóa nòng
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


AK-47, mẫu thắng thầu, khóa nòng trích khí AK lắp trên máy AB
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.



Từ sau năm 1947, đạn AK còn thay đổi nhiều nhưng không phải bên thiết kế súng làm. Ban đầu, vỏ đạn làm bằng đồng nặng hơn 20 gram. Sau đó, đạn có thuốc mới, vỏ thép, nặng 16 gram. Bản thân thuốc và vỏ cũng lại áp dụng cho Mosin, rút đạn Mosin từ 25 gram xuống con 22 gram.


Thế thì, chúng ta biết, khóa nòng AK được trình diễn lần đầu bởi khẩu súng phát một cùng tác giả năm 1944, lúc đó chưa có trích khí. Chúng ta tiếp tục với hai vấn để

AK lấy trích khí của ZB-26
Khoác nòng AK từ đâu ra ? khiếp vía cái văn minh súng ống ngu hơn lợn của Mỹ. AK không có liên quan gì đến MP44 cả, không như các đồng chí Mỹ sủa nhặng sị nhậu. Mà AK lấy khóa nòng, móc đạn trong băng, băng... của M1 Grand nhà Mỹ. Thế mà các đồng chí Mỹ không biết đến cái vinh quang đó của các đồng chí.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 22-01-2013 thời gian gửi bài 01:41
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (26-01-2013), tolaind (22-01-2013)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 22:48.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.