Các đoàn tàu tới Treblinka từ những quốc gia Tây Âu lại khác hoàn toàn. Trên đó mọi người không biết chút gì về Treblinka và đến phút cuối cùng vẫn tin chắc rằng mình được đưa đi để làm việc, ngoài ra bọn Đức vẫn thêu dệt các câu chuyện hấp dẫn về cuộc sống mới dễ chịu thoải mái đang chờ đợi những người di dân. Một số đoàn tàu chở những người tin rằng họ đang được đưa qua biên giới để đến các quốc gia trung lập: họ đã phải trả cho chính quyền Đức một khoản tiền lớn để có được giấy thông hành và cuốn hộ chiếu nước ngoài.
Có lần tàu chở đến Treblinka toàn người Do Thái quốc tịch Anh, Canada, Mỹ, Úc, do chiến tranh đã bị kẹt lại ở Châu Âu và Ba Lan. Sau thời gian chạy chọt kéo dài, tốn nhiều khoản hối lộ lớn, họ đã có được thông hành để tới những nước trung lập. Tất cả những đoàn tàu đến từ Tây Âu đều không có lính gác, chỉ có các nhân viên phục vụ bình thường, trên tàu có cả các toa giường nằm và toa ăn. Hành khách mang theo những rương hòm lớn và vali, đựng dồi dào thức ăn. Con cái họ chạy ra các sân ga mà đoàn tàu dừng lại, hỏi xem còn bao xa nữa mới tới Ober-Maidan.
Đôi khi có đoàn tàu chở đến người Digan từ Bessarabia và những vùng lân cận. Vài lần tàu chở đến những thanh niên người Ba Lan – họ là các nông dân và công nhân đã tham gia khởi nghĩa hoặc hoạt động trong những nhóm du kích.
Khó nói được thế nào thì khủng khiếp hơn: bị đưa đến chỗ chết trong nỗi đau khổ kinh khủng vì biết rõ kết cục đang gần kề, hay đưa mắt nhìn qua cửa sổ toa tàu khách dễ chịu, lòng không chút nghi ngờ trong khi ga Treblinka đang gọi điện thoại tới trại để báo số liệu về chuyến tàu vừa tới và lượng người đi trên đó.
Để đánh lừa được những người đến từ Tây Âu cho tới lúc chót, đoạn cuối tuyến đường sắt dẫn tới điểm đến trại tử thần chết chóc này được bố trí hệt như một ga tàu khách. Trên sân ga, đậu sẵn hai chục toa như chưa dỡ xong hàng, có cả nhà ga với phòng bán vé, quầy gửi hành lý và gian nhà hàng, có mũi tên chỉ hướng đi khắp nơi ghi: “Xuống tàu ở Bielostok”, “Đi Baranovichi” hay “Xuống tàu ở Volokovysk” v.v... (Baranovichi và Volokovysk – Ba Lan trước 1939 là Baranowicze và Wołkowice – ngày nay thuộc Belorussia) Khi tàu đến có cả ban nhạc chơi trong nhà ga, tất cả nhạc công đều ăn mặc đầy đủ lệ bộ. Một người gác ga mặc đồng phục đường sắt thu vé của hành khách và cho họ đi xuống sân ga. Ba-bốn ngàn con người, lỉnh kỉnh túi xách và vali, tay đỡ người già và người bệnh, túa ra chỗ sân. Các bà mẹ bế con nhỏ trên tay, những đứa lớn hơn ép sát vào bố mẹ, mắt tò mò quan sát cái sân. Có gì đó đầy điềm gở và rất khủng khiếp ở cái sân này, với mặt đất bị dẫm đạp in vết hàng triệu bàn chân người. Ánh mắt căng thẳng của mọi người mau chóng nhận ra những chi tiết đáng lo – được vội vã quét dọn, có lẽ chỉ vài phút trước khi đoàn người tới, trên mặt đất còn vương vãi vài thứ đồ vật bị vứt lại – một bọc quần áo, mấy chiếc vali bị mở tung, vài cái bàn chải cạo râu, đôi ba chiếc nồi tráng men. Sao chúng lại ở đây? Và tại sao tuyến đường sắt lại kết thúc tại chỗ nhà ga này, nơi chỉ thấy những lùm cỏ vàng úa và hàng rào thép gai cao ba mét trải dài. Những tuyến đường sắt dẫn đi Bielostok, đi Sedletsa, Varsava, Volokovysk đâu rồi? Và tại sao bỗng xuất hiện mấy tay lính gác mới miệng cười gằn, đưa mắt nhìn người đàn ông đang đưa tay chỉnh lại cà vạt, nhìn bà cụ già quần áo gọn gàng sạch sẽ, nhìn chú bé mặc bộ đồng phục lính thuỷ, nhìn những cô gái mảnh khảnh đã cố giữ cho quần áo phẳng phiu trong suốt cuộc hành trình dài, nhìn những bà mẹ trẻ đang âu yếm sửa lại lớp chăn bọc quanh đứa con nhỏ đang nhăn mặt. Tất cả những tên Wachmänner mặc quân phục màu đen và đám SS Unteroffizier đó đều giống như những tay lùa gia súc vào cửa lò sát sinh. Với chúng, đoàn người mới đến không phải là những con người đang sống, và chúng không thể không mở miệng cười khi nhìn thấy các biểu hiện của sự xấu hổ, tình yêu thương, nỗi sợ hãi, những lo lắng về người thân, về đồ đạc; chúng phì cười vì thấy người mẹ vẫn la mắng đứa con vừa chạy xa mình vài bước chân và vuốt phẳng áo khoác cho nó, vì đám đàn ông lấy khăn tay lau trán và châm điếu thuốc lá, vì mấy cô gái giơ tay sửa lại tóc và sợ hãi giữ lấy váy khi có cơn gió thổi qua. Chúng phì cười vì thấy đám người già cố ngồi lên mớ vali hòm xiểng, vì thấy ai đấy kẹp sách dưới nách, còn người ốm thì quấn khăn quanh cổ.
|