|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#61
|
|||
|
|||
|
Ông ta chắc thỉnh thoảng cũng làm Gebhard, một người dễ tính hơn nhiều, thấy khó chịu với những quan điểm gượng ép đó. Gebhard thoải mái hơn nhiều trong quan hệ với phụ nữ.
Nhưng mặc dù có khác nhau chuyện này, hai anh em vẫn rất thân nhau, không chỉ trong quan điểm dân tộc chủ nghĩa hữu khuynh mà cả trong ý thức về nghĩa vụ ái quốc và sẵn sàng chiến đấu. Trong khi Heinrich là thành viên của Freikorps Landshut đã tham gia trận đánh chống lại Cộng hòa Räterepublik Munich tháng 5/1919, trung úy Gebhard Himmler đã trở thành thành viên tổ chức “Dân vệ Công dân” Munich thành lập ngày 10/5 cũng cùng năm ấy. chịu trách nhiệm Có một khuynh hướng tích cực gia nhập vào Dân vệ Công dân, vốn chịu trách nhiệm giữ trật tự và an ninh công cộng. “Dẫu tuổi già vẫn tham gia được!” như lời một băng rôn cổ động của nó đã viết. Đến cuối năm 1919, đã có hai trăm ngàn thành viên được gia nhập; họ được cấp một chứng minh thư Dân vệ cùng với súng và đạn. Nhưng giống như nhiều cựu chiến binh khác có kinh nghiệm chiến trường, Gebhard và Heinrich mau chóng nhận thấy Dân vệ Công dân quá trầm lặng, bởi vậy đầu tháng 11/1919, một tuần sau khi Heinrich vào học đại học, họ đã cùng với Ludwig Zahler gia nhập Đại đội Tình nguyện 16, Lữ đoàn Bộ binh 21, về sau được sáp nhập vào Quân đội thường trực cũng trong hè năm ấy. Lữ đoàn Bộ binh 21 này được chỉ huy bởi Đại tá Franz Ritter von Epp, người đã chỉ huy Freikorps Epp của mình tàn bạo dập tắt Cộng hòa Räterepublik Munich và kể từ đó được mệnh danh là “người giải phóng Munich”. Freikorps Epp sáp nhập với những tổ chức khác để lập ra Lữ đoàn Bộ binh 21. Ernst Röhm, người sau này trở thành tư lệnh SA, là phụ tá của Epp; Rudolf Hess, Gregor và Otto Strasser cùng nhiều kẻ khác vài năm sau trở thành các nhân vật lãnh đạo của chế độ Quốc xã cũng đều là thành viên của Freikorps. Thế lực của Epp lan rất rộng ra ngoài Lữ đoàn Bộ binh: không chỉ quân đội thường trực tại Munich/Thượng Bavaria nằm dưới quyền của ông ta, mà cả cảnh sát thành phố, Dân vệ Công dân Munich và sở kỹ thuật khẩn cấp nơi Gebhard là nhân viên. Gebhard và Heinrich tham gia huấn luyện cuối tuần và tập bắn súng, được phân công đi tuần tra trên phố và có mặt khi được gọi khẩn cấp. Heinrich rất hăng hái với trách nhiệm mới này. Ngày 3/11/1919 ông ta viết về nhà “Hôm thứ Sáu chúng con sẽ đi nổ súng. Con mong chờ chuyện này khủng khiếp, đặc biệt là có dịp được mặc lại bộ quân phục”. Trong thư ông ta thuật lại rất rõ mẫu người lý tưởng của Franz von Epp, là “người thích nghiệp nhà binh... thích đánh giá khả năng bản thân thông qua đối thủ... Một người lính landsknecht tự tin và kiên quyết với đầy lòng tự hào về nghề nghiệp của mình”. Cả Gebhard lẫn Heinrich đều không gặp trở ngại gì khi đồng nhất hình ảnh lãng mạn của người lính landsknecht kiên quyết, loại lính bộ binh đánh thuê thời thế kỷ mười sáu, với thái độ khinh miệt đi kèm của một người tư sản phớt lạnh. Họ tự xem bản thân là những chiến sĩ vì lý tưởng buộc lòng phải chiến đấu – và đã làm vậy rất tự nguyện – trong một cuộc nội chiến dai dẳng. Thậm chí nhiều thập kỷ sau, trong “Hồi ký” của mình, Gebhard vẫn còn biện hộ cho hành động này: “Bất cứ ai chưa trải qua thời kỳ này có lẽ đều sẽ không thể hiểu được vì sao chúng tôi, vừa chật vật trở về từ chiến trường và đồn lũy, đã lại khoác vào chiếc áo lính. Nhưng không phải vì chúng tôi thích làm thế mà vì đó là điều hết sức cần thiết”. Ông nói, tình thế chính trị sau Cách mạng tháng Mười Một vẫn còn rất bất ổn; những kẻ cánh tả cực đoan tham gia Khởi nghĩa Spartacus ở Berlin, ở Thuringia và vùng Ruhr liên tục tìm cách “làm tổn hại nhà nước tự do, vốn vẫn còn khá yếu ớt. Chúng tôi phải cảnh giác canh chừng chuyện này”. |
|
#62
|
|||
|
|||
|
Cánh Freikorps càng trôi sang hướng chống lại nền cộng hòa non trẻ và trở nên bị cô lập thì “tinh thần Freikorps” – cảm giác về bổn phận của họ – càng mạnh lên. Nhiều thành viên cùng chia sẻ sự vỡ mộng đem về từ chiến trường và cảm giác rối bời vô mục đích, mất tin tưởng vào các giá trị truyền thống; đồng thời xuất hiện tình cảm đồng đội vượt qua mọi khác biệt giai cấp, thậm chí hình thành cả giữa đám sĩ quan với lính trơn. Uy quyền chỉ huy không phải có được từ cấp bậc mà chủ yếu từ “hành động thể hiện trong chiến đấu”. Hầu hết thành viên của Freikorps đều xem việc bại trận vừa qua như là sự sụp đổ của “hệ thống tư bản giả dối”. Hình ảnh gã “tư sản” sung sướng, trốn tránh ra trận chiến đấu thường được xem là kẻ thù thực tế của họ, thậm chí còn thường xuyên hơn hình ảnh những người cộng sản hay vô sản. Sự khinh miệt đối với người thị dân trung lưu được chuyển sang giai cấp tư sản tự do – và thực chất là được định hướng chống lại toàn bộ hệ thống xã hội. Trong khi các sĩ quan lớn tuổi hơn có khuynh hướng bảo hoàng bề ngoài, những người trẻ hơn mong chờ một hình thức đế chế mới, vốn tìm được sự thể hiện thông qua kết hợp giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa Quốc gia Xã hội kết hợp được giấc mơ về một quốc gia vĩ đại với lý tưởng của tình đồng đội và những nguyên tắc trật tự của chính quyền được khoác cho một Führer tức vị lãnh tụ; nó tự xem bản thân là sự tương phản đối lập với cả Chủ nghĩa Marx lẫn chủ nghĩa tư bản.
Các thành viên của Freikorps tự xem mình là nước Đức đích thực, họ “cảm thấy” bản thân là nước Đức, theo như lời của Ernst von Salomon, một chiến sĩ Freikorps sau này bị kết án năm năm tù vì năm 1922 tham gia ám sát Bộ trưởng Ngoại giao gốc Do Thái Walther Rathenau. Trong cuốn tiểu thuyết viết sau đó của mình, cuốn Ngoài vòng pháp luật, Salomon đã mô tả việc mình biến chuyển từ một học viên sĩ quan Phổ mang tư tưởng dân tộc chủ nghĩa sang một chiến sĩ chống dân chủ ra sao: “Chúng tôi tin rằng chính chúng tôi là những người đáng nắm lấy quyền lực vì quyền lợi của nước Đức chứ không phải bất cứ ai khác. Bởi chúng tôi cảm thấy rằng mình là hiện thân của nước Đức. Chúng tôi tin rằng chúng tôi được trao cho quyền lực ấy. Những kẻ đứng đầu các bộ ngành ở Berlin không có cái quyền ấy”. |
|
#63
|
|||
|
|||
|
Đó là một tình bằng hữu nam giới; hơn thế, họ tự xem mình là đoàn thể bằng hữu gồm những người giỏi nhất, bền bỉ nhất và thiện chiến nhất, được chỉ huy bởi con người xuất sắc nhất, lãnh tụ của họ, Führer của họ, và giờ đây họ đặt yêu cầu đòi quyền lực. Chính là sự pha trộn giữa lòng khinh bỉ chính quyền Weimar, những giấc mơ rối bời và sự kiên quyết man dại muốn chiến đấu cho bất cứ mục tiêu nào mà các lãnh tụ của mình đề ra, cùng với thái độ phân biệt địch-ta rõ rệt của họ, đã khiến Freikorps là một thành phần cực kỳ dễ bùng nổ ở giữa nền dân chủ mà mọi nền móng của nó đều ít nhiều đang run rẩy.
Giáng sinh năm 1919 hai ông anh cùng về thăm nhà, lúc này đang ở Ingolstadt. Ngày 23 tháng 12 cả nhà cùng kỷ niệm sinh nhật cho Ernst và ăn mừng Giáng sinh vào ngày hôm sau – theo truyền thống đã và hiện vẫn đang tồn tại ở Đức. Những món quà năm đó thật khiêm tốn: đám con trai được cho phép chọn cho mình những cuốn sách trong thư viện của cha, còn Ernst, người chỉ tập trung vào khoa học, được hai anh tặng một cuốn sách hóa học. Lễ Giáng sinh hàng năm được tổ chức theo một nghi lễ kết hợp. Trong khi Gebhard và Heinrich trang hoàng cây thông, Ernst phải khấp khởi chờ đợi cho tới khi cuối cùng cánh cửa phòng Giáng sinh mở ra. “Đáng yêu, thật rất đáng yêu”, Heinrich ghi trong nhật ký ngày 24 với chuỗi cảm xúc bột phát khác thường. Sáng hôm ấy các ông anh đã ra ngoài tìm rêu đem về làm máng cỏ còn sau đó qua giúp mẹ nấu nướng. Sau khi đã nhận quà, Gebhard chơi đàn piano, rồi họ cùng nhau hát có Gebhard và Heinrich đệm ghita. “Rồi chúng tôi uống rượu punch và đi lễ mass nửa đêm”, buổi lễ mà Heinrich thấy là “cực kỳ cảm động”. Trong kỳ nghỉ năm mới hai anh lớn mỗi người làm theo cách riêng mình. Gebhard ghi lại những ký ức nồng nhiệt về kỳ nghỉ ở Ingolstadt mà vì thế hội nghỉ mát mệnh danh là Ingolstadtia đã được lập ra, “đưa các sinh viên thuộc mọi sắc thái chính trị khác nhau, từ thành viên của các hội quyết đấu cho tới những người mang tư tưởng Thiên chúa giáo, kết hợp lại chung một hội, vì vui thích sinh viên xích lại gần nhau và rất mau chóng giao thiệp xã hội chung với nhau”. Những người từ mọi ngành nghề – bác sĩ, luật sư, công chức nhà nước – cũng là thành viên của Ingolstadtia, họ cũng là thành viên lâu năm của nhiều hội đoàn khác nhau, “và nếu chúng tôi tổ chức một bữa tiệc hè hay tiệc đông trong kỳ nghỉ thì mọi người đều tới, dù ít dù nhiều cũng góp tay vào”. |
|
#64
|
|||
|
|||
|
Bắt đầu từ tháng 9/1920 Heinrich đến làm tại một nông trang ở Fridolfing, gần biên giới với Áo, để làm nốt quãng thời gian thực hành lấy kinh nghiệm mà ông ta đã phải bỏ dở mùa thu năm trước. Công việc này được thu xếp nhờ Frau Loritz vì bà có quen với gia đình Rehrl là chủ ở đây, và Heinrich đã được đối xử như người nhà. Ông ta tránh phần lớn việc lao động chân tay nặng nhọc và đắm mình vào niềm say mê lãng mạn đối với cuộc sống “thanh bình” cổ truyền miền thôn quê qua vô số chuyến dạo chơi và thảo luận sôi nổi với Herr Rehrl. Ông ta lấy dùng một chiếc mô tô và cuối tuần đi thăm các bạn cũ của gia đình ở Munich, Ingolstadt và nhiều nơi khác, và thường đi chơi trong vùng núi Alp thuộc Áo. Các bạn bè Munich của ông ta giúp ông ta cập nhật tin tức qua thư từ, nhưng ông ta cũng thường xuyên được người quen và người nhà đến thăm. Các gói bưu phẩm liên tục được ông ta và mẹ mình gửi qua gửi lại – để đổi lấy sách ông ta đã đọc xong, quần áo lót mặc bẩn và những thứ “rác” tương tự, ông ta được nhận lại quần áo sạch, thuốc lá và gói thực phẩm, mặc dù thức ăn ở nhà Rehrl không thể chê vào đâu được nữa.
Trong thời gian này Heinrich cũng thường trao đổi thư từ với Ernst, lúc này mười lăm tuổi. Người em thường gửi cho ông anh những bức hý họa vẽ chân dung tự họa mà cả Heinrich lẫn nhà Rehrl đều rất thích thú. “Em không thể tưởng tượng nổi anh thích những bức vẽ đẹp ác liệt của em thế nào đâu”, Heinrich viết ngày 14/11. “Mặc dù em còn đang tuổi lóng ngóng nhưng em vẽ vẫn rất cừ”. Rõ ràng “Ernsti” không chỉ là một học sinh cư xử mẫu mực mà còn có chút khiếu hài hước. Trên các bức ảnh chụp đính trong album gia đình ta có thể thấy ông tôi thích nhăn mặt kéo mũi làm hề ra sao. Tuy nhiên, mặc dù Heinrich thích mấy trò đùa của em mình nhưng ông ta không thể ngăn mình trút cho em trai những lời hô hào và chỉ dẫn cách cư xử. Anh rất vui khi thấy em đạt điểm tốt. Nhưng đừng để điểm số lấn át đầu óc, em được điểm cao duy nhất chỉ nhờ các bạn khác hơi ngốc hơn em chút xíu (mà điều này đáng ra phải khác hơn nhiều). Nhân đây, anh cũng mong em học tốt môn lịch sử, không chỉ vì yêu cầu của nhà trường mà còn phải thực sự quan tâm, bởi em rất cần đến nó trong cuộc sống. Lúc này em đừng quá phiếm diện, hãy cư xử cho tốt và đừng làm phiền cha mẹ hay ai đó nhé...! |
|
#65
|
|||
|
|||
|
Ông ta vẫn còn cảm thấy mình lớn hơn hẳn Ernst, nhưng dường như đang sợ ảnh hưởng của mình lên em trai sắp tan dần. Có lẽ đấy là lý do ông ta đánh giá Ernst là “nhỏ bé, kém quan trọng và xấu xí” và đòi hỏi phải thường xuyên viết thư để chứng tỏ tình cảm; nếu thư không đến thì ông ta phạt Ernst bằng cách không thèm nói chuyện nữa.
Mặc dù tằn tiện do cha mẹ quy định và tính toán chi tiêu quá tỉ mỉ, Heinrich vẫn thường xuyên than phiền là thiếu tiền ở Fridolfing. Chuyện này không có gì ngạc nhiên, nếu căn cứ thực tế rằng mặc kệ đang thời kỳ khó khăn, ông ta vẫn tiếp tục sống theo kiểu mình đã quen hồi còn ở nhà. Frau Rehrl thu xếp cho các nhu cầu cá nhân của ông ta và việc giặt giũ quần áo, một phụ nữ khác được cha mẹ ông ta trả tiền để dọn phòng, bởi vậy ông ta cần tiền chỉ để dùng tiêu riêng. Số tiền ấy không phải là nhỏ, gồm cả chiếc xe mô tô, vô số chuyến đi chơi và các thú vui khác của ông ta. Ông ta dùng gần hết hai mươi mark cho một một chuyến đi với bạn bè tới buổi lễ hội ở vùng Tiimoning kế đấy – gồm du lịch, xúc xích, bia, xem chương trình biểu diễn – một khoản đáng kể vào những ngày ấy đối với một thanh niên mà cha mẹ vừa mất một phần lớn gia sản trước đây của mình trong chiến tranh. Mùa thu 1921 Heinrich quay về đại học Munich. Ông ta trở lại ở cùng quận trước đây, trong nhà trọ trên phố Briennerstrasse của một người quen khác của cha mẹ ông, Frau Wolf. Giờ đây đôi khi ông ta đã phải tự nấu ăn cho bản thân. Đến tháng Năm Gebhard vượt qua kỳ thi sơ bộ tốt nghiệp – vì là cựu binh đã qua chiến đấu nên ông được miễn các bài kiểm tra. Điểm thi không cao mấy cho thấy ông đã dùng nhiều thời gian cho việc binh hơn là việc học. Nạn lạm phát phi mã đã khiến điều kiện sống ngày càng tồi tệ hơn, kể cả với hai anh em Himmler. Năm 1921 hàng nhu yếu phẩm tăng giá đến tám lần so với khi chiến tranh vừa kết thúc, chỉ khiến cho cha mẹ họ thêm tằn tiện. Rõ ràng Heinrich cảm nhận gánh nặng của việc này nhiều hơn anh em mình. Ngày 24/11 năm đó ông ta ghi trong nhật ký của mình rằng đã trò chuyện rất nhiều với Lu về những thiệt hại và “cảnh khốn cùng kinh khủng” của họ. “Nhưng chúng tôi quyết định phải giữ lấy danh dự bản thân; đó là điều tốt nhất chúng tôi có”. Và hai tuần sau, ngày 9/12: “Đời sinh viên thật khốn khổ làm sao! Khắp nơi có biết bao thứ hay vậy mà chúng tôi không thể mua nổi dù là món rẻ nhất – và cuộc sống tính cho đến lúc này vẫn ổn thỏa. Nhưng ai biết được sắp tới sẽ ra sao? – bần cùng, sự giam cầm, chiến tranh”. |
|
#66
|
|||
|
|||
|
Trong những năm tháng ấy dường như ông ta đã chân thành tin rằng mọi chuyện sẽ “bùng nổ” bất cứ lúc nào, hoặc là nổ ra nội chiến hoặc có một cuộc xung đột với các quốc gia khác. Nhưng trong cuộc “đấu tranh” đáng ngại này ông ta tin rằng mình phải đối mặt với cả những thử thách cá nhân đang chờ đợi phía trước: phải tự lo liệu cho bản thân được trong tương lai gần, phải trở nên trưởng thành cứng cáp. Đó là viễn cảnh mà ông ta thấy rất đáng lo: “Tôi vẫn còn cách rất xa sự tự tin tao nhã mà tôi mong mình có được”, ông ta ghi lại vào tháng 11. Ông ta dùng lượng thời gian đáng kể để hoàn thiện “địa vị tao nhã” của mình trong hội hay để tán gẫu với “những người quen hữu ích” nhiều hơn là để học hành nghiêm túc, điều mà ông ta chỉ tập trung làm vào những lúc ngắn ngủi trước khi kiểm tra. Ông ta sợ sự kết thúc của khoảng lặng trước cơn bão này cũng nhiều như là chuyện ông ta mong chờ tới khi được “chiến đấu để chứng tỏ bản thân”. “Thời gian trôi mới nhanh làm sao. Những ngày tháng sinh viên sung sướng đáng quý của tôi sắp sớm chấm dứt”, ông ta than phiền trong nhật ký ngày 21/2/1922. Từ nhiều đoạn ông ta ghi chép ta thấy rõ ông ta lo lắng về tương lai của mình ra sao, và ông ta hay thay đổi những kế hoạch to lớn của mình như thế nào. Ngày 22/11 ông ta đã ghi, sau một buổi nghe giảng tại Hofbräuhaus về các chủ đề quân sự về Thế Chiến lần thứ I, “lúc này tôi thấy rõ hơn bao giờ hết rằng nếu có một chiến dịch nữa xảy ra tại phía đông, tôi sẽ tham gia nó. Với chúng ta phương đông là khu vực quan trọng nhất. Chúng ta phải chiến đấu và định cư tại phương đông”. Chỉ đúng một ngày sau ông ta đã lại nao núng, tự hỏi xem dòng đời sẽ đưa mình tới đâu: “Tây Ban nha, Thổ Nhĩ Kỳ, các nước Baltic, Nga, Peru? Nếu Chúa muốn, trong hai năm tôi sẽ không còn ở Đức nữa, trừ phi có chiến tranh lần nữa và tôi nhập ngũ”. Ông ta cứ bị giằng xé như vậy giữa các mơ ước muốn di cư và trở thành người lính.
Trong khi Heinrich đang chiến đấu với việc tâm trạng thay đổi thường xuyên, với sự buồn phiền, với những nghi ngờ và các khái niệm đạo đức cứng nhắc của mình, Gebhard rõ ràng hưởng thụ đời sinh viên theo một cách thoải mái hơn nhiều. Ông “bình thản chấp nhận cuộc sống thanh đạm thời ấy”, và hưởng thụ “những niềm vui giản dị” như khi ông và bạn bè “thường tìm cách phù phép tạo ra những buổi chiều vui vẻ trên sân khấu và bục gỗ thực sự từ con số không”. Mùa thu năm 1921 Gebhard đem lòng yêu Paula Stölzle, một cô em họ xa từ vùng Weilheim, phía nam Munich, có lẽ vào dịp cô tới chơi Ingolstadt. Mùa đông đến khi ông đang được đào tạo thực tập tại một nhà máy ở đấy. Tháng 11 Paula cũng đến gặp Heinrich ở Munich. Họ uống trà trong phòng ông ta, hút thuốc và trò chuyện về mối quan hệ giữa cô và Gebhard; “và rồi chúng tôi hôn nhau và đồng ý gọi nhau bằng đại từ thân mật du. Cô ấy là cô gái đáng quý nhất trên đời. Rất sôi nổi, có chút nhẹ dạ phù phiếm. Cô hoàn toàn là mẫu người phụ nữ dành cho Gebhard”. Họ hứu hôn trong dịp lễ Phục sinh 1922. Cha mẹ Himmler dường như rất vui khi được kết sui gia với ông chủ nhà băng đáng kính Max Stölzle, và cuộc hứa hôn được tuyên bố quá sớm đến đáng ngạc nhiên – khi ấy Gebhard vẫn còn là một anh sinh viên. HẾT CHƯƠNG 5 Thay đổi nội dung bởi: danngoc, 11-01-2013 thời gian gửi bài 16:28 |
|
#67
|
|||
|
|||
|
6
“Mọi người đều cuồng lên vì phấn khích”: Cuộc biến chính Năm 1922 đem lại những thay đổi to lớn khác đối với gia đình Himmler. Vào kỳ Phục Sinh Gebhard Cha được thăng chức hiệu trưởng đầy trọng vọng của ngôi trường Wittelsbacher Gymnasium ở Munich. Đó hẳn là một khải hoàn cho con người đã ngoi lên từ xuất thân nghèo hèn này – cực điểm quá trình lao động của cả đời ông, kể cả nếu như trong thời kỳ khó khăn đó việc thăng chức không đem lại bất kỳ cải thiện nào cho điều kiện vật chất của họ. Lạm phát đốt hết mọi thứ ra tro. Trong năm ấy thực phẩm đã tăng giá gấp ba mươi lần so với cuối chiến tranh. Thêm vào đó, vị hiệu trưởng mới phải tìm cho mình một căn hộ tại Munich khiến mất thêm một khoản chi phí, trong khi vợ và con út vẫn phải ở tại Ingolstadt cho tới hết năm học. Heinrich được gặp cha mình rất nhiều lần trong thời gian này; cứ Chủ nhật là họ lại đi dạo và ăn cùng nhau trong một nhà hàng. Theo các bức thư ông ta gửi mẹ, ta thấy rõ rằng đối với ông ta chắc hẳn việc ông ta được ở gần cha vô cùng có ý nghĩa. Ông ta viết ngày 9/5 “Cha và con ở bên nhau rất hòa hợp và hạnh phúc”; “Cha đã ổn định cuộc sống rất nhanh, ra ngoài đi dạo đều đặn và không làm việc quá sức”. Heinrich vốn hay nóng vội và không phải lúc nào cũng hòa hợp với cha mình. Năm 1921 ở Ingolstadt, khi ông ta đã hỏi xin cha một khoản tiền khá lớn để mua sách, đã có “những tranh luận nóng bỏng và dữ dội về chuyện này, nhưng chẳng may tôi đã rất nổi cáu”. Ngày hôm sau ông ta lại đem bàn chuyện tiền mua sách với mẹ - “chẳng may tôi lại nổi cáu lần nữa”. Tuy nhiên, sau khi có những bất đồng như vậy, Heinrich luôn mau chóng cố gắng tìm cách che dấu khỏa lấp. Như đã làm trước đó với Gebhard, sau đó ông ta viết một bức thư nhân danh cha mình. Ngày 12/6 ông ta viết cho mẹ, “Cha và con vô cùng cám ơn chiếc bánh tuyệt diệu này. Con lập tức mang hai phần ba ngay cho cha chiều hôm qua”. Ngày hôm sau hai cha con tới Zirkus Krone, rạp xiếc duy nhất tại Đức có được cơ sở kiên cố, nằm ngay cạnh trường Wittelsbacher Gymnasium, để tham dự cuộc mít tinh phản đối “Nỗi ô nhục Đen”. Điều được xem là “Nỗi ô nhục Đen” là việc bố trí lính da đen thuộc địa trên vùng lãnh thổ Rhineland bị chiếm đóng sau chiến tranh. Trong con mắt nhiều người, và không chỉ những người có quan điểm bảo thủ, chỉ cần sự có mặt của những người lính này thôi cũng đã là hành động chống lại “tất cả luật lệ của nền văn minh Châu Âu” rồi. Nước Đức không chỉ bị tước mất tất cả thuộc địa của mình sau chiến tranh, mà vấn đề chủng tộc trước đây nay trở thành một phần của lực lượng chiến thắng chiếm đóng. Heinrich ghi trong nhật ký của mình: “Khá nhiều người. Tất cả họ đều kêu gào “Báo thù!” Rất ấn tượng. Đã từng là như vậy, nay tôi đã chín chắn hơn, ở mức độ nhận thức cao hơn. Sau 10 giờ ở phố Augustinerkeller. Thảo luận về phụ nữ, tình yêu, cuộc sống – cuộc sống ngày nay, tức là – về những vấn đề bí mật, về hoạt động yêu nước”. Heirich biết về “những vấn đề bí mật”, có thể là đề cập tới các hoạt động của cảnh sát mật và những tổ chức cánh hữu tại Munich, mặc dù ông ta cũng là thành viên của Hội Súng trường Freiweg. Sang ngày hôm sau, Heinrich, cha ông ta và những người khác, có lẽ là tất cả các thành viên Hội Apollo, đã gặp nhau tại một hầm bia và tranh luận với nhau về “thời trước, chiến tranh, cách mạng, bọn Do Thái, sự phá hoại chống sĩ quan, Cộng hòa Räterepublik, cuộc giải phóng”. Trong thập niên 1920 tại Munich, cánh hữu đã tổ chức vô số cuộc biểu tình tập thể, thường dàn dựng như những cuộc diễu hành quân sự đầy phô trương, tại đó truyền thống quân sự của thời Đế chế vẫn tồn tại cùng với cách duyệt binh, quân phục và cờ phướn quân đội. Các cuộc mít tinh phản đối Hiệp ước Versailles và chống lại “sự dối trá phạm tội chiến tranh” là những sự kiện thường xuyên xảy ra. Heinrich đã tham gia trong một cuộc mít tinh phản đối tại quảng trường Königsplatz ngày 28/6/1922. Xúc động sâu sắc, ông ta hòa giọng hát bài “Wacht am Rhein” (“Đứng gác bên sông Rhine”) cùng sáu mươi ngàn người khác. “Thật tuyệt vời”, ông ta sôi nổi kể lại trong nhật ký. Ông ta có điểm yếu rõ rệt liên quan bất cứ điều gì dính tới quân sự, có thể gợi cho ông ta cảm xúc phấn khích, đôi khi còn thực sự hưng phấn xuất thần. “Binh sĩ diễu hành ngang qua. Ôi Chúa ơi!” ông ta viết lại như vậy ngày 26/2. Thái độ của cha Heinrich đối với quan điểm chính trị ngày càng cấp tiến của ông ta ra sao? Họ có bàn luận với nhau về chuyện đó không? Các đoạn nhật ký của Heinrich cho thấy trong những lần thường xuyên gặp nhau, cha ông ta “u sầu sâu sắc về vị thế của nước Đức”. Nhưng thậm chí nếu hai cha con đã không thẳng thắn trao đổi với nhau về tất cả những vấn đề chính trị thì họ vẫn thống nhất nhau về việc chống lại Cộng hòa Weimar và về giấc mơ “giải phóng dân tộc”. Nếu không Gebhard Cha khó mà chịu đi cùng con tới dự mít tinh tại Zirkus Krone. Ngay từ đầu năm 1920 Heinrich chắc đã cho rằng cha mình ngầm tán thành một cuộc mít tinh tại đại học mà ông ta có tham dự để phản đối án tử hình với Bá tước Arco-Valley, kẻ đã ám sát Kurt Eisner. Đó “thực sự khoan khoái. Tôi ước gì cha có thể chứng kiến” việc “hy vọng hồi sinh của dân tộc Đức” được thể hiện ở đó, ông ta viết trong bức thư sinh nhật gửi mẹ mình ngày 18/1. “Những quý ông trong chính phủ sẽ hiểu tại sao mình lại tha cho Arco. Nếu không họ sẽ phải trả giá vì điều đó. Tất cả chúng con đã sẵn sàng – thực ra, chúng con thấy tiếc là mọi thứ lại diễn ra suôn sẻ đến thế”. Dịp nghỉ hè Heinrich và cha mình cùng trở về Ingolstadt. Tuy nhiên, Heinrich có ít thời gian để hưởng thú vui của hội sinh viên vì kỳ thi cuối của ông ta đang đến gần. Ngày 22/6/1922 cha mẹ họ kỷ niệm đám cưới bạc với một nhóm bạn nhỏ, ngoài gia đình ra khách mời duy nhất là vú già Thilde, Paula vị hôn phu của Gebhard Con và cha mẹ cô này. Thực đơn của buổi tiệc mừng vẫn còn nhắc nhở tới ham muốn thoải mái của giới trung lưu, mặc dù xét theo thời gian rõ ràng nó vẫn khiêm tốn hơn so với trước chiến tranh. Và mặc dù bản thân tờ thực đơn được viết tay chứ không phải in, chính sự hiện diện của nó là một thể hiện rõ nét cho thấy gia đình tiếp tục dành một khoản lớn để làm đúng nghi thức xã giao. Ernst rõ ràng không gặp rắc rối với việc chuyển trường; ông học chăm và tiếp tục đạt điểm nổi trội. Ông cũng học nhiều thứ tiếng đến đáng chú ý; ngoài môn Latin và Hy Lạp bắt buộc, ông còn hết sức say mê học những khóa tiếng Anh, Pháp và Ý không bắt buộc. Dù vậy, tôi tự hỏi làm thế nào ông quen được với chuyện luôn phải tìm chọn kết thân với bạn mới, đặc biệt vì là con ông hiệu trưởng nên chuyện này là khó khăn gấp đôi, do ông phải nỗ lực mới dành được sự tôn trọng của các bạn đồng môn. Do đó có lẽ không chỉ vì tình cờ mà khi này Ernst đã muốn có liên hệ gần gũi chặt chẽ hơn với hai anh. Kết quả là ngay khi còn học ở trường này ông đã gia nhập nhóm bạn sinh viên của hai anh và, mặc dù ít tuổi hơn rất nhiều, đã mau chóng hòa nhập được với họ. Khi ấy ông mới mười sáu, và trong kỳ nghỉ hè ấy ông đã hoàn tất khóa huấn luyện “tình nguyện viên ngắn hạn”. Ông nhỏ tuổi khác thường trong số các thành viên đơn vị dự bị ấy của Freikorps. Hiển nhiên ông không phải tham gia các khóa huấn luyện quân sự thiếu sự chấp thuận của cha mẹ. Do đó, ta có thể yên tâm cho rằng ít nhất họ cũng thông cảm, nếu không nói là tán thành, việc ba con trai mình tham gia tổ chức Freikorps dân tộc chủ nghĩa hữu khuynh. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Julia (22-01-2013) | ||
|
#68
|
|||
|
|||
|
Rõ ràng, cả Ernst cũng nôn nóng chờ có cơ hội cầm súng bảo vệ tổ quốc. Hoặc ông gia nhập Freikorps để chứng tỏ cho hai anh rằng ông không còn là đứa con được cưng chiều trong gia đình, điều mà hai anh vẫn còn nghĩ trong đầu? Gebhard đặc biệt khư khư giữ suy nghĩ ấy; ông viết lại trong “Hồi ký”: “Rất tự nhiên, xét theo sự khác biệt tuổi tác và môi trường ảnh hưởng mà Ernst có do còn là học trò, mối quan hệ giữa em với Heinrich và với tôi không gần gũi như như giữa hai chúng tôi. Hơn nữa, do ra đời muộn nên em bị mẹ nuông chiều quá mức, khiến cả hai chúng tôi, đều đã trải qua tất cả những thứ đó rồi, cùng thấy khó chịu”. Vậy là cả trong “Hồi ký”, được viết khi ông đã già, cũng phản ánh thái độ hơi đàn anh đối với em út của mình, người dường như ông thấy ghen tỵ do ảnh hưởng đặc biệt của cha mẹ với em, và có lẽ bởi vì Thế Chiến thứ I đã cắt đứt thời niên thiếu của ông đột ngột đến vậy.
Cuối tháng 7 Heinrich vượt qua kỳ thi, hoàn thành tốt nghiệp bằng canh nông chỉ trong vòng ba năm. Ông ta đã rút ngắn được thời gian học thông thường được một năm, do tại nhà Rehrl, trong khi thực tập, ông ta đã có được thời gian để học miệt mài. Sau đó ông ta bỏ công tìm kiếm việc làm nhưng gần như vô vọng. Cha ông vẫn còn những mối quan hệ đầy thế lực; trong trường hợp này là Hudezeck, thầy giáo cũ của Gebhard và Heinrich, đã tìm cho ông ta việc làm ở một nhà máy phân bón tại Schleissheim, phía bắc Munich. Mối quan hệ này, dựa trên thực tế đôi bên cùng có lợi, được tiếp tục suốt nhiều năm trời. Mười lăm năm sau Heinrich, theo đề nghị của cha, đã dùng vai trò của mình là Thống lĩnh SS và người đứng đầu cảnh sát Đức để giúp Hudezeck thăng lên chức hiệu trưởng. Mười lăm năm sau nữa Hudezeck giúp lại Gebhard bằng cách cung cấp lời khai miễn tội cho ông này trong thời kỳ Quốc xã. Theo lời Gebhard, tiền công của Heinrich ở Schleissheim là “rẻ mạt”, nhưng ít nhất đó là một vị trí ổn định, điều gần như không thể kiếm được đối với một kẻ vừa bước chân vào thị trường lao động thời ấy. Với Heinrich Schleissheim quá xa Munich, vì vậy ông ta phải đổi chỗ. Khi ấy Gebhard Cha đã được cấp một căn hộ ở tầng trên cùng của trường Wittelsbacher Gymnasium, và đến mùa thu vợ ông cùng với Ernst chuyển đến Munich. Đó là một căn hộ rộng rãi, có sảnh hàng lang dài và ảm đạm. Có đủ phòng cho tất cả gia đình, khiến ít nhất là tiết kiệm được chi phí thuê buồng ngủ cho Gebhard. Quảng trường Marsplatz, nơi có trường Gymnasium, rất gần trung tâm thành phố, nhưng khu dân cư này không hấp dẫn mấy. Ngôi trường, mà ngày nay vẫn còn tồn tại, tọa lạc ven một con đường khu vực khá rộng dẫn ra ngoài thành phố và rất gần nhà ga trung tâm. Vào thời ấy có một doanh trại có bãi đất duyệt binh rộng nằm đối diện ngôi trường. Thời ấy có lẽ ít có tiếng ồn động cơ giao thông, nhưng tiếng ồn do học sinh, tiếng rống các khẩu lệnh từ bãi đất tập và tiếng tàu lửa chuyển hướng có thể nghe thấy được tư trong căn hộ, chưa kể đến tiếng la hét từ những cuộc mít tinh quần chúng ở Zirkus Krone. Heinrich thường từ Schleissheim về Munich, không chỉ để gặp gia đình và bè bạn, mà còn để tham dự những hội nghị chính trị của nhiều nhóm cánh hữu khác nhau. Ông ta có mặt ở Königsplatz khi Hitler phát biểu trước đám đông tuần hành phản đối thuộc Hội Vereinigten Vaterländischen Verbände Bayerns (Hội Liên hiệp Ái quốc Bavaria). Cuộc mít tinh quần chúng, bao gồm khoảng ba mươi ngàn thành viên có vũ trang của nhiều tổ chức cực hữu khác nhau, đã diễn ra dưới khẩu hiệu “Vì nước Đức - chống bọn Berlin” và được hướng đến chống lại “chủ nghĩa Bolshevik Do Thái” mà như họ tuyên bố là đang sử dụng nền cộng hòa để che đậy cho việc củng cố vị thế của mình. Những nhóm cánh hữu đối kháng tại Bavaria đã đoàn kết lại để chống đối chính phủ ở Berlin. Đảng NSDAP – Nationalsozialistische Deutsche Arbeiterpartei, Đảng Quốc gia Xã hội Công nhân Đức, thành lập ngày 5/1/1919 với tên gọi Đảng Công nhân Đức và tồn tại dưới tên gọi này tới tháng 2/1920 – đã tổ chức cuộc mít tinh quần chúng đầu tiên của mình ngày 24/2/1920 tại Hofbräuhaus, một quán bia rộng lâu đời nằm ngay trung tâm Munich. Trước hai ngàn người ủng hộ, lãnh tụ mới bầu của Đảng Adolf Hitler, kẻ tự gọi mình là “người đánh trống” của phong trào cánh hữu, đã tuyên bố hai mươi lăm điểm của chương trình hoạt động của Đảng. Trong đó bao gồm một “nước Đại Đức” cho mọi người thuộc dân tộc Đức, hủy bỏ Hiệp ước Versailles, những kế hoạch cho “ruộng đất” (các thuộc địa) và một cuộc chiến chống lại chủ nghĩa tư bản “Do Thái”. Để thực hiện những yêu cầu này, ông ta khăng khăng, cần tạo ra một quyền lực tập trung mạnh mẽ, thay thế nền dân chủ bằng hệ thống chuyên chế độc tài. Việc Hitler không ngừng trút căm hận lên “bọn tội phạm tháng Mười Một”, những nhà chính trị mà ông ta tuyên bố rằng đã phản bội nước Đức bằng cách đề nghị đình chiến, đã được ngày càng nhiều người tán thành. Chẳng mấy chốc sự xuất hiện của ông ta trên bục có thể kéo người nghe đến đầy kín tòa nhà Zirkus Krone khổng lồ, nơi từ tháng 5 tới tháng 8 1923 ông ta đã diễn thuyết trước đám đông chen kín đến năm lần. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Julia (22-01-2013) | ||
|
#69
|
|||
|
|||
|
Đến lúc này tình hình tại nước Đức ngày càng đi xuống với tốc độ gia tăng đến chóng mặt. Giới trung lưu, với truyền thống tiết kiệm chắt bóp có từ lâu đời, bị ảnh hưởng đặc biệt nặng từ hậu quả của lạm phát. Họ bị thực sự khánh kiệt, dẫn đến nỗi cay đắng vô cùng. Không có gì khiến tầng lớp trung lưu Đức nghiêng về phía Hitler mạnh hơn cuộc lạm phát 1919-1923, như Stefan Zweig đã viết. Thậm chí với một gia đình sung túc như nhà Himmler, cuộc lạm phát phi mã bi thảm 1922-1923 cũng vẫn là một cú sốc bất ngờ. Do quá nhiều tài sản trước đây của họ, mà từ những năm đầu của cuộc hôn nhân đã là thứ đảm bảo an toàn cũng như gây dựng ảnh hưởng, vừa qua bị mất sạch trong trái phiếu chiến tranh, rất có thể là ngay khi chiến tranh vừa kết thúc họ sẽ bắt đầu tích cực tiết kiệm hơn trước. Vậy mà giờ đây những món mới tiết kiệm ấy đã biến thành mớ giấy lộn do lạm phát liên tục. Nhờ có khoản tiền lương hiệu trưởng của Gebhard Cha mà họ có rủng rỉnh tiền tiêu hơn những gia đình khác; nhưng thực ra cũng chẳng có thứ gì để mua được bằng tiền. Tháng 8/1923 đồng dollar đổi được một triệu mark Đức; đến tháng 9 người ta nói tới tỷ giá hàng trăm triệu, tới cuối tháng 10 đã là hàng tỷ.
Tháng 7 năm đó Gebhard tốt nghiệp bằng kỹ sư. Trong những năm cuối đại học ông tập trung học và có điểm xếp loại rất tốt. Mặc dù vậy, cơ hội để kiếm được việc làm gần như bằng không. Để không phải lâm vào cảnh ăn không ngồi rồi ở nhà, mấy tháng cuối năm 1923 ông làm cho một ngân hàng cầm cố và hối đoái vừa phải chuyển nhân viên thường trực sang “đối phó với hàng núi giấy lộn vô giá trị”. Ngày 1/9 Heinrich bỏ công việc tại Schleissheim; đến lúc này tiền lương của ông ta, vốn khá còm cõi, đã không mua nổi bất cứ món gì được nữa. Tuy nhiên, trên tất cả là ông ta nhận ra một cơ hội có thể chứng tỏ bản thân thông qua một cuộc đấu tranh vũ trang. Nhật ký của ông ta thời kỳ này đầy những đoạn viết về mong ước cháy bỏng nhất của mình là khoác lại lên người “bộ đồ ưa thích”, tức bộ quân phục. Ngày 15/9 ông ta gia nhập Đại đội Werner, một đại đội tình nguyện dự bị Bavaria trực thuộc quân đội. Cha mẹ ông ta hẳn đã không vui khi ông ta bỏ việc. Nhưng có lẽ thời này quá hỗn loạn nên họ cũng không còn xem nặng chuyện này nữa. Thế giới xưa của Gebhard và Anna Himmler đã bị rúng động tới tận gốc rễ do mất mát các giá trị vật chất và văn hóa gây nên bởi sự bại trận và quá trình sụp đổ của nền quân chủ. Những khó khăn của các năm đầu thời kỳ cộng hòa, trên hết là cơn khủng hoảng đạt đến đỉnh điểm bi thảm mùa thu năm 1923, có lẽ đã chỉ khiến họ thêm hoài nghi đối với nền dân chủ non trẻ. Ước vọng chân thành của họ có lẽ là sớm khôi phục lại sự ổn định và trật tự. Và, cũng như nhiều nhà tư sản khác, có lẽ họ xem quân đội và các sĩ quan, những người thường xuất thân từ các dòng họ quý tộc lâu đời, là nhóm người duy nhất có thể đảm bảo được chuyện này. Mối lo lắng của họ về tương lai của chính mình bị trầm trọng thêm bởi viễn cảnh xám xịt của các con, bởi cả hai đều đã trải qua những năm tháng như vậy. Hai con lớn của họ đã tốt nghiệp nhưng không có việc làm; những công việc ở đây lương lậu không đủ sống nổi. Mặt khác, con út của họ còn đang chuẩn bị thi tốt nghiệp và mặc dù điểm cao, thậm chí không thể biết liệu có vào được đại học hay không. Đã là cuối năm vậy mà không khí trong gia đình Himmler vẫn thật ủ rũ. Gebhard viết: Những mất mát mà nhân dân Đức đang chịu đựng đang tăng gấp trăm gấp ngàn. Tình hình xấu đi với tốc độ ngày càng tăng, mọi người đều nói mọi chuyện không thể tiếp tục như thế này, nhưng không một ai biết cần phải làm gì để ngăn chặn thảm họa. Heinrich chuyển sang một đơn vị Reichsflagge (Ngọn cờ đế chế) trước khi tôi cũng làm theo, bởi Đại đội dự bị số 14 dường như quá vô thưởng vô phạt. Mọi chiến lược chỉ là kéo nhau đi qua đi lại; do đó tháng 10/1923 Reichsflagge chia ra thành Reichsflagge Cũ ở lại Nuremberg, trong khi chúng tôi tại Munich gia nhập vào Reichskriegsflagge (Ngọn cờ đế chế chiến đấu) do Đại úy Röhm chỉ huy. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Julia (22-01-2013) | ||
|
#70
|
|||
|
|||
|
Mùa xuân 1921 Gustav Ritter von Kahr, Thủ hiến bang Bavaria, dưới áp lực của chính phủ trung ương Berlin đã phải giải tán tổ chức Dân vệ Công dân Bavaria. Hiệp ước Versailles yêu cầu cắt giảm Quân đội Đức xuống còn một trăm ngàn người vào tháng 1/1921. Kết quả là sự sáp nhập vô số “hội ái quốc” cấp tiến, bao gồm Bund Oberland (Hội Oberland) vốn xuất thân từ Freikorps của Epp, và đơn vị Reichsflagge. Nhánh Munich của Reichsflagge là một đơn vị quân sự thực hành kỷ luật nghiêm ngặt, ban đầu chống lại tất cả các nhóm cánh tả, sau đó là chống lại toàn thể hệ thống của Cộng hòa Weimar, và ủng hộ việc tái lập nền quân chủ ở Bavaria. Người đứng đầu của nó là Ernst Röhm.
Chính từ sự khởi xướng của ông ta mà Hội Oberland, Reichsflagge và tổ chức SA Quốc xã đã thành lập Deutscher Kampfbund (Hội Chiến đấu Đức) ngày 1 và 2 tháng 9/1923 tại Nuremberg, với mục tiêu “bằng mọi giá chặn đứng nỗi ô nhục đáng xấu hổ mang tên Hiệp ước Versailles”. Hội Chiến đấu xác định là phải chiến đấu chống lại “chủ nghĩa Mác-xít, bọn Do Thái và hệ thống dân chủ nghị viện”. Adolf Hitler nắm lấy quyền lãnh đạo chính trị ngày 25/9/1923, dẫn tới sự chia tách Reichsflagge vào tháng 10. Những nhóm lớn rời khỏi Hội Chiến đấu, trừ Reichskriegsflagge vẫn còn dưới quyền Röhm, và chấp nhận Hitler làm lãnh tụ chính trị tức “Führer”của mình. Từ năm 1921 Ernst Röhm, đại diện điển hình của thế hệ đã tham gia chiến đấu ngoài mặt trận, đã là một trong những nhân vật chủ chốt của quá trình biến chuyển từ bộ phận bảo vệ an ninh cho Đảng NSDAP của Hitler tại các cuộc mít tinh quần chúng trở thành một tổ chức bán quân sự Sturmabteilung (SA), và ông ta có các mối quan hệ tuyệt hảo với tất cả những tổ chức bán vũ trang khác. Vì là “cố vấn quân khí” nên ban đầu ông ta chịu trách nhiệm về việc đảm bảo bí mật – ở nước Đức đang giải trừ quân bị thì việc này là bất hợp pháp – cho kho vũ khí của Lữ đoàn bộ binh Epp, và từ năm 1921 trở đi chịu trách nhiệm cho toàn bộ quân khu Bavaria, khiến ông ta có biệt danh là “vua đại liên xứ Bavaria”. Năm 1919 Gebhard và Heinrich được chuyển từ Dân vệ Công dân Munich sang Lữ đoàn bộ binh 21; bây giờ thì cả hai – Heinrich từ năm 1922, Gebhard từ đầu năm 1923 – cùng gia nhập Reichsflagge. Qua mấy năm gần đây thái độ của họ không chấp nhận nền cộng hòa nghị viện đã ngày càng chuyển sang quan điểm cấp tiến rõ rệt, và họ ngày càng quyết tâm trong việc sẵn sàng “giải quyết” tình thế chính trị và kinh tế bất ổn bằng vũ lực súng đạn. Không có bằng chứng nào về thái độ của cha mẹ với sự biến chuyển chính trị của hai người con, nhưng thật khó để cho rằng bọn họ có thể chịu sống chung dưới một mái nhà trong khi có quan điểm trái ngược nhau. Cả trong “Hồi ký” của Gebhard lẫn nhật ký của Heinrich đều không có bất kỳ đề cập nào đến sự phản đối của cha mẹ, kể cả khi hai anh em cuối cùng đều tham gia vào cuộc biến chính của Hitler. Ngay từ tháng 9/1923 ở Munich đã có những tin đồn rằng về một cuộc đảo chính sắp xảy ra. Tồn tại một cảm giác lan tràn khắp nơi rằng có điều gì đó sắp xảy ra, và đặc biệt là những thành viên của Hội Chiến đấu đều hết sức căng thẳng chờ đợi. Cả Adolf Hitler cũng thúc giục hành động mau lẹ. Ông ta đang cạn dần nguồn quỹ để hỗ trợ cho SA, các hội dân tộc chủ nghĩa đang đe dọa tách ra theo những hướng khác nhau của riêng họ, và uy tín của ông ta trong đám lính chiến đấu cánh hữu đang có nguy cơ tan biến nếu ông ta không ra tay làm điều gì đó. Trong những ngày tháng đó xứ Bavaria bị cai trị bởi tam đầu chế: Kahr, từ ngày 26/9/1923 là Cao ủy chính quyền với quyền lực gần như độc tài; Hans Ritter von Seisser, đứng đầu cảnh sát Bavaria; và Tổng tư lệnh quân đội xứ Bavaria von Lossow. Bọn họ đều mơ đến cuộc “hành quân về Berlin” – phỏng theo hình mẫu cuộc “hành quân về Rome” của Mussolini – để lập nên một chính phủ dân tộc chủ nghĩa tại đấy. Hitler cố gắng lôi kéo cả ba về phía mình – ông ta cần sự ủng hộ quân sự và ít nhất là sự đồng lõa ngầm của cảnh sát. Tuy nhiên, cuối cùng ông ta quyết định cứ tiến hành không cần đến họ, mặc dù làm một mình có nghĩa là cuộc biến chính của ông ta sẽ thấy rõ không thể thành công. Quyết định tấn công sớm hơn dự tính được ban ra ngày 7/11. Hitler muốn đưa ra một tín hiệu khích động. Ngày mùng 8 tất cả những chính trị gia hàng đầu ở Munich được tập trung ở Bürgerbräukeller để nghe bài diễn văn của Kahr. Với sức chứa ba ngàn người, sảnh bia Bürgerbräukeller ở khu phía đông thành phố ngập tràn tiếng huyên náo. Kahr vừa kết thúc phần đầu bài phát biểu của mình thì Hitler và đám SA của ông ta xông vào tòa nhà và vừa vung khẩu súng lục giữa tiếng náo động không dứt vừa tuyên bố “cách mạng dân tộc”. Tướng von Lossow và Hans von Seisser cho tiến hành đối phó, một việc dù ít dù nhiều đã bóp chết cuộc biến chính từ trứng nước. Giờ đây Hitler và đám SA sắp phải trả giá cho việc vội vàng thiếu chuẩn bị của mình. |
|
#71
|
|||
|
|||
|
Chiều hôm ấy, Đại úy Röhm và đám ủng hộ viên trong Reichskriegsflagge đang tập hợp ở Löwenbräukeller phía bên kia thành phố Munich, chờ có lệnh của Hitler từ quán Bürgerbräukeller. Một liên lạc viên mang chỉ thị tới hướng dẫn chiếm lấy các sở chỉ huy quân sự, vốn nằm ở trung tâm Munich, giữa khu Odeonsplatz và trường đại học. Röhm thực hiện chuyện này thành công, nhưng ông ta quên không chiếm lấy tổng đài điện thoại, nơi tới đêm Lossow đã thông qua đó kêu gọi binh lính trung thành với chính phủ đến hỗ trợ ở khu vực xung quanh. Những cố gắng của phe biến chính muốn chiếm lấy những công thự chính phủ còn lại và các doanh trại đã sụp đổ vì sự thiếu tổ chức của chính họ.
Khi đến cuối buổi sáng ngày 9/11 Hitler cho hai ngàn người phần lớn có trang bị vũ khí xuống biểu tình ở trung tâm thành phố, cuộc biến chính xem như đã thất bại. Cuộc “cách mạng dân tộc” này chỉ thu hút được vài khán giả vãng lai cổ vũ, trong khi những người khác thì chế nhạo họ. Khi đoàn người kéo tới tòa nhà Feldherrnhalle trên quảng trường Odeonsplatz thì một trận đấu súng dữ dội nổ ra, trong đó mười bốn kẻ biến chính và bốn cảnh sát bị giết chết. Hitler suýt bị trúng một viên đạn. Hermann Göring, bị thương ở chân, đã tìm cách chạy qua biên giới Áo cùng một số kẻ đứng đầu biến chính. Julius Streicher, Wilhelm Frick, Ernst Röhm và những kẻ còn lại bị bắt. Hitler bị bắt vào ngày hôm sau trong nhà của chủ nhà in Ernst Hanfstängl và bị đưa về Nhà tù Landsberg, nơi Bá tước Arco-Alley từng chịu án trong căn phòng giam rộng rãi dành cho tù nhân cao cấp. Gebhard và Heinrich cũng tham gia cuộc tụ họp ở Löwenbräukeller, “một buổi chiều thân mật với các đồng chí trong Reichskriegsflagge” như lời Gebhard tả trong “Hồi ký”. Cách mô tả của ông như thể họ chỉ tình cờ có mặt tại Löwenbräukeller, nhưng nhiều khả năng họ cùng với Röhm chờ đợi các mệnh lệnh kế tiếp của Hitler. Đột nhiên, Gebhard ghi lại, một người đưa tin từ Bürgerbräukeller xuất hiện và tuyên bố rằng Hitler cùng với Kahr, Lossow và Seisser, đã tuyên bố thành lập một chính phủ dân tộc chủ nghĩa! Ngày nay người ta không thể tưởng tượng được sự phấn khởi khi tin này được đón chào bởi mọi người có mặt tại đó. Các cụ ông cụ bà nước mắt rưng rưng, thanh niên nhảy cẫng trên mặt bàn, mọi người đều cuồng lên vì phấn khích. Reichskriegsflagge được giao cho nhiệm vụ chiếm lấy Sở chỉ huy Quân khu nằm ở góc phố Ludwigstrasse và Schönfeldstrasse. Ngay lập tức toàn đại đội tập hợp lại thành đội hình và hành quân tới trung tâm thành phố dưới sự chỉ huy của Đại úy Röhm. Khi tới nơi sau nửa tiếng hành quân, theo sau là “đám đông phấn khích trong hầm bia”, trông như thể “mọi việc đều ổn. Chúng tôi không hề lo chuyện gì sắp xảy ra tiếp theo, điều quan trọng là có gì đó đã xảy ra”. Khi họ tới đó “chỉ toàn là binh lính, sinh viên và công nhân yêu nước”, không “nhất thiết trung thành với Hitler”. Trong “Hồi ký”, viết vào thập niên 1970, Gebhard cung cấp mô tả chi tiết về thiên sử thi anh hùng của cuộc Biến chính Hitler, trong đó ông tham gia ở tuyến đầu, sát cánh cùng Heinrich. Đó là bản báo cáo đầy những hồi tưởng nuối tiếc ngày tháng hào hùng của họ và về vai trò của chính ông trong đó. Ông mô tả tiến trình sự kiện diễn ra trong đêm, việc họ cuối cùng bị lính chính phủ bao vây; bằng những tình tiết trìu mến ông ta nhớ lại vị trí chính xác của từng ụ súng máy. Tôi nhìn xuống tấm ảnh nổi tiếng chụp Heinrich đứng cạnh chiến lũy chăng dây thép gai, tay ôm ngọn cờ hiệu của Reichskriegsflagge. Đột nhiên tôi cảm thấy mình nhận ra rõ Gebhard, đứng xa hơn về phía bên phải của tấm ảnh, đầu đội mũ mềm. Về sau khi nhìn lại thì cảm giác ấy không còn rõ nữa. Dù vậy, điều ấy vẫn là có thể. Gebhard tả vô cùng chi tiết về những thời điểm mà ông thấy thật xúc động: đặc biệt là khi một trong các đồng chí của ông “cắm lá cờ hiệu vùng Annaberg của mình” lên chiến lũy. Lá cờ hiệu này vốn được tặng cho các thành viên Freikorps của Epp và Hội Oberland đã cố gắng ngăn chặn việc nhượng lại vùng đất phía đông của Thượng Silesia cho Ba Lan và đã tham gia cuộc trấn áp tàn bạo thành công cuộc nổi dậy của người Ba Lan ở vùng Thượng Silesia. Trận Annaberg tại vùng Erzgebirge, vùng núi trên biên giới Séc-Đức, được đánh giá gần như có vai trò huyền thoại trong giới cánh hữu. Gebhard thậm chí đã tìm cách mô tả khoảng khắc khi phe biến chính đầu hàng như là một khải hoàn: “chúng tôi phải giao nộp tất cả vũ khí và đạn dược, sau đó chúng tôi được tự do rút lui. Tôi phải nói rằng xin ngả mũ tôn trọng đại đội bộ binh đã bắt chúng tôi đầu hàng giao nộp vũ khí. Họ không có động thái nào kể cả lúc sau khi nộp hết súng chúng tôi ném chỗ đạn xuống dưới chân họ đánh xoẻng một cái”. Nhiều năm sau dường như ông vẫn còn tự hào về hành động phô trương đó. Rõ ràng cả Gebhard, cũng như Heinrich, đều có điểm yếu dễ bị kích động khi đề cập tới dân tộc và đất nước Đức, về quân sự và về tình đồng chí đồng đội. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Julia (22-01-2013) | ||
|
#72
|
|||
|
|||
|
Và rồi là lúc rút lui. Ở giữa là Faust đồng đội đã ngã xuống của chúng tôi, được khiêng trên cáng. Chúng tôi muốn đưa anh về cho cha mẹ anh. Chúng tôi lặng lẽ đều bước qua những con phố. Tôi nhớ mãi nụ cười trên khuôn mặt nhiều thị dân đáng kính, trong khi chiều hôm trước chính họ đã hoan hô chúng tôi. Tại phố Theresienwiese chúng tôi gặp một đám công nhân vừa tan ca từ các xưởng máy tại Sendling và đi tìm chúng tôi. Chúng tôi cứ tưởng sẽ có cãi vã. Thật quá sai lầm! Không một lời trách móc. Đám công nhân lặng im đứng nhìn và bỏ mũ xuống khi chúng tôi khiêng người chết đều bước ngang qua; một vài phụ nữ đến chỗ cái cáng và nhẹ nhàng vuốt ve tấm vải phủ xác chết.
Vài hôm sau khi cuộc biến chính thất bại, ngày 15/11, đồng Rentenmark được công bố làm đồng tiền mới (sang năm sau được thay thế bởi đồng Reichsmark). Điều này cuối cùng đã ổn định được đời sống kinh tế, dù phải bù lại là số thất nghiệp gia tăng. Heinrich và Gebhard cũng bị ảnh hưởng bởi chuyện này, do công việc của Gebhard ở ngân hàng đã kết thúc khi không còn hàng núi giấy bạc vô giá trị nữa, và Đại đội Werner, nơi Heinrich từng đặt nhiều kỳ vọng để trở thành quân nhân, bị giải thể sau biến chính. Nhiều cư dân của Munich có cảm tình với cuộc biến chính. Tuy nhiên, sau khi nó thất bại, đám lính xung kích với chữ thập ngoặc biến mất khỏi thành phố. Hitler, Röhm và những người khác phải ngồi tù, Đảng NSDAP bị cấm và phong trào dân tộc chủ nghĩa tan tác. Tuy nhiên, cảm tình với phe cánh hữu cấp tiến vẫn tồn tại. Tại cuộc bầu cử địa phương ở thành phố này ngày 6/4/1924, Völkischer Block, nhóm lớn nhất trong số các tổ chức thuộc phong trào dân tộc cực hữu, nhận được 33 % phiếu bầu, nhiều hơn Đảng Dân chủ Xã hội và Đảng Cộng sản cộng lại. Cùng với cải cách tiền tệ, tình hình chính trị cũng dần dần ổn định, và trong cuộc tổng tuyển cử tháng 12/1924 phe dân tộc chủ nghĩa không còn là một lực lượng bị xem thường nữa. Dù vấn đề chỉ còn là thời gian. HẾT CHƯƠNG 6 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Julia (22-01-2013) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|