Trở về   Nước Nga trong tôi > Văn hóa Xô viết và Nga > Điện ảnh - Truyền hình

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

 
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Prev Previous Post   Next Post Next
  #1  
Cũ 25-03-2009, 08:40
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default Những hồi tưởng về cái nôi điện ảnh VGIK-ВГИК

Tháng 3/2009, Trường Đại học điện ảnh quốc gia Liên xô VGIK-ВГИК(nay là Trường Đại học điện ảnh quốc gia Liên bang Nga) tròn 90 năm thành lập. Đã từ lâu, trong giới điện ảnh Việt Nam, cái tên Vờ-gíc đã trở nên khá quen thuộc. Nó như là một thương hiệu có uy tín suốt mấy chục năm qua, bởi những cựu sinh viên của Vờ gíc đã góp phần không nhỏ vào sự trưởng thành của nền điện ảnh Việt Nam...
Nhân dịp kỷ niệm này, các cựu sinh viên VGIK đã có một hoạt động rất có ý nghĩa: tổ chức Tuần phim Nga ở Hà Nội và mời các thầy cô giáo VGIK sang thăm Việt Nam. Hungmgmi mới đọc tạp chí Thế giới điện ảnh số tháng 3, trong đó có những hồi ức của các cựu sinh viên VGIK về những năm tháng học tập đáng nhớ tại cái nôi điện ảnh này. Thật may là trên mạng có bản đánh máy những bài viết này, xin copy ra đây cho các bạn cùng đọc:

Từ chiếc nôi VGIK…
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Trong những năm chiến tranh, VGIK vẫn là cái nôi quan trọng nhất để đào tạo những người làm phim và những nhà hoạt động trong các lĩnh vực điện ảnh cho Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ điện ảnh Việt Nam cũng là hơn nửa thế kỷ những cựu sinh viên Việt Nam từ trường VGIK góp phần của mình trong từng bước đi của điện ảnh.


Cái tên VGIK từ hơn nửa thế kỷ nay đã trở nên quen thuộc với bất cứ người làm điện ảnh nào ở Việt Nam. Đơn giản là vì từ nơi đó- từ trường Đại học Điện ảnh Quốc gia Liên bang Xô Viết (nay là Liên bang Nga), gọi tắt là VGIK- bao thế hệ sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành điện ảnh đã về nước, đã đóng góp công lao, tài năng, sức lực cho nền điện ảnh Việt Nam. Và, chắc chắn rằng nếu thiếu chiếc nôi VGIK thì điện ảnh Việt Nam sẽ có một khoảng trống lớn và chưa thể có được những thành quả như ngày hôm nay! Nói là hơn nửa thế kỷ bởi ngay sau khi Hoà bình lập lại, năm 1956, nhà nước Việt Nam đã chọn lựa và cử lớp cán bộ điện ảnh đầu tiên sang học tập tại trường VGIK.

Những sinh viên đầu tiên đó được chọn và “phân công” vào học tại một số khoa và ngành như sau: Biên kịch (đầu tiên là Vũ Thư Hiên, sau đó là Bành Bảo, Bành Châu, rồi Cao Thụy...), Đạo diễn (gồm có Lê Đăng Thực, Nguyễn Khắc Lợi, Nghiêm Phú Mỹ (đạo diễn tài liệu), sau đó là Bùi Đình Hạc, Nguyền Thụ, Trần Đắc...), Quay phim (gồm Nguyễn Quang Tuấn rồi Đỗ Mạnh Hùng, Vũ Phạm Chuân (sau này là Liệt sĩ hy sinh anh dũng ở chiến trường Miền Nam), Nguyễn Xuân Chân…), Hoạ sĩ thiết kế (Lê Thanh Đức), Hoạt hình (Ngô Mạnh Lân), Lý luận phê bình (Phạm Ngọc Trương, Trịnh Mai Diêm, rồi Lê Châu, Nguyễn Thị Lợi... ). Những cán bộ – lưu học sinh điện ảnh này khi về nước hầu hết đã phát huy được vai trò và tài năng của mình, nhiều người trở thành những nhà làm phim hàng đầu trong những lĩnh vực được đào tạo, được phong tặng các danh hiệu cao quý như Nghệ sĩ Nhân dân (các NSND Bùi Đình Hạc, Ngô Mạnh Lân, Nguyễn Khắc Lợi), hay Nhà giáo Nhân dân như Lê Đăng Thực và nhiều Nghệ sĩ Ưu tú. Nhiều người trở thành những nhà quản lý- lãnh đạo chủ chốt của ngành điện ảnh.

Tôi còn nhớ những ngày còn bé, phim Liên Xô là “món ăn tinh thần” quý bao nhiêu thì mỗi khi nghĩ đến ‘xứ sở” VGIK, nơi cha tôi từng học 6 năm Đại học, tôi lại thấy ngưỡng mộ bấy nhiêu. Thi đỗ vào Đại học Tổng hợp Văn Hà Nội, tôi không ngờ rằng mình lại có được bước chuyển đổi như thế: được chuyển sang lưu học sinh nhờ kết quả học tập xuất sắc của năm thứ Nhất Tổng hợp Văn và được tuyển vào VGIK!
Để được tuyển vào học Lý luận Phê bình (thực ra, phải dịch là Điện ảnh học mới đúng), chúng tôi phải hoàn thành 2 bài luận bằng tiếng Nga, một bài dạng phê bình phim, một bài đánh giá một vấn đề điện ảnh. Bài thứ nhất tôi chọn viết phê bình phim Bài ca người lính, bài thứ hai với chủ đề đánh giá vị trí phim tài liệu trong sự phát triển của điện ảnh VN. Tôi vẫn nhớ những cảm xúc mạnh mẽ khi xem Bài ca người lính, xem ở Việt Nam trước khi sang Nga học, xem ở VGIK trước khi làm bài (trường bố trí buổi chiếu phim riêng cho tôi xem- một sự bất ngờ và cũng là ấn tượng tốt đẹp đầu tiên khi chuẩn bị được bước chân vào VGIK). Lần nào cũng khóc, nhất là ở Nga thì khóc mãi không kìm lại được với trường đoạn cuối khi Aliôsa vội vã chia tay Mẹ ra trận để rồi không bao giờ còn được gặp lại. Khi tôi đem bài phê bình đầu tiên ấy đến nữ TS. Galina Dolmatovxkaia (nhà phê bình điện ảnh nổi tiếng có nhiều công trình nghiên cứu điện ảnh Việt Nam, trong đó có cuốn sách Những tờ lịch trăng viết về điện ảnh Việt Nam rất thú vị), bà tỏ ra phấn khởi và bộc lộ tình cảm trìu mến, chia sẻ với tôi vừa như một người thân, vừa như một đồng nghiệp nhỏ. Sau này, khi học ở trường, thỉnh thoảng tôi vẫn được gặp Galina Dolmatovxkaia mà tôi vẫn gọi thân tiết là “cô Galia”, vẫn chia sẻ với cô nhiều điều. Việc này khiến tôi cảm thấy giữa điện ảnh Nga và điện ảnh Việt Nam, giữa những người làm điện ảnh Nga và Việt Nam có một sợi dây tình cảm đặc biệt. Nói cho “học thuật” thì phim Nga rất gần gũi với phim Việt Nam, chính xác hơn là có ảnh hưởng rất lớn đến phim Việt Nam- ở phương pháp sáng tác hiện thực XHCN, ở tính nhân văn trong cách ứng xử “mình vì mọi người”.

Sự ảnh hưởng ấy quá dễ hiểu bởi những người đặt nền móng cho điện ảnh Việt Nam nếu không học ở VGIK thì cũng được đào tạo bởi người thầy- chuyên gia Liên Xô Agida Ibragimov như các học viên đạo diễn- diễn viên khóa 1 của trường Điện ảnh Việt Nam, hoặc được “huấn luyện” ngay tại hiện trường Điện Biên Phủ như các “chàng trai trẻ” quay phim- chụp ảnh đã đi theo đạo diễn Roman Carmen khi ông quay phim Việt Nam trên đường thắng lợi.

Trong những năm chiến tranh, VGIK vẫn là cái nôi quan trọng nhất để đào tạo những người làm phim và những nhà hoạt động trong các lĩnh vực điện ảnh cho Việt Nam. Đối tượng được cử đi học chủ yếu là sinh viên mới tốt nghiệp phổ thông và có một số rất ít những cán bộ đang công tác trong các cơ sở điện ảnh ở miền Bắc hoặc vừa ở chiến trường miền Nam ra; kinh phí đào tạo hoàn toàn của nước bạn (căn cứ vào Hiệp định hợp tác Văn hoá- Giáo dục giữa hai nước). Sau khi tốt nghiệp, sinh viên đều được bố trí làm việc trong các sơ sở điện ảnh của nhà nước. Sinh viên VGIK khi về nước, đã trở thành lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành điện ảnh nước nhà. Có thể kể đến các tên tuổi nổi tiếng của lứa “lưu học sinh thời chiến tranh”- (có người kết thúc khoá học trước năm 1975, có người sang học trong thời gian chiến tranh nhưng tốt nghiệp sau ngày đất nước giải phóng): Xuân Sơn (đạo diễn phim truyện); Trần Văn Thuỷ, Trần Duy Hinh, Tô Việt Hải (đạo diễn tài liệu); Nguyễn Sĩ Chung (biên kịch), Vũ Quang Chính, Trần Luân Kim, (lý luận phê bình), Trần Trung Nhàn, Đan Thụ, Nguyễn Mạnh Lân (quay phim), Đinh Triết, Nguyễn Văn Sử, Nguyễn Duy Chiêu, Khuất Duy Tuệ (kinh tế) vv và vv...
Năm 1975, Miền Nam hoàn hoàn giải phóng, đất nước thống nhất, điện ảnh Việt Nam bước vào thời kỳ hậu chiến- một thời kỳ được đánh giá là “khởi sắc” nhất trong lịch sử mấy chục năm điện ảnh: không khí sáng tác hào hứng, đội ngũ hùng mạnh, số lượng phim xuất xưởng hàng năm vượt trội và nhiều tác phẩm được đánh giá cao ở trong nước và quốc tế.

Có được sự khởi sắc ấy, bên cạnh những nghệ sĩ, các nhà hoạt động điện ảnh dày kinh nghiệm và thành tích của “thời điện ảnh chiến tranh” và những nghệ sĩ điện ảnh Sài Gòn cũ thì các sinh viên điện ảnh tốt nghiệp ở nước ngoài- mà nguồn chính vẫn là sinh viên được đào tạo ở trường Điện ảnh VGIK- là lực lượng bổ sung và đóng góp sức lực đáng kể. Sinh viên Việt Nam vẫn học ở hầu hết các khoa, các ngành học trong trường: từ đạo diễn đến quay phim, từ biên kịch đến lý luận phê bình, từ hoạ sĩ thiết kế- hoạ sĩ hoạ hình đến kinh tế điện ảnh. Bởi vậy, khi về nước, họ trở thành lực lượng hùng hậu trên khắp các lĩnh vực hoạt động của ngành, từ sáng tác đến quản lý điện ảnh. Có thể kể một số cái tên tiêu biểu của các cựu sinh viên VGIK thời kỳ này, bây giờ đó hoặc đang là những nhà sáng tác, những người hoạt động điện ảnh có thành tựu như: Việt Linh, Lê Đức Tiến, Vương Đức, Vũ Xuân Hưng, Hà Sơn, Tô Hoàng… từ khoa Đạo diễn; Lê Ngọc Minh, Nguyễn Hậu, Trần Thanh Hiệp, Đoàn Trúc Quỳnh, Nguyễn Thị Hồng Ngát… từ khoa Biên kịch; Phan Hà Thành, Lê Hồng Chương… từ khoa Quay phim; Phương Hoa, Đỗ Lệnh Hùng Tú từ khoa Hoạ sĩ; Ngô Phương Lan, Phan Bích Hà, Đặng Minh Liên… từ khoa Lý luận phê bình. Một số cựu sinh viên của khoa Kinh tế điện ảnh cũng đã phát huy nghề nghiệp của mình trong nhiều năm qua trên vị trí của các nhà quản lý như Quách Ngọc Xương, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Thị Minh Hiền, Trần Hữu Thanh, Nguyễn Thị Gia Phong, Nguyễn Văn Chuyền...
Khi Liên Xô tan rã, trường Đại học Điện ảnh VGIK- cái nôi lớn nhất cung cấp lực lượng các nhà sáng tác và hoạt động điện ảnh cho Việt Nam cũng tạm ngừng “sứ mệnh” kéo dài bền bỉ bốn thập kỷ. Cũng may là một lứa sinh viên Việt Nam đã kịp học tập và tốt nghiệp trong thời gian “cải tổ” của Liên Xô, về nước đã phát huy được sở trường của mình trong hoạt động điện ảnh với một số tên tuổi được nhiều người biết đến như Phạm Hoàng Nam, Đoàn Minh Tuấn, Phạm Thanh Hà, Bùi Trung Hải, Vũ Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Đức, Đặng Việt Bảo, Nguyễn Hữu Mười, Nguyễn Hạnh Lê... Trong 50 năm, tính từ năm 1956 cho đến hết năm 1995, có tất cả 128 sinh viên được đào tạo từ ngôi trường VGIK. Và rất may, cho đến những năm gần đây, lại có những sinh viên Việt Nam được tạo điều kiện hoặc có cơ hội học tập tại VGIK.

Tôi có một “kiểm nghiệm” khác về những ảnh hưởng của điện ảnh Nga nói chung đối với phim Việt Nam và ảnh hưởng của “phong cách VGIK” nói riêng đối với người làm điện ảnh Việt Nam. Khi cuốn sách Tính hiện đại và tính dân tộc trong điện ảnh Việt Nam của tôi được dịch sang tiếng Anh, ông Philip Cheah- một chuyên gia nổi tiếng về điện ảnh châu Á và là một trong hai người biên tập cuốn sách của tôi- bỗng bảo tôi: “Lan ạ, đọc xong cuốn sách, tôi đi tìm mua bao nhiêu đĩa phim kinh điển của Nga như Bài ca người lính, Đàn sếu bay, Số phận một con người… Xem thấy các phim ấy đẹp và hay quá. Tôi cũng hiểu hơn về phim Việt Nam”.

Thật lạ, trong cuốn sách của mình, tôi phân tích- nghiên cứu một số phim hay của Việt Nam, và không hề so sánh với phim Nga, thế mà Philip Cheah vẫn tự nhận ra mối dây liên hệ, “sự ảnh hưởng”. Cũng có thể cách nhìn nhận, đánh giá tác phẩm điện ảnh của người được “đào luyện” từ VGIK như tôi có nét gì đó đặc trưng kiểu Nga? Kể cũng thú vị!

Hơn nửa thế kỷ điện ảnh Việt Nam cũng là hơn nửa thế kỷ những cựu sinh viên Việt Nam từ trường VGIK góp phần của mình trong từng bước đi của điện ảnh. Rồi, các cựu sinh viên VGIK lại truyền thụ và để lại dấu ấn VGIK rõ rệt cho các thế hệ sinh viên của họ trong các Trường Đại học sân khấu Điện ảnh Hà Nội và T.p Hồ Chí Minh. Bởi vậy, những người làm điện ảnh Việt Nam coi VGIK là một trong những chiếc nôi lớn – nơi khởi đầu con đường sự nghiệp của mình.

Ngô Phương Lan
__________________
hungmgmi@nuocnga.net

Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 25-03-2009 thời gian gửi bài 08:49
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Nina (25-03-2009)
 

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 22:59.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.