Trở về   Nước Nga trong tôi > Chiến tranh giữ nước vĩ đại > Vũ khí của Hồng Quân

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

 
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Prev Previous Post   Next Post Next
  #11  
Cũ 20-01-2013, 00:18
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Súng trường xung phong và súng trường đối kháng
Thế hệ AK là súng trường xung phong, còn thế hệ Mauser-Mosin là súng trường đối kháng. AK là Assault Rifle , còn Mosin là Battle Rifle.

Có thể hiểu thế này. AK có mặt trội khi cầm xúng tấn công xung phong, bắn ngắm ẩu hay thậm chí là không ngắm những mục tiêu xuất hiện đột ngột trên đường đi bằng cách bắn liên thanh trùm lên mục tiêu. Mosin thì hai bên nấp trong hào ngắn bắn nhau cẩn thận đoàn từng phát. Mosin khi xung phong thì bắn từng phát một không thể trùm lên địch khi ngắm ẩu.

Vào thời AK thì người ta vẫn sản xuất các súng có chức năng như Mosin tuy là cải tiến bắn tự động từng phát một, như SVD. Nhưng lúc đó SVD được sản xuất để bắn tỉa, chức năng còn lại của những súng như Mosin. Vào hồi Mosin phát một không sợ giật, đạn không có nhiều, không lo lính mang nặng, nên người ta có xu thế làm đạn to để khai thác tối đa khả năng bắn phát một của một khẩu súng cỡ 3-4kg. Những súng như Mosin có thể sát thương ở 2km, bắn chính xác ở 600 mét (Mosin là súng trường mạnh nhất hồi đó). Điều này là thừa, vì đại bộ phận các binh nhất chỉ ngắm bắn được 250 mét (tỳu cách đánh giá, một số cách đánh giá là 250 mét). Sau này các súng máy dùng các cỡ đạn này để bắn xuyên tưởng, xuyên rừng, hay các súng trường để bắn tỉa bởi các xạ thủy hàng tuyển.

AK phải dùng đạn có động lượng yếu hơn. Ví dụ, một cỡ súng trường cầm tay khoảng 3-4kg như AVS-36 bắn đạn Mosin (youtube), súng rất giật. Việc làm đạn có động lượng yếu hơn mà vẫn sát thương bắn xa là một khó khăn khi thiết kế súng.

Súng ngắn liên thanh (PP/MP) cũng có khả năng xung phong, nhưng chúng không bắn xa được, không khai thác hết khả năng bắn của binh nhất. Một định nghĩa súng trường tối thiểu là tầm bắn hiệu quả 250 mét (300 mét). Tầm bắn hiệu quả là tầm bắn mà trừ các viên đạn hỏng thì tất cả trúng bia số 4 (hay bia tròn đường kính 40" kiểu Mỹ), thử bắn bằng phát một.

Người ta có thể hiểu tầm bắn hiệu quả theo nhiều cách khác nhau. Nòng mới của M16 đúng bằng điểm thay nòng của AK.

Bên Đức. Cuộc đấu súng trường xung phong và súng ngắn liên thanh.
Đức gặp nhiều khó khăn vì các lệnh cấm súng sau khi bại trận. Từ 192x phái bác học già bâu quanh Mauser đã đề xuất các thiết kế súng hiện đại. Tuy nhiên, đặc điểm chung của thời này là Đức bị cấm làm súng máy, nên các chương trình súng máy bí mật rất ít, điều này làm máy súng máy tụt hậu xa so với Liên Xô. Tuy nhiên, Đức đánh giá súng ống vẫn như Liên Xô, hàng đầu thế giới, vượt xa các nước khác.

Ví dụ, trong một thời gian dài Đức dùng hệ thống khí Bang system. Nó gồm một piston có lỗ tâm cho đầu đạn chui qua đặt ở đầu nòng, khi súng nổ, khí thuốc thổi piston này về trước, kéo một cần, cần này chuyển thành chuyển động lùi qua đòn bẩy, đẩy máy súng chạy. Cả hai khẩu súng trường bắn phát một lên đạn tự động G-41 đều dùng cái này và chưa được chấp nhận chính thức, chỉ sản xuất vài vạn khẩu chờ quân đội đánh giá. Đó là G.41(M) mauser và G.41(W) Walther. Khẩu G.41(W) Walther sau đó thắng thầu thành G43 sản xuất lớn cùng với việc mang trích khí SVT copy ngay trong chiến tranh.

Máy súng G.41(W) Walther là kiểu máy súng tự động phác thảo bởi nhà khoa học Thụy Điển Rudolf Henrik Kjellman ăm 1907, nhưng chưa có thử nghiệm nào. Đây là họ máy súng tự động được dùng rất rộng ở Nga và Đức, nó hơn hẳn những chèn nghiêng và quay nhiều tai của Tây Âu. Bên Liên Xô chính là máy DP, còn Đức có MP45, MG42 và G43. Sau này, khẩu súng thử nghiệm Anh trong thập niên 196x sử dụng lại khóa nòng G43, nhưng chỉ dùng để thử nghiệm. Trong các kiểu khóa nòng cùng họ đó, thì các máy súng kia biến đổi rất khác phác thảo của Rudolf Henrik Kjellman, riêng G43 thì như hệt. Thực tế là, nguyên lý máy của G43 đã chứng minh rằng, kiểu máy này có nhiều nhược điểm. Nhược điểm chính của nó là nó không thoáng, cần chăm sóc kỹ, không chịu được sai số do mòn, cũng như cần vật liệu cứng, gia công khó, khó tháo lau.

Nguyên lý phác thảo của Rudolf Henrik Kjellman, từ trang gotavapen
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Một thành công nữa của súng Đức là MG42. Cần phân biệt với FG42 chúng ta sẽ nói sau. MG42 dùng máy có động cơ lùi nòng. Máy lùi nòng được dùng ở súng ngắn như C96 cũng như các pistol ngày nay, C96 có nòng dài và báng để lắp vào và dùng như một súng trường nhỏ. Fedorov Avtomat có máy như C96, kiểu máy này không hợp với súng bắn nhiều đạn vì nó va đập mạnh không bền. Những súng máy Đức như MG30, MG34 của Rheinmetall (một nhánh của phái Mauser) cũng là lùi nòng nhưng khóa nòng quay kiểu khác. Đức cũng không hoàn thiện được khóa nòng quay nên các súng này được thay thế. MG42 dùng nguyên lý được phác thảo của nhà khoa học Thụy Điển Rudolf Henrik Kjellman, nhưng biến đổi đi nhiều. Súng cũng có máy như DP, nhưng hai ngạnh chống của DP được thay bằng con lăn. Vòng bi Đức số dách toàn cầu cho đến nay, nên cũng vì thế mà ít công ty làm được cái con lăn này. MG42 sau chiến trang được tây Đức dùng lại với tên MG3, cải đạn NATO 7,62x51.

Nguyên lý chiến đấu của MG42 rất xuất sắc. Có hai điểm quan trọng, một là chụm loạt cực nhanh 1200, giá súng chuyển động rất cân trong loạt, nhgowf đó trùm một số lượng lớn đạn lên mục tiêu điểm ở xa khó ngắm bắn. Nguyên lý chiến đấu của súng máy Nga-Đức hoàn toàn khác nguyên lý của súng máy Tây Âu. Ở Tây Âu người ta được nhồi sọ bởi những phim răm bô, bắn súng ngắn cả ngày không hết đạn, nên dùng súng máy để quét diện tích. Còn Nga-Đức dùng súng máy để bắn loạt diệt mục tiêu điểm. Điểm thứ hai, MG42 là súng máy toàn năng, nó có các giá bắn 2 càng trung liên, 3 chân đại liên và giá bắn cao xạ. Cách thiết kế súng máy toàn năng này được áp dụng lên DPM và PK sau này của Liên Xô. Khi làm trung liên, súng có 1 nòng và ít đạn, còn khi làm đại liên thì súng mang theo nòng thay nhanh.

MG42 cũng là súng của phái bác học già. Ba công ty phái này Johannes Grossfuss AG, Stubgen AG, Rheinmetall-Borsig AG nhận thầu thiết kế, thiết kế được duyệt là của Grossfuss.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Một kiểu máy tương tự nhưng không lùi nòng, chỉ có bịt đáy nòng lùi có hãm, khác với các súng ngắn liên thanh MP/PP bịt đáy nòng lùi tự do. Súng cũng dùng con lăn. MP45 ra đời lúc gần hết chiến tranh. Một số MP44 sản xuất đầu năm 1945 cũng được dập lên dòng MP45, nhưng không phải loại MP45 được nói ở đây. Sau chiến tranh kiểu máy này được Pháp thử nghiệm rồi bỏ, sau đó được dùng ở Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Thụy Điển... là nững nước thân mật với Đức.
Súng này thì thuộc bác học già chính chủ Mauser (mẫu thử có tên Mauser Gerat 06 ). Sau chiến tranh Đức dùng lại kiểu máy này ở G3, khi cấm vận nhàn nhạt thì họ bán nhiều nơi như Pakistan, Iran... và một số nước khác.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Chúng ta tham quan lại máy DP cùng họ phác thảo của nhà khoa học Thụy Điển Rudolf Henrik Kjellman, máy dùng động cơ trích khí. Như đã nói trên, bên Đức trích khí không phát triển tốt, trong chiến tranh phải copy trích khí SVT. Trích khí DP là tridchs khí mẫu mực ngày đó, chỉ có khẩu trung liên Pháp fusil-mitrailleur de 7,5 mm modèle 1924 (FM mle 1924) là có trích khí ngần sánh được với DP, Brno ZB-26 Tiệp Khắc là một dòng khác tốt xấu ta nói sau, các trích khí khác hạng từ BAR đều đụt xa. Trích khí FM mle 1924 có cấu tạo đã gần giống DP, chỉ thiếu tuye thổi và lỗ thoát bẩn. DP-27/28 được chấp nhận sau FM mle 1924. Trích khí SVT là bản cải tiến từ trích khí dùng cho súng nhẹ, đến nay vẫn là mẫu mực của trích khí Mỹ, được dùng trên AR-18. Các trích khí FN FAL và G36 cải tiến một để chuyển động đều và dễ tháo lau nhưng vẫn là cấu tạo từ SVT.

Máy DP là 2 máy chèn nghiêng hai bên để bù rung ngang, máy này khá nặng cho súng cá nhân, sau được dùng trên RPD.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Một kiểu súng nữa cần quan tâm trong này là FG42, cùng được chấp nhận một năm với MG42. Súng dùng trích khí, trích khí của nó có nhiều vấn đề ta sẽ đề cập dịp khác. Sau này Mỹ copy thành M60. Về nguyên lý chiến đấu, FG-42 là súng trường xung phong, nhẹ như súng trường cá nhân 4,3kg, súng máy dùng cho nhảy dù, nhưng vẫn bắn đạn súng trường to Mauser, điều này không hợp lý khi bắn liên thanh vì súng rất giật như bản SVT liên thanh-vì súng rất nhẹ so với động lượng đầu đạn, nên nó vẫn được xếp vào hạng súng trường thường, nguyên lý chiến đấu này bất hợp lý. Các súng trường xung phong về sau này khi dùng đạn súng trường chiến đấu đều phải cắt ngắn nòng đi, làm yếu đạn, giảm sức giật.

Ở đây, ta chỉ quan tâm đến cơ cấu máy súng, nó là khóa nòng quay hai tai, và chúng ta cần so chúng với AK cũng là khóa nòng quay 2 tai.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Trước khi quan tâm đến khóa nòng quay 2 tai, chúng ta xem loại máy điển hình của súng máy Tây Âu nó kém Nga Đức thế nào. Lúc bấy giờ hầu hết súng trung liên Tâu Âu .

Đây là kiểu máy chèn nghiên. Rõ ràng, nó chỉ là một nmuwar máy DP, và vì DP cần hai nửa bù rung nên kiểu máy này rung ngang, không bao giờ được Nga-Đức chấp nhận đàng hoàng. FM mle 1924 (Pháp), BAR (Mỹ), ZB-26 (Tiệp Khắc), Bren (Anh) đều dùng loại máy súng này. ZB-26 (Tiệp Khắc), Bren (Anh) có cấu tạo nguyên thuỷe rất giống hình này, Bren thật ra là bản ZB-30 cải trích khí và đạn bán li xăng sang Anh. FM mle 1924 được thiết kế theo BAR tiền nhiệm , có cái khớp gập.

Bên Xô-Đức, cũng có 3 phiên bản chèn nghiên được chấp nhận và tham chiến. Đó là ZB-26(t), chính là ZB-26, sau khi sát nhập Tiệp Khắc và MG-42 chưa ra đời, chữ t tỏ ý miệt thị nên viết thường (Tschechoslowakei=Tiệp Khắc trong tiếng Đức). MP44 là câu chuyện bi hài của phái súng ngắn liên thanh mà chúng ta sắp đề cập, thật ra chỉ là thu nhỏ ZB-26. Còn AS-44 là khẩu súng đầu tiên trong chương trình M43 Liên Xô thiết kế xong, được đem ra trận với 3-4 phiên bản, gồm súng trung liên súng trường xung phong, súng trường nòng dài bắn phát một tự động... coi như là một thử nghiệm trên chiến trường của cỡ đạn này. Như đang nói, chương trình M43 có đích đến là AK năm 1949. Lý do của 3 khẩu chèn nghiêng liên thanh được châpos nhận ở Xô-Đức là như vậy.

Máy chèn nghiêng cũng là kiểu máy của SVT và SKS, tất nhiên chúng đều phát một nên không sợ rung. Sau này, Thụy Điển copy SVT thành AG42 (gotavapen), nhưng Thụy Điển sai lầm dùng trích khí trực tiếp kiểu Pháp mà không dùng trích khí SVT. Đọc trong link trên để biết người Thụy Điển đã đánh giá sai lầm của họ. Sau này, hãng FN Bỉ làm lại FN FAL rất giống AG42 chỉ trừ việc dùng lại trích khí SVT có cải tiến. FN FAL sau đó có người em là FN FNC là một bản sao AK, nhưng nhiều nước vẫn mua FAL cho rẻ và dễ nhập kỹ thuật về chế tạo. Sau này AR-15 bê nguyên xi trích khí AG42 vào vua đẻ non M16 cho đến nay, còn Armalite thì thay mặt AG42 xin lỗi SVT bằng cách copy y hệt trích khí SVT, không cần những cải tiến của FAL, áp dụng trong AR-18.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

FM mle 1924 với cái khớp gập như BAR
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Trước khi phân tích, chúng ta tham chiếu đến laọi máy tự động khác. Các súng khóa nòng quay nhiều tai. Nguyên tắc chịu lực khỏe là cái kiềng ba chân sẽ chia đều lực, với khóa nòng quay hai tai thì 2 tai chịu lực là chính, cái chân thứ 3 là đuôi khóa nòng. Khi có nhiều tai, nếu như chân khấp khểnh thì những chân nào co lên không chịu lực, lực dồn vào những chân dài, nhanh hỏng súng và hỏng không đều. Chính vì thế M16 ngày nay không được lắp lẫn khóa nòng vào máy súng đã qua sử dụng, vì các súng khác nhau sẽ mòn khác nhau. Đức trước đây khi vội cũng dùng nhiều tai, nhưng về sau họ có những máy trên. Liên Xô thì không bao giờ.
Le fusil (semi-)automatique de 7 mm Meunier A6 modèle 1916. Còn M16 có thuỷ tổ là Mondragon Mexico.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Nhìn xa hơn, thì toàn bộ các máy súng trên, trừ bọn quay nhiều tai, là của ba họ
Rudolf Henrik Kjellman
Vetterli M1869 Thụy Sỹ
Mannlicher Model 1885 Áo Hung

Vetterli 1869 và Mannlicher 1885 là những súng bắn phát một lên cò tay, nhưng là "Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng. Những Mauser, Mosin đều phải quay - kéo lùi - đẩy lên - quay để lên cò nạp đạn, nhưng những "Straight-pull bolt action" chỉ cần kéo lùi đẩy lên. Như thế, chúng ta có thể hiểu, chỉ cần thêm trích khí là chúng tự động. Vetterli là khóa nòng quay hai tai, còn Mannlicher là chèn nghiêng.

Vấn đề chèn nghiên chúng ta đã đi khá nhiều, Xô-Đức không thể chấp nhận loại mạt hạng này. Rudolf Henrik Kjellman lại đem lại những giải pháp không tốt cho Liên Xô, DP thì nặng, còn con lăn thì khó làm. Còn quay hai tai cũng là loại khóa nòng của AK ?.

Dòng súng trường phát một lên cò tay thì thế giới chủ yếu là những khóa nòng quay hai tai từ 189x, như Mauser, Mosin... Vetterli và FG42 thi hành y đúc loại khóa nòng này chuyển lên liên thanh. So với phát một lên cò tay, thì súng có thêm cái bệ khóa nòng, bệ khóa nòng chứa khóa nòng và bệ chuyển động tiến lui. Khóa nòng có thêm một tai quay tương tác với rãnh xoắn trên bệ khóa nòng. Người ta lắp trích khí vào bệ khóa nòng là Mauser-Mosin bắn tự động. Những mâu thuẫn khi chuyển từ p[hát một lên liên thanh đuwocj đắp bằng những hợp kim quý

Nhắc lại là, súng máy cho đến WW2 là hàng quý tộc-trừ súng ngắn liên thanh, rất đắt, rất ít, nên thả cửa đắp thêm hợp kim quý. Đó là điểm mà AK không thể chấp nhận, nó không thể chỉ có vài vạn khẩu, mà hàng trăm triệu khẩu.

............... để sau.

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 21-01-2013 thời gian gửi bài 16:08
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (20-01-2013), tolaind (22-01-2013)
 

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 02:44.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.