|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#61
|
|||
|
|||
|
Giới thiệu về iTim.
Công ty itim.vn chính thức được thành lập từ năm 2008, với những hoạt động bước đầu tại LB Nga với người sáng lập là những sinh viên Việt Nam ưu tú của trường đại học danh tiếng nhất LB Nga-Moscow State University (trường ĐH tổng hợp Matxcova): Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Đức Ngọc và Lê Văn Thanh. Mang trong mình khát khao về một công cụ tìm kiếm tiện dụng dành riêng cho người Việt với công nghệ search hiện đại vượt trội, iTim đã thu hút được nguồn tài trợ mạnh mẽ về cả vốn, kỹ thuật và nhân lực từ những quỹ đầu tư với tiềm lực hàng đầu của Nga và Đông Âu. Sau khi chuyển trụ sở làm việc về Hà Nội, Việt Nam, trong vòng 3 năm hoạt động, công ty đã có những biến chuyển to lớn về cả về lượng và chất. Trụ sở công ty được đặt tại tòa nhà Công nghệ cao HiTTC Giảng Võ là một thuận lợi lớn về địa thế cho sự phát triển của công ty. Hơn thế nữa, công ty vẫn luôn tiếp tục nhận được sự trợ giúp về những kỹ thuật search tiên tiến nhất từ LB Nga. Quan trọng nhất, sức mạnh của iTim chính là nguồn nhân lực. Bằng cách tạo ra một môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện và hiệu quả, kết hợp với những chính sách khuyến khích, tạo điều kiện phát triển cho nhân viên, iTim đã xây dựng được một đội ngũ nhân sự có trình độ cao (70% trên Đại học, phần lớn đã tốt nghiệp từ các trường ĐH nước ngoài, 30% Đại học, trong đó có 30% đã từng đạt các giải quốc gia, quốc tế lớn), đầy nhiệt huyết và bề dày kinh nghiệm làm việc cho các công ty công nghệ lớn như Mail.ru, Yandex. |
|
#62
|
|||
|
|||
|
Bee.net.vn phỏng vấn ông Victor - Chủ đầu tư của iTim.vn
CEO người Nga: Việt Nam là một đất nước tuyệt vời. ![]() “Người Việt thực sự rất giỏi nhưng họ lại đến những nước phát triển hơn để sinh sống, làm việc. Đó là chuyện đã từng xảy ra ở Nga khoảng 10-15 năm trước. Tôi mong có một ngày nào đó, tất cả người tài Việt Nam sẽ nói: ‘Tôi tự hào khi làm việc ở Việt Nam’” Đó là một trong những lý do nhà sáng lập kiêm Giám đốc điều hành trang tìm kiếm iTim.vn, ông Victor Lavrenko quyết định tới Việt Nam. Thế mạnh của yếu tố “Việt Nam” - Chọn Việt Nam để đầu tư chứ không phải Singapore, hay Trung Quốc, lý do của ông là gì? Thị trường ở Trung quốc và Singapore có quá nhiều đối thủ, hoặc đã bão hòa. Còn ở Việt Nam, khi chúng tôi đã xây dựng được một đội ngũ nhân sự giỏi cùng với chiến lược phát triển cụ thể thì Việt Nam thực sự là một thị trường đáng mơ ước. Không chỉ thế, rất nhiều những người rất giỏi ở Nga như ngài Kostin - người sáng lập ra công cụ tìm kiếm đầu tiên ở Nga hay những người đã làm cho nhiều dự án lớn như Google, Yandex rất sẵn sàng về Việt Nam làm việc vì giá cả sinh hoạt rẻ hơn, vì chế độ đãi ngộ rất tốt của chúng tôi và vì sự tạo điều kiện của chính phủ Việt Nam: không cần làm visa nếu vào Việt Nam dưới 15 ngày, vé máy bay rất rẻ, nhiều cơ hội để đi du lịch khám phá văn hóa Việt Nam cũng như châu Á. Thực ra, tôi đã biết về đất nước của các bạn từ rất lâu qua sách báo và đặc biệt là qua những sinh viên Việt Nam du học tại Nga. Nhiệt huyết của họ dành cho đất nước thực sự đã thuyết phục được tôi. Lý do cá nhân thì cũng có. Tôi thực sự rất thích khám phá văn hóa châu Á. À, tôi rất thích ăn na. Ngày trước tôi thậm chí còn dùng dao để gọt vỏ na, rồi còn rửa lại với nước. Sau đó, thấy các bạn Việt ăn na, tôi cũng đã tìm ra cách ăn như người Việt rồi. - Điều gì khiến các ông cạnh tranh được với các công cụ tìm kiếm hiện có ở Việt Nam? Thế mạnh của chúng tôi nằm chính ở yếu tố “Việt Nam” khi chúng tôi đi sâu vào phân tích và xử lý Tiếng Việt. Chúng tôi hiểu tiếng Việt hơn những công cụ tìm kiếm khác. Ví dụ, nếu người dùng tìm “mua ca hoi o ha noi”, iTim sẽ hiểu “ca hoi” và “ha noi” là 2 từ có liên quan mật thiết trong nhu cầu tìm kiếm và sau đó, sẽ thêm dấu, và bắt đầu giúp người dùng tìm kiếm chỗ mua “cá hồi” ở “Hà Nội”. Nếu bạn thử tìm bằng các công cụ tìm kiếm khác, bạn sẽ thấy ngay là họ chia từ theo cách không đúng. Chúng tôi tự hào vì mình có một đội xử lý ngôn ngữ được đào tạo bài bản trong lĩnh vực này và đi chuyên sâu vào việc phân tích và xử lý tiếng Việt. Thứ hai, chúng tôi có một đội chuyên gia rất giàu kinh nghiệm và người dẫn đường tuyệt vời. Ở Nga, công cụ tìm kiếm chiếm thị phần lớn nhất là Yandex với 60%, còn Google thì chỉ chiếm 20% mà thôi. Chúng tôi có những người đã từng là thanh viên chủ chốt của các công cụ tìm kiếm đó Sắp tới, chúng tôi sẽ có tập dữ liệu vào khoảng 1 tỷ văn bản tiếng Việt trong khi công cụ tìm kiếm phổ biến nhất Việt Nam hiện giờ chỉ có tối đa khoảng 500 triệu văn bản tiếng Việt. Và chúng tôi sẽ có tính năng tìm kiếm theo địa phương/vùng miền. Có một số lượng đáng kể nhu cầu tìm kiếm có liên quan đến địa phương của người sử dụng. Ví dụ khi một người ở Hà Nội muốn mua một thứ gì đó thì anh ta sẽ chỉ muốn xem thông tin về các cửa hàng ở Hà Nội chứ không phải ở TPHCM. Hiện tại chưa có công cụ tìm kiếm nào ở Việt Nam cung cấp tính năng này. Không nên chỉ đợi chính phủ - Mới thành người nhà của thị trường CNTT Việt Nam, ông đánh giá thế nào về thị trường này? Thị trường Internet Việt Nam rất tiềm năng và có nhiều cơ hội để phát triển. Ở những nước khác như Nga, kể cả Trung Quốc, cơ hội phát triển ít hơn nhiều. Tuy nhiên, tôi nhận thấy có cũng không ít vấn đề vẫn còn tồn tại trong ngành công nghệ thông tin Việt Nam. Đối với tôi, đó là sự chảy máu chất xám. Người Việt thực sự rất giỏi nhưng họ lại đến những nước phát triển hơn sinh sống và làm việc. Khoảng 10-15 năm trước, Nga cũng trải qua chuyện này khi nhiều người tài sang Mỹ hay các nước khác làm việc. Tuy nhiên hiện nay, nhiều người đã trở về hoặc chọn ở lại Nga vì họ đạt được sự phát triển tốt hơn trong nghề nghiệp. Ở Anh hay Mỹ chẳng hạn, những người nước ngoài dù giỏi thường cũng sẽ phải chịu sự cạnh tranh cao trong thị trường việc làm, đặc biệt là khi so sánh với người bản xứ. Vì vậy, họ rất khó để vươn lên những vị trí cao. Do đó, nếu Việt Nam biết cách thu hút nhân tài không chỉ bằng lương mà bằng môi trường, chế độ đãi ngộ, chính sách phát triển thì một ngày nào đó, người tài Việt Nam sẽ nói: “Tôi tự hào khi làm việc ở Việt Nam”. Chúng tôi cũng đang cố gắng để làm được điều này trong tương lai không xa. - Ông nhận xét thế nào về những kỹ sư Việt Nam? Họ đều là những người trẻ tài năng, say mê với công việc thực sự đầy thử thách này. Bên cạnh những phẩm chất của họ liên quan đến kiến thức và kinh nghiệm, các kỹ sư của chúng tôi cũng không phải là những người "mọt sách" chỉ biết đến màn hình máy vi tính. Họ khá cởi mở, năng động và thích giao lưu bạn bè. Chúng tôi còn có câu lạc bộ bóng đá, bơi lội và nhiều hoạt động tập thể hàng tháng. Vì thế, chúng tôi hiểu nhu cầu của mọi người tốt hơn. - Theo ông, phát triển Công nghệ thông tin quan trọng nhất là điều gì: con người, chính sách hay “mặt bằng công nghệ”? Con người vẫn luôn là yếu tố trung tâm và quan trọng nhất. Tuy vậy, nếu một nguồn nhân lực tốt lại được làm việc trong một “mặt bằng công nghệ” cao hay chính sách hiệu quả sẵn có thì hẳn là một điều rất tuyệt vời. Tôi nghĩ rằng tất cả các công ty Việt Nam không nên chỉ đợi chính phủ mà nên cùng góp sức giải quyết nạn chảy máu chất xám bằng cách tạo ra mội trường tốt thuyết phục được người tài ở lại VN bởi theo tôi, Việt Nam là một đất nước tuyệt vời. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn hanoi cho bài viết trên: | ||
|
#63
|
|||
|
|||
|
Baodung xin phép không tán đồng với cách suy diễn này của bác ussr (đại loại theo kiểu "do tướng lĩnh ngụy quyền Sài Gòn được đào tạo ở Mỹ nên làm cho chính thể Việt Nam Cộng hòa bị thất thủ" vậy). Nói gì thì nói, cho tới bây giờ những gì mà cựu sinh viên MGU nói riêng và những người đã học và sống ở Nga đã và đang làm ở nước ta thật đáng nể, và được học tại MGU vẫn làm niềm mơ ước và vinh dự của các thế hệ sinh viên!
|
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn baodung cho bài viết trên: | ||
Mien trung (24-10-2011), tieuboingoan (23-10-2011) | ||
|
#64
|
|||
|
|||
|
Đội ngũ itim.vn hiện nay đã lên đến gần 100 người trong đó có rất nhiều người Nga. Sản phẩm của itim cũng sắp hoàn thiện với tên gọi coccoc.vn. Clip sau đây giới thiệu về sản phẩm này:
http://www.youtube.com/watch?v=X6LA8...layer_embedded
|
|
#65
|
|||
|
|||
|
Mời các bạn tham khảo câu chuyện với những kinh nghiệm du học của một cựu SV MGU nay là GS tại Toulouse (Pháp)
Con cừu đen của làng toán Việt chính là tôi đây Không hiểu sao, trong một tuần vừa rồi mà tôi nhận được thư yêu cầu phỏng vấn và xin thông tin cá nhân từ những 3 người liền, liên quan đến chuyện tôi là một GS toán trước đã từng thi toán quốc tế. Thế nhưng tôi không hề giống với hình dung của mọi người về các nhà toán học nói chung, nên nếu chẳng may “chân dung” của tôi có xuất hiện trên báo chí gì đó, thì có khả năng là không khớp với thực tế lắm. Tôi chẳng có thành tích gì nổi bật, ngoài “thành tích” là làm “con cừu đen”. Dưới đây là bài viết gửi cho một trong ba người hỏi tôi. Làm toán vì nghiệp chướng Tôi không có thành tích gì đặc biệt về khoa học để mà kể. Nhưng vì có một số người tò mò muốn được biết một nhà toán toán học hồi năm 1985 được huy chương vàng olympic bây giờ ra sao, nên xin viết lại một chút về bản thân ở đây làm kỷ niệm. Có nhiều nhà toán học trên thế giới sinh ra là để làm toán, sống là để làm toán, toán học là cuộc sống của họ, họ không bao giờ mảy may có ý nghĩ bỏ toán. Họ thật sự là những người rất hạnh phúc trong công việc của mình. Một số người bạn cùng thế hệ với tôi như Vũ Hà Văn hay Ngô Bảo Châu, hay như anh Phạm Hữu Tiệp trên tôi một số năm, có thể được xếp vào hạng như vậy. Còn tôi, tôi làm toán là vì “nghiệp chướng”. Đã có nhiều lần tôi tìm cách đổi nghề mà không thành, “ông trời” vẫn “bắt” tôi làm toán, và vẫn nuôi tôi bằng nghề này. Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo. Thời đó, ở Việt Nam tất nhiên hầu như ai cũng nghèo cả. Nhưng gia đình tôi thuộc loại nghèo của những người nghèo. Khi tôi còn bé, cả nhà 4 người bố mẹ, chị ruột, và tôi sống trong một căn phòng 9 mét vuông ở một ngõ nhỏ ở phố Huế (Hà Nội), mọi thứ bếp núc và công trình phụ là dùng chung tập thể. Bữa ăn no bụng là mừng rồi, thỉnh thoảng mới có ít “chất đạm”. Khi tôi quãng 6 tuổi, một lần được ăn thịt bò, thấy ngon quá mới hỏi mẹ: “đây là gì hả mẹ”. Mẹ tôi bảo đấy là thịt bò. Tôi liền nói: “về sau con sẽ vừa làm kỹ sư vừa đi bán thịt bò”. Lúc đó tôi chưa biết rằng, cái số “vừa làm kỹ sư vừa đi bán thịt bò” đấy sẽ ứng vào tôi mãi về sau. Bố mẹ tôi là giáo viên cấp hai. Mà giáo viên cấp hai thời đó thì rất nghèo, lương không đủ ăn và nuôi hai con. Mẹ tôi phải cố gắng kiếm thu nhập bằng mọi cách, từ những việc thủ công, đến những việc như đi bán bánh mì “chui”, rồi đến những việc buôn bán nguy hiểm hơn nữa, mà sẽ ảnh hưởng xấu về sau. Thầy cô giáo ngày xưa như bố mẹ tôi được học sinh rất quí, nhưng không nhận tiền như kiểu ngày nay. Thỉnh thoảng, có phụ huynh làm nghề bán hàng tặng cho một ít lạp xưởng, hay một cái bánh mì kẹp ba tê, thế là có “bữa tươi” vậy thôi. Tuy làm giáo viên rất nghèo, nhưng “trong cái rủi có cái may”, là quen biết các thầy cô giáo khác, và quan tâm được đến việc học phổ thông của con cái hơn so với nhiều người khác. Cũng bởi vậy, khi lớp chuyên toán cấp 1 đầu tiên được mở ra ở quận Hai Bà Trưng, tôi được gia đình cho thi vào đó, và thế là từ đó luôn học chuyên toán cho đến khi hết phổ thông. Khi học ở chuyên toán, càng ngày tôi càng đạt thành tích tốt, được cử đi thi học sinh giỏi, và đến năm cuối cấp hai cũng đạt giải nhất toán toàn quốc, có được vào Hội trường Ba đình gặp thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc đó nhân dịp quốc tế thiếu nhi 01/06. Thành tích đó không phải do tôi thông minh gì đặc biệt, mà chủ yếu là do sự say mê tìm tòi toán học và điều kiện được học lớp chuyên với các thầy tốt đều là bạn bè của bố mẹ, và do ở nhà có nhiều sách toán thôi. Bố tôi tuy chỉ là giáo viên cấp 2, nhưng yêu khoa học nên có mua nhiều sách toán và vật lý để ở nhà, kể cả sách cao cấp, tôi cứ thế lôi ra đọc, hiểu được chỗ nào thì hiểu. Ngoài toán ra, thì hầu như tôi chẳng biết gì khác, và đặc biệt là rất kém về môn văn. Tôi chỉ gỡ được điểm về các bài kiểm tra ngữ pháp thôi, chứ các bài làm văn được điểm trung bình là may. Cho đến bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn thấy mình hầu như chẳng hề học được gì về cách làm văn hay hưởng thụ văn học từ các giờ học văn. Tuy các thầy cô dạy văn là những người tốt, thậm chí là những giáo viên giỏi, nhưng cách tiếp thu của tôi có lẽ không được thích hợp với cách dạy văn ở phổ thông. Vì say sưa học toán và có được nhiều thày giỏi, bạn hay, nên khi học lớp 11 ở Chuyên toán ĐHTH (nay là ĐH KHTN) tôi đã được chọn vào đội tuyển đi thi olympic quốc tế. Trong các bạn bè của tôi thời đó thì đặc biệt có Huỳnh Minh Vũ. Tôi và Vũ gặp nhau thường xuyên, làm toán cùng nhau, chơi bời cùng nhau, đi học thêm cùng nhau, v.v. Vũ cũng được vào đội tuyển đi thi Olympic cùng với tôi, và về sau cả hai sẽ cùng đi sang Liên Xô. Nhưng cũng vì chỉ biết có học toán, nên kiến thức của tôi bị hổng rất nhiều, đặc biệt là các kiến thức về xã hội, cách sống và cách xử lý các vấn đề trong cuộc sống, cách suy nghĩ chọn lựa lối đi, v.v., và điều này sẽ là một điểm bất lợi lớn về sau. Sau khi thi IMO năm 1985, tôi và các bạn cùng đội tuyển được đặc cách tốt nghiệp phổ thông và cho đi du học, trừ hai bạn: một bạn do không đủ sức khỏe (cách đây mấy năm bạn này đã mất vì bệnh tật), và một bạn khác người miền Nam do “lý lịch xấu”. Vì không có hiểu biết hay thông tin gì để mà có lựa chọn nào khác, nên lựa chọn hiển nhiên duy nhất đối với tôi lúc đó là đi học toán ở MGU. Bạn Lâm Tùng Giang cùng đội tuyển cũng sang MGU học toán cùng tôi, Vũ thì đi học tin học và được cử đi Tbilisi, còn một bạn khác cùng đội tuyển là Huỳnh Văn Thành thì cũng sang Moskva học, nhưng về ngành khác. Tôi khi sang Nga học là một cậu bé vô cùng ngây thơ (nghĩ lại thấy ngây thơ là phải, chưa đủ 16 tuổi và chưa có hiểu biết gì về chính trị), thấy nước Nga đẹp như thiên đường. Nhưng rồi, chỉ trong vòng có vài năm, cái thiên đường đó sụp đổ ngay trước mắt. Người Nga nói chung là người tốt, ở trường thì các giáo sư và bạn bè nói chung đều tốt. Nhưng ngoài lĩnh vực học thuật ra, thì mọi thứ trở nên tồi tệ nhanh chóng. Quan hệ giữa người Nga và người Việt cũng xấu đi. Cuối những năm 1980, mỗi lần tôi ra sân bay ở Moskva tiễn người về nước mà thấy hãi hùng cảnh cảnh sát Nga cầm dùi cui khua người Việt Nam như khua vịt. Đại sứ quán VN ở Nga và ban quản lý lưu học sinh, thay vì giúp đỡ lưu học sinh, thì công việc chính của họ thời đó là bắt nạt và ăn chặn lưu học sinh. Muốn làm được gì cũng phải hối lộ cho họ. Về mặt chính thức, các lưu học sinh bị cấm không được đi buôn lậu. Nhưng thực ra phần lớn người Việt ở Nga là có đi buôn kiểu này hay kiểu khác, và buôn lậu mạnh nhất chính là các nhân vật ở Sứ Quán. Trong tình hình lộn xộn ở Nga, nói chung ít người yên tâm đi theo con đường học thuật. Thế hệ chúng tôi như là một thế hệ “bỏ đi”. Ai thức thời biết đường buôn bán làm ăn thì về sau đại gia này nọ, tuy cũng có những người vì làm ăn mà hy sinh luôn mạng sống ở Nga. Tôi tuy có cố gắng học, nhưng cũng bị sao nhãng nhiều. Nếu không buôn bán gì thì đói ăn, vì học bổng những năm cuối không còn đủ tiền để mua đồ ăn nữa, có những lúc thậm chí không còn gì để ăn. Bởi vậy tôi cũng đi làm thêm ở nhà máy, rồi cũng đi buôn. Nhưng tôi có số luôn bị mất của, buôn thì có lãi nhưng lại bị lấy trộm gần hết tiền trong một chuyến đi. Có một người bạn Nga nghe thấy bị mất trộm hết tiền thì thốt lên: “tao bị mất từng đấy tiền thì có thể tự tử được!”. Kể ra thì xấu hổ, nhưng thời đó tôi học chảnh mảng đến mức mà có kỳ thi 5 môn tôi phải thi 9 lần vì chẳng học gì cả, trước khi thi vài hôm mới học, thế là thi trượt lại về nhà học lại mấy hôm sau đi thi lại, và có 4 môn liền như vậy. (Kiểu thi cuối học kỳ ở MGU lúc đó là thi nói, và nếu lần đầu thi không đạt thì không tính điểm, được phép thi lại ngay mấy hôm sau). Thậm chí có những môn tôi mang luôn cả sách giáo khoa dày cộp vào phòng thi để “quay”. Các sinh viên Nga cũng làm vậy, nên lúc đó cũng không lấy làm xấu hổ. Cũng may, tuy phải thi lại nhiều, nhưng cuối cùng nói chung các điểm thi đều tốt, và tôi vẫn tốt nghiệp “bằng đỏ”. ... |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hungmgmi (09-11-2012) | ||
|
#66
|
|||
|
|||
|
(tiếp)
Năm 1991, khi tôi tốt nghiệp đại học, cũng là năm đầu tiên không còn thỏa thuận giữa VN và Liên Xô về chuyển tiếp làm NCS cho những người mới tốt nghiệp đại học loại giỏi. (Những anh chị học trên tôi 1 năm thì vẫn làm tiếp NCS). Từ hồi tôi làm sinh viên năm thứ 3, ông thầy hướng dẫn là ông Anatoly Fomenko (ông Fomenko cũng là thầy hướng dẫn của GS Đạo Trọng Thi và GS Lê Hồng Vân trước đó) đã giao cho các vấn đề nghiên cứu nhỏ nhỏ, và đến khi học hết năm thứ 5 thì cũng đã viết được 3-4 bài báo khoa học đăng ở các tạp chí khá tốt của Nga (như là Uspekhi, Math. Sbornik và Func. Anal. Appl.), nên đầu tiên tôi hy vọng là có thể xin làm thực tập ngắn hạn hơn thay vì làm NCS. Tôi có hỏi ông thầy là có cách nào cho tôi ở lại quãng 1,5 năm (thay vì 3 năm NCS) để tôi cố gắng làm và bảo vệ nhanh cho xong không, nhưng ông thầy thấy không khả thi. Thế là đối với tôi, “sự nghiệp khoa học” coi như chấm dứt. Có thực mới vực được đạo, đói thì làm sao làm khoa học được. Tôi quyết định là tìm đường sang Ba Lan buôn bán sinh sống nhờ vào bạn bè nào đó. Ở lại Nga thì tôi không muốn vì tình hình an ninh loạn lạc và tôi thuộc loại “ngố” khó sống được ở môi trường đó. Về Việt Nam thì cũng chẳng biết làm gì để sống. Một số bạn bè có kế hoạch mạnh mẽ hơn, đó là vượt biên đi đường rừng sang phương Tây tị nạn. Nhưng ông trời lại chưa cho tôi chuyển nghề đi buôn ngay. Một lần, theo tôi nhớ, anh Nguyễn Hồng Chương (nhà vật lý, nay làm kinh doanh ở Hà Nội) có đi hội nghị ở ICTP (Trieste) về qua Moskva và cho mấy anh em khoa toán mấy thông tin về các hội nghị toán học ở đó. Thời đó, internet chưa có, ngay điện thoại cũng rất hiếm, thông tin không dễ kiếm như ngày nay, thậm chí một số “cây đa cây đề” của khoa học VN còn cố tình bưng bít thông tin thành “của riêng”, nên có được thông tin như vậy là “quí như vàng”. Tôi liền nộp đơn đại xin sang dự hội nghị bên đó vào hè năm 1991. Không ngờ được họ nhận và đài thọ toàn bộ chi phí ăn ở đi lại. Có anh Lê Tự Quốc Thắng cũng xin đi và cũng được nhận. Thế là hai anh em lặn lội làm các thủ tục và mua vé để đi. Chuyến đi đó là cả một câu chuyện ly kì. Phải dút lót cho ông quản lý LHS ở ĐSQ VN ở Nga mới được cho đi (ông ấy giở luật ra là muốn đi phải có báo cáo hội nghị và cứ thế om hồ sơ, mà sinh viên thì được mời đến để học chứ có phải để báo cáo cho thiên hạ nghe đâu). Vé máy bay thì quá đắt so với bọn tôi thời đó, nên phải xếp hàng rồng rắn lên mây mất mấy ngày để đến lượt mua vé tàu hỏa. Nhưng đi tàu hỏa thì phải xin visa transit qua một số nước, trong đó có Hungary. Đến DSQ Hungary xin, thì tụi nó đuổi về không cho mà còn chửi đại loại “tụi VN chúng mày ở Hungary là tụi khốn nạn”. Không có visa quá cảnh, nhưng chúng tôi cứ thế liều đi. Đến biên giới Hung, cảnh sát biên phòng xem hộ chiếu của chúng tôi thì chẳng nói gì cả, nhưng đến lượt mấy người Nga cùng tàu thì bị đuổi xuống, hóa ra ở biên giới đó họ ghét người Nga! Còn nhiều chuyện ly kì khác, nhưng có lẽ hơi lạc đề rồi. Sang đến Trieste, chị Lê Hồng Vân, lúc đó đang được làm việc ở đó 1 năm, giới thiệu tôi với ông James Eells và ông Alberto Verjovsky lúc đó là viện trưởng và viện phó phân viện toán ở đó. Khi xem hồ sơ của tôi, họ thấy thích thú, bèn quyết định nhận tôi vào làm việc ở ICTP 2 năm, và thế là kể hoạch đổi nghề thành kinh doanh phải hoãn lại. ICTP là một trung tâm khoa học tốt. Tuy nhiên, ở đó tôi không có thầy hướng dẫn, và thích làm gì thì làm, thích học gì thì học, tự mày mò là chính, cũng chẳng ai chỉ dẫn cho mình là nên lựa chọn đi theo những gì là tốt nhất. Trong giai đoạn đó, tôi có thử tìm cách xin sang Mỹ làm NCS. Nhưng không được nhận, bởi 1 lý do rất ngớ ngẩn là tại vì tôi … không đóng tiền lệ phí xét hồ sơ. Cuối cùng thì sau hai năm ở ICTP, tôi thành NCS ở SISSA, là một viện của Ý nằm ngay sát nách ICTP. ở SISSA, tôi cũng không có thầy hướng dẫn, mà vẫn chủ yếu tự mình mày mò làm mấy bài toán có từ thời sinh viên. Được sự giúp đỡ của GS Michèle Audin ở Strasbourg, đến năm 1994 tôi viết xong luận án và mang sang đó bảo vệ. Tôi có đăng ký làm sinh viên của Strasbourg, nhưng thực ra chỉ ở đó có 3 hôm thôi. Sau khi bảo vệ xong, SISSA nhận tôi ở lại tiếp làm postdoc, và sau đó tôi được Max-Planck nhận làm postdoc, rồi được CNRS của Pháp tuyển làm chargé de recherche. Từ cuối năm 1995, tôi thành người của CNRS. Được thành nghiên cứu viên của CNRS nghe có vẻ oai. Nhưng mà lương thấp so với nhiều nơi khác. Lúc đó tôi đã có vợ và con trai. Về mặt tài chính chẳng dư thừa gì cả. Hơn nữa, lúc đó gia đình bố mẹ tôi ở VN liên tục lâm vào các khó khăn. Bố tôi bị tại nạn rất nặng (tàu hỏa đâm vào, may không chết, nhưng chẳng được bồi thường gì), và mẹ tôi buôn bán những thứ gì đó liên tục thua lỗ, đến phá sản và nợ đầm đìa, nên gánh nặng tài chính đổ lên đầu tôi. Bây giờ “khôn” hơn một chút, tôi hiểu là chỉ có cách để mẹ “tuyên bố phá sản” chứ sức mình lúc đó không cách nào trả nợ cho mẹ được. Nhưng lúc đó tôi ngây thơ và tự tin hơn, quyết tâm trả nợ cho mẹ, nên dồn hết tiền và đi vay nợ thêm để gửi về VN. Tôi không thấy có cách nào làm toán mà “mở mặt” lên được về kinh tế, nên khi làm cho CNRS ở thành phố Montpellier, tôi quyết tâm chuyển nghề. Đầu tiên là định theo hướng tin học. Thế là tôi đăng ký học thạc sĩ về máy tính ở Montpellier. Tôi có mày mò tự học cách viết chương trình chạy trên mạng (server side application), có lần làm sập luôn cả hệ thống máy tính của khoa vì chương trình của tôi liên tục sinh ra các “zombi”. Những câu chuyện về Silicon Valley mà tôi nghe hơi nồi chõ được rất hấp dẫn, và tôi cũng hy vọng là mình sẽ thành công khi nhảy sang làm máy tính. Nhưng tiếc rằng, điều kiện ở Montpellier không giống như ở bên Mỹ. Đi học thạc sĩ máy tính, nhưng học phải những thứ lý thuyết mà tôi thấy chán chứ không thấy hay, và không được làm quen nhiều máy móc hiện đại. Nên cuối cùng tôi bỏ cuộc, không lấy bằng thạc sĩ máy tính nữa. Nghĩ hướng đi khác. Nghe nói có những nhà toán học thành triệu phú, tỷ phú về chứng khoán, nên tôi cũng nghĩ “họ làm được thì mình cũng làm được”, và thế là quyết tâm nhảy vào thị trường chứng khoán, coi nó như là một cứu cánh. Trong một số năm, tôi bỏ khá nhiều thời giờ nghiên cứu chứng khoán, nghĩ chiến lược này nọ. Nhưng mấy lần “ra quân” không may phải đúng mấy lúc thị trường sập, thế là lại thiệt hại lớn, và sau đó lại hì hụi gỡ lại. Tôi thuộc loại người “ngây thơ, tin người” nên cũng không hợp mấy với thị trường chứng khoán, là nơi họ suốt ngày lừa nhau, ngay cả ở thị trường Mỹ. Có một thời gian, tôi chỉ chuyên chơi option, lúc thắng thì thắng rất nhanh (có lúc tài khoản tăng được mấy chục lần, nhưng vì với con số ban đầu rất thấp nên tính giá trị tuyệt đối thì cũng không nhiều), rồi lại bị thua do quản lý rủi ro kém. Tính tổng cộng lại thì thắng thua không nhiều, chỉ có tiền nộp commission cho các công ty chứng khoán là nhiều, có khi còn hơn tổng số vốn bỏ ra. Trong lúc làm CNRS ở Montpellier, tôi thấy có nhà băng của Pháp quảng cáo tuyển việc những người làm toán, và cũng đi xin việc, nhưng họ chê không nhận. Và thế là vẫn cứ phải làm toán. Có lần, thấy công ty đầu tư ở Mỹ tuyển việc, tôi cũng liên hệ với họ nhưng cũng không ăn thua. Trong CV của tôi không có những thứ về toán tài chính, xác suất thống kê, v.v. nên có lẽ không hấp dẫn với họ. Vì là nghiên cứu viên CNRS, nên trong thời gian đó, tuy đầu óc lúc nào cũng bị ám ảnh câu hỏi “làm sao để kiếm tiền bây giờ”, nhưng tôi cũng vẫn phải làm nghiên cứu về toán, không sợ người ta kêu. Mấy ông bạn cùng trường giục: “bao giờ mày bảo vệ Habilitation đi chứ”. Tôi hứa là lúc nào làm ra cái gì hay thì sẽ bảo vệ. Quãng năm 2000, tôi nhận dạy một lớp cao học về hệ Hamilton. Trong loạt bài giảng phải có phần nói về dạng chuẩn địa phương, là một phần mà bản thân tôi lúc đó nắm rất là ú ớ. Trong lúc tìm các tài liệu đọc về vấn đề dạng chuẩn này, tôi thấy cách sách viết nói chung đều khó hiểu, nhưng tôi nghĩ ra được một cách hiểu theo kiểu của mình dễ hơn. Thật bất ngờ, cách đó cũng cho phép chứng minh một định lý khá thú vị, đó là mọi hệ khả tích analytic thì đều có được chuẩn hóa địa phương hội tụ. Định lý này trước đó người ta mới chứng minh được trong trường hợp hệ non-resonant, dùng công cụ giải tích khá phức tạp. Nhưng với cách hiểu mới của mình, dùng các tác động xuyến, tôi chứng minh được nó cho trường hợp tổng quát, và một cách đơn giản hơn. Nhờ nó mà đến cuối năm 2001 tôi đã bảo vệ habilitation. Tôi viết Habilitation của mình bằng tiếng Pháp, với nhan đề “A la recherche des tores perdus” (đi tìm những xuyến đã mất). Mấy ông bạn của tôi rất thích nhan đề này, vì nó làm gợi nhớ tác phẩm văn học nổi tiếng “A la recherche du temps perdu” (đi tìm thời gian đã mất) của Marcel Proust. Thú thực là tôi cũng chưa đọc quyển truyện nổi tiếng này, thấy nó dầy cộp đã thấy ngại rồi, chỉ nghe người khác kể vài ý trong chuyện thôi. Hôm bảo vệ, ông trưởng lab còn mặc luôn cả áo có in chữ “A la recherche du temps perdu”. Tôi thì nói đùa là “xuyến” ở đây có nghĩa là các đồng xu, tức là tôi đi tìm tiền đã mất! Nói một cách nghiêm túc hơn, thì luận văn này là về kỳ dị của các hệ động lực khả tích. Ở những chỗ không kỳ dị, thì các đa tạp bất biến là các xuyến, nhưng khi đi qua các điểm kỳ dị, thì các xuyến này bị biến hóa đi. Một phần của luận văn, về khía cạnh tô pô và hình học, là những thứ tôi đã viết và đăng trước đó, và một phần chính là kết quả “trời cho” nghĩ ra trong lúc dạy cao học. Tôi có mời được những người thầy cũ là Anatoly Fomenko và Michèle Audin đến dự vào hội đồng bảo vệ. Ngoài ra tôi cũng mời được thêm mấy nhà toán học có tiếng khác như Yves Colin de Verdière và Hans Duistermaat vào hội đồng. Ở Pháp, khi bảo vệ TS thì thầy hướng dẫn phải tìm hội đồng cho NCS, còn khi bảo vệ ở mức Habilitation, thì ứng cử viên phải tự lo chuyện lập được cho mình một hội đồng danh giá. Văn bằng habilitation cho phép tôi ứng cử vào chân giáo sư ở các nơi ở Pháp. Công việc làm giáo sư vất vả hơn làm làm nghiên cứu viên CNRS, vì phải dạy học, trong khi người của CNRS không phải dạy học, tự do hơn nhiều. Nhưng làm giáo sư là một giải pháp về tài chính, vì lương cao hơn, và thế là đến năm 2002 tôi nộp đơn xin làm GS ở 5 nơi khác nhau ở Pháp. Trong đó có 3 nơi nhận phỏng vấn (qua được vòng 1) là Paris 7, Lille và Toulouse. Ở Paris 7, tôi chỉ được xếp thứ 3 trong danh sách 5 người lọt vào vòng cuối cùng. Người bạn ủng hộ tôi ở Paris 7 động viên “cậu đứng thứ 3 không phải vị cậu kém 2 tên kia, mà là vì ngành của 2 tên kia được ưu tiên hơn thôi”. Tôi rất cảm ơn ông bạn, nhưng cũng nói là thực ra tôi cũng hơi sợ “phải” đi Paris vì Paris đắt đỏ quá mà tôi thì nghèo (một vợ hai con, vô sản, gánh nợ lớn của mẹ vẫn còn rất nhiều). Cả Lille và Toulouse đều nói họ muốn nhận tôi, và tôi chọn Toulouse, thế là chuyển về Toulouse ở từ năm 2002, mọc rễ ở đó cho đến nay. Giá cả sinh hoạt ở Toulouse rẻ hơn Paris nhiều, mà lương thì ở đâu cũng thế. Tất nhiên, về mặt khoa học, thì ở Paris có nhiều điều kiện nhất. Nhưng đối với tôi, vấn đề ổn định kinh tế còn chưa giải quyết được, chuyện điều kiện khoa học xếp sau. Các nhà khoa học lớn, thường cũng có thầy là nhà khoa học rất lớn. Đây là điểm quan trọng, vì thầy không những chỉ định hướng cho mình, mà còn nâng đỡ cho mình nhiều kiểu khác, quảng cáo cho mình, ủng hộ mình trong các dự án, v.v. Những thứ đó, một người phải tự bươn trải thì khó hơn nhiều. Có lần quãng năm 2003-04, tôi đến Grenoble đọc một series mấy báo cáo, chủ yếu về các kết quả tôi làm từ quãng năm 1994-95 cộng thêm mấy kết quả mới. Ông Bernard Malgrange (một nhà toán học lớn của Pháp) hỏi tôi đăng ở đâu chưa, tôi trả lời đăng gần chục năm nay rồi, ông ấy ngạc nhiên lắm. Kết quả có tốt, có đăng lâu rồi nhưng không được quảng cáo thì cũng ít ai biết đến. Tôi cũng nhận ra là “không thầy đố mày làm nên”, nhưng chót “lỡ thì” sau một thời gian không có thầy bà, nên về sau không có được thầy nữa, mà xung quanh chỉ có các đồng nghiệp không vượt trội hẳn lên để làm thầy của mình. Đấy là điều tôi dùng để “tự an ủi” vì sao mình khó làm được cái gì to tát, tuy tất nhiên lỗi chính thuộc về tôi. Bây giờ, sau khi đã “gỡ được phần lớn các gánh nặng”, không còn bận tâm mấy chuyện kinh tế, tôi có thể sẽ cố tập trung hơn để làm gì đó, tuy rằng có được gì hay không thì vẫn là “người tính không bằng trời tính”, và khi không bận tâm về kinh tế của bản thân thì lại có nhiều vấn đề xã hội khiến tôi bận tâm. Nhưng các bạn trẻ nào có hoài bão tham vọng lớn trong khoa học rất nên chú ý chuyện chọn thầy, hãy cố tìm cho mình người thầy tốt nhất có thể. Thời ở Montpellier, tôi ngồi cùng phòng làm việc với một ông bạn, là ông Jean-Paul Dufour. Ông Dufour rủ tôi làm chung về kỳ dị của các đa tạp Poisson, và trong nhiều năm, kể cả khi tôi đã không còn ở Monpellier, có hợp tác với ông Dufour trong lĩnh vực này, và có viết chung một quyển sách về đề tài này đăng ở Birkhauser trong series “Progress in Mathematics”. Trong những năm 2000, tôi trở thành một chuyên gia trong một chuyên ngành toán học nhỏ gọi là “hình học Poisson”, và có tham gia hội đồng khoa học và hội đồng tư vấn cho các hội nghị quốc tế về lĩnh vực này. Qua đó tôi có làm quen và trao đổi với nhiều nhà toán học khác trên thế giới, ví dụ như Alan Weinstein (ông này là trưởng khoa toán ở Đại học Berkeley một số năm trước), Victor Guillemin (ở MIT), Tudor Ratiu (ở EPFL), v.v. Hồi năm 2003, tôi có chứng minh được một giả thuyết của Weinstein về chuyện các “proper Lie groupoid” đều có thể tuyến tính hóa địa phương. Ông Weinstein và một số bạn bè rất thích kết quả này. Ông ấy bảo “cậu có thể gửi đặng tạp chí loại tốt nhất, ví dụ như Annals cũng được”. Sau một hồi suy nghĩ, tôi quyết định gửi đăng Journal AMS. Bài báo nhận được rất nhiều phản biện “positive”, nhưng cuối cùng vẫn bị ban biên tập gạt đi không cho đăng, với một lý do kỳ quái là do có 1 phản biện ghi là “về ứng dụng thì không rõ sẽ có ứng dụng gì”. Tôi cũng không rõ phản biện đó đòi hỏi phải có ứng dụng kiểu gì, vì câu hỏi đó là một trong các câu hỏi rất tự nhiên của lý thuyết, và liên quan ngay đến nhiều thứ như là lý thuyết biểu diễn của các proper groupoids, và các “proper stacks”. Có thể ông ta đòi ứng dụng như là toán ứng dụng trong công nghiệp chẳng hạn. Dù lý do gì chăng nữa, thì bài báo không được đăng, khiến không chỉ tôi mà khá nhiều người ngạc nhiên. Tôi đành gửi bài báo đó về tạp chỉ Ann. ENS của Pháp và được nhận đăng ngay ở đó. Chuyện bài báo bị từ chối là chuyện khá thường tình trong toán học. Nhiều khi do thiên kiến, cảm tính, hay chính sách này nọ, v.v.. Kể cả các bài rất tốt vẫn có thể bị từ chối, trong khi bài không tốt bằng có thể được nhận đăng, và cũng có khi bài bị từ chối chẳng qua là do viết ẩu, và tất nhiên có khi cũng là do bài chán thật. Bởi vậy các bạn trẻ đừng nản chí nếu bài báo bị từ chối. Bản thân tôi cho đến bây giờ vẫn có các bài bị từ chối. Thậm chí có ông biên tập tạp chí trong 2 ngày gửi tôi liền hai thư, thư đầu là để từ chối 1 bài tôi gửi, thư thứ hai là để yêu cầu tôi làm phản biện cho bài khác gửi cùng tạp chí! Lại nói chuyện bị từ chối, kết quả “trời cho” mà tôi nghĩ ra khi dạy cao học năm 2000, tôi viết thành một bài báo gửi đăng tạp chí Math Annalen, và cũng bị từ chối. Tôi bực lắm, nghĩ kết quả của mình thú vị thế này, tốt hơn mấy kết quả trước đó được đăng ở những nơi rất tử tế, và chứa cả một cách nhìn mới về dạng chuẩn địa phương, mà sao họ không nhận. Tôi bèn viết lại cẩn thận hơn, và gửi đăng Annals of Maths, thế là được Annals nhận đăng. Làm khoa học ra được kết quả đã là việc vất vả, làm xong rồi lại phải gắng sức đi quảng cáo cho kết quả của mình cũng là việc rất vất vả, trừ khi mình là học trò của ông X ông Y nào to tướng đã quảng cáo hộ mình rồi. Trong khi đó, học trò ông X ông Y viết ra bài “lăng nhăng” có khi cũng được đăng ở Inventiones. Đời luôn có những bất công như vậy, không chỉ trong cuộc sống hàng ngày có bất công, mà trong toán cũng có thể có, các bạn trẻ nên biết trước để khỏi bị sốc khi gặp phải. Đối với tôi hiện tại, việc đăng được bài báo ở đâu đó không còn mấy quan trọng nữa, có hay không có không thay đổi gì mấy. Có những bài tôi viết ra lâu rồi, để trên arxiv mà không gửi đăng ở đâu cả. Tuy nhiên, đối với các nghiên cứu sinh và các nhà khoa học trẻ đang cần được thăng tiến, thì nên nhằm hướng đến đăng tại các tạp chí tốt nhất có thể. Kể cả khi đã thành GS, tôi vẫn bị cái số “vừa làm kỹ sư vừa đi bán thịt bò” chi phối. Vào cuối năm 2007 đầu năm 2008, tôi có làm về lĩnh vực tài chínhcho một công ty trong một thời gian, với một mức lương khá tốt và thêm nhiều hứa hẹn này nọ, nếu tốt đẹp thì tôi có thể xin trường cho tạm nghỉ việc vài năm để chuyên tâm vào lĩnh vực đó. Nhưng “ở trong chăn mới biết chăn có rận”, làm vài tháng là tôi thấy có quá nhiều vấn đề, và đặc biệt là “rủi ro về mặt đạo đức”, nên cuối cùng cái chân “giáo khổ trường công” vẫn là “nghèo nhưng mà sang”, là chỗ dựa an toàn của mình. Thực ra thì công việc làm GS không có gì đáng phàn nàn: nếu không quá bận tâm vấn đề kinh tế, thì việc dạy học không đến nỗi vất vả, và ngoài ra còn có nhiều thời gian tự do để nghiên cứu hay làm cái mình thích. Sau nhiều năm leo qua các bậc lương và trở thành “giáo sư hạng nhất”, lương của tôi bây giờ cũng không đến nỗi nào, có thể sống được mà không suốt ngày lo ngay ngáy về tiền nong, có thể thanh thản hơn. Do quan tâm nhiều đến thị trường tài chính, mà tôi dần dần tìm hiểu nhiều về lĩnh vực toán tài chính, và nhận ra được một điều rằng đây là lĩnh vực ứng dụng rất quan trọng của toán, mà ở Viêt Nam đang rất thiếu. Đặc biệt trong bảo hiểm và quản lý rủi ro tài chính. Phần lớn các khủng hoảng tài chính là do yếu tố quản lý rủi ro không được coi trọng. Sự coi thường rủi ro đó tất nhiên có nhiều nguyên nhân, ví dụ như người quản lý tiền càng ôm nhiều rủi ro lại càng có lợi cho anh ta (và thiệt cho tiền mà anh ta quản lý). Tất cả những thứ đó đều có thể được mô hình hóa và giải quyết bằng các công cụ toán học. Bởi vậy tôi muốn góp phần vào việc phát triển ngành này ở Việt Nam, đem lại một trong các ứng dụng thực tiễn của toán học cho Việt Nam. Toán học rất quan trọng, nhưng nó chỉ thực sự quan trọng khi chúng ta biết cách ứng dụng nó. Ngày nay thì tôi quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề về tổ chức và thể chế của xã hội, và các vấn đề về giáo dục. Sau gần 40 năm thống nhất đất nước, mà Việt Nam bị tụt hậu so với các nước xung quanh (Hàn Quốc, Đài Loan, v.v. sau 40 năm như vậy là họ đã vươn lên từ nước nghèo thành nước phát triển), không thể đổ tội cho “ngoại cảnh” được nữa, mà lỗi chính nằm ở đường lối sai lầm. Cần có những cải cách cơ bản về thể chế mới có thể phát triển tốt được. Trong lĩnh vực giáo dục nói riêng, tôi cũng thấy có rất nhiều điều cần thay đổi. Hồi năm 2006-2007 tôi có làm phó viện trưởng phân Viện toán cơ bản (gồm quãng 60 biên chế, trong đó 20 giáo sư, với thêm khoảng 40 phụ giảng và nghiên cứu sinh) thuộc Viện Toán Toulouse (Viện Toán Toulouse có 3 phân viện: toán cơ bản, xác suất thống kê, và toán cho công nghiệp, tổng cộng gần 200 người, không kể phụ giảng và nghiên cứu sinh). Sau đó do bận việc khác nên tôi xin thôi không tham gia làm quản lý nữa. Từ 01/2013 thì tôi sẽ lại làm viện trưởng của Phân viện Toán cơ bản ở Toulouse. Việc làm quản lý này sẽ mất nhiều thời giờ, nhưng là một việc làm đóng góp cần thiết cho tập thể. Hơn nữa, khi tham gia làm quản lý, tôi hy vọng các đề xuất cải cách của mình sẽ được chú ý lắng nghe hơn. Con trai đầu của tôi năm nay đã vào học ở ENS Paris, được nhận lương tập sự của chính phủ, cũng là một niềm vui, và có thể coi là từ nay nó đã độc lập được về tài chính, không còn cần nhờ đến bố mẹ nữa. Con gái thì đang học lớp 9. Cuộc sống ở Toulouse rất thanh bình. Toulouse, 11/2012. http://zung.zetamu.net/2012/11/blacksheep/ P.S. Người vợ mà GS Zung nhắc đến trong bài này là tác giả của cuốn tiểu thuyết "Tìm trong nỗi nhớ" và là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học Pháp đương đại. |
|
#67
|
|||
|
|||
|
Cho mình hỏi là chất lượng đào tạo ở MGU là như thế nào nếu so sánh lên tầm cỡ thế giới, vì như mình vừa xem bảng xếp hạng các trường Đại học uy tín trên thê giới thì MGU xếp không cao! Cụ thể là vào năm 2011 thì:
- Academic Ranking of World Universities: 77th - QS World University Rankings: 112th - Times Higher Education World University Rankings: 296th Còn đây là về KHTN và 1 số ngành thế mạnh - Human Resources & Labor Review: 44th - Academic Ranking of World Universities (Natural Sciences): 51-75th - QS World University Rankings (Natural Sciences): 38th Mình cũng để ý là hầu như những nước có các trường Đại học xếp trên Lomonosov đều nằm trong các nước hoặc có nền kinh tế phát triển hơn, hoặc xã hội bớt hỗn loạn hơn Nga, hoặc sử dụng tiếng Anh làm tiếng mẹ đẻ! Không biết điều này có tác động gì không? Cho mình hỏi như vậy! |
|
#68
|
|||
|
|||
|
Những trường nào lọt vào top 200 là những trường có chất lượng tốt. Nói chung lọt vào top 200 rất khó vì chỉ riêng GD Mỹ và Eu đã có rất nhiều trường tốt chưa kể các trường đại học châu Á.
Thường thì các bảng xếp hạng dựa trên các tiêu chí rất khác nhau nhưng căn bản vẫn dựa trên dữ liệu của Thompson & Reuter về số lượng bài báo xuất bản và trích dẫn thu được từ các công trình này. Ngoài các tiêu chí trên thì các tiêu chí như giải thưởng Nobel, Fields, Turing vv cũng được tính vào. Dựa vào các tiêu chí này thì các trường của Nga ngày càng đi thụt lùi vì nghiên cứu khoa học dẫm chân một chỗ còn điểm về các giải thưởng thì giảm dần tính từ thời gian nhận giải thưởng. Ở Nga thì có rất ít trường lọt vào top 500, vị trí của MGU hiện tại cũng phản ánh thực trạng nghiên cứu khoa học và đào tạo ở Nga. Những ngành thế mạnh vốn có của Nga chủ yếu liên quan đến nghiên cứu cơ bản. Gần đây thì sinh viên trẻ Nga ko còn mặn mà với các lĩnh vực này vì vậy ko có những người giỏi theo đuổi và kế thừa những lớp GS tinh hoa còn làm việc từ thời LX. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Александр Нгуен (28-11-2012) | ||
|
#69
|
|||
|
|||
|
Trích:
Xếp hạng để làm gì? Thi hoa hậu trường à? Là một con người có suy nghĩ độc lập, cần phải xem xét kỹ những thứ Tây bày ra và mời ta xơi, xem chúng là đồ người ăn được hay cám lợn. Trong trường hợp này, cần phải xem cái xếp hạng kia xếp theo tiêu chuẩn nào. Dân Nga sang tây học cũng lắm nhưng không chắc họ vì kiến thức trong khi cái thấy rõ là Tiền! Bên tây, tiền đầu tư cho 1 con bò hơn đứt tiền thu nhập của một người ở quốc gia trung bình. Thế cho nên hẳn nhiên, tiền chi cho một con bò gắn mác tiến sĩ cao giá lắm lắm. Con bò này viết loạn xạ đăng đầy các tạp chí uy tín như những bệnh nhân tâm thần viết thơ vậy. Bao nhiêu công trình trên các tạp chí uy tín đi vào cuộc sống? 1 phần ngàn hay 1 phần triệu? Công dụng duy nhất là chất đầy các thư viện để rồi một ngày đẹp trời lôi ra xếp hạng thôi. Nói chung sự học bên Nga không theo chuẩn tây, nên việc họ xếp thế nào kệ họ. Nói thế không phải là bên Nga học hành là hoàn hảo, cũng lắm vấn đề lắm và cũng cần phải xem kỹ. Tuy nhiên những trường có tiếng từ xưa thì khá ổn. Theo một thăm dò đầu năm nay từ những người tốt nghiệp MBA tây về và đang làm việc tại Nga, có đến gần một nửa nói MBA chả có ích gì cho công việc họ đang làm, 1/4 nói không rõ và chỉ hơn 1/4 còn lại bảo có ích. Vấn đề chính là ở đấy. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Александр Нгуен (28-11-2012) | ||
|
#70
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
|
#71
|
|||
|
|||
|
Trích:
Chỉ cần chú ý một chút bạn sẽ thấy khối chuyện hài hước khoa học mà lại toàn trên các "tạp chí uy tín". Đâu có xa, ngay đây mấy tháng, là cái Higg Boson của cỗ máy LHC. Một ông bác học chiếu lên màn hình những thứ lằng nhằng rồi phán rằng đấy hạt Higg đấy!!! Lôi cả ông Higg ra làm trò! Ở dưới, một rừng media như phát cuồng hô vang vạn vạn tuế!!! Nhưng nếu để ý một tý, thì thấy rằng. Ngay cả chính CERN cũng nói nho nhỏ: hình như em thấy giống giống Higg Boson!!! Ô hay, làm khoa học mà lại giống giống, lại hình như? Còn nếu biết, thì cười vào mũi chúng nó rằng cái hình như giông giống ấy, mấy ông tiến sĩ bên Princeton đã thấy cách đây cả thập kỷ rồi!!! Thế mà rồi lúc sóng yên biển lặng không ai phản đối là lại Nobel phát búa xua đấy. Thực ra Mô hình chuẩn đã bị vứt sọt rác từ lâu, chỉ còn cái hình vẽ đẹp, dễ hiểu cho những đầu óc đơn giản nhưng chẳng còn ai theo trừ đám ăn cám, bởi người ta thấy sai lè lè. Đây là một ví dụ, ý kiến của ông Dr. Georgi Stankov The Fraud with the Higgs-Boson. Thời khoa học ăn cám nó thế. Bạn thấy một gã vác ống dòm nhìn dăng sao rồi la lên: Ô! Vật chất tối kìa!, rồi một gã khác la lên: Ah! năng lượng tối kìa, một gã khác nữa thảng thốt: Ôi!!! vũ trụ chúng ta bị vũ trụ khác hút! Tất cả đều được Nobel phát loạn xạ!!! |
|
#72
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
|
#73
|
||||
|
||||
|
sao mà nó đẹp dữ vậy!!!!!!!!!!!!!!!!!! ko biết cho đến khi nào ms dc học ở ngôi trường này
__________________
Hải Vip!!! |
|
#74
|
|||
|
|||
|
Lại có "virus" rồi đấy, kính nhờ BQT dọn dẹp nhanh giùm! Xin đa tạ!
|
|
#75
|
|||
|
|||
|
Trích:
Anh sẽ sử dụng một số lợi ích của hệ thống giáo dục của Nga và tạo ra các trường chuyên biệt cao đối với toán học tương tự như các trường học cho trẻ em có năng khiếu đã tồn tại ở Liên Xô. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Nàng Shura xinh đẹp (07-12-2012) | ||
|
#76
|
|||
|
|||
|
Bộ GD vừa vinh danh GS trẻ nhất 2012 TS Phùng Hồ Hải. TS Hải có lý lịch nghiên cứu khoa hoc đáng nể. TS Hải là cựu sinh viên MGU, tốt nghiệp năm 1992 anh sang Đức làm nghiên cứu sinh tiến sỹ ở trường đại học Munich và làm nghiên cứu hậu tiến sỹ ở Trieste (Italy), MPI (Bonn Đức) và MSRI (Berkeley Mỹ) trước khi về công tác ở viện toán học VN.
Anh Hải là số ít thuộc thế hệ "bị bỏ đi", theo định nghĩa của GS Nguyễn Tiến Dũng hoặc thuộc thế hệ "hoa lông chông trên cát" như cách ví von của GS An Hải Đoàn ở Wisconsin University về những sinh viên và nghiên cứu sinh VN phải tìm đường ra chợ thời buổi Liên Xô sụp đổ. Rất ít trong số những người này vượt biên thành công sang phương tây và nay lại trở về giúp quê hương của mình. Cùng thế hệ bị bỏ đi đó còn phải kể đến GS Vũ Hà Văn Đại học Yale hoa kỳ, Đàm Thanh Sơn Washinton University in Seattle, GS Lê Tự Quốc Thắng GeoTech Hoa Kỳ, GS Phạm Hữu Tiệp Florida State v.v |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn hanoi cho bài viết trên: | ||
|
#77
|
||||
|
||||
|
nghe nói là học ở MGU rất khó,,,bạn phải học thật giỏi thì mới theo kịp được với lại bạn chưa biết tiếng nga thì bạn phải học miệt mài đấy,,,,cố lên
__________________
Hải Vip!!! |
|
#78
|
|||
|
|||
|
Dạo này diễn đàn vắng quá.
Mình trở lại đây thông báo một số kết quả của lứa sinh viên MGU được gửi sang học ở MGU giai đoạn 2001-2008. Có ba lứa sinh viên với khoảng hơn 40 người sau khi tốt nghiệp phần lớn tiếp tục học nghiên cứu sinh ở các nước EU, Mỹ, Nhật, Singapore (xem ở các post trước). Đến thời điểm này một số người đã tốt nghiệp PhD và xin được việc thành công, cụ thể là có 2 người đang làm kỹ sư ở Google với mức lương rất cao (1 ở California và 1 ở Zurich Thụy sỹ), 1 người làm kỹ sư cho Microsoft Yammer ở San Francisco, 2 người tiếp tục là nghiên cứu sinh hậu tiến sỹ (Postdoc) ở New Zealand, một người khác làm postdoc ở Nhật. Một em sinh viên rất tiềm năng khác đang làm phd ở UC Irvine Mỹ nhưng đã được mời thực tập ở Google 2 năm liên tiếp. Một số người khác sắp tốt nghiệp PhD cũng sẽ hứa hẹn tương lai tốt đẹp. Những người về VN hẳn cũng rất thành công, điển hình có nhóm 3 cựu sinh viên MGU lập công ty itim.vn chuyên về mảng tìm kiếm và sản phẩm tìm kiếm Cốc Cốc (coccoc.com) xuất hiện gần đây trên truyền thông (xem thêm thông tin về cốc cốc ở đây, CNN nói về cốc cốc như là đối thủ của Google ở đây) là sản phẩm công nghệ do sự hợp tác của 3 sinh viên này các quỹ đầu tư mạo hiểm của Nga. Gần đây tôi thấy có nhiều em sinh viên các lứa sau ở các trường khác nhau đã xin học bổng thành công trực tiếp sang Mỹ. Tôi nghĩ con đường đi từ VN sang Nga, học một cách nghiêm túc để có được kiến thức kinh nghiệm, rồi xin sang nước thứ ba dần trở nên phổ biến. Có lẽ đây là con đường dễ đi nhất mà các lứa sinh viên VN sang học ở Nga trong tương lai cần cân nhắc. |
|
#79
|
|||
|
|||
|
Hôm trước em có hỏi về công ty coccoc thì thấy họ sa thải một loạt nhân viên. Cung cách quản lý vẫn mang đậm phong cách lúa nước lắm nên lấy được mẩu vụn bánh của Google cũng là nhiệm vụ khó khăn.
Cái đánh giá trên Alexa cũng có vấn đề. Hôm trước em kiểm tra thì coccoc xếp hạng 87 ở Việt Nam, hôm sau đã là thứ 7 rồi (hiện tại là thứ 6). |
|
#80
|
|||
|
|||
|
Cho mình hỏi là sinh viên, nghiên cứu sinh trường khác muốn thăm quan MGU (đặc biệt lên gác chòi ngắm Moscow) thì có được không? và làm như thế nào?
|
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Thủ đô Moskva | BelayaZima | Địa lý | 61 | 04-10-2012 07:46 |
| Moskva Du Ký | hanoi | Cảm xúc nước Nga | 16 | 01-06-2012 21:08 |
| Xin chào Moskva! | Nàng Shura xinh đẹp | Phim Nga phụ đề tiếng Việt | 2 | 27-04-2012 01:26 |
| Toàn cảnh lúc hoàng hôn Moskva. | notforsale | Mỹ thuật - Nhiếp ảnh | 4 | 21-05-2010 01:00 |
| Thủ đô Moskva rúng động vì 2 vụ nổ tấn công tàu điện ngầm. | DemVuiVe | Đời sống, xã hội Nga | 26 | 08-04-2010 03:52 |