|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
|||
|
|||
|
Trích:
Thay đổi nội dung bởi: Hoang_712, 04-09-2010 thời gian gửi bài 21:04 |
|
#2
|
||||
|
||||
|
Trích:
http://actualhistory.ru/51-Phần 1 http://actualhistory.ru/52- Phần 2 http://actualhistory.ru/91 - Phần 3 hoặc là đọc liền 1 mạch tại trang này cũng được: http://russoc.kprf.org/News/0000244.htm Số liệu "2 triệu" đó là sản phẩm tuyên truyền để hạ thấp uy tín của Hồng quân Liên Xô. Nó hoàn toàn phi logic và không đúng với thực tế. Thêm một bài ngắn này nữa, trong đó có tài liệu chứng tỏ Stalin không "ra lệnh cho binh sĩ..." mà ngược lại: http://www.statehistory.ru/32/Mif-o-...vannykh-nemok/ Xin trích dịch luôn chỉ thị của Stalin liên quan đến vấn đề này (bài báo đã dẫn) để Tupolev tham khảo: Nhật lệnh ngày 19/1/1045: "Các sĩ quan và chiến sĩ Hồng quân! Chúng ta đang tiến vào đất nước của kẻ địch. Mỗi người cần tự chủ, mỗi người cần dũng cảm... Không được dùng bạo lực đối với dân chúng còn ở lại những vùng đất chúng ta đã chiếm, bất kể đó là người Đức, người Séc hay người Ba Lan. Những ai vi phạm sẽ bị trừng trị theo luật thời chiến. Trên lãnh thổ đã đánh chiếm không cho phép có quan hệ tình dục với nữ giới. Những ai có lỗi trong hành động bạo lực và hãm hiếp sẽ bị xử bắn. (Приказ Сталина от 19 января 1945 года: Офицеры и красноармейцы! Мы идем в страну противника. Каждый должен хранить самообладание, каждый должен быть храбрым...Оставшееся население на завоеванных областях, независимо от того немец ли, чех ли, поляк ли, не должно подвергаться насилию. Виновные будут наказаны по законам военного времени. На завоеванной территории не позволяется половые связи с женским полом. За насилие и изнасилования будут виновные расстреляны.) Và một chỉ thị khác ngày 20/4/1045 ra lệnh phải đối xử tốt hơn với người dân địa phương và tù binh Đức: Директива Ставки Верховного Главнокомандования командующим войсками и членам военных советов 1-го Белорусского и 1-го Украинского фронтов об изменении отношения к немецким военнопленным и гражданскому населению 20 апреля 1945 г. Ставка Верховного Главнокомандования приказывает: 1. Потребуйте изменить отношение к немцам как к военнопленным, так и к гражданским. Обращаться с немцами лучше. Жестокое отношение с немцами вызывает у них боязнь и заставляет их упорно сопротивляться, не сдаваясь в плен. Гражданское население, опасаясь мести, организуется в банды. Такое положение нам невыгодно. Более гуманное отношение к немцам облегчит нам ведение боевых действий на их территории и, несомненно, снизит упорство немцев в обороне. 2. В районах Германии к западу от линии устье реки Одер, Фюрстенберг, далее река Нейсе (западнее) создавать немецкие администрации, а в городах ставить бургомистров — немцев. Рядовых членов национал-социалистической партии, если они лояльно относятся к Красной армии, не трогать, а задерживать только лидеров, если они не успели удрать. 3. Улучшение отношения к немцам не должно приводить к снижению бдительности и панибратству с немцами. Ставка Верховного Главнокомандования. И.СТАЛИН АНТОНОВ Có lẽ không cần bình luận thêm về những chỉ thị này.
__________________
"Дело ведь совсем не в месте. Дело в том, что все мы - вместе!" Thay đổi nội dung bởi: USY, 04-09-2010 thời gian gửi bài 22:33 Lý do: Thêm tư liệu |
| Có 8 thành viên gửi lời cảm ơn USY cho bài viết trên: | ||
Мужик (04-09-2010), htienkenzo (05-09-2010), hungmgmi (05-09-2010), ngocbaoruss (04-09-2010), Nina (05-09-2010), sad angel (04-09-2010), Sheva (27-01-2012), Vania (04-09-2010) | ||
|
#3
|
|||
|
|||
|
Tupolev 160 bảo "luôn nhìn từ 2 chiều" mà sao chỉ dẫn mỗi 1 nguồn sặc mùi chống cộng vậy? Có lẽ Tupolev 160 nên đổi sang nick Thunderchief F-105 thì hợp hơn (máy bay ném bom Tupolev 160 của LX và Nga chưa giết một mạng người nào của "thế giới tự do", nhưng các máy bay "Thần sấm" F-105 của Mỹ thì giết nhiều phụ nữ và trẻ em Việt Nam theo cộng sản lắm rồi đấy!).
|
|
#4
|
|||
|
|||
|
Uầy, hai bác đang tranh luận về lý tưởng hay là tư tưởng thế nhỉ ? Nhà cháu dốt, rất mong được giải đáp !
|
|
#5
|
|||
|
|||
|
Nhiều nguồn mà
.Chỉ là mình ko nhớ link gốc thôi.Mình ko theo phe nào cả.Lên án Stalin thì chả có liên quan gì đến việc chống cộng cả (Mong bác đi vào vấn đề chính hì hì )
|
|
#6
|
||||
|
||||
|
Vâng ạ, nói như bác thì em nói mấy cũng được. Có câu "nói có sách, mách có chứng" bác à, không có chứng cứ thì có lập luận hùng hồn mấy cũng chả ăn thua, huống hồ luận điệu của bác thì "trên cả sức thuyết phục".
Em nói nhỏ bác ơi, bác phát biểu về chiến dịch Mậu Thân như thế làm em phải đánh một dấu chấm hỏi to đùng rằng bác đã học bài này chưa ạ? Và bác lĩnh hội được bao nhiêu phần trăm hả bác, bây giờ chả nhẽ em lấy dẫn chứng trong sách đánh ra bác nhẩy? (cái phần ý nghĩa lịch sử cuối bài học trong sách lịch sử bác ạ, bác thông cảm, em không nhớ số trang Còn về "lí do để biết ông ta là 1 lãnh đạo mẫu mực" thì em muốn hỏi bác đã đọc hết các bài trong topic này chưa bác nhỉ? Nếu bác chưa đọc, hãy kiên nhẫn đọc rồi rút ra kết luận, nếu bác đọc rồi mà hỏi thế thì em bótay.com.
__________________
А зори здесь тихие Thay đổi nội dung bởi: sad angel, 04-09-2010 thời gian gửi bài 20:16 |
|
#7
|
|||
|
|||
|
.Thế các bác toàn nghe tài liệu tiếng Nga mà ko so sánh với tài liệu phương Tây à.Tất nhiên cũng như người VN người Nga làm cũng giữ ý cho danh dự đất nước 1 tí(nước nào cũng vậy thôi):Ví dụ trận Mậu Thân năm 1968 có ai kêu nó là thành công không mà VN vẫn kỷ niệm,vẫn tung hô nó như 1 ngày chiến thắng đó thôi.Người phương Tây tất nhiên cũng cố gắng bêu xấu nước Nga và CNXH.Nhưng mà hầu như các bài về Stalin mình cũng đều thấy sự tàn bạo của ông ta(sách sử VN làm gì có đề cập vấn đề này).Vậy hãy cho mình lí do để biết ông ta là 1 lãnh đạo mẫu mực đi.Đi vào chủ đề chính nhé đừng có nói là so sánh tài liệu rồi đến máy bay nữa.Mình chán lắm
|
|
#8
|
|||
|
|||
|
Thế bác chứng minh sự thành công trong chiến dịch Mậu Thân cho mình đi nhé
(nếu muốn nhìn 2 chiều thì hãy đọc sách của phương Tây,của người Pháp,người Mỹ chứ người VN ai đời lại nói ra thất bại của mình).Mấy điểm tích cực trong sách lịch sử VN trong chiến dịch Mậu Thân mà đem so sánh với bao nhiêu mạng người.Mình cho rằng đây là trận đánh vô cùng sai lầm.Còn vụ Stalin mình đâu có chối bỏ công lao của ông ấy .Mình chỉ lên án ông ấy thôi vậy thì có gì sai nhỉ ?Mình đem nguồn thì kêu chống cộng. Nguồn của phương Tây,nguồn ko phải của người Nga.Rồi lại đem so máy bay nữa chứ.Bắt bẻ đủ kiểu.Chán chả buồn nói.Tất nhiên mỗi người 1 suy nghĩ khác.Ai cũng cho tài liệu mình đúng cho nên tốt nhất bác nên giữ quan điểm tốt đẹp về Stalin. |
|
#9
|
||||
|
||||
|
Trích:
Tôi cũng có những khẳng định của mình khi nhìn nhận về nhân vật J. Stalin. Nhưng tôi hoàn toàn không chấp nhận cái cách mà bác phán bừa... cái gọi là "xây dựng Chủ nghĩa Phát xít. Biến Hồng quân thành cỗ máy giết người"... Bác có tài liệu nào để khẳng định điều đó không? Bác có "nghe" thấy, ", "nhìn" thấy tài liệu nào nói rằng, Stalin ra lệnh quân đội mình hãm hiếp phụ nữ Đức không? Còn theo tôi, chiến tranh mà! Trên đường chiến dịch, không biết khi nào mình sẽ không còn được sống thì... "quan hệ tình dục" 1 chút thì có gì đâu!(bác có thể xem thêm "Bến không chồng" của Bảo Ninh!) Ai thống kê cho bác được con số khoảng 2 triệu "bị hãm hiếp"? Phóng viên chiến trường chắc? Còn vụ Katyn, bác hãy xem thêm trên Topic về Katyn trong Diễn đàn này! Và hãy xem thêm về căn nguyên của nó! Ba Lan đâu phải "tay" vừa! Ba Lan đã từng xâm lược các quốc gia khác lân cận mình. Ba Lan đã từng "đu dây" nhưng không thành giữa Đức Quốc xã và Liên Xô (trước khi có "Hiệp ước bất tương xâm Xô-Đức" Molotov-Ribentrop). Sau Đệ nhị Thế chiến, Liên Xô cũng đã từng giúp đỡ Ba Lan rất nhiều. Nếu cần, bác có thể "sợc" hình ảnh "Các nước Đông Âu chào đón Hồng quân Liên Xô giải phóng", tôi tin là bác sẽ thấy! Bác lại "lan man" thêm về "Mậu Thân 68"! Bác có thể xem thêm ở đây. Đây là tài liệu của phương Tây. Và, còn nhiều điều về Mậu Thân nữa! Bác cứ việc tra! link:http://sachhiem.net/SACHNGOAI/LeHongPhong.php Tôi muốn bác thật sự cẩn thận khi đưa ra phán xét!
__________________
Không ai, không điều gì được phép bị lãng quên! Thay đổi nội dung bởi: htienkenzo, 04-09-2010 thời gian gửi bài 21:38 |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn htienkenzo cho bài viết trên: | ||
|
#10
|
|||
|
|||
|
Trích:
Nhà cháu thấy các bác ở đây tranh luận loạn lên mà quên mất một điều tối quan trọng trong tranh luận. Đó là những người tham gia tranh luận phải có một điểm gì chung mới tranh luận được bởi nếu chả có gì chung, thời ông bảo cái này màu trắng hả, tôi thì cứ gọi nó là đen đấy, chết thằng Tây đen nào chửa. Rồi thì huề cả lềnh, ý anh anh giữ, ý tôi tôi phát, hết chuyện. Tuy nhiên, nếu đã có tý kiến thức lịch sử và có hiểu biết một chút (một chút thôi là được rồi chứ còn với cái đầu rỗng tuếch, chỉ biết a dua như một con vẹt thời xin miễn bàn) thì có thể thảo luận đôi chút như sau: 1. Về Stalin, lịch sử đã chứng minh và sẽ còn phân tích/chứng minh công-tội của ông nhiều nữa. Cũng còn lâu mới ngã ngũ. Song việc bảo rằng Stalin dung túng hay ác hơn là cho phép Hồng quân Liên xô thả sức hãm hiếp phụ nữ (những 2 triệu!!!, có biết con số 2 triệu nó to thế nào không nhỉ, hơn tổng số người VN ở cả 2 phía chết trong chiến tranh 20 năm từ 1955 đến 1975 đấy, hơn nhiều lần tổng quân số quân đội LX ở Đức năm 1945 đấy ạ) trong vùng chiếm đóng - Đức hay những nước nào đó - thì nhất thiết cần có các minh chứng (văn bản tài liệu lưu trữ có giá trị lịch sử) chứ không thể nói khơi khơi rằng sách này Tây nó nói thế, sách kia ta họ nói vậy được. Sách/báo cũng có ba bảy đường sách/báo, cái này người có học đều biết, chỉ những kẻ chả mấy khi đọc và nhất là chả chịu suy ngẫm mới mù quáng mà tin "sách" thôi. Lại nữa, Stalin xây dựng nhà nước XHCN phát-xít thì lại càng ngây ngô và hàm hồ. Bàn về mấy thứ này là phải có hiểu biết rất tốt về thể chế nhà nước, về cấu trúc thượng tầng và hạ tầng cơ sở của một xã hội, nôm na là phải có lý luận chứ không thể nệ vào vài ba bài/tờ báo nào đó - lá cải hay không lá cải. Thiếu mấy thứ đó, có nói cho cả ngày vị tất đã ngộ ra được. 2. Về Mậu Thân 1968. Cần nhìn nhận tổng quát tình hình lịch sử lúc bấy giờ mới hiểu được ý nghĩa của chiến dịch. Từ 1965, để cứu chế độ VNCH đang chịu sức ép rất mạnh có nguy cơ sụp đổ (xin tìm kiếm các tài liệu liên quan, thí dụ: Tài liệu mật Lầu Năm Góc, bằng tiếng Anh thì với các từ khóa: Secret, Papers, Pentagon), nước Mỹ quyết định tham chiến với quân số tăng dần từ 1965 tới đỉnh điểm hơn 1/2 triệu quân Mỹ vào năm 1968. Những sư đoàn tinh nhuệ bậc nhất của Mỹ đã được tung vào chiến trường Miền Nam VN, cộng với ném bom ác liệt miền Bắc bằng hàng ngàn máy bay tối tân nhất (F105, F4H... và cả B52) từ các căn cứ Cò-rạt (Thái Lan) hay từ Hạm đội 7 ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ. Chính quyền Mỹ ra sức lừa dối nhân dân Mỹ rằng thắng lợi đã trong tầm tay để có thể dốc tiền đóng thuế của người dân Mỹ, đưa con em Mỹ đi vào một cuộc chiến không tuyên bố vạn dặm ngoài xa lãnh thổ Hoa Kỳ. Thắng lợi trong tầm tay ư? Sao mà cứ cần tăng mãi số quân lên thế? Sao mãi cộng sản VN không chịu bó giáo lai hàng để con em Mỹ về nhà được? Năm 1968 là năm có bầu cử ở Mỹ, L. B. Johnson liệu có tiếp tục một nhiệm kỳ nữa không? Lính Mỹ có thể ca khúc khải hoàn ra về không? Bằng cách nào cho đẹp mặt? Người dân Mỹ liệu có chấp nhận tiếp tục cho con em mình đi chết một cách vô nghĩa ở VN để bảo vệ một chính quyền không được lòng dân chăng? Đó là hàng loạt câu hỏi nóng giãy lúc bấy giờ. Chiến dịch Mậu Thân 1968 có mục tiêu chính trị quan trọng là để cho nước Mỹ thấy rằng 1/2 triệu quân chứ 1 triệu quân hoặc hơn, người Mỹ cũng ở trong thế bị động, đối phương có quyền chọn nơi đánh, quy mô đánh và có thể đánh đồng loạt khắp nơi mặc dầu quân số và trang bị kém hơn nhiều lần (kém 4 lần về số quân chủ lực và rất nhiều lần về trang bị/vũ khí). Nghĩa là cuộc chiến ở VN không có lối thoát. Lính Mỹ muốn rút về yên ổn và không xấu mặt (đừng nói là đẹp mặt nhé) thì phải đàm phán. Phái đoàn Mỹ tới lúc đó (cuối 1967) vẫn còn kênh kiệu lắm tại Paris, chỉ muốn đàm phán trên thế mạnh, buộc cộng sản VN đầu hàng!!! Về mặt quân sự, chiến dịch này nhằm tiêu diệt một số lớn lính Mỹ để cho người Mỹ thấy cái giá của cuộc chiến đắt biết chừng nào. Đó là những mục tiêu chính, lớn nhất của chiến dịch Mậu Thân 1968. Có thể về một số mặt có tính chiến thuật hoặc thứ yếu về chiến lược, chiến dịch Mậu Thân chưa đạt được song những mục tiêu quan trọng nhất nói trên đều đã đạt được: 1. L. B. Johnson buộc tuyến bố không ra tranh cử tiếp vì đã không thể thắng trong cuộc chiến, cũng không thể đưa nổi lính Mỹ về nhà với bộ mặt không nhem nhuốc, ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra; 2. Cuộc đàm phán Paris bắt đầu, người Mỹ đã phải buộc công khai ngồi vào bàn đàm phán với các điều kiện phía Mỹ ngày càng xuống nấc trước các sức ép của chiến sự và phong trào phản đối chiến tranh tại chính nước Mỹ. Về thực chất, cuộc hòa đàm này nước Mỹ thực sự chỉ dám cầu hòa với những điều kiện mát mặt chứ không còn hy vọng cầu thắng và 4 năm sau thì kết cục với việc Mỹ buộc phải bỏ rơi VNCH, triệt thoái toàn bộ quân đội về nước (xin xem: Larry Berman - No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger, and Betrayal in Vietnam, có thể tìm đọc bản dịch tiếng Việt của cuốn này: Không hòa bình, chẳng danh dự - Nixon, Kissinger, và sự phản bội ở Việt Nam, nxb. Việt Tide, 2003, do GS. Nguyễn Mạnh Hùng (thuộc ĐH George Mason, Virginia, nguyên thứ trưởng Kế hoạch VNCH) dịch và đích thân Hoàng Đức Nhã (cựu bí thư Tổng thống, nguyên tổng trưởng Dân vận và Chiêu hồi của VNCH) viết lời tựa bản tiếng Việt). Nước Mỹ lần đầu tiên trong lịch sử thua trận. 3. Quân đội Mỹ bị đánh đồng loạt ở hàng chục tỉnh thành, nơi có các căn cứ vững chắc. Lính thủy đánh bộ Mỹ bị vây hãm chui nhủi tại Khe Sanh, suýt nữa thì thành một Điện Biên Phủ, may mà tháo chạy được. Người dân Mỹ choáng váng vì: a) Số lính Mỹ thương vong rất lớn (hơn một chục ngàn lính Mỹ chết, hàng chục ngàn lính Mỹ bị thương - nên nhớ rằng cả cuộc chiến 7 năm qua tại I-rắc, chỉ có hơn 4 ngàn lính Mỹ chết); b) Những hành động thú dữ của lính Mỹ tại Sơn Mỹ (lính Mỹ đã xả súng vào những người dân không tấc sắt, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, ném trẻ em vào ngọn lửa, giết chết mấy trăm dân thường); c) Người Mỹ, chính phủ Mỹ hiểu ra được phần nào ý chí quyết đánh của một dân tộc cương quyết chiến đấu, quyết tâm thống nhất đất nước. Về phía quân đội NĐVN, thương vong cũng không nhỏ. Tuy nhiên, chiến tranh mà mong không thương vong - nhất là phải lấy ít đánh nhiều với kẻ địch có ưu thế vượt trội về vũ khí - thì chỉ có là ngây thơ kiểu cổ tích cho trẻ con. Không thương vong ngồi đấy mà mơ tiêu diệt được địch, buộc được địch phải lùi bước. Không có trận Mậu Thân, Johnson hẳn sẽ đắc cử trong niềm hy vọng chan chứa của cả nước Mỹ rằng lính Mỹ có thể làm chủ chiến trường và dần dà quét sạch được quân đội NDVN, sẽ không có chuyện lính Mỹ rút hết về nước, sẽ không có chấm dứt ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Và rồi sẽ không có chiến thắng Đường 9 - Nam lào 1971 khi quân VNCH vọng động mở cuộc tiến công sang Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 trong niềm hy vọng quân lực VN cộng hòa có thể tự mình tác chiến đánh thắng được quân cộng sản!!!, với kết quả là đại tá dù Nguyễn Văn Thọ vào được tới Sê-pôn thì bị vây chặt không rút ra được nữa, cam chịu bị bắt sống. Sẽ không có mùa hè 1972, dù thương vong còn lớn hơn nhiều, song với kết cục là hiệp định Paris được ký kết, đặc biệt là sau thất bại của chiến dịch Linebacker II, nỗ lực cuối cùng của người Mỹ - trận Điện Biên Phủ trên không trên bầu trời miền Bắc. Và cuối cùng, sẽ không có chiến cuộc 1975 thống nhất đất nước. Chiến dịch Mậu Thân thắng lợi hay không thắng lợi? Chú thích: Các thông tin về chiến dịch Mậu Thân trong bài này đều được lấy từ các tài liệu chính thức của chính phủ Mỹ, Bộ quốc phòng Mỹ, sách do các sử gia có tên tuổi của Mỹ viết. Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 05-09-2010 thời gian gửi bài 01:38 |
| Có 11 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
baodung (09-05-2012), doibo (05-09-2010), Мужик (05-09-2010), htienkenzo (05-09-2010), hungmgmi (05-09-2010), ngocbaoruss (05-09-2010), Nina (05-09-2010), redarmy1990 (21-07-2011), sad angel (07-09-2010), tieuboingoan (07-12-2010), USY (05-09-2010) | ||
|
#11
|
||||
|
||||
|
Thời cải tổ tôi có đọc được chuyện này về Stalin (bằng tiếng Nga) do một thư ký thân cận nguyên thủ viết trong hồi ký. Xin nói trước là không liên quan gì đến các vấn đề các bác đang thảo luận sôi nổi ở trên.
Năm 1943, Mỹ đang ráo riết thực hiện chương trình chế tạo bom nguyên tử và không hề biết phía Liên Xô có chương trình tương tự hay không. Tại Hội nghị Tê-hê-ran, trong một buổi gặp riêng, Tổng thống Mỹ Ru-giơ-ven, vừa để dò la, vừa để nắn gân, đã thông báo với Stalin rằng: "Nước Mỹ chúng tôi đã thử nghiệm thành công bom nguyên tử!" Nghe dịch xong, Stalin lạnh buốt sống lưng, nhưng ông rất bình thản lấy tẩu hút thêm một hơi và lạnh lùng trả lời: "Cám ơn đã cho biết thông tin" (Спасибо за информацию!). Người thư ký viết rằng, không biết thế giới sẽ ra sao nếu như Ru-giơ-ven biết Stalin đã "lạnh buốt sống lưng". Sau khi rời Tê-hê-ran, ngay lập tức Stalin ra lệnh nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST! |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên: | ||
ngocbaoruss (04-09-2010), sad angel (04-09-2010) | ||
|
#12
|
||||
|
||||
|
Trích:
Không biết tôi nhớ có nhầm không? Tôi đã từng được xem bộ phim "Tehran '43"(Phim này không phải chỉ 1 mình Liên Xô sản xuất). Hình như trong ấy có đoạn Ru-zơ-ven "nắn gân" Stalin và đã quan sát rất kỹ khuôn mặt của ông ấy. Nếu như, chỉ cần Stalin có một chút biểu hiện "hoảng hốt" nào đó thì... thôi rồi! Trở về đất nước, ông ấy (Stalin) đã ra lệnh một cách triệt để cho các nhà khoa học Xô viết bằng mọi cách phải nghiên cứu chế tạo thành công bom nguyên tử trong thời gian được Stalin hạn định một cách sớm nhất-không cần phải trình bày lý do gì cả! Còn về "Mậu Thân 68", bác ngbinhdi đã đưa ra những luận cứ, theo tôi là chính xác! Hoa Kỳ và đồng minh đã "thất bại nặng nề" bởi Chiến dịch ấy và đó là tiền đề để họ bước chân vào "Hiệp định Paris" cùng với sự kiện "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm 1972. Trên bàn cờ như thế, việc "bỏ của chạy lấy người" vào năm 1973 cũng như Thắng lợi của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 xảy ra là tất yếu!
__________________
Không ai, không điều gì được phép bị lãng quên! |
|
#13
|
||||
|
||||
|
Trích:
Nhận định của giới sử học phương Tây về cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ![]() 10/24/2010 TS. PHAN VĂN HOÀNG ![]() Khi nghiên cứu cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, giới sử học phương Tây đều nhất trí nhận định tầm quan trọng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 mà họ gọi là “cuộc tiến công Tết” hay – ngắn gọn hơn – “Tết”. Chẳng hạn: Đây là “những trận đánh đẫm máu nhất của chiến tranh” (George C. Herring) (1), đây là “một trong những trận đánh có tính quyết định nhất trong lịch sử nước Mỹ” (Phillip B. Davidson) (2), đây là một trong “những trận đánh có tính quyết định nhất của thế kỷ XX” (Noble Frankland và Christopher Dowling) (3)… Trong các cuốn sách của họ, họ thường dành một chương để đề cập đến sự kiện lịch sử này. Một vài tác giả viết hẳn một cuốn sách, như The Tet Offensive – Intelligence Failure in War (của James J. Wirtz, xuất bản tại New York năm 1991), After Tet – The Bloodiest Year in Vietnam (của Ronald H. Spector, xuất bản tại New York năm 1993)… và nhất là cuốn sách nổi tiếng của Don Oberdorfer với nhan đề ngắn gọn mà độc đáo: TET! (do nhà xuất bản Doubleday & Company tại New York ấn hành năm 1971, dày ngót 400 trang). Hầu hết các nhà sử học nhất trí nhận định sự kiện này vừa là thất bại, vừa là thắng lợi của bên này hay bên kia: “Có lẽ chỉ có trong cuộc tiến công Tết mà bên thua hoàn toàn xét về ý nghĩa chiến thuật lại có một thắng lợi trội hơn hẳn về mặt tâm lý và, vì thế, cả về mặt chính trị nữa” (Bernard Brodie) (4). “Về mặt quân sự, Tết là một chiến thắng rõ ràng của Mỹ; về mặt tâm lý, đó lại là một sự đảo ngược có tính quyết định” (Michael Maclear) (5). Tết là “một chiến thắng quân sự của Mỹ, biến thành một thất bại chính trị và tâm lý đối với Mỹ” (Phillip B. Davidson) (6). “Một số người quan sát phương Tây cho rằng cuộc tiến công Tết là một thất bại [của Việt Cộng]… Một số người khác lại chỉ ra tác động tâm lý của cuộc tiến công đối với dư luận công chúng ở Mỹ và ảnh hưởng to lớn đối với chính sách của Mỹ, xem đó là một chỉ dẫn cho thấy cuộc tiến công là một thành công nổi bật [của Cộng sản]” (William J. Duiker) (7). “Mặc dù xét về mặt kỹ thuật, cuộc tiến công Tết là một thất bại quân sự đối với Mặt trận dân tộc giải phóng, nhưng về mặt chính trị, nó được xem là một chiến thắng” (Marilyn B. Young, John J. Fitzgerald và A. Tom Grunfeld) (8). Cộng sản “không hoàn thành các mục tiêu quân sự của họ trong cuộc tiến công Tết… nhưng đồng thời, nhiều nhà quan sát xem cuộc tiến công Tết như là một chiến thắng tâm lý xuất sắc đối với đối phương, một thắng lợi chính trị vẻ vang đối với họ tại nước Mỹ” (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War) (9). “Cuộc tiến công Tết là một thảm họa về mặt chiến thuật đối với Cộng sản… Nhưng thảm họa về mặt chiến thuật không có nghĩa là thất bại về mặt chiến lược. Quả thật, Tết là một thắng lợi chiến lược áp đảo của Cộng sản” (James S. Olson và Randy Roberts) (10)… ![]() Quốc huy Hợp chủng quốc Hoa Kỳ tại Tòa đại sứ Mỹ. 1. CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN LÀ MỘT THẤT BẠI QUÂN SỰ CỦA CỘNG SẢN Theo Stanley Karnow, Cộng sản “tấn công vào các thành phố và thị xã với hi vọng rằng một bộ phận của chính quyền đô thị trong chế độ Miền Nam sẽ quay ra chống lại Mỹ. Và mưu toan của họ muốn phá vỡ những cố gắng bình định là nhằm lôi kéo các viên chức ở nông thôn về phía họ. Họ cũng tin rằng Miền Nam Việt Nam đã chín muồi với cách mạng, và rằng những người lính mỏi mệt của chính phủ [Sài Gòn], những nông dân bị dời chỗ ở, những giáo phái thất vọng, những thanh niên cứng đầu và những phần tử bất hạnh khác trong dân chúng Miền Nam sẽ nổi dậy chống lại chính quyền Sài Gòn và người Mỹ… Họ hi vọng lật đổ chế độ Sài Gòn và xúc tiến việc thành lập một chính phủ liên hiệp trung lập, do những người đại diện của Việt Cộng chi phối, chính phủ này sẽ đuổi Mỹ đi, đưa Việt Nam lên con đường tái thống nhất dưới sự kiểm soát của Cộng Sản”(11). Vì vậy, vẫn theo Stanley Karnow, Cộng sản “lần đầu tiên đã chuyển chiến tranh từ môi trường nông thôn đến một đấu trường mới – đó là khu vực thành thị được cho là không thể đánh chiếm được ở Miền Nam Việt Nam”. Đây là “một loại hình chiến tranh rất khác… Họ đã chiến đấu một cách ngoan cường, đôi khi mù quáng, và thường bỏ rơi các chiến thuật linh hoạt của họ để giữ những vị trí không thể giữ được. Tại nhiều nơi, họ nhanh chóng bị đè bẹp bởi sức mạnh quân sự quá mạnh của Mỹ và Nam Việt Nam”(12). Các nhà sử học phương Tây đều nhất trí nhận định: “Cuộc tổng tiến công thất bại với thương vong to lớn” (Phillip B. Davidson) (13). “Có người ước lượng số thương vong lên tới 40 000” (George C. Herring)(14) hay “45 000 người trong tổng số 84 000 người mà họ sử dụng trong các cuộc tiến công” (Phillip B. Davidson)(15) , tức khoảng 1/2 lực lượng tiến công (William J. Duiker)(16). Không chỉ bộ đội hi sinh, mà ở thành thị “cán bộ lãnh đạo chính trị xuất đầu lộ diện trong các cuộc tiến công” cũng bị tổn thất (Phillip B. Davidson)(17), trong khi đó ở nông thôn “tổ chức chính trị của Cộng sản Miền Nam bị phá vỡ bởi chương trình Phượng Hoàng của CIA” (Stanley Karnow)(18). “Họ không hoàn thành bất cứ mục tiêu lớn nào của họ” (James S. Olson và Randy Roberts)(19). Một mặt, “họ không thể thiết lập những vị trí vững chắc trong vùng đô thị” (George C. Herring)(20), “cuối cùng bị đẩy ra khỏi các thành thị lớn” (Chester L. Cooper)(21), “chính phủ [Thiệu] nắm lại quyền kiểm soát đại đa số các thành phố và thị xã (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War)(22). Ở nông thôn cũng vậy, “trong vòng một năm, quân đội Việt Nam cộng hòa đã chiếm lại phần lớn những khu vực bị mất vào tay lực lượng nổi dậy và lại tiếp tục các cuộc hành quân bình định” (William J. Duiker)(23). Mặt khác, “không chỉ cuộc tổng tiến công… gặp thất bại, mà cuộc tổng khởi nghĩa cũng không hề xảy ra” (Phillip B. Davidson)(24). “Người dân Miền Nam không chịu theo Việt Cộng, ngay tại những thành thị mà Việt Cộng tạm thời cai trị” (Phillip B. Davidson)(25). “Họ không nổi dậy [chống Mỹ – Thiệu] và không đón tiếp Việt Cộng như những người đến giải phóng họ” (James S. Olson và Randy Roberts)(26). Ngược lại, theo Phillip B. Davidson, “họ ủng hộ chính phủ Nam Việt Nam”(27). “Quân đội Việt Nam cộng hòa không đầu hàng hay đào ngũ” (Phillip B. Davidson)(28), “chính phủ Nam Việt Nam không sụp đổ” (James S. Olson và Randy Roberts)(29). “Các đơn vị quân sự Việt Cộng gồm phần lớn người dân bản xứ Miền Nam đã chịu gánh nặng chính của cuộc chiến đấu và bị thương vong nặng nề nhất” (Stanley Karnow)(30). Do đó, “sau cuộc tiến công Tết, quân chính qui Miền Bắc Việt Nam đảm nhận một nhiệm vụ lớn hơn nhiều trong chiến đấu” (James S. Olson và Randy Roberts)(31). Vì vậy, “trong những năm sau đó, quân chính qui Miền Bắc Việt Nam ngày càng đông hơn ở nông thôn Miền Nam” (nhóm tác giả The Lessons of Vietnam War)(32). Là một sĩ quan quân báo cao cấp của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam, Phillip B. Davidson lập luận: Thay vì phân tán lực lượng để tiến công hàng chục thành thị khắp Miền Nam, Cộng sản sẽ có nhiều cơ may chiến thắng nếu tập trung quân số khoảng 4 hay 5 sư đoàn để mở các cuộc tiến công chủ yếu vào hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, đồng thời mở các cuộc tiến công thứ yếu vào Tây Nguyên, các tỉnh ven biển Trung Bộ và vùng xung quanh Sài Gòn để kìm chân quân Đồng minh. Theo Phillip B. Davidson, Quảng Trị và Thừa Thiên gần vĩ tuyến 17 nên công việc hậu cần và yểm trợ từ Miền Bắc và từ vùng giải phóng Lào sẽ dễ dàng hơn. Khi cần rút lui, quân Cộng sản cũng nhanh chóng rút về Miền Bắc hay sang Lào. Khe Sanh có nhiều đặc điểm giống Điện Biên Phủ. Nếu ngay từ đầu, Cộng sản dùng một lực lượng lớn tiến công thì có thể tràn ngập Khe Sanh một cách dễ dàng. Sau khi mở cuộc tiến công Tết, việc chiếm Khe Sanh trở nên khó khăn hơn. Vẫn theo Phillip B. Davidson, Cộng sản không chọn cách đánh này, vì tuy có nhiều lợi điểm, nhưng chỉ có tiến công quân sự mà không có khởi nghĩa của quần chúng (33). ![]() Johnson và McNamara lo lắng đối phó cuộc tổng tiến công. 2. CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN LÀ MỘT THẮNG LỢI TÂM LÍ VÀ CHÍNH TRỊ CỦA CỘNG SẢN. Mãi cho đến cuối năm 1967 – đầu năm 1968, các viên chức Mỹ ở Sài Gòn cũng như ở Washington đều đưa ra những lời tuyên bố lạc quan về tình hình Miền Nam Việt Nam. Tiêu biểu là tuyên bố của phó tổng thống Hubert H. Humphrey: “Chúng ta đang bắt đầu chiến thắng trong cuộc đấu tranh này. Chúng ta đang ở thế chủ động. Chúng ta đang giành được đất đai. Chúng ta đang tiến bộ vững chắc” (34). Do đó, khi xảy ra cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, nhất là khi các chiến sĩ biệt động Sài Gòn tiến công Tòa đại sứ Mỹ, phía Mỹ vô cùng bàng hoàng. Tướng David Richard Palmer cho biết: “Một sách giáo khoa về lịch sử quân sự in năm 1969 và được các học viên Học viện quân sự West Point [Mỹ] sử dụng trong việc nghiên cứu chiến tranh Việt Nam, viết: Điều đầu tiên cần nói về cuộc tổng tiến công… là tình báo của Đồng minh đã thất bại ngang với trận Trân Châu cảng năm 1941 và trận tiến công Ardennes năm 1944. Bắc Việt Nam đã giành được sự bất ngờ hoàn toàn” (35). Ban tư vấn về tình báo nước ngoài của tổng thống Mỹ (PFIAB) nhận định: “Mặc dù đã được cảnh báo, nhưng [Mỹ] đã không lường trước được một cách đầy đủ tính cách mãnh liệt, sự phối hợp và thời điểm của cuộc tiến công của đối phương. Đại sứ Bunker và tướng Westmoreland thừa nhận điều đó”. Theo PFIAB, “yếu tố quan trọng nhất là thời điểm: có ít viên chức Mỹ và Việt Nam [cộng hòa] tin rằng đối phương sẽ tiến công trong dịp Tết… Yếu tố bất ngờ lớn thứ hai là số lượng các cuộc tiến công được mở ra cùng một lúc… Quan trọng hơn là không đoán được tính chất của các mục tiêu [bị tiến công]” (36). Người Mỹ đầu tiên bị bất ngờ là Ellsworth Bunker, vì chính tòa đại sứ của ông ta bị tiến công rất sớm. Ông tâm sự: “Những báo cáo của tướng Westmoreland gửi cho tôi đều viết: về mặt quân sự, Mỹ đang kiểm soát tình hình”. Vì vậy, khi các cuộc tiến công nổ ra, ông cảm thấy “kinh ngạc vì có nhiều người xâm nhập vào thành phố như vậy, kinh ngạc vì họ lọt được vào bên trong khuôn viên Tòa đại sứ” (37). Khi tin tức bay về Washington, “cuộc tiến công Tết khiến Johnson sửng sốt. Cả tin vào phần lớn các báo cáo cho rằng Cộng sản đã bị làm suy yếu, ông ta không bao giờ tưởng tượng rằng họ lại có thể đột kích vào Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn hay tiến công các thành thị ở Miền Nam” (38). Báo chí – bao gồm báo viết, báo nói và nhất là báo hình – đã đưa chiến tranh Việt Nam đến tận nhà người dân Mỹ. George C. Herring nhận định: “Trong chừng mức Bắc Việt Nam có ý định tiến công Tết để gây ảnh hưởng đối với nước Mỹ thì họ đã thành công, vì cuộc tiến công đã tạo ra những làn sóng chấn động ngay lập tức trong toàn nước Mỹ. Những bài tường thuật trên truyền hình về các trận đánh đẫm máu ở Sài Gòn và Huế chế giễu các báo cáo đầy lạc quan của Johnson và Westmoreland hồi cuối năm [1967], làm tăng thêm sự thiếu niềm tin, và những nhà báo công khai nhạo báng điều mà Westmoreland tự cho là chiến thắng” (39). Các tác giả cuốn The Lessons of Vietnam War cũng xác nhận “Tác động lớn nhất của Tết… được cảm nhận ở nước Mỹ. Tin tức về các trận đánh trên đài truyền hình đã vẽ nên một bức tranh khác xa những báo cáo tô màu hồng của các người phát ngôn của chính phủ. Đa số người Mỹ không bao giờ nghĩ rằng những người Cộng sản ở Nam Việt Nam lại đủ mạnh và cả gan tiến công các thành thị hay đột kích Tòa đại sứ Mỹ” (40). “Tính chất dũng cảm táo bạo của cuộc tiến công Tết đã phủ nhận hình ảnh một đối phương kiệt sức và sắp bị đánh bại”(41) như chính quyền Johnson rêu rao, do đó “sau Tết, niềm tin của công chúng [Mỹ] đối với sự lãnh đạo của tổng thống Johnson bị xói mòn nghiêm trọng”(42). Cho đến cuối năm 1967, lực lượng quân sự Đồng minh có 1 343 800 quân (gồm 485 600 quân Mỹ, 798 800 quân Nguyễn Văn Thiệu, 47 830 quân Hàn Quốc, 6 820 quân Australia, 2 200 quân Thái Lan, 2 020 quân Philippines và 530 quân New Zealand)(43), tất cả đều được trang bị với vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại. Mỹ vẫn thường tuyên bố: cả chiến lược “tìm và diệt” lẫn chương trình bình định của họ đã và đang thành công. Chester L. Cooper viết: Với cuộc tiến công Tết, “một điều hiện ra rõ ràng: bất chấp những chương trình bình định đầy tham vọng và những luận điệu lạc quan về sự tiến bộ, Cộng sản dường như vẫn kiểm soát được nông thôn Việt Nam nên có thể đi lại tùy theo ý muốn của họ. Rõ ràng là các nỗ lực [của Mỹ] trong 2 hay 3 năm qua nhằm củng cố vùng thôn quê chống lại Cộng sản tiến công hay xâm nhập trở thành vô ích”(44). Nhận định của Chester L. Cooper tương tự với ý kiến của Ban tư vấn về tình báo nước ngoài của tổng thống Mỹ (PFIAB): “Tại sao 84 000 bộ đội Việt cộng và Bắc Việt Nam di chuyển ngang qua vùng nông thôn để áp sát các thành thị mà nông dân [Nam] Việt Nam không báo cho chính quyền Sài Gòn hay quân Đồng minh hay biết? Thế thì chương trình bình định nông thôn đã tranh thủ được con tim và khối óc của người dân đến đâu? Ở nông thôn, Việt Nam cộng hòa hay Việt Cộng kiểm soát nhiều đất đai hơn, tranh thủ được nhiều người dân hơn?”(45). Chester L. Cooper viết tiếp: “Ngay cả đô thị, nơi mà cho đến nay vẫn được xem là nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền [Thiệu], vẫn có thể bị tấn công như thường”(46). Báo chí Mỹ lúc đó phản ánh suy nghĩ của đa số người Mỹ về cuộc chiến tranh mà chính phủ của họ đang tiến hành ở Việt Nam: “Nhân dân Mỹ sẽ phải sẵn sàng để thừa nhận viễn cảnh theo đó toàn bộ nỗ lực [của Mỹ] ở Việt Nam có thể sẽ thất bại” (Báo Wall Street Journal)(47). “Chiến tranh [của Mỹ] ở Việt Nam là không thể thắng được. Chiến tranh ấy càng kéo dài thì người Mỹ càng chịu tổn thất và nhục nhã” (nhà báo Joseph Kraft)(48). “Một chiến lược tiếp tục làm như cũ là điều không thể tha thứ được” (Tuần báo Newsweek)(49). Các tác giả The Lessons of Vietnam War nhận định: “Tết đã làm thay đổi ý kiến của công chúng dứt khoát chống lại chiến tranh… Số người ủng hộ chiến tranh giảm mạnh từ 62% xuống còn 41%. Lần đầu tiên trong thời kỳ chiến tranh, số người chủ hòa chiếm đa số, hầu như tăng gấp đôi chỉ trong vòng 1 tháng (từ 23% lên 43%)”(50). Nhiều người trước kia là “diều hâu”, nay biến thành “bồ câu”. Dean Rusk, bộ trưởng ngoại giao Mỹ trong hai chính phủ Kennedy và Johnson, nhìn nhận: “Sau cuộc tiến công Tết, có một điều rất rõ ràng là nhiều người dân bình thường [ở Mỹ] cuối cùng đi tới kết luận rằng: nếu chúng ta [tức chính phủ Mỹ] không thể nói cho họ biết lúc nào cuộc chiến tranh này kết thúc thì chúng ta nên vứt nó đi”(51). ![]() Johnson với bản tuyên bố ngày 30/3/1968. Tại hội nghị chọn ứng cử viên của Đảng Dân chủ ra tranh cử chức tổng thống (tổ chức tại New Hampshire tháng 3-1968), thượng nghị sĩ Eugene McCarthy, một người chưa có tiếng tăm bao nhiêu, đã giành được 300 phiếu nhờ chủ trương đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam. “Ngày càng có nhiều người [Mỹ] tin rằng gửi quân sang Việt Nam là một sai lầm… Nhiều người [Mỹ] yêu cầu chính quyền Johnson rút khỏi Việt Nam”(52). Nhà báo nổi tiếng của hãng CBS, Walter Cronkite, đề nghị: “Cách hợp lí duy nhất để thoát ra [khỏi chiến tranh Việt Nam] là thương thuyết, không phải với tư cách những người chiến thắng, mà như những người chính trực làm điều tốt nhất họ có thể làm”(53). Tổng thống Johnson lâm vào cảnh bối rối khi phải đối phó cùng một lúc với diễn tiến quân sự ở Việt Nam và với tình hình chính trị ngay tại nước Mỹ trong năm bầu cử tổng thống. Đầu tháng 2-1968, tướng Westmoreland đề nghị ông gửi thêm 206 000 quân sang Việt Nam. Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, tướng Earl D. Wheeler, ủng hộ đề nghị này. Bản thân Johnson cũng thấy “bác bỏ yêu cầu này có thể là nguy cơ dẫn tới thất bại trên chiến trường”(54). Nhưng muốn đáp ứng nó, Johnson phải chấp nhận gọi quân dự bị nhập ngũ, tăng thêm thuế, cắt giảm nhiều chương trình phúc lợi xã hội cho người dân Mỹ…, nghĩa là chấp nhận sự thất cử của Đảng Dân chủ. Sau nhiều ngày đêm suy nghĩ, Johnson quyết định bác bỏ yêu cầu tăng quân của Westmoreland. Theo Chester L. Cooper, “đây là lần đầu tiên tổng thống dường như không còn tin rằng, về mặt quân sự, Mỹ đang đi đúng đường”(55). Ngày 31/3/1968, Johnson chính thức đề nghị với chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến hành ngay cuộc đàm phán để thương thuyết việc chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình. Đáp ứng điều kiện tiên quyết do đối phương đặt ra, Johnson chấp nhận ngưng ném bom Miền Bắc trong hai bước: một phần (31/3/1968) và hoàn toàn (31/10/1968). Các quyết định này mở đầu cho sự cáo chung của chiến lược “hai gọng kìm” (tìm – diệt và bình định) của chiến tranh cục bộ ở Nam Việt Nam. Đây là chiến thắng quan trọng nhất của cuộc tiến công Tết như William J. Duiker viết: “Tết dẫn tới một sự thay đổi quan trọng trong chiến lược chiến tranh của Mỹ”(56). Ngoài sự “phá sản hiển nhiên” của chiến lược cũ và đi tìm chiến lược mới, Phillip B. Davidson còn nói tới sự kết thúc của chiến tranh phá hoại lần thứ nhất ở Miền Bắc và “sự gần như diệt vong của chương trình bình định”(57) như là những kết quả khác của cuộc tiến công Tết. Đi đôi với sự thay đổi chiến lược là sự thay đổi nhân sự ở cấp cao. Tổng thống Johnson ký giấy cho bộ trưởng quốc phòng McNamara rời Lầu Năm Góc, cho tổng chỉ huy MACV Westmoreland rời “Lầu Năm Góc phương Đông” và sau đó tuyên bố rời Nhà Trắng khi mãn nhiệm kỳ tổng thống chứ không tìm kiếm sự tái tranh cử. Trong những ngày đầu xuân cách nay tròn 40 năm, bằng xương máu của chính mình, quân và dân Việt Nam đã viết nên một trang sử vẻ vang mà ngay cả giới sử học phương Tây cũng phải thừa nhận là “một bước ngoặt quan trọng trong chiến tranh Việt Nam”(58), “có tác động to lớn đối với nước Mỹ và dẫn tới một thời kỳ mới trong cuộc chiến tranh tưởng chừng như vô tận này”(59). Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12/2007 ________________________________________ Tham luận tại Hội thảo khoa học “Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu thân 1968”do Bộ Quốc phòng tổ chức ở thành phố Huế, 10-11/1/2008 Cựu chiến binh, Giảng viên Đại học, Tổng thư ký Hội khoa học lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Tham luận được in trong sách Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, NXB Quân đội Nhân Dân, Hà Nội, 2008, từ trang 977 đến trang 989.(1) George C. Herring, America’s Longest War – The United States and Vietnam 1950 – 1975, NXB McGraw – Hill, New York, 1979, tr. 206. (2) Phillip B. Davidson, Vietnam at War – The History 1946 – 1975, Oxford University Press xuất bản, New York, 1988, tr. 473. (3) Noble Frankland và Christopher Dowling (chủ biên), Decisive Battles of the Twentieth Century, London, 1976. (4) Bernard Brodie, “The Tet Offensive”, trong Frankland và Christopher Dowling (chủ biên), sđd, tr. 321. (5) Michael Maclear, Vietnam: The Ten Thousand Day War, NXB Thames Methuen, London, 1984, tr. 274. (6) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 473. (7) William J. Duiker, Vietnam – Nation in Revolution, NXB Westview Press, Colorado, 1983, tr. 63, 64. (8) Marilyn B. Young, John J. Fitzgerald và A. Tom Grunfeld, The Vietnam War – A History in Documents, Oxford University Press xuất bản, New York, 2002, tr. 86. (9) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, Center for Social Studies Education xuất bản, Pennsylvania, 1988, tr. 19. (10) James S. Olson và Randy Roberts, Where the Domino Fell – America and Vietnam, 1945 to 1995, NXB Brandywine Press, New York, 1999, tr. 187. (11) Stanley Karnow, Vietnam, A History – The First Complete Account of Vietnam at War, NXB Penguin Books, New York, 1983, tr. 537. (12) Stanley Karnow, sđd, tr. 523, 525. (13) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475. (14) George C. Herring, sđd, tr. 208. (15) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475. (16) William J. Duiker, sđd, tr. 64. (17) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475. (18) Stanley Karnow, sđd, tr. 534. (19) James S. Olson và Randy Roberts, sđd, tr. 187. (20) George C. Herring, sđd, tr. 208. (21) Chester L. Cooper, The Lost Crusade – America in Vietnam, NXB Dodd, Mead & Company, New York, 1970, tr. 388. (22) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 22. (23) William J. Duiker, sđd, tr. 64. (24) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475. (25) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475. (26) James S. Olson và Randy Roberts, sđd, tr. 187. (27) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475. (28) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 475. (29) James S. Olson và Randy Roberts, sđd, tr. 187. (30) Stanley Karnow, sđd, tr. 534. (31) James S. Olson và Randy Roberts, sđd, tr. 187. (32) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 22. (33) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 481. (34) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 21. (35) David Richard Palmer, Summons of the Trumpet, NXB Presido Press, California, 1978, tr. 179. (36) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 479. (37) Michael Maclear, sđd, tr. 276. (38) Stanley Karnow, sđd, tr. 547. (39) George C. Herring, sđd, tr. 209. (40) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 22. (41) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 20. (42) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 22. (43) Shelby L. Stanton, Vietnam Order of Battle, NXB Galahad, New York, 1987, tr. 333. (44) Chester L. Cooper, sđd, tr. 388. (45) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 481. (46) Chester L. Cooper, sđd, tr. 388. (47) James S. Olson và Randy Roberts, sđd, tr. 187. (48) George C. Herring, sđd, tr. 218. (49) George C. Herring, sđd, tr. 218. (50) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 5. (51) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 19. (52) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 22. (53) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 19. (54) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 23. (55) Chester L. Cooper, sđd, tr. 390. (56) William J. Duiker, sđd, tr. 64. (57) Phillip B. Davidson, sđd, tr. 473. (58) Nhiều tác giả, The Lessons of Vietnam War, tr. 18. (59) George C. Herring, sđd, tr. 204. Link: http://honvietquochoc.com.vn/Tu-lieu...uoc-tong-.aspx
__________________
Không ai, không điều gì được phép bị lãng quên! |
|
#14
|
||||
|
||||
|
Mời các vị đi vào chủ đề chính.
Về tôi , tôi nghĩ về Stalin thế này: Stalin là người rất cứng rắn và độc tài. Chỉ xét đến 5/8 nguyên soái, 3/4 số tướng cấp sư đoàn trở lên và nhiều người khác trong đó người có công lớn thứ 2 sau Lênin (và là tổng chỉ huy quân đội) Trosky, Tổng tham mưu trưởng Tukhachépxky cũng bị giết. Phần lớn các nhà khoa học hàng đầu của Lx như Korolev (tàu vũ trụ), Tupolev (máy bay TU), Landao, Kurtratov (bom hạt nhân, khinh khí) và rất nhiều người khác phải ngồi tù. Một số người doanh nhân kỹ thuật hàng đầu khác phải chạy sang Mỹ: Sikorsky (máy bay trực tăng), Rượu vodka, vô tuyến truyền hình, và các tay nông dân giỏi nghề gọi là Kulắc, các chủ xưởng, tiệm ăn, bác sĩ, kỹ sư (Thép đã tôi thế đấy)...bị tiêu diệt, nhục hình.Bên cạnh đó, nước Nga rộng lớn, đất đai màu mỡ, giàu tài nguyên, con người thông minh cần cù, nhưng họ có được sung sướng lắm không. Năng suất lao động thấp, lương thấp, nhu cầu cho cuộc sống luôn thiếu (xếp hàng mọi lúc, mọi nơi), hàng hóa xấu và luôn khan hiếm...Bản thân tôi đây đã từng ở Nga có được sung sướng với di sản Stalin? Đi đâu cũng phải xin vi sa, cứ như bị giam lỏng, gửi quà về cho gia đình cũng không được, đi sang tư bản chơi: đừng mơ.Tốt nghiệp ĐH, ở lại làm mấy năm cho thạo nghề, quen mối làm ăn: không biết phải làm sao. Ở các nước Tư bản có thế không? Hồng quân LX cứu Đông âu, Cứu Do thái, Stalin công đầu lập Israel...Vâng, họ cám ơn. Nhưng cuối cùng thì sao: Chúng tôi chán ngấy LX rồi. Vậy thì những người gây ra nghịch lý đó họ có bị trừng phạt không? Không hề. Chẳng ai bị treo cổ vì tội : Công nghiệp cung cấp hàng kém chất lượng, hàng thiếu, nông nghiệp thiếu ăn triền miên, nợ nước ngoài từ những năm 20 đến 1991 không trả hết,trái lại càng ngày càng lún sâu thêm, đất nước chậm phát triển, không bằng thuộc địa Phần lan cũ chứ đừng nói sánh vai cường quốc năm châu... Tóm lại Stalin chỉ bảo vệ quyền lợi ích kỷ của bản thân và phe cánh chứ thực lòng ông không mong muốn mang lại hạnh phúc cho người Nga. Cầu mong cho Nước Nga được bình yên.Hãy để người Nga lãnh đạo người Nga. Các ông Do thái, Ba lan, Grudia đến làm ăn và làm khách thì được chứ đừng làm lãnh đạo nước Nga.
__________________
все средства и женщины - мои. Пусть Мужчины строкут лодку для аллах |
|
#15
|
|||
|
|||
|
Không có dấu hiệu của một tuyến Metro bí mật trong khu dacha của Stalin
![]() Những tiết lộ về bí mật ở "gần khu dacha” của Stalin đã từng được công khai rộng rãi – Nhưng có một câu chuyện về tuyến đường Metro-2 ở đây thì hoàn toàn không đúng sự thật và nó đã được hư cấu lên. Kuntsevo, là một vùng ngoại ô yên tĩnh, nó đã trở thành tâm điểm của những sự chú ý mạnh mẽ, khi Josef Stalin cho xây dựng một khu dacha ở đây vào đầu những năm 1930. Đây vốn là một nơi để rút lui về rất thuận tiện từ Điện Kremlin, và cũng là địa điểm ông đã từ trần vào ngày 5 tháng 3 năm 1953. Nhưng ở nơi đây hoàn toàn không có một tuyến tàu điện ngầm tuyệt mật nào, theo như tuyên bố chính thức mới đây của cơ quan an ninh quốc gia Nga, và nhà sử học Sergei Devyatov. Ông Sergei Devyatov đã từng viết một cuốn sách nói về khu dacha, và ông cũng đã mời các nhà báo đến tham quan địa điểm này cùng với ông trong tuần này. Không có tàu điện ngầm, nhưng có một boongke. Toàn bộ khu nhà được che phủ bởi một rừng cây rậm rạp, nội thất trong nhà được khôi phục lại hoàn toàn như thời Stalin còn sống. Theo như RIA Novosti đã đưa tin. Mọi đồ vật, từ những cái xiên thịt để nướng shashlyk, cho đến những chiếc tràng kỷ của Thổ nơi mà nhà lãnh đạo đảng Cộng Sản thường ngả lưng cũng đã được tái tạo lại rất cẩn thận. Nhưng chỉ có một đường boongke nằm sâu dưới mặt đất 17 mét được xây dựng từ năm 1942, là còn nguyên vẹn. Ông Devyatov cho biết, đường hầm ngầm này ban đầu được lát bằng vỏ cây bạch dương, nhưng hiện nay thì nó đã bị hư hỏng hết. Âm nhạc và tạp chí. Trong những đồ vật trong khu dacha, Stalin thường lưu giữ những bài viết được cắt ra từ những trang báo và tạp chí mà ông lưu tâm. Hiện những bài bào này được phóng to và đóng khung để trưng bày trước công chúng. Căn phòng lớn dưới tầng trệt, nó được sử dụng chung cho mọi việc, từ những buổi họp của bộ chính trị, cho đến những buổi tiệc tùng và đôi khi làm nơi ăn tối. Stalin còn lưu giữ được ở đây một chiếc piano đắt tiền mà ông mua được vào năm 1918, và một chiếc radio do thủ tướng Anh Winston Churchill tặng. Chiếc radio này hiện vẫn còn hoạt động được, và vẫn bắt được các làn sóng phát thanh của Nga hiện nay, hãng RIA Novosti cho biết thêm như vậy. Một thời gian sau khi ông mất, khu dacha được dùng làm nhà bảo tàng, sau đó được dùng làm khách sạn một thời gian trước khi nó được trao trả lại cho chính quyền Nga vào năm 1991. Nhân viên của khách sạn bị nghiêm cấm tuyệt đối đề cập đến quá khứ của tòa nhà, tuy nhiên vẫn có rất nhiều sự sùng bái cá nhân đáng lo ngại về nhà lãnh tụ quá cố được bùng phát. Nhưng trong khi Devyatov và đồng nghiệp của ông điều tra cặn kẽ về lịch sử của khu nhà, để thực hiện những chi tiết về cuộc sống của Stalin ở đây, và bảo đảm nó trở về với nguyên trạng ban đầu. Theo Tin Tức Moskva |
| Có 7 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên: | ||
Cartograph (07-12-2010), htienkenzo (07-12-2010), hungmgmi (07-12-2010), LyMisaD88 (07-12-2010), ngocbaoruss (09-12-2010), sad angel (09-12-2010), tieuboingoan (07-12-2010) | ||
|
#16
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
|
#17
|
||||
|
||||
|
Chào bạn Vania!
Tố Hữu cũng ca ngợi Stalin như thế này: Yêu biết mấy khi con tập nói Tiếng đầu lòng con gọi Stalin, Stalin, Stalin...
__________________
все средства и женщины - мои. Пусть Мужчины строкут лодку для аллах |
|
#18
|
|||
|
|||
|
Trích:
Hờ hờ, mấy câu này chưa ăn thua ! Các bác rảnh rỗi nên tìm đọc cuốn "Những đứa con điện Kremlin" để hiểu rõ hơn về cái chết của bà Allilueva và cậu cả Yakov. Để xem "Tôi không đánh đổi một viên tướng lấy một người lính" là thế nào. |
|
#19
|
|||
|
|||
|
Mặc dù là kẻ có uy quyền nhất của tập đoàn Đức Quốc xã ở mặt trận phía Đông, nhưng sau khi bị bắt, Thống chế Paulus chỉ bị cầm tù cho đến hết chiến tranh, rồi lại trở về làm một viên cảnh sát quèn ở... Đông Berlin.
Đức Quốc xã yêu cầu trao đổi Yakov Yugasvilli lấy Paulus để làm gì khi ông ta chẳng còn giá trị, nhất là cái "tài" điều binh khiển tướng nặng về lấy thịt đè người. Với một con người có "bản lĩnh thép", lại cũng có bàn tay tàn bạo như Stalin, sinh mạng của một binh sĩ cấp thấp, dù là đứa con đẻ (hầu như không được thừa nhận), có đáng kể gì. Rõ ràng là, cả hai phía đều hiểu rằng, cuộc trao đổi này hoàn toàn... không tưởng ! Cái chết của Yakov là cái chết của một quân nhân, chứ không phải một nhân vật nào quan trọng. Thay đổi nội dung bởi: Vania, 10-12-2010 thời gian gửi bài 13:56 |
|
#20
|
||||
|
||||
|
Hôm nay vừa tròn 50 năm ngày "cải táng" Stalin.
Ông qua đời ngày 05.3.1953 và được đưa vào Lăng Lenin ngày 09.3. Từ đó đến 31.10.1961, Lăng có tên là Lăng Lenin - Stalin. Ngày 30.10.1961, tại Đại hội XXII Đảng CS Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Khrustsov (Хрущёв) đã có sự nhất trí rằng Lăng chỉ dành riêng cho thi hài Lenin và có tên là Lăng Vladimir Vladimirovich Lenin, còn Stalin sẽ được an táng phía sau Lăng. Do công tác này rất tế nhị, đồng thời khẩn trương chuẩn bị Quảng trường Đỏ cho ngày 07.11, nên đã được tiến hành bí mật vào đêm 31.10, rạng sáng 01.11.1961 với số người tham gia hạn chế và có che chắn cẩn thận. Từ năm 1970, trên phần mộ Stalin bên chân tường Điện Kremli có thêm tượng của Ông do điêu khắc gia Nikolai Tomskii thực hiện: ![]() (Nội dung và ảnh: http://www.calend.ru/event/4451/ )
__________________
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
Nhật Minh (15-11-2011) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|