Trở về   Nước Nga trong tôi > Nước Nga ngày nay > Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

 
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Prev Previous Post   Next Post Next
  #1  
Cũ 28-03-2009, 11:17
tungthanhvu's Avatar
tungthanhvu tungthanhvu is offline
Bánh bliny nóng - Горячие блины
 
Tham gia: Oct 2008
Đến từ: Thành phố Hoa Phượng Đỏ
Bài viết: 24
Cảm ơn: 15
Được cảm ơn 40 lần trong 10 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới tungthanhvu
Smile Mig 31-Siêu tiêm kích

Lâu nay bận quá không online vậy hôm nay lang thang IT thấy bài này hay hay mình post cho các bạn đọc cho vui.Chúc các bạn mọi điều tốt đẹp nhất!
Thời gian gần đây, thông tin về việc Nga có thể bán máy bay tiêm kích MIG-31 cho Syria đã gây nên mối quan ngại: Liệu động thái này có gây nên sự mất ổn định ở Trung Đông? Nhưng MIG-31 là loại máy bay như thế nào mà lại được nhiều quốc gia quan tâm đến như vậy?

X.Mikoyan MiG-31
sơ lược
Mikoyan MiG-31 (tiếng Nga: МиГ-31) (tên ký hiệu của NATO: "Foxhound") (chó săn cáo) là một máy bay tiêm kích đánh chặn siêu âm được phát triển thay thế cho MiG-25 'Foxbat'. Nó được thiết kế bởi Phòng thiết kế Mikoyan, MiG-31 là một mẫu máy bay đánh chặn cao cấp trên chiến trường của Liên Xô, trước khi Liên Xô tan rã.

Kiểu Máy bay tiêm kích đánh chặn
Hãng sản xuất Mikoyan
Chuyến bay đầu tiên 16 tháng 9-1975
Được giới thiệu 1982
Tình trạng Đang hoạt động
Hãng sử dụng chính
.Không quân Nga
.Không quân Kazakhstan
. Không quân Syria
Số lượng được sản xuất 500
Được phát triển từ Mikoyan-Gurevich MiG-25
Phát triển
MiG-25 "Foxbat" đã gây những kinh ngạc cho Phương Tây ngay khi nó xuất hiện, nó khiến các nước Phương Tây hoảng sợ về thành tích, tốc độ kinh khủng của nó, các học giả Phương Tây đã quan trọng hóa thiết kế thật của nó trong các khả năng cho mục đích đạt vận tốc lớn, độ cao lớn, và vận tốc leo lên lớn. MiG-25 thiếu khả năng cơ động khi đang bay ở vận tốc đánh chặn, máy bay rất khó điều khiển khi bay ở độ cao thấp, và đông cơ phản lực tiêu thụ nhiên liệu rất nhanh nên máy bay chỉ có tầm hoạt động không chiến ngắn khi bay ở tốc độ siêu âm. Đồng hồ đo tốc độ chỉ biểu diễn đến Mach 2.8, và những phi công đựoc chỉ dẫn không bay lên đến vận tốc Mach 2.5 để giữ gìn động cơ. Tốc độ lớn nhất mà MiG-25 đạt được là Mach 3.2, và kết quả là động cơ đã bị phá hủy, máy bay phải thay động cơ khác.

Radar của MiG-25 đủ mạnh để làm cháy các thiết bị đối phó điện tử (ECM) của máy bay đối phương. Hệ thống năng lượng của radar hoạt động dựa trên những ống chân không, nó có vẻ lỗi thời đối với Phương Tây, nhưng nó lại rất có ích khi được sử dụng và hoạt động rất tốt trên các máy bay của Liên Xô, bao gồm giảm bớt thiệt hại từ xung điện từ sinh ra từ vụ nổ hạt nhân. Dù sao Foxbat đã tỏ ra rất hữu ích trong vai trò trinh sát hơn là đánh chặn, và giữa thập kỷ 70 một sự thay thế đang được phát triển.

Phát triển thay thế MiG-25 bắt đầu với nguyên mẫu Ye-155MP (tiếng Nga: Е-155МП), nó bay lần đầu tiên vào 16 tháng 9-1975. Dù nó được thiết kế với bề ngoài giống với MiG-25 (thân máy bay được làm dài hơn, với một khoang nữa cho phi công điều khiển radar), nó có nhiều phương diện khác MiG-25 cho một thiết kế tổng thể mới. Liên Xô bắt buộc phải sản xuất hạn chế số lượng MiG-25 sử dụng thép niken trong 80% kết cấu của nó. Ye-155MP đã sử dụng gấp đôi lượng titan tới 16% và tăng lượng nhôm lên 33% để giảm bớt khối lượng kết cấu khung máy bay. Cấu trúc khung mới cũng mạnh mẽ hơn, cho phép khả năng chịu gia tốc g khi bay với tốc độ siêu âm lên tới 5, so với 4,5 của Foxbat. Quan trọng hơn, bây giờ mẫu máy bay mới có khả năng bay với tốc độ siêu âm tại độ cao thấp. Sức chứa nhiên liệu cũng được tăng lên cùng với động cơ tuốc bin phản lực đường vòng thấp đời mới có hiệu suất vượt trội cho phép nó bay xa hơn MiG-25.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Phát triển quan trọng nhất là loại radar Zaslon Phazotron quét điện tử tiên tiến có khả năng tìm kiếm đồng thời mục tiêu cả ở trên lẫn phía dưới (định vị những mục tiêu ở trên và ở dưới máy bay), cũng như khả năng theo dõi nhiều mục tiêu. Loại radar này đã cung cấp cho máy bay đánh chặn của Liên Xô khả năng giao tranh cùng lúc theo dõi 10 mục tiêu và chặn đánh 4 mục tiêu trong phạm vi lên tới 200 km. Một phi đội tuần tra 4 chiếc MiG-31 - bay theo phương thức chặn đánh được hướng dẫn từ một radar mặt đất - có thể bao phủ một vùng 800x900km. Đồng thời nó cũng phản ánh thay đổi cách nghĩ từ tin tưởng vào hệ thống Kiểm soát đánh chặn mặt đất (GCI) tới sự độc lập tác chiến của các phi đội trên không.


Cũng như loại tiền nhiệm của nó là MiG-25, MiG-31 sớm bị vây quanh bởi những suy đoán và thông tin sai lệch ban đầu liên quan đến thiết kế và năng lực. Phương Tây có được những thông tin chính xác về MiG-25 từ trung úy Quân chủng phòng không Xô Viết Viktor Belenko, một phi công đào ngũ đến Nhật Bản vào năm 1976 cùng với chiếc MiG-25P của anh ta. Anh ta đã mô tả một mẫu máy bay "Super Foxbat" sắp xuất hiện với 2 chỗ ngồi và có khả năng đánh chặn tên lửa hành trình. Theo mô tả của anh ta, máy bay tiêm kích đánh chặn mới có cửa hút khí giống với MiG-23 'Flogger', trong khi MiG-31 trên thực tế không có, ít nhấ không phải trong phiên bản sản xuất. Trong khi đang thử nghiệm, 1 chiếc MiG-31 đã bị một vệ tinh quân sự phát hiện tại trung tâm thử nghiệm bay Zhukovsky gần Ramenskoye. Những tấm ảnh đã làm sáng tỏ mẫu máy bay mới của Liên Xô đối với Phương Tây, họ cho rằng đây là một phiên bản tiêm kích đánh chặn cánh cố định của máy bay tiêm kích cánh cụp cánh xòe có tên mã là "Ram-K". Sau này mẫu máy bay này dần được bộc lộ trở thành Sukhoi Su-27 'Flanker', một thiết kế không liên quan gì đến MiG-31.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Việc sản xuất hàng loạt MiG-31 bắt đầu vào năm 1979, với những chiếc được đưa vào hoạt động phục vụ trong quân chủng phòng không Xô Viết năm 1982. Tấm ảnh đầu tiên chụp được MiG-31 được thực hiện bởi một phi công Na Uy trên vùng biển Barents năm 1985.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

MiG-31 có nhu cầu rất lớn cho những nhiệm vụ tầm xa đa dạng. Đi theo sự sụp đổ của Liên Xô, ngân quỹ dành cho duy trì bảo dưỡng cũng bị cắt, nhiều chiếc trong các phi đội đã phải ngừng hoạt động do không có khả năng để bảo dưỡng máy móc phức tạp của nó. Năm 1996, chỉ có 20% trong số máy bay còn lại có thể hoạt động trong mọi thời điểm; tuy nhiên, vào đầu năm 2006, những chính sách kinh tế hiệu quả của tổng thống Nga Vladimir Putin đã cho phép 75% số MiG-31 trở lại hoạt động trong Không quân Nga (VVS).

Khoảng 500 chiếc MiG-31 đã được chế tạo, khoảng chừng 370 chiếc[1] đang hoạt động trong không quân Nga số còn lại đang được bảo dưỡng để đưa vào hoạt động, 30 chiếc phục vụ trong không quân Kazakhstan. Một vài chương trình nâng cấp được thực hiện trong các phi đội MiG-31, như phiên bản MiG-31BM đa chức năng với hệ thống điện tử cải tiến, radar đa năng, hệ thống cần điều khiển kiểu phương Tây (HOTAS} mới, màn hình màu tinh thể lỏng (LCD) hiển thị nhiều chức năng (MFDs), khả năng mang tên lửa AA-12 'Adder' và nhiều loại tên lửa không đối đất (AGM) của Nga như tên lửa chống bức xạ (ARM) AS-17 "Krypton", một máy tính mới có khả năng xử lý mạnh, và đường truyền dữ liệu số. Tuy nhiên chỉ một số rất nhỏ máy bay MiG-31 của Nga được nâng cấp tới tiêu chuẩn MiG-31BM, dù những loại khác đã được trang bị máy tính mới và khả năng mang tên lửa tầm xa Vympel R-77.

Do tầm quan trọng và chưa có máy bay nào có thể hoàn toàn thay thế nó, nên MiG-31 sẽ phục vụ VVS (không quân Nga) đến năm 2010, tùy thuộc vào nền kinh tế Nga
Thiết kế
Giống như MiG-25, MiG-31 Foxhound có 2 động cơ loại lớn, với cửa nạp không khí nằm ở dưới cánh, cánh được đạt trên lưng với tỷ lệ là 2.94, có 2 cánh thăng bằng thẳng đứng. Không giống MiG-25, nó có 2 chỗ ngồi, phía trước là phi công điều khiển bay, còn đằng sau là phi công điều khiển hệ thống vũ khí (hoa tiêu).
Khung và động cơ máy bay

Cánh và khung máy bay của MiG-31 vững chắc hơn so với MiG-25, cho phép máy bay bay với vận tốc siêu âm ở độ cao thấp. Nó được trang bị động cơ tuốc bin phản lực Aviadvigatel D30-F6 lực đẩy đạt 34.000 cân Anh (cũng được mô tả như "động cơ đường rẽ" vì tỷ lệ đường rẽ thấp) cho phép nó đạt tốc độ tối đa mach 1.23 ở độ cao thấp. Tốc độ tới hạn trên độ cao lớn đạt Mach 2,83, nếu dùng nhiên liệu phụ trội thì tốc độ của nó vượt qua Mach 3,2, nhưng bay với tốc độ như vậy gây ra những mối đe dọa đến động cơ và khung máy bay.

Khi đưa MiG-31 vào vai trò một máy bay đánh chặn tốc độ Mach 2.8+ và duy trì thời gian đốt nhiên liệu phụ trội với những động cơ lớn, nhiên liệu mang thêm của nó cao hơn khi so sánh với những máy bay hoạt động trong các vai trò khác nhau, như Sukhoi Su-27. Tỷ lệ nhiên liệu của máy bay tăng thêm tới 0,40 — 16.350 kg (36.050 lb) - tỷ trọng nhiên liệu ống phun T-6 cao. Trên các điểm treo vũ khí ngoài cũng được thiết kế với những thùng chứa nhiên liệu vứt được, cho phép tăng thêm 5.000 lít (1.320 gallon) nhiên liệu. Máy bay sản xuất đời sau còn có cần tiếp nhiên liệu trên không.

Khung máy bay chịu được một gia tốc trọng trường cực đại khi bay với vận tốc siêu âm là 5 g. Ở trọng lượng chiến đấu, tải trọng trên cánh của nó ở lề và tỷ lệ lực đẩy/trọng lượng là có ích. Tuy nhiên, nó không được thiết kế cho không chiến tầm gần và quay nhanh.
Hệ thống điện tử
MiG-31 là máy bay chiến đấu đầu tiên trên thế giới được trang bị radar quét mảng pha điện tử bị động, Zaslon S-800. Tầm họa động tối đa của nó đối với các mục tiêu có kích thước máy bay chiến đấu xấp xỉ 200 km (125 mi), nó có thể theo dõi cùng lúc 10 mục tiêu và tấn công 4 mục tiêu trong số đó với tên lửa Vympel R-33 AA-9 'Amos'. Nó bị giới hạn về phạm vi bao phủ mục tiêu phía sau (có lẽ là do mái che radar - giống như chỗ lồi lên phía trên và giữa các động cơ. Radar tích hợp với hệ thống tìm kiếm và theo dõi bằng tia hồng ngoại (IRST) trong bộ phận có thể thò ra thụt vào dưới mũi máy bay. Một phi đội 4 chiếc MiG-31 bay tuần tra có thể bao trùm một diện tích lên tới 800x900 km, có thể thông tin với nhau qua đường truyền dữ liệu, radar kiểm soát được điều khiển bởi phi công ngồi sau.

MiG-31M, MiG-31D và MiG-31BS có một radar nâng cấp loại Zaslon- M quét mảng pha điện tử bị động (PESA) với ăng-ten lớn và phạm vi dò tìm lớn (400 km (250 mi) đối với mục tiêu cõ kích thước là máy bay cảnh báo và điều khiển trên không AWACS) và khả năng điều khiển tên lửa tấn công 6 mục tiêu cùng lúc cả trên không, mặt đất, mặt biển. Hệ thống đồng hồ đo được thay thế bởi màn hình hiển thị tinh thể lỏng (LCD) đa chức năng (MFDs) hiện đại. Hệ thống đối phó điện tử được nâng cấp, với hệ thống đối phó điện tử (EMC) mới ở đầu cánh.
Buồng lái

MiG-31 có 2 chỗ ngồi, ghế sau dành cho sĩ quan điều khiển radar. Cả hai khoang của phi công đều có thiết kế để điều khiển máy bay như nhau, nhưng bình thường máy bay được phi công phía trước điều khiển bay, còn phi công phía sau phụ trách radar, vũ khí. Phi công điều khiển máy bay sử dụng một cần điều khiển ở giữa và thiết bị ga ở tay trái. Buồng lái sau chỉ có tầm nhìn nhỏ từ 2 bên cạnh của vòm kính. Có những tranh cãi về sự hiện diện của WSO (Weapon Systems Operator - Sĩ quan thao tác hệ thống vũ khí) trong buồng lái sau có cải thiện năng lực của máy bay hay không, một khi sĩ quan này chỉ thực hiện thao tác trên radar và vũ khí. Điều này giảm bớt khối lượng công việc của phi công lái và tăng năng lực của máy bay.

Cả hai khoang của phi công đều được trang bị ghế phóng cho phép tổ lái thoát khỏi máy bay trên bất kỳ độ cao và tốc độ nào.

Một số chương trình nâng cấp đã được thực hiện, ví dụ như phiên bản MiG-31BM đa chức năng. Nó có hệ thống điện tử nâng cấp, có thể sử dụng vũ khí mới, radar đa năng, HOTAS và màn hình LCD hiển thị đa chức năng. Chỉ có một số MiG-31 được nâng cấp lên thành tiêu chuẩn MiG-31BM.

Theo tuyên bố của đại tá Yuri Balyko thuộc bộ quốc phòng liên bang Nga, những nâng cấp này sẽ tăng khả năng chiến đấu của máy bay thêm vài năm nữa.

Vũ khí
Vũ khí chính của MiG-31 là 4 tên lửa không đối không Vympel R-33 AA-9 'Amos' đặt dưới bụng. R-33 tương đương với loại tên lửa AIM-54 Phoenix của hải quân Mỹ. Nó có thể được dẫn đường bằng hệ thống radar bán chủ động (SARH), hoặc bằng hệ thống dẫn đường quán tính, hoặc đường dẫn đường từ máy bay một nửa quãng đường sau đó chuyển sang SARH ở quãng đường cuối. Một phiên bản tiên tiến hơn là Vympel R-37 AA-X-13 'Arrow', nó được dùng thay thế cho loại Vympel R-33.

Những vũ khí khác bao gồm tên lửa Bisnovat R-40 AA-6 'Acrid' cũ hơn, trước đây được triển khai trên MiG-25, và tên lửa tầm ngắn hồng ngoại Molniya R-60 AA-8 'Aphid' hoặc Vympel R-73 AA-11 'Archer' treo dưới cánh. Hiện nay toàn bộ phi đội MiG-31 được nâng cấp để mang tên lửa mới Vympel R-77 AA-12 'Adder'.

Không giống MiG-25, MiG-31 có một khẩu pháo bên trong, loại 23 mm GSh-6-23 6 nòng với 800 viên đạn, gắn ở trên bộ phận hạ cánh chính bên phải. GSh-6-23 đòi hỏi phải có tốc độ bắn là 8.000 vòng/phút. MiG-31 đã loại bỏ khẩu pháo này và thêm vào đó giá treo tên lửa loại R-33 hoặc R-37.
Biến thể
Một phiên bản mới của Foxhound với hệ thống điện tử nâng cấp, MiG-31B được giới thiệu vào năm 1990. Người Xô Viết đã phát hiện ra kỹ sư bộ phận radar Phazotron là Adolf Tolkachev đã bán các thông tin về những loại radar tiên tiến cho Phương Tây, vì vậy mà những chiếc máy bay của Liên Xô dễ dàng bị phát hiện. Ngay sau đó một phiên bản radar mới vội vàng được phát triển. Nhiều chiếc MiG-31 trước đó đã được nâng cấp tới tiêu chuẩn mới, thiết kế MiG-31BS

Sự phát triển một phiên bản tiên tiến toàn diện hơn, MiG-31M, đã được bắt đầu vào năm 1983 và bay chuyến đầu tiên vào năm 1986, nhưng sự sụp đổ của Liên Xô đã cản trở nó được sản xuất hoàn thiện. Từ năm 1991 và đặc biệt từ năm 2000, hầu hết máy bay hiện nay đều được nâng cấp tới tiêu chuẩn phiên bản MiG-31M, thêm vào một bổ sung như hệ thống định vị toàn cầu (GPS) và máy thu sóng từ vệ tinh GLONASS. (Trong VVS - Không quân Nga, việc gọi tên máy bay thường được lặp lại xuyên suốt các năm, chẳng hạn Su-35 'Flanker-E' và Su-37 'Flanker-F' đều được đặt tên là "Su-27M").

MiG-31 là máy bay tiêm kích đánh chặn nặng nhất thế giới, trọng lượng cất cánh tối đa của nó là 56 tấn, nặng hơn so với loại Tu-134 thương mại chỉ có 59 tấn.

Vài phiên bản khác đã được phát triển, bao gồm phiên bản mang tên lửa chống vệ tinh chuyên dụng, MiG-31D; một phiên bản chống vệ tinh tương tự MiG-31A; một phiên bản đa năng trong đề án, MiG-31F; và phiên bản xuất khẩu ít tính năng, MiG-31E; nhưng đa số không được chế tạo.

Ye-155MP (còn được biết đến với tên gọi Mẫu 83 MiG-25MP): bay lần đầu tiên vào 16 tháng 9-1975. Sản xuất vào năm 1979 thay thế MiG-23 và Sukhoi Su-15.
MiG-31 (Mẫu 01, 'Foxhound-A'): 2 chỗ, bay trong mọi thời tiết. Còn có tên MiG-31 01DZ khi cần nạp nhiên liêu trên không được thêm vào.
MiG-31M (Mẫu 05, 'Foxhound-B'): phiên bản cải tiến, bắt đầu được phát triển từ năm 1984. Được nhìn thấy lần đầu tiên vào tháng 2-1992. Nó được nâng cấp động cơ lên loại D-30F6M, kính chắn gió, thêm 300 lít nhiên liệu, hệ thống điều khiển số, màn hình đa chức năng, radar mảng Phazotron Zaslon-M với bán kính quét lên tới 400 km, tháo bỏ pháo thay vào 2 giá treo tên lửa, trọng lượng tối đa lên tới 52.000 kg (114.640 lb. Mẫu đầu tiên xuất hiện vào 9 tháng 8-1991.
MiG-31B (Mẫu 01B): cải tiến với radar hiện đại, trang bị EMC và EW, nâng cấp để mang tê lửa R-33. Hệ thống điện tử cải tiên gồm: hệ thống dẫn đường tầm xa A-723, tương thích với các trạm thông tin dẫn đường mặt đất như LORAN/OMEGA và CHAYKA. Thay thế mẫu 01/01DZ vào cuối năm 1990.
MiG-31BS (Mẫu 01BS): thiết kế ứng dụng cho mẫu 01/01DZ khi đã cải tạo thành kiểu tiêu chuẩn MiG-31B.
MiG-31D (Mẫu 07): chỉ có 2 chiếc được sản xuất. 1 chiếc chuyên dụng chống vệ tinh.
MiG-31E: phiên bản xuất khẩu. Xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1997 với các hệ thống đơn giản hóa.
MiG-31F: dự án máy bay chiến đấu - ném bom.
MiG-31FE: phiên bản xuất khẩu của MiG-31F
Các quốc gia sử dụng
Các quốc gia hiện đang sử dụng

Kazakhstan
Không quân Kazakhstan có 33 chiếc đang hoạt động, 10 chiếc được tân trang lại.
Nga
Không quân Nga có 386 chiếc, 286 chiếc đang hoạt động, còn 100 chiếc đang bảo quản.
Syria
Không quân Syria có 8 MiG-31E đang đặt mua.
Các quốc gia không còn sử dụng
Quân chủng phòng không Xô Viết
Không quân Xô viết chuyển MiG-31 cho Nga và Kazakhstan vào năm 1991.
Thông số kỹ thuật (MiG-31)
Đặc điểm riêng
Phi đoàn: 2 (phi công và sĩ quan điều khiển vũ khí)
Chiều dài: 22.69 m (74 ft 5 in)
Sải cánh: 13.46 m (44 ft 2 in)
Chiều cao: 6.15 m (20 ft 2 in)
Diện tích cánh: 61.6 m² (663 ft²)
Trọng lượng rỗng: 21.820 kg (48.100 lb)
Trọng lượng cất cánh: 41.000 kg (90.400 lb)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 46.200 kg (101.900 lb)
Động cơ: 2× Soloviev D-30F6, lực đẩy 93 kN (20.900 lbf) và 152 kN (34.172 lbf) khi đốt nhiên liệu phụ trội với mội động cơ
Hiệu suất bay
Vận tốc cực đại: Mach 3.03, 3.255 km/h (2.112 mph) trên cao 13.000 m (42.650 ft)
Bán kính chiến đấu: 720 km với tốc đọ Mach 2.35 (450 mi)
Bán kính tuần tiễu: 3.300 km (2.050 mi)
Trần bay: 20.600 m (67.600 ft)
Vận tốc lên cao: 208 m/s (41.000 ft/min)
Lực nâng của cánh: 665 kg/m² (136 lb/ft²)
Lực đẩy/trọng lượng: 0.85
Gia tốc g tối đa: 5 g
Vũ khí
1x pháo 23 mm GSh-6-23 với 260 viên đạn.
Mang 4 tên lửa R-33 (AA-9 'Amos') hoặc 6 tên lửa không đối không tầm xa R-37 (AA-X-13 'Arrow') (chỉ cho MiG-31M/BM)
4 giá treo vũ khí dưới cánh có thể mang:
2 tên lửa R-40RD1/R-40TD1 (AA-6 'Acrid') tầm trung
4 tên lửa hồng ngoại tầm ngắn R-60 (AA-8 'Aphid') hoặc R-73 (AA-11 'Archer')
4 tên lửa R-77 (AA-12 'Adder') tầm xa
Một số máy bay được trang bị tên lửa chống bức xạ Kh-31P (AS-17 'Krypton') và Kh-58 (AS-11 'Kilter') trong vai trò ngăn chặn hệ thống phòng không quân địch (SEAD)

Nguồn:http://www.clickngay.com/
__________________
Tôi chưa đến nước Nga
Và tôi cũng chẳng biết tiếng Nga
Nhưng cũng như bạn
TÔI YÊU NƯỚC NGA!!!

Thay đổi nội dung bởi: tungthanhvu, 28-03-2009 thời gian gửi bài 11:27
Trả lời kèm theo trích dẫn
 

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 22:59.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.