Trở về   Nước Nga trong tôi > Văn hóa Xô viết và Nga > Âm nhạc > Nhạc cổ điển

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 28-11-2007, 01:06
Apomethe Apomethe is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 76
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn 64 lần trong 31 bài đăng
Default Các nhạc sỹ cổ điển Nga

Nói về âm nhạc Nga mà không nhắc đến nhạc cổ điển Nga thì thật là thiếu sót. Nền âm nhạc cổ điển Nga đóng một vai trò khá quan trọng trong nền âm nhạc cổ điển thế giới và chủ yếu trong thế kỷ 20. Trường phái Nga cũng đóng góp cho thế giới những thiên tài pianist và violinist. Xin tạm nêu ra các nhạc sỹ sau, là những người tiêu biểu cho nền âm nhạc Nga, xin lấy những bài có sẵn trước, sau này sẽ viết thêm.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Apomethe cho bài viết trên:
DASAEV (13-03-2008), Flamingo (28-10-2009), Nina (03-12-2007)
  #2  
Cũ 28-11-2007, 01:07
Apomethe Apomethe is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 76
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn 64 lần trong 31 bài đăng
Default

Tchaikovsky

Những giai điệu không thể nào quên, những sắc màu mạnh mẽ và sự xúc cảm vô bờ bến trong từng tác phẩm của Pyotr Il'yich Tchaikovsky từ lâu đã đưa ông trở thành một trong những nhà soạn nhạc cổ điển nổi tiếng nhất trong mọi thời đại. Giới phê bình nghệ thuật và nhiều chuyên gia âm nhạc gặp khó khăn trong việc đánh giá một cách đầy đủ về sự độc đáo và tài năng của Tchaikovsky. Ông sinh ngày 7/05/1840 tại Votkinsk, mất ngày 6/11/1893 ở St. Petersburg, Nga.


Trong các luận văn về tiểu sử của những nhà soạn nhạc nổi tiếng, người đọc có thể nhận thấy rõ vì sao opera lại là trọng tâm của Mozart và ca khúc lại là thể loại chủ đạo của Schubert. Với Tchaikovsky, "tinh chất" trong các tác phẩm của ông nằm trong nhiều cách thức thể hiện về thế giới tưởng tượng được lý tưởng hoá của ballet cổ điển. Cảm xúc mạnh mẽ, phản ánh đa chiều và nhiều màu sắc về con người, cuộc sống đã lan toả trong hầu hết các tác phẩm âm nhạc của ông, kể cả trong những bản giao hưởng bất hủ.

Pyotr Ilyich Tchaikovsky sinh ra trong một gia đình trung lưu ở Votkinsk, Nga. Giống Schumann, một nhà soạn nhạc đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ông, Tchaikovsky đã từng học về luật một cách rất nghiêm túc trước khi theo đuổi sự nghiệp thực sự của mình. Sau đó, ông theo học tại Trường âm nhạc St. Petersburg (1863 - 1865). Trong những giáo viên của ông có cả Anton Rubinstein, người đã dạy ông sáng tác nhạc. Năm 1866, ông đến Moscow với vai trò là một giáo sư về hoà âm tại một trường nhạc mới do Nicholas Rubinstein (một người anh em của Anton) thành lập. Trong hai năm đầu tại trường nhạc này, ông đã viết bản nhạc giao hưởng thứ nhất (Winter Daydreams) và vở nhạc kịch đầu tiên (Voyevod) của mình.

Tại trường nhạc, Tchaikovsky đã quen biết với nhóm các nhà soạn nhạc Nga do Rimsky-Korsakov và Balakierev đứng đầu. Chính những xúc cảm theo chủ nghĩa dân tộc của hai người này đã truyền cảm hứng cho bản nhạc giao hưởng thứ hai của Tchaikovsky có tên "Little Russian". Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, Tchaikovsky sau đó đã bị hội nhạc sĩ khai trừ vì "được đào tạo về âm nhạc quá nhiều, theo chủ nghĩa quốc tế và ''không đáng'' là người Nga".

Trên thực tế, âm nhạc của Tchaikovsky, trong sâu thẳm vẫn mang đậm sắc thái Nga nhưng cũng thấm nhuần tình yêu của ông đối với Mozart và chịu ảnh hưởng từ những nhà soạn nhạc nổi tiếng ở Tây Âu khác, đặc biệt là âm nhạc Pháp của Bizet và Saint-Saëns. Nhưng như Stravinsky đã từng viết, "âm nhạc của Tchaikovsky, vốn không thể hiện vẻ đặc trưng chất Nga đối với tất cả mọi người, lại thường sâu sắc âm hưởng Nga hơn so với thể loại âm nhạc từ lâu được quan niệm một cách dễ dãi như là hình ảnh về nét đẹp phong phú của người Moscow. Thể loại nhạc này của Tchaikovsky mang chất thuần Nga chẳng khác gì thơ của Pushkin hay ca khúc của Glinka... Tchaikovsky đã rút ra những vẻ đẹp này một cách vô thức từ những nguồn cảm hứng dân gian và thực tế cuộc sống."




Từ 1869 đến 1876, Tchaikovsky đã viết thêm 3 vở opera nữa, và bản concerto cho piano. Ông cũng là nhà phê bình âm nhạc với khá nhiều lời khẳng định gây chấn động như: "Nhạc của Wagner chẳng có ý nghĩa gì với tôi, nhạc của Brahms cũng vậy. Tôi cảm thấy bị chọc tức khi mà sự tự phụ tầm thường đó lại được ghi nhận như một thiên tài.Về Beethoven, tôi thừa nhận sự vĩ đại trong một số tác phẩm của ông, nhưng tôi không sùng bái ông ta.". Tuy nhiên, theo Tchaikovsky Mozart là "Đức Chúa âm nhạc".

Năm 1877, Tchaikovsky đã vấp phải một sai lầm tai hại khi cưới một trong những học trò của mình, Antonina Ivanova Miliukova. Tchaikovsky, một người đa cảm quá mức, bất hạnh và luôn giấu kín bệnh đồng tính của mình, hy vọng rằng một cuộc hôn nhân đáng trân trọng với một học trò tôn kính thần tượng sẽ là một giải pháp khả thi cho cảnh ngộ khó khăn. Thật không may, ông đã chọn phải một phụ nữ không chỉ không thông minh, lại còn mắc chứng cuồng tưởng. Cuộc hôn nhân này kéo dài được 9 tuần, và lên tới đỉnh điểm đổ vỡ khiến Tchaikovsky nghĩ tới việc tự tử bằng cách nhảy xuống sông (để lại cho ông chứng viêm phổi). Modest, người em của ông, cũng bị bệnh đồng tính, đã cứu sống ông và đưa ông về St Petersburg, nơi Tchaikovsky trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần thực sự.

Vào thời gian này, Tchaikovsky đã bắt đầu một quan hệ với một goá phụ giàu có, bà Nadejda von Meck, người đã trở thành người bảo trợ cho ông trong 14 năm tiếp sau. Bà lúc đó 46 tuổi, là mẹ của 7 đứa trẻ. Nhưng bà đã đề nghị được trợ cấp cho Tchaikovsky với điều kiện họ không bao giờ gặp nhau. Trong quá trình trao đổi thư từ rất nhiều giữa hai người, bà đã viết, "...Tôi sợ sự giao thiệp với ngài. Tôi muốn nghĩ về ngài từ một khoảng cách xa, để nghe ngài nói trong nhạc của ngài và chia sẻ những xúc cảm của ngài qua đó." Mỗi khi họ gặp mặt nhau tại một buổi hoà nhạc, hai người chẳng ai nói lời nào và họ quay mặt đi trong bối rối ngại ngùng.

Mối quan hệ bất thường này cùng với những khoản tiền hoa hồng ngày càng nhiều cho phép Tchaikovsky từ bỏ việc dạy nhạc và sống một cuộc đời sung túc, đầy đủ ở một vùng quê yên bình. Tuy nhiên, cuộc sống nơi vắng vẻ cũng không thể làm ông khuây khoả bớt những tổn thương về xúc cảm, và ông tiếp tục trải qua những cơn đau đầu, thường khiến ông phải vật vã và uống rất nhiều rượu để vượt qua. Trong nhật ký, ông viết: "Đương nhiên, việc lạm dụng rượu là rất có hại. Tôi hoàn toàn đồng ý với điều này. Nhưng tôi, một người đau ốm, luôn bị khủng hoảng thần kinh, hoàn toàn không thể làm được việc gì mà không dùng đến rượu."

Khi Nadja chấm dứt mối quan hệ của họ một cách đột ngột vào năm 1890 do các lo ngại của bà về nguy cơ phá sản, Tchaikovsky đã bị tổn thương nặng nề về tinh thần. Bà từ chối trả lời các bức thư của ông và do đó, mọi niềm tin của ông về con người ''đã bị đảo lộn." Tchaikovsky không biết rằng, Nadja đã phải chịu đựng căn bệnh thần kinh của bà. Tchaikovsky rời đến New York năm 1891 để tham gia vào các hoạt động khánh thành Nhà hát Carnegie Hall. Nước Mỹ đã quyến rũ ông, nhưng ông đã viết rằng: "Tôi ưa thích tất cả mọi thứ như một người ngồi trước một bàn ăn bày tất cả những tinh hoa của nghệ thuật ẩm thực nhưng thiếu cảm giác ngon miệng." Năm 1892, ông đã nghe Mahler chỉ huy vở opera "Eugene Onegin" tại Hamburg.

Quay về Nga, Tchaikovsky viết tổ khúc được mến mộ "Nutcracker Suite", hoàn tất vào năm 1892, và bắt đầu bắt tay vào thực hiện Bản giao hưởng số 6. Tác phẩm cuối cùng mang tên "Pathétique" được coi là tác phẩm mà ông ''dành trọn tâm hồn". Trong vòng 1 tuần sau lần trình diễn đầu tiên tác phẩm này tại St. Petersburg năm 1893, ông đã qua đời, với nguyên nhân được cho là bị nhiễm khuẩn tả do uống nước không đun sôi, có thể là do chủ ý của ai đó. Cũng có một số giả định cho rằng có thể ông đã bị đầu độc để ngăn chặn sự bại lộ của một vụ scandal tình dục đồng giới có liên quan đến tầng lớp quý tộc.

Khác với một số đồng nghiệp người Nga cùng thời của mình, Tchaikovsky đã rất cố gắng để tìm ra những hình thái rõ ràng cho tư tưởng của mình. Ba bản giao hưởng cuối cùng là những thành công tột bậc của sự tìm kiếm này, đẩy lên đến cực điểm bằng cách xử lý tuyệt vời và không theo thông lệ trong đoạn kết của Bản giao hưởng số 6 với một phần nhạc chậm được kéo dài, giải toả và tiêu tan tất cả những sinh lực của phần nhạc hành khúc nổi bật trước đó.

Tchaikovsky, cùng với Brahms, có lẽ là những nhà soạn nhạc lỗi lạc nhất trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Ngoài những bản nhạc giao hưởng và dàn nhạc thính phòng được nhiều người yêu thích như rất nhiều bản concerto khác nhau dành cho piano, violin và cello. Tchaikovsky còn để lại những vở nhạc kịch bất hủ như "Romeo và Juliet", vở "Khúc dạo đầu 1812" và "Tuỳ hứng Italia"... "Eugene Onegin" và "Queen of Spades" (Đầm Pích) là những tác phẩm của Tchaikovsky thường được biểu diễn tại các nhà hát, còn các vở ballet "Sleeping Beauty" (Nàng công chúa ngủ trong rừng), "Swan Lake" (Hồ Thiên nga) và "Nutcracker" (Chiếc kẹp hạt dẻ) đã trở thành một phần không thể thiếu của âm nhạc cổ điển thế giới. Hay nhưng ít nổi tiếng hơn là ba bản tứ tấu đàn dây), bản serenade cho đàn dây, bản Ami Piano Trio, tác phẩm cho độc tấu piano...

Bình Anh tổng hợp

____________________________

Peter Ilyich Tchaikovsky
(Kamsko-Votkinsk, May 25, 1840 - St. Petersburg, November 6, 1893)
Russian composer of the Tahomatic period


1.Thân thế và sự nghiệp: Tchaikovsky’s sinh ngày 25/5/1840 ở Votkinsk thuộc Uran trong một gia đình kỹ sư mỏ. Sống trong gia đình quý tộc bậc trung, cậu bé được giáo dục toàn diện, rất yêu thích và có năng khiếu về âm nhạc từ nhỏ. Nhưng bố mẹ không muốn cho con theo con đường nghệ thuật nên gửi Tchaikovsky’s đến Petersburg để học ở trường Trung cấp luật ( từ năm 1850-1859). Trong thời gian này cậu bé say mê học âm nhạc. Theo lời khuyên của A.Rubinsten, Tchaikovsky’s bỏ nghề luật và thi vào nhạc viện Petersburg (1862). Sau ba năm học tập, Tchaikovsky’s tốt nghiệp với huy chương bạc và trở về hoạt động ở Moscow rồi trở thành giáo sư của nhạc viện thành phố (1865). Tchaikovsky’s hoạt động âm nhạc rất hăng say trong lĩnh vực sáng tác, lý luận, giáo dục...Trong khoảng 12 năm (từ 1865-1877) ông đã sáng tác nhiều tác phẩm.

Năm 1877-1885, tình hình xã hội có nhiều biến đổi và với cuộc hôn nhân không thành đã làm cho Tchaikovsky’s rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần trong một thời gian.

Năm 1878 hòan thành bản giao hưởng số 4 và nhạc kịch "Eugene Onegin ". Ðược một bà triệu phú tên là Fông Méc đỡ đầu về kinh tế, Tchaikovsky’s rất yên tâm sáng tác. Giữa những năm 80, Tchaikovsky’s tham gia hoạt động với tư cách là nhạc trưởng, biễu diễn khắp nơi trong và ngoài nước. Năm 1893 ông được tặng học vị tiến sĩ của trường đại học tổng hợp Cambrigde ở Anh.

Tchaikovsky’s mất ngày 25/10/1893 ở Petersburg sau một tuần lễ chỉ huy bản giao hưởng cuối cùng của mình.

2.Ðặc điểm sáng tác và tác phẩm:

- Tchaikovsky’s không những là nhạc sĩ Nga vĩ đại mà còn là nhạc sĩ lớn thế giới. Hoạt động âm nhạc chính là ở Moscow. Sáng tác nhiều thể loại thành công như giao hưởng, nhạc kịch, vũ kịch, nhạc thính phòng, hoà tấu, romance.

- Tác phẩm phản ảnh tâm tư con người thời đại, tình cảm, khát vọng dưới chế độ Nga hoàng. Miêu tả cảnh thiên nhiên nước Nga rất độc đáo như giao hưởng số 1 "Giấc mơ mùa đông", trong tác phẩm còn đề cập đến những câu truyện thần thoại, những trang sử quang vinh của nước Nga nhưng đặc điểm nổi bật là ông phản ánh thông qua tấn bi kịch như giao hưởng số 5, số 6 "Con đầm bích" là những tác phẩm bi kịch đạt đến đỉnh cao.

- Sở dĩ ông nổi tiếng vì đã biết kết hợp nhuần nhuyễn âm nhạc Nga với âm nhạc châu Âu, âm nhạc thành thị, nông thôn. Âm nhạc trong tác phẩm của ông là âm nhạc trí thức tiểu tư sản.

Tác phẩm:

- Tchaikovsky’s sáng tác khoảng 30 tác phẩm cho dàn nhạc giao hưởng gồm có: 7 bản giao hưởng (6 giao hưởng và giao hưởng có tiêu đề "Mangfrét"; nhiều concertors cho piano, violon, nhiều khúc mở màn, giao hưởng thơ và tổ khúc giao hưởng. Tính chất giao hưởng của Tchaikovsky’s là trữ tình đầy tính kịch. Ðây là một dòng giao hưởng mới trong lịch sử giao hưởng Nga. Bên cạnh đó cũng có giao hưởng mang tính chất cảnh trí sinh hoạt như GH số 1 "Những ước mơ và con đường mùa đông" (1866), "Người thợ rèn Vacula", vũ kịch "Hồ Thiên Nga", ba khúc mở màn: Romeo và Juliét (1869); "Bão tố" (1873); "Franxétca đa Rêminhi" (1876)

- Giai đọan 1877 do căng thẳng với cuộc sống riêng tư ông BỎ DẠY, BỎ SÁNG TÁC VÀ ĐI NGAO DU Ở Ý, Anh, Pháp và những tác phẩm trong thời kỳ này: Nhạc kịch Eugene Onegin, Cô gái Orliăng (1870) và Madéppa(1883), concerto số 2 cho piano, concerto cho violon...

- Thời kỳ trở về Moscow, ông viết GH có tiêu đề "Mangfrét" và bản GH số 5 (1888); nhạc kịch Con bài bích, Người đẹp ngủ trong rừng (1889), Xay hạt dẻ, Iolanta (1891)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Apomethe cho bài viết trên:
Flamingo (28-10-2009), Nguyễn Nguyên Hải (02-10-2009), osen (13-01-2009)
  #3  
Cũ 28-11-2007, 01:07
Apomethe Apomethe is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 76
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn 64 lần trong 31 bài đăng
Default

Rachmaninov ngoài là một nhạc sĩ thiên tài ra còn là một trong những pianist vĩ đại nhất nửa đầu thế kỷ 20.

RACHMANINOV - MỘT THIÊN TÀI

Sergey Vasilyevich Rachmaninov sinh ngày 1/4/1873 trong một gia đình quý tộc lâu đời ở vùng Semyonovo, nước Nga. Alexander Siloti - người học trò yêu của nhà soạn nhạc Hungary vĩ đại F.Liszt – là anh em họ của Rachmaninov, đã đưa cậu bé 12 tuổi này vào Nhạc viện Moscow. Rachmaninov có một trí nhớ âm nhạc kỳ lạ khiến giáo sư Taneyev, một nhà soạn nhạc tên tuổi, phải thốt lên rằng : “Chẳng kém Mozart !”. Rachmaninov vượt qua rất dễ dàng các kỳ thi của Nhạc viện với điểm 5+ và là trường hợp duy nhất trong lịch sử Nhạc viện Moscow được công nhận tốt nghiệp khoa Piano mà không cần thi. Chỉ mất 1 năm Rachmaninov đã hoàn thành giáo trình “sáng tác” 2 năm của Nhạc viện bằng opera 1 hồi Aleko phổ từ thơ Những người Digan của Puskin. Tác phầm này được công chúng trong Nhà hát lớn Moscow nồng nhiệt tung hô tại đêm công diễn đầu tiên.

Mùa xuân năm 1897, thảm hoạ bất ngờ đổ xuống đầu nhà soạn nhạc trẻ đang thăng hoa. A.R.Glazunov với tình yêu và lòng mến mộ Rachmaninov đã trình bày Giao hưởng số 1 của ông trước công chúng St.Petesburg. Cần phải nói rằng nghệ thuật chỉ huy không phải là ưu điểm nổi trội của nhà soạn nhạc lỗi lạc này, nên giao hưởng của Rachmaninov bị đổ. Các nhà phê bình, đặc biệt là Cesar Cui, con ngựa đầu đàn trong lĩnh vực âm nhạc, xúm lại chê bai không tiếc lời. Rachmaninov mất tinh thần. Gần 3 năm trời ông gác bút không viết. Người kéo Rachmaninov ra khỏi “vũng lầy hờ hững” này là một nhân vật rất độc đáo – S. Mamontov - một nhà tư bản tài chính, một Mạnh Thường Quân của các hoạ sĩ, nhạc sĩ. Mùa đông năm 1898, ông mời Rachmaninov chỉ huy các vở opera trong nhà hát của ông. Rachmaninov trở thành một chỉ huy dàn nhạc kiệt xuất. Đến nỗi sau này thành danh, ông vẫn không biết gọi mình là gì - một nhà soạn nhạc vĩ đại, một nghệ sĩ piano tài hoa hay một nhà chỉ huy dàn nhạc lỗi lạc ? Lịch sử thì rất công bằng, nó ghi tên Rachmaninov vào sách vàng với cả 3 “nhà” như vậy. Nghệ thuật chỉ huy của ông không có nhiều những động tác “sân khấu” đẹp mắt, mà “tiết kiệm” đến mức tưởng như Rachmaninov chỉ đếm nhịp. Song quyền lực của ông trước dàn nhạc, trước khán giả là sự thống trị tuyệt đối.

Ngày 27/10/1901, Rachmaninov đã đánh dấu sự “trở lại” của mình trong đêm công diễn tại Moscow bằng Concerto số 2 viết cho piano được dành tặng cho nhà thôi miên Nikolay Dahl, người đã nâng đỡ tâm hồn Rachmaninov trong thời gian khó vừa qua. Cùng với Concerto số 3 viết cho piano (viết năm 1909), một concerto đầy chất thơ tinh tế quyến rũ, kiệt tác này đã đưa Rachmaninov lên đài cao vinh quang thế giới như Concerto số 1 của Tchaikovsky, hay Concerto cho piano của E. Grieg.

Năm 1906, Rachmaninov sang Đức, sống 5 năm ở Dresden, trong một ngôi nhà ven rừng gọi là Gartenvila. Tại đây ông viết Giao hưởng số 2 op.27 - một trong những tác phẩm đậm chất dân gian Nga nhất của Rachmaninov và giao hưởng thơ Đảo chết (The Isle of the Dead). Cũng giống nhiều nhà soạn nhạc vĩ đại, Rachmaninov thường băn khoăn suy tư về số phận con người, cuộc sống – cái chết. Năm 1913, Rachmaninov viết giao hưởng thơ Những quả chuông (Bells) cho dàn nhạc, hợp xướng và người lĩnh xướng theo lời thơ của Edgar Poe, thể hiện tất cả ánh sáng và bóng tối, niềm vui và nỗi dày vò. Tiếng chuông bạc trong trẻo của mùa xuân, tiếng chiêng vàng trong hôn lễ, tiếng chuông đồng ầm ĩ lo âu và tiếng chuông sắt rền rĩ đau thương của tang lễ. Những quả chuông là một trong những đỉnh cao sáng tạo của nhà soạn nhạc Nga.

Sau Cáchmạng tháng 10, Rachmaninov và gia đình sang Thuỵ Điển, Đan Mạch và sau đó là Mỹ. Ở đây suốt 10 năm ròng Rachmaninov ra mắt dân Mỹ như một nghệ sĩ piano hàng đầu thế giới. Mỗi buổi biểu diễn của ông là một sự kiện, Rachmaninov là một trong những người “trình bày” Liszt tinh tế nhất, lãng mạn nhất. Trở nên giàu có, song nỗi nhớ quê hương luôn day dứt, Rachmaninov - nhà soạn nhạc – im lặng trong 10 năm trường. Mãi năm 1927, Rachmaninov mới hoàn thành bản Concerto số 4 viết cho piano từ các phác thảo hồi còn ở Nga, 3 năm sau đó Rhapsody theo chủ đề của Paganini viết cho piano và dàn nhạc - một trong những kiệt tác của Rachmaninov – ra đời. Rhapsody gồm 24 biến tấu theo một giai điệu rất nổi tiếng trong Caprice cung La thứ của Paganini này có thể được xem như bản “Concerto số 5 viết cho piano” của Rachmaninov hoặc như một giao hưởng thơ. Rhapsody này có 3 chương. Chương đầu – 2 nhóm biến tấu. Nhóm 1 là sự phát triển chủ đề Paganini gợi hình tượng cây đàn violin huyền thoại. Tầm vóc khổng lồ của ông mỗi lúc một nổi bật hơn từ nơi thời gian xa xăm. Nhóm 2 dựa theo chủ đề về ngày phán xử cuối cùng Dies Irae của Kinh thánh. Hình tượng cái chết được thể hiện đơn giản mà độc đáo, không có nét bề ngoài nào làm kinh sợ, gắn liền với chất lãng mạn thần bí của những khái niệm trung cổ về “Ngày phán xử”. Chương 3, chủ đề Paganini phát triển mỗi lúc một năng động hơn và mang phong mạo anh hùng. Sự xuất hiện ở đoạn kết với chủ đề Dies Irae mạnh mẽ và hăm doạ, nhưng vẫn không thể ngăn được dòng chuyển động vùn vụt này. Rachmaninov khẳng định nghệ thuật và cuộc sống không thể bị huỷ hoại bởi sức mạnh của bóng tối.

Những năm cuối đời, Rachmaninov còn bùng nổ với một loạt những kiệt tác khác : Biến tấu theo chủ đề của Corelli viết cho đàn piano solo, Giao hưởng số 3 – mang nặng nỗi buồn xa xứ của nhà soạn nhạc vĩ đại – và “khúc hát con thiên nga” của Rachmaninov – Những điệu nhảy giao hưởng (Symphonic Dances). Cũng giống như các tác phẩm cuối đời khác, Những điệu nhảy giao hưởng mang tính bi kịch sâu sắc. Khi thế chiến 2 bắt đầu, Rachmaninov tổ chức những buổi hoà nhạc gây quỹ cho Hội Chữ thập đỏ. Ông mang tới Sứ quán Liên Xô (cũ) tại New York ủng hộ những món tiền lớn. Vài ngày trước lễ kỷ niệm ngày sinh thứ 70 của mình (1943), Rachmaninov đã từ trần tại Beverly Hills, Carlifornia vì bệnh ung thư ./.

_________________________________-

Rachmaninov Sergei Vasilievich
(1873 - 1943)
______


Rachmaninov được tạo nên từ
thép và vàng: thép - ở trong đôi
tay của ông, vàng - ở trong trái tim.

Gohpman


Rachmaninov với tư cách là nhà soạn nhạc, nghệ sĩ piano và chỉ huy dàn nhạc, có tiếng tăm rộng rãi mà chỉ có một số ít nghệ sĩ, những người thu hút hàng triệu trái tim đến với nghệ thuật của mình. Vinh quang đã đến với ông ngay từ những bước sáng tạo đầu tiên (nhạc kịch "Alecô"). Ở trong nước ông là thần tượng của thanh niên, của những người yêu thích âm nhạc, và sau này, trong thời gian phiêu bạt ở nước ngoài, ông được thừa nhận là kết quả của tài năng của Rachmaninov - nhà soạn nhạc và nghệ sĩ piano đã tác động đến tình cảm của quần chúng người nghe. Sự chân thành tột bậc, sự "quên mình", tính chất biểu cảm và quy mô rộng lớn trong diễn tấu, chất trữ tình tế nhị nhất và ý chí sắt đá là đặc tính vốn sẵn của âm nhạc và nghệ thuật biểu diễu của Rachmaninov. Sự bày tỏ cảm xúc không hề biết giới hạn đã tìm được sự thể hiện trong tài viết giai điệu có sức chinh phục bằng sự phong phú, dồi dào, và nhiệt tình sôi nổi thì - trong bản năng tự nhiên của nhịp điệu vững chắc như thép.

Đối với Rachmaninov âm nhạc là sự thể hiện "cuộc sống tình cảm", còn tình cảm - là công cụ tinh tế hơn cả để nhận thức vũ trụ và con người. Do tính chất sùng bái tình cảm ấy ông rất gần gũi với các nghệ sĩ khác như Tchaikovsky, Tsekhop, Kuprin, Rachmaninov - cả con người ở trong những tương phản. Ông làm ta xúc động bằng tính chất xao xuyến cảm động, hồi hộp lãng mạn chủ nghĩa, bằng ước mơ mãnh liệt, bằng những hoài nghi, những linh cảm bi kịch. Cả xu hướng thiên về những cảm xúc kịch tính, lẫn sự ưa thích trạng thái lặng ngắm, những hưng phấn cao độ và sự mệt mỏi về tinh thần đều là những đặc tính vốn có của ông. Ông khuấy động chúng ta bằng trận lũ lụt cảm xúc và ru ngủ chúng ta bằng cái buồn lặng lẽ mùa thu, làm nảy nở hy vọng, gieo vào lòng người nỗi khiếp đảm tê tái. Do những tính chất phức tạp và cực đoan ấy Rachmaninov gần với cử tọa dân chủ của 10 năm đầu náo động của thời đại hiện nay.

Với tư cách là tác giả của âm nhạc viết cho piano, Rachmaninov được bồi dưỡng trong những truyền thống lãng mạn chủ nghĩa, là nhà soạn nhạc giao hưởng - Ông chịu ảnh hưởng của Tchaikovsky. Trong cả hai lĩnh vực ấy ông đã xây dựng một phong cách có một không hai của mình, mang dấu vết cá tính nghệ thuật độc đáo. Nghệ thuật giao hưởng và nghệ thuật piano gắn bó chặt chẽ trong sáng tác của Rachmaninov, tác động lẫn nhau một cách tích cực. Vì vậy mà trong di sản của ông 4 bản Concerto cho piano, và có thể thêm vào đó bản Rhapsodi trên chủ đề của Paganini, đã chiếm một vị trí trung tâm. Phong cách viết cho piano của Rachmaninov thể hiện rất có tính cách đặc trưng của mìnhh, với sự kiến giải âm thanh piano một cách du dương thánh thót, trữ tình và đồng thời với quy mô kỹ xảo điêu luyện, rộng lớn, các bản concerto đều có tất cả những dấu hiệu của những tác phẩm giao hưởng thật sự - tính chất lý giải quan điểm, phát triển phong phú. Cũng như giao hưởng đối với Tchaikovsky, Concerto đối với Rachmaninov là "sự thu nhận trữ tình của tâm hồn", là sự thể hiện những ý tưởng thầm kín nhất của ông.

Nếu phong cách những Concerto được hình thành ngay trong những năm đầu của thời kỳ trưởng thành và nổi bật ở sự thống nhất, thì 3 bản giao hưởng của Rachmaninov, được xây dựng trong những quãng thời gian cách xa nhau, lại nói lên các giai đoạn sáng tác khác nhau của nhạc sĩ. Giao hưởng số 1 - kết aủ của những tìm tòi của thời kỳ tuổi trẻ, số 2, được viết trong những năm tài năng nở rộ, gần gũi với những tác phẩm như concerto số 2 và 3, còn giao hưởng số 3, có thể xem là ưu tú hơn cả, thể hiện chiều hướng của thời kì sau với mức lão luyện tột bậc và thành thạo một cách thông minh. Những vũ khúc giao hưởng - những tác phẩm ở giữa giao hưởng và tổ khúc về thể loại - cũng thuộc vào thời kỳ này. Nhân tố giao hưởng thâm nhập sâu vào tất cả các thể loại trong sáng tác của Rachmaninov. Nó thể hiện rõ trong các cantata ("Mùa xuân", "Tiếng chuông") và thậm chí trong cả những tác phẩm ngắn cho piano và ca khúc. Rachmaninov - về bản tính tài năng là nhà soạn giao hưởng - đã đóng góp nhiều vào lĩnh vực này.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Apomethe cho bài viết trên:
Flamingo (28-10-2009), Nguyễn Nguyên Hải (02-10-2009), osen (13-01-2009), Thóc (30-03-2008)
  #4  
Cũ 28-11-2007, 01:08
Apomethe Apomethe is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 76
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn 64 lần trong 31 bài đăng
Default

Stravinsky Igor Fedorovich

Stravinsky là một nhà cải cách tiên phong trong nền âm nhạc thế kỷ 20, mở ra một hướng đi mới và tạo ra cả một cuộc cách mạng lớn. Nói về nhạc cổ điển mà không nhắc đến Stravinsky thì đúng là một thiếu sót lớn.
Stravinsky Igor Fedorovich
(1882-1971)


Suốt đời tôi nói tiếng Nga, suy nghĩ
theo lối Nga, lối viết của tôi là Nga.
Có thể, trong nhạc Nga của tôi không
nhận thấy ngay điều đó, nhưng nó đã
được đưa vào, trong bản chất kín đáo
của âm nhạc.

Stravinsky


Igor Stravinsky - một trong những nhạc sĩ lớn của thời đại hiện nay. Sáng tác của ông nổi bật ở mức độ sâu sắc và tính chất bao quát rộng lớn, để lại dấu ấn rõ rệt trên bức tranh nghệ thuật âm nhạc của thế kỷ 20. Trong khoảng thời gian 60 năm của bước đường sáng tác, Stravinsky đã tạo một số lượng lớn tác phẩm. Trong đó có nhạc kịch, kịch múa (ballet), giao hưởng và concerto, tác phẩm ngắn cho nhạc đàn và hát, những tác phẩm thuộc thể loại tổng hợp độc đáo... Bắt đầu như một người kế tục những truyền thống của Rimsky-Korsakov, Stravinsky đã sùng bái chủ nghĩ ấn tượng, chủ nghĩa nguyên thủy mới (Neoprimitivism), chủ nghĩ cổ điển mới (Neoclassicisme) và thậm chí vào những năm cuối cùng, ông còn theo cả hệ thống 12 âm (Dodecaphonism), mặc dù trước kia ông là địch thủ không khoan nhượng của hệ thống này. Nhưng âm nhạc của Stravinsky ở giai đoại nào và khuynh hướng nào cũng nổi bật ở sự sắc sảo và tinh tế của ý đồ sáng tác, sự độc đáo của các thủ pháp, tính chất cân đối và hợp lý và tính chất cô đọng gọn gàng của cấu trúc, tài nghệ điêu luyện trong cách phối dàn nhạc.

Trong những phát biểu của Stravinsky có thể gặp được một điều - ông là người chủ trương "nghệ thuật thuần túy", âm nhạc đối với ông chỉ là một trò chơi âm thanh. Tuy nhiên, riêng sáng tác của ông chỉ chứng mình ngược lại. Cũng như bất cứ nghệ sĩ thật sự lớn nào, chính Stravinsky, có lẽ, cũng không muốn, vẫn phản ảnh hiện thực trong tác phẩm của mình (Angel nói về Balzac, Lenin nói về Tolstoy) và đôi khi thoáng gặp sự thừa nhận này trong các sách của Stravinsky.

Chúng ta đặc biệt chú ý đến những tác phẩm của Stravinsky mà trong đó ông tự giác muốn thể hiện cái yếu tố dân tộc Nga khi ông quay về với những hình tượng cổ tích, thần thoại dân gian.

__________________________________________________ ________

Arnold Schönberg đã chế ngự nửa đầu thế kỉ 20, và có thể nói, John Cage đã chế ngự nửa sau. Nhưng trên rất nhiều phương diện, người ta ngày càng nhận ra rằng thế kỉ 20 là thế kỉ của Stravinsky
Jonathan Cross
Stravinsky vào thế kỉ 21
Vũ Ngọc Thăng dịch


Ảnh hưởng thực của Stravinsky chỉ mới bắt đầu.
(Andriessen và Schonberger, 1989 [1] )


Ðã có thời dòng diễn biến âm nhạc của thế kỉ 20 hầu như chỉ được phản ánh theo biểu đồ chủ nghĩa hiện đại Ðức-Áo. Cùng với việc thừa nhận vị thế cách mạng của một số tác phẩm hiện đại then chốt sơ thời không thuộc Ðức và Bắc Âu - như Prélude à l’après-midi d’un faune của Debussy, ‘Concord’ Sonata của Ives, The Miraculous Mandarin của Bartók, và đương nhiên, Le Sacre du printemps của Stravinsky - thì sự phát triển của dòng nhạc tiền phong, nói chung, được thể hiện qua một đội ngũ xuất phát: Schönberg và hai người học trò nổi tiếng nhất của ông [Berg, Webern], và qua các biểu thị vị lai ở Darmstadt (Boulez, Stockhausen). Ðây chính xác là điều, trong lúc triển khai phương pháp sáng tác 12 âm, Schönberg đã mường tượng về dòng diễn biến của lịch sử qua lời tuyên bố: “Hiện nay tôi đã khám phá ra cái điều sẽ bảo đảm uy thế cho âm nhạc Ðức trong 100 năm tới” [2] . Năm 1951, Pierre Boulez tìm cách duy trì huyền thoại Schönberg khi ông khẳng định: “kể từ các khám phá của Trường phái Vienna, tất cả các nhà soạn nhạc không theo phương thức chuỗi đều vô dụng” [3] (hôm nay, không nhất thiết Boulez giữ cái nhìn này). Ở thập niên 1940, Theodor Adorno, một nhân vật có ảnh hưởng lớn với nhóm Darmstadt, đã đề xướng cách đánh giá (thể hiện rõ nhất trong Philosophie der neuen Musik/Triết lí âm nhạc mới) trong đó ông đặt Schönberg và Stravinsky ở hai cực đối lập: Schönberg - Kẻ Tiến Bộ, Stravinsky - Kẻ Thoái Bộ. Theo cái nhìn chung lúc ấy, Stravinsky chỉ được xem là một nhà tân-cổ điển (còn Schönberg thì không gánh trách nhiệm nào). Chỉ sau cái chết của Schönberg năm 1951, Stravinsky mới vận dụng phương thức chuỗi, và được xem là đã gia nhập ‘dòng chủ lưu’ (Adorno biểu lộ niềm ‘thích thú’ của mình trong ‘Stravinsky rời phái phản động’ [4] ). Quả thực, những chuyển biến trong Stravinsky ở những năm 1950 là một hiện tượng ngoại lệ, hầu như chưa từng xảy ra: sau khi là nguồn hứng khởi cho các thế hệ nhạc sĩ trẻ hồi đầu thế kỉ, thì ở giai đoạn cuối đời, chính ông lại được các thế hệ trẻ ảnh hưởng lại. Có lẽ những diễn biến Darmstadt đã quyến rũ Stravinsky, trong đó có sự kiện ông tham dự buổi ra mắt tác phẩm Structures của Boulez, và có lẽ những buổi trình tấu Webern của Robert Craft ở Mĩ cũng đã tác động mạnh lên ông.


Ðương nhiên, việc tiếp thu hậu bối đòi hỏi một nỗ lực lớn... Nhưng khi bạn đã qua tuổi 75 và thế hệ bạn đã chồng gối lên nhiều thế hệ trẻ, hẳn bạn không có bổn phận phải giữ vị trí tiên phong trong ‘chuyến đi của một nhà soạn nhạc’, mà bạn có bổn phận phải tìm cách phát hiện ra điều gì đó mới, cái đã khiến thế hệ mới trở nên mới [5] .

Movements, cho dương cầm và dàn nhạc năm 1958-59, là một câu trả lời rõ ràng của Stravinsky đối với các thử nghiệm hứng khởi từ Webern của các đồng nghiệp trẻ. Nhưng Stravinsky vẫn tiếp tục phát triển phương thức chuỗi của ông (không nhất thiết theo hệ 12 âm), lường trước việc đánh giá và vận dụng lại phương thức 12 âm trong vài thập niên cuối của thế kỉ 20. Về mặt này, một Agon trước đó một chút thì có sức hấp dẫn lớn. Ðược các nhạc sĩ rất khác nhau như Birtwistle, Boulez, Carter và Taverner viện dẫn, ảnh hưởng của Agon đối với các nhà soạn nhạc trẻ xuất phát từ cái cấu trúc, từ sự phối khí tinh sắc, từ tính quân bình giữa các chất liệu dị chuyển, đồng chuyển và 12 âm, cũng như từ chính cái phương thức tổ chức chuỗi tự nó của tác phẩm.

Nhưng vì sao Stravinsky vẫn đóng một vai trò cách mạng đối với thế kỉ 21? Chắc chắn chúng ta có thể khẳng định rằng di sản của Stravinsky đối với toàn bộ thế kỉ 20 là hết sức đồ sộ. Ðiều này chỉ dần dà trở nên rõ ràng khi cái bóng Stravinsky ngày càng hiển lộ trên cái bóng trấn át Schönberg, cũng như khi lịch sử chủ nghĩa hiện đại phải được viết lại để tính đến một mạng ảnh hưởng sâu rộng hơn nhiều. Ðương nhiên, có nhiều nhà soạn nhạc đã trực tiếp mô phỏng các khía cạnh ngôn ngữ âm nhạc của Stravinsky. Từ các nhạc sĩ cùng thời như Varèse và Antheil, thông qua Poulenc, Orff và Copland (một Stravinsky ‘Brooklyn’), cho đến vô số các nhà soạn nhạc phim (cứ thử nghe nhạc phim Jaw của Steven Spielberg do John Williams soạn, hầu như bạn sẽ nghe được Le Sacre du printemps ở mỗi đoạn chuyển biến tình huống). Nhưng so với những cái mà các ví dụ ấy thoạt nhiên cho thấy thì ảnh hưởng của Stravinsky còn tế nhị và sâu xa hơn nhiều.

Chỉ cần viện một tác phẩm: Le Sacre. Chắc chắn có nhiều người mô phỏng nó. Nhưng nội lực tiết tấu và những đổi mới về nhịp thức, lối kết cấu khối-tảng và các tầng ý nhạc sắp xếp đồng thời, cách phối khí khác thường và cái năng lượng tuyệt đối ban sơ của nó - tất cả những tính cách triệt để ấy đã bảo đảm cho cái bóng của Le Sacre đậm ngả lên cả thế kỉ. Amériques của Varèse, Turangalila-symphonie của Messiaen, Metastasis của Xenakis, Double Concerto cho dương cầm và đàn clavico của Carter (tác phẩm mà bản thân Stravinsky cho là một ‘tuyệt tác’), và Earth Dances của Birtwistle, tất cả, qua những cung cách rất quyến rũ, đã mô phỏng nhiều khía cạnh trong Le Sacre du printemps.

Một số tác phẩm khác của Stravinsky cũng cho thấy tầm ảnh hưởng tương tự. Thậm chí, có thể nói, cường độ năng lực tiết tấu không ngớt trong Les Noces còn mạnh hơn trong Le Sacre, và chắc chắn là được duy trì liên tục hơn – một đặc trưng được Antheil tiếp thu và đẩy đến cực điểm trong tác phẩm Ballet mécanique đầy ấn tượng. Và những tràng chuông nghi lễ kết thúc trong Les Noces ngân vang thế kỉ 20, dội thẳng vào các nghi lễ tâm linh, chẳng hạn như, của Arvo Part.

Không nghi ngờ gì, về phương diện thuần cấu trúc, Symphonies of Wind Instruments [6] chính là tác phẩm ảnh hưởng nhất của Stravinsky. Mĩ pháp của nó được Taruskin miêu tả qua thuật ngữ Nga drobnost’, cái mà ông định nghĩa là “một ‘tính cách tróc mảnh’; cái phẩm chất không thống nhất về cấu thức, một tổng-bộ-phận.” [7] , tương tự như kĩ thuật montage trong điện ảnh. Trong Symphonies, phương thức này biểu lộ qua một kiểu cấu-trúc-khảm, tạo ra những kết quả vang dội trong những cách bố cục ‘hồi đoạn’ của các tác phẩm rất khác nhau như Cantéyodjayâ và Couleurs de la cité céleste của Messiaen, Piano Sonata n. 2 và vở ôpera King Priam của Tippett, Momente của Stockhausen, De Staat của Andriessen, khắp nơi trong Birtwistle và Xenakis, thậm chí, một số chỗ, trong Ferneyhough. Nói vậy không có nghĩa cách cấu trúc khối-tảng đã không được sử dụng trong những tác phẩm khác của Stravinsky (nó được thấy rất rõ trong Petrushka và Le Sacre), và quả thực nó đã hiện diện trong âm nhạc của các nhạc sĩ khác, chẳng hạn Debussy (nổi bật nhất trong Jeux). Nhưng Symphonies là một biểu hiện rõ nét nhất của cái drobnost’: thái độ phản-hữu cơ đầy tự tin của tác phẩm đã đặt nó vào vị trí đối lập với âm nhạc đương đại Ðức, vốn được soạn theo phương thức xuyên suốt/through-composed, và thậm chí nó vẫn tiếp tục, sau gần một trăm năm, là một trong những tác phẩm tươi rói và giàu tưởng tượng nhất của thế kỉ 20.

Một trong những tính chất quyết định, cái khiến âm nhạc Stravinsky được phân biệt với các dòng nhạc hiện đại khác - là chiều kích nghi lễ của nó. Chính chiều kích này trong âm nhạc của ông, giữa nhiều chiều kích khác, là cái được Stravinsky ám chỉ trong quyển Tự Truyện qua câu nói nổi tiếng cho rằng âm nhạc hoàn toàn không mang bất cứ một khả năng biểu hiện nào. Ðiều này không có nghĩa âm nhạc không chuyên chở cảm xúc. Ðúng hơn, nó gắn liền với tính diễn cảm cộng đồng, với kinh nghiệm tập thể; nó chuyên chở tính biểu tượng, được cách điệu hóa hơn là mang chức năng miêu tả; nó đánh động các nghi lễ và hoạt động thờ phụng cổ xưa, muôn thuở. Ðiều này thấy rất rõ qua nhiều phương thức khác nhau trong các tác phẩm vũ nhạc như Le Sacre, Oedipus Rex, The Flood. Và thủ pháp ‘lạ hóa’ gần như kiểu của Brecht cũng được thể hiện trong các tác phẩm như Renard, Histoire du soldat và The Rake’s Progress. Nhưng trong nhiều tác phẩm khác, chiều kích này cũng rất hiển nhiên. Khúc hợp xướng nghi lễ lúc cuối trong Symphonies of Wind Instruments, những nghi lễ dân gian trong Les Noces, những nghi lễ tôn giáo trong Symphony of Psalms và Requiem Canticles, vai trò của các nhạc cụ trong Three Pieces for String Quartet. Ðúng là trong lúc có nhiều nhà viết kịch cũng khai thác những kiểu sân khấu phi tự sự, sân khấu nghi lễ hóa, thì phong cách âm nhạc nghi lễ của Stravinsky đã chứng tỏ là một mô hình màu mỡ cho các nhà soạn nhạc rất khác nhau như Berio và Reich, Maxwell Davies và Henze.

Tóm lại, Stravinsky ngày càng trở nên quan trọng vì cung cách ông đi trước nhiều mối quan tâm hậu hiện đại. Sự phá bỏ ranh giới giữa cái gọi là nghệ thuật ‘cao’ và nghệ thuật ‘thấp’ qua cách vận dụng phóng khoáng các chất liệu âm nhạc dân gian (Ragtime, Ebony Concerto, cả đến những khía cạnh của Symphony in Three Movements), tư tưởng của nhiều nghệ sĩ ‘giao lai’ hôm nay. Ranh giới giữa ‘cổ điển’, ‘thử nghiệm’, ‘rock’, ‘pop’, và ‘jazz’ đã được suy rộng, như được chứng tỏ (ở Hà Lan) qua Andriessen và những hoạt động của ông với ban kịch De Volharding, hoặc (ở Mĩ) qua Michael Gordon, hoặc (ở Anh) qua Steve Martland và Michael Nyman. Và đâu là vị thế của nhiều nhà soạn nhạc tối giản và hậu tối giản (Reich, Adams, Torke, Fitkin, v.v.) nếu không có Stravinsky? Không chỉ thái độ sử dụng chất liệu âm nhạc, không chỉ tính sống động tiết tấu trong âm nhạc, mà chính cái vũ trụ âm thanh của họ là cái đã chịu ơn Stravinsky sâu sắc. (Chỉ cần so khúc mở đầu của tác phẩm hay được diễn tấu Short Ride in a Fast Machine của Adam với khúc mở đầu của Petrushka). Stravinsky chưa bao giờ là nhà hậu hiện đại; ‘cơ bản ông là một nhà soạn nhạc tiền-hậu hiện đại’ . Nhưng bằng cách đặt âm nhạc quá khứ và âm nhạc phổ thông đương đại trong những bối cảnh mới, ông đã đề xuất những khả năng sáng tác phong phú. Quá khứ trở thành hữu cơ với hiện tại. Ðây là điều khiến The Rake’s Progress trở nên một tác phẩm quan trọng như nó đã có, bởi vì nó có thể được lĩnh hội theo nhiều cung bậc, từ kiểu phỏng nhại của Mozart cho đến kiểu phê phán toàn bộ lịch sử ôpera. Nếu di sản của Schönberg đối với thế kỉ là phương pháp của ông, thì di sản của Stravinsky là thái độ của ông [9] .

Arnold Schönberg đã chế ngự nửa đầu thế kỉ 20, và có thể nói, John Cage đã chế ngự nửa sau. Nhưng trên rất nhiều phương diện, người ta ngày càng nhận ra rằng thế kỉ 20 là thế kỉ của Stravinsky. Và chỉ ở các thập niên gần đây thì các nhà soạn nhạc thuộc đủ mọi trường phái mới toàn tâm nhận biết sự chịu ơn của họ đối với Stravinsky. Trong khi người ta có thể biện luận rằng các khả năng đề xuất của phương thức chuỗi và phương thức ngẫu định /aleatoricism đã cạn kiệt, thì các nhà soạn nhạc hôm nay vẫn thỏa chí hoạt động với các ý niệm, và thậm chí, với các chất liệu được Stravinsky trao tặng. Ở lúc khởi đầu một thế kỉ mới, thật là hấp dẫn khi nhìn xem khẳng định sau đây của Andriessen còn giữ vững cho đến khi nào: ảnh hưởng thực của Stravinsky chỉ mới bắt đầu.

© 2004 talawas

[2/3]


--------------------------------------------------------------------------------
[1]Louis Andriessen và Elmer Schonberger, The Apollonian Clockwork: on Stravinsky, Jeff Hamburg dịch (Oxford: Oxford University Press, 1989), 6.
[2]Arnold Schönberg gửi Josef Rufer, Malcolm MacDonald trích từ Schönberg, (London: Dent, 1987), 29.
[3]Pierre Boulez, ‘Schönberg is dead’, trong Stocktakings from an Apprenticeship, Stephen Walsh dịch (Oxford: Clarendon, 1991), 214.
[4]T. W. Adorno, ‘Stravinsky: a dialectical portrait’, trong Quasi una Fantasia, Rodney Livingstone dịch (London: Verso, 1992), 172.
[5]Igor Stravinsky và Robert Craft, Conversations with Igor Stravinsky (London: Faber and Faber, 1959), 133.
[6]Ý kiến này được khai triển trong Jonathan Cross, The Stravinsky Legacy (Cambridge: Cambridge University Press, 1998).
[7]Richard Taruskin, Stravinsky and the Russian Traditions: a Biography of the Works Through Mavra (Oxford: Oxford University Press, 1996), 1677.
Stephen Walsh, ‘Stravinsky’, The New Grove Dictionary of Music and Misicians, (ấn bản) Stanley Sadie, bản duyệt lại (London: Macmillan, 2001), cuốn 24, 557.
[9]‘Ảnh hưởng của Stravinsky có thể nhận ra . . . qua một thái độ đặc thù đối với các chất liệu đã có.’ Andriessen và Schonberg, The Apollonian Clockwork, 100.


Nguồn: The Cambridge Companion to Stravinsky, Edited by Jonathan Cross, Cambridge University Press, 2003
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Apomethe cho bài viết trên:
Flamingo (28-10-2009), Nguyễn Nguyên Hải (02-10-2009), osen (13-01-2009)
  #5  
Cũ 03-12-2007, 10:16
tykva tykva is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 822
Cảm ơn: 309
Được cảm ơn 998 lần trong 443 bài đăng
Default

ALEXANDER BORODIN

Trong số các nhà soạn nhạc, Alexander Borodin được biết đến như một trường hợp kỳ lạ, vừa sáng tác nhiều tác phẩm để đời lại vừa say mê nghiên cứu khoa học. Song hành trên cả hai lĩnh vực tưởng chừng như tách biệt nhau này, Alexander Borodin đều gặt hái được thành công.

Alexander Porfir’yevich Borodin sinh ngày 12 tháng 11 năm 1833 (tức ngày 31 tháng 10 theo lịch cũ) ở St Peterburg (Leningrad), là con ngoài giá thú của một vị hoàng thân Nga, Luka Stepanovich Gedianishvili. Bản khai sinh của ông ghi tên cha là Porfiry Borodin, nông nô của vị hoàng thân này. Ông lớn lên trong ngôi nhà của mẹ mình, một phụ nữ quý tộc tên là Avdot'ya Konstantinovna Antonova. Dẫu sinh ra trong hoàn cảnh trớ trêu, Borondin cũng không phải hứng chịu thiệt thòi, ngược lại ngay từ nhỏ, ông đã được hưởng một nền giáo dục hoàn hảo. Ngay từ nhỏ, Borodon đã biết nhiều ngoại ngữ và thông thạo các tiếng Đức, Pháp, Anh. Sau này, Borondin còn học thêm cả tiếng Italia và viết được các luận án khoa học bằng thứ ngôn ngữ này. Năm lên 8 tuổi, Borodin đã tỏ ra có thiên hướng âm nhạc, biết chơi nhiều loại nhạc cụ như flute, cello và piano. Nhận ra tài năng của con trai mình, mẹ Borodin đã khuyến khích con học nhạc. Borodin đã bắt đầu sáng tác một khúc polka cho piano lúc mới 9 tuổi.

Cũng vào giai đoạn này, một sự kiện đã đến với Borodin, mẹ của ông lập gia đình với một bác sỹ quân y đã phục binh. Người cha dượng này đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời Borodin bởi chính ông đã khuyến khích và khơi dậy trong nhà soạn nhạc tương lai niềm say mê với hóa học. Chính vì vậy, ngay từ nhỏ, Borodin đã có thể làm được pháo hoa và các pin điện bằng hóa học. Từ năm 1859 đến năm 1862, Borodin đã có khoá học nghề y đầu tiên của mình và sau đó chuyển đến Heidelberg học về hóa học. Kết thúc khóa học này, Borodin nhận được học vị tiến sỹ với bản luận án "Sự tương đồng về hóa tính và độc tính của arsenic acid và phosphoric acid". Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của viện hàn lâm, một bản luận án được viết và bảo vệ bằng tiếng Nga mà không phải là tiếng Latin. Quãng thời gian đeo đuổi ngành hóa của Borodin không chỉ đem lại cho ông học vị mà còn đưa đến người phụ nữ của cuộc đời mình, đó là cô gái Nga 29 tuổi Ekaterina Sergeyevna Protopopova. Cô là một nghệ sỹ piano tài năng, một người ngưỡng mộ các nhà soạn nhạc và nghệ sĩ piano thiên tài Frédéric Chopin, Franz Liszt, Robert Schumann. Ekaterina đã nhanh chóng cuốn hút được Borodin với những niềm say mê âm nhạc của mình. Và thế là họ yêu nhau đầy quyến luyến. Lễ thành hôn của họ đã diễn ra vào mùa xuân năm 1863.

(Còn tiếp)

Chohu và Meongoan (NCĐ)
http://nhaccodien.info/modules.php?n...Detail&cid=585
__________________
Đã rời NNN...
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn tykva cho bài viết trên:
Flamingo (28-10-2009), Nguyễn Nguyên Hải (02-10-2009), osen (13-01-2009)
  #6  
Cũ 03-12-2007, 10:17
tykva tykva is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 822
Cảm ơn: 309
Được cảm ơn 998 lần trong 443 bài đăng
Default

Trở về St. Petersburg vào năm 1862, Borodin vào làm việc trong Viện Y học và giảng dạy hóa học hữu cơ cho sinh viên trong viện. Các sinh viên vẫn thường nói về ông như “một người rất thông minh và giàu sức lôi cuốn”. Vào mùa thu năm này, Borodin đã có một cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa. Ông đã làm quen với nhà soạn nhạc nổi tiếng Balakirev, người đứng đầu một nhóm các nhà soạn nhạc Nga, những người tâm huyết và ôm ấp hoài bão xây dựng nền âm nhạc Nga trên cơ sở mà nhà soạn nhạc Mikhail Glinka (1804-1857) đã đặt nền móng. Nhóm này bao gồm Mili Alexeyevich Balakirev, Modest Mussorgsky, Nikolai Rimsky-Korsakov. Kể từ khi có thêm Alexander Borodin và Cesar Cui, họ đã trở thành “Nhóm Hùng mạnh”, hay nhóm “Năm Người Nga”, một nhóm các nhà soạn nhạc hết sức nổi tiếng trong lịch sử âm nhạc không chỉ trong phạm vi nước Nga. Họ thường xuyên gặp gỡ nhau vào buổi tối để thảo luận và chơi các bản nhạc của các tác giả thế kỷ 19, từ Daniel François Esprit Auber, Franz Liszt đến Giuseppe Verdi và Richard Wagner.

Sự nghiệp của Borodin là một sự hòa trộn tuyệt vời giữa âm nhạc và hóa học. Ông đã thực hiện nhiều nghiên cứu và khám phá quan trọng liên quan các hợp chất amylate, benzil, aldehyde và các hợp chất hữu cơ khác. Đến cuối thập kỷ 1860 và đầu thập kỷ 1870, tuy vẫn tiếp tục nghiên cứu và công bố các công trình khoa học nhưng Borodin đã bắt đầu chú trọng nhiều hơn đến sáng tác. Trong thời gian tham gia đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ trong giáo dục và đọc các bài giảng y dược, Borodin đã bắt đầu viết vở opera Hoàng thân Igor, một kiệt tác trong sự nghiệp sáng tác của ông và sau này trở thành một trong những vở opera hàng đầu của âm nhạc Nga. Bắt đầu từ lời gợi ý của nhà nghiên cứu âm nhạc Vladimir Stasov với bản thiên hùng ca bằng thơ “Slovo o polku Igoreve” (Bài thơ của Hoàng thân Igor), Borodin đã đặt lời xong cho vở opera và viết phần nhạc, công việc này đã kéo dài tới 18 năm ròng. Vào năm 1872, Borodin đã sáng tác xong phần đầu của bản giao hưởng Tráng sỹ và một số màn của Hoàng thân Igor. Các tác phẩm của Borodin mang dấu ấn rõ nét của âm nhạc dân gian vùng Kismet (Thổ Nhĩ Kỳ).

Năm 1877, Borodin lại đi ra nước ngoài lần nữa. Khi đến Weimar, ông đã được Franz Liszt chào đón nồng nhiệt. Tình bạn của hai nhà soạn nhạc này đã tiến triển rất tốt đẹp sau khi Borodin đề tặng Liszt một tác phẩm của mình. Borodin cũng quay trở lại Heidelberg, nơi mà ông đã gặp Ekaterina lần đầu tiên. Những hồi ức lãng mạn ở đây đã tạo cảm hứng cho ông viết bản Tứ tấu đàn dây số 2, đề tặng người vợ yêu dấu.

Trong thập kỷ sau đó, Borodin chủ yếu tập trung vào sáng tác. Ông mất đột ngột vì bệnh tim vào ngày 27 tháng 2 năm 1887 ( tức ngày 15 tháng 2 theo lịch cũ). Có rất đông người đã đến dự đám tang của Borodin. Ông được chôn cất trong nghĩa trang Alexander Nevsky, nơi an nghỉ của nhiều người con ưu tú của nước Nga như Leonhard Euler, Mikhail Lomonosov, Alexander Suvorov, Nikolay Karamzin, Modest Mussorgsky, Peter Ilyich Tchaikovsky, Fyodor Dostoevsky... Ekaterina đã không có mặt ở đám tang, bà đau buồn đến mức ốm nặng và mất sau đó vài tháng.

Khi mất đi, Borodin để lại 10 tác phẩm viết cho dàn nhạc hoàn chỉnh và nhiều tác phẩm mới chỉ ở dạng phác thảo. Những người bạn của ông là Rimsky-Korsakov và Alexandre Glazunov đã cùng hoàn chỉnh nốt vở opera Hoàng thân Igor dựa trên phần nhạc họ đã được nghe ông chơi vào các buổi tối, ngay cả phần overture cũng được Glazunov viết lại dựa trên những đoạn ký ức ấy. Các tác phẩm hoàn chỉnh của Borodin được xuất bản trên công sức của hai người bạn này. Mười năm sau khi Borodin mất, số tiền thu được từ việc xuất bản các tác phẩm của ông (chủ yếu là từ vở Hoàng thân Igor) đã lên đến khoảng 50.000 rúp. Như vậy, dẫu cái chết đã cướp Borodin khỏi cuộc đời thì những người bạn tri âm tri kỷ lại đưa ông trở lại với công chúng bằng việc công bố các tác phẩm tâm huyết của ông. Sau này, chính Hoàng thân Igor trở thành tác phẩm để đời của Borodin trong kho tàng âm nhạc cổ điển Nga.

Âm nhạc của Borodin được đánh giá là giàu tính trữ tình và cân đối lạ thường. Chính những xúc cảm nồng nhiệt và sự cân đối khác thường trong tác phẩm của Borodin đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến hai nhà soạn nhạc trẻ người Pháp Claude Debussy và Maurice Ravel.

Ngoài vở opera Hoàng thân Igor, Borodin còn có những tác phẩm được yêu thích khác là bản thơ giao hưởng “Trên thảo nguyên Trung Á”, những ca khúc nghệ thuật, nhiều tác phẩm viết cho piano (tiêu tiểu như Petite Suite) và các tác phẩm âm nhạc thính phòng (tiêu biểu là bản sonata dựa trên chủ đề từ bản sonata No.1 giọng Son thứ, BWV 1001 của Johann Sebastian Bach).

chohu & meongoan (NCĐ)
http://nhaccodien.info/modules.php?n...Detail&cid=585
__________________
Đã rời NNN...
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn tykva cho bài viết trên:
Flamingo (28-10-2009), Nguyễn Nguyên Hải (02-10-2009), osen (13-01-2009)
  #7  
Cũ 05-12-2007, 14:31
tykva tykva is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 822
Cảm ơn: 309
Được cảm ơn 998 lần trong 443 bài đăng
Default

Alexander Glazunov

Alexander Glazunov là nhà soạn nhạc lớn người Nga, ngoài ra ông còn là một nhạc sư có nhiều ảnh hưởng, nhạc trưởng, nhà hoạt động xã hội, thành viên nhóm Beliaev. Mối quan hệ với các nhà soạn nhạc Nga nổi tiếng như M.A. Balakiriev, A.P. Borodin, P.I. Tchaikovsky, X.I. Taneev, V.V. Stassov có ảnh hưởng lớn đến sự định hình phong cách và các nguyên tắc sáng tạo của Glazunov.

Alexander Konstantinovich Glazunov sinh ngày 10 tháng 8 năm 1865 tại thành phố St Petersburg. Ông học âm nhạc dưới sự hướng dẫn của nhà soạn nhạc Nga nổi tiếng Nikolai Rimsky-Korsakov theo lời giới thiệu của Mily Balakirev, người mà ông gặp gỡ ở tuổi mười bốn.

Alexander Glazunov sáng tác từ rất sớm. Bản giao hưởng đầu tiên trong số 9 giao hưởng của ông được công diễn năm ông mới 16 tuổi. Bản thơ giao hưởng nổi tiếng Stenka Razin của ông cũng ra đời trong giai đoạn này. Tác phẩm của ông sớm trở nên nổi tiếng cả trong và ngoài nước Nga một phần nhờ sự ủng hộ tích cực của nhà soạn nhạc người Hungary Franz Liszt.

Alexander Glazunov bắt đầu sự nghiệp chỉ huy dàn nhạc năm 1888. Từ đó ông thường xuyên biểu diễn ở Nga và nước ngoài với tư cách nhạc trưởng. Ông cũng được bổ nhiệm làm nhạc trưởng của mùa hòa nhạc giao hưởng Nga năm 1896. Ông cũng là nhạc trưởng tại buổi công diễn lần đầu đầy thảm khốc bản giao hưởng No. 1 của Sergei Rachmaninov. Hình như buổi công diễn này thất bại hoàn toàn phần nào do Glazunov đã uống say tại thời điểm đó.

Năm 1899, Glazunov trở thành giáo sư tại trường âm nhạc St Petersburg. Năm 1905 ông từ nhiệm để bày tỏ sự bất đồng chính kiến với ban giám đốc và trở lại Nhạc viện vào cuối năm đó với vai trò Giám đốc. Ông đã làm việc tại đây cho đến khi xảy ra những sự kiện vĩ đại năm 1917. Sau khi thế chiến thứ nhất kết thúc, Glazunov tích cực tham gia vào xây dựng nền văn hoá Xô viết, cải cách giáo dục âm nhạc, tham gia vào các hoạt động xã hội phổ biến âm nhạc hàn lâm. Ông đã đóng góp tâm huyết vào việc tái lập nhạc viện Leningrad.

Glazunov rời nước Nga năm 1928. Ông đã sang Vienna tham gia Ban giám khảo cuộc thi âm nhạc quốc tế mang tên Shubert, nhưng do tình trạng sức khoẻ nên không thể trở lại Nga. Ông đã tới châu Âu và Hoa Kỳ rồi định cư ở Paris, nơi ông qua đời. Ông luôn khẳng định rằng việc ông rời xa nước Nga liên tục như thế là vì lý do sức khỏe ; điều này khiến ông vẫn được coi là nhà soạn nhạc đáng kính ở Liên Xô, không giống như Igor Stravinsky và Rachmaninov, những người đã rời bỏ nước Nga vì những lý do khác.

Glazunov là một trong các nhà soạn nhạc Nga nổi tiếng nhất thời kỳ cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Ông tiếp tục các truyền thống âm nhạc của Tchaikovsky và nhóm Khoẻ, đồng thời kết hợp tài tình hai dòng nhạc trữ tình anh hùng ca và trữ tình chính kịch trong âm nhạc Nga. Trong sự nghiệp sáng tác của ông nhạc giao hưởng chiếm một vị trí quan trọng với các hình tượng anh hùng của anh hùng ca dân gian Nga, các bức tranh phong cảnh quê hương, hiện thực Nga, các bài ca dân gian của các dân tộc Slav và phương Đông.

Các tác phẩm của Glazunov nổi bật với các đề tài đậm nét, mọi nhạc cụ trong dàn nhạc vang rõ, tròn đầy, cách sử dụng kỹ thuật phức điệu điêu luyện. Nối tiếp các truyền thống của Tchaikovsky, ông nâng cao đáng kể vai trò của âm nhạc trong ballet. Ông cũng soạn lại một số lượng lớn dân ca Nga, Séc, Hy lạp, hoàn chỉnh opera Công tước Igor (với những vũ khúc Polovetsian nổi tiếng) cùng với Rimsky-Korsakov, ghi lại theo trí nhớ phần đầu bản giao hưởng số 3 của Borodin, tham gia vào quá trình biên tập chuẩn bị xuất bản toàn tập tác phẩm của M.I. Glinka. Ông dàn dựng nhiều tác phẩm của các nhà soạn nhạc Nga và thế giới.

Glazunov là tác giả của 9 bản giao hưởng (bản cuối cùng chưa hoàn thành). Trong các tác phẩm này tính anh hùng ca và màu sắc âm nhạc dân gian kết hợp chặt chẽ hài hoà với kỹ thuật điêu luyện. Âm nhạc của Glazunov ấm áp, chân thành, rõ ràng và thể hiện xúc cảm cân bằng. Các giao hưởng được coi như đỉnh cao của nhà soạn nhạc có thể kể giao hưởng số 5 (1895) trong sáng, tràn trề nghị lực và lòng dũng cảm, các giao hưởng số 6 (1896) và số 8 (1906) đầy tâm trạng kịch tính và các suy tư triết học sâu sắc. Ông cũng viết hàng loạt các tác phẩm thể loại thơ giao hưởng, mà nổi tiếng nhất là thơ giao hưởng “Stenka Razin” (1885), và suite “Từ thời Trung cổ” (1902). Một trong các tác phẩm đỉnh cao của Glazunov là concerto cho violin và dàn nhạc (1904). Ngoài ra còn có các vở ballet “Raimonda” (do nhà hát Mariinsky St.Peterburg dàn dựng năm 1898), “Tiểu thư-người hầu, hay là Thử thách của Damis” (do nhà hát Ermitage, St. Peterburg dàn dựng năm 1900) và “Bốn mùa” (do nhà hát Ermitage , St. Peterburg dàn dựng năm 1900) cùng 7 tứ tấu, 2 sonata và nhiều tác phẩm khác cho piano, các romance.

Năm 1929, Glazunov chỉ huy một dàn nhạc gồm những nhạc công Paris trong bản thu điện trọn vẹn đầu tiên vở ballet một màn “Bốn mùa” của mình. Bản thu này, về sau được phát hành lại trên đĩa LP và CD, cho chúng ta thấy ông là một nhà chỉ huy điêu luyện.

Trong sự nghiệp của mình, Alexander Glazunov nhận được rất nhiều vinh dự. Ông là Phó chủ tịch danh dự của Hội Nhạc giao hưởng Nga tại Anh (1906), Giáo sư danh dự các trường Đại học Cambridge và Oxford (1907), Viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm Quốc gia Santa Cecilia (1914), Viện sĩ Viện Hàn lâm Âm Nhạc Stockholm (1929). Từ năm 1885 đến năm 1903 ông được trao tặng giải thưởng Glinka hàng năm. Năm 1922 ông được phong tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân Nga.

Glazunov qua đời vào ngày 21 tháng 3 năm 1936 tại Paris. Đến năm 1972 di hài ông được chuyển về Leningrad. Con gái ông là Elena Glazunova-Gyunter đã viết một hồi ký xúc động về quãng đời và hoạt động âm nhạc ở nước ngoài cha mình.

Tykva (tổng hợp)
__________________
Đã rời NNN...
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn tykva cho bài viết trên:
Nguyễn Nguyên Hải (02-10-2009), osen (13-01-2009), Thóc (30-03-2008)
  #8  
Cũ 07-12-2007, 16:31
tykva tykva is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 822
Cảm ơn: 309
Được cảm ơn 998 lần trong 443 bài đăng
Default

Mikhail Glinka

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Là cha đẻ của nền âm nhạc cổ điển Nga, xuất phát điểm của Glinka khá khác biệt so với nhiều nhạc sỹ khác. Sinh ra trong một gia đình giàu có, ông có cơ hội tiếp xúc với âm nhạc dân gian và những tác phẩm đương thời do chính dàn nhạc riêng của người bác ruột biểu diễn. Được hưởng một sự giáo dục đầy đủ từ nhỏ, hơn thế nữa Glinka còn có điều kiện đi khắp Châu Âu để tiếp xúc với những tinh hoa của nhiều trường phái âm nhạc khác nhau như Đức, Ý, Áo... Chính vì vậy, tài năng của Glinka được phát hiện và bồi dưỡng từ rất sớm. Trong bối cảnh nền âm nhạc nước Nga thời kỳ đó còn quá non trẻ, niềm khát khao sáng tác ra những tác phẩm mang phong cách Nga, tạo lập nên một trường phái âm nhạc cổ điển Nga hùng mạnh có thể sánh ngang với các nền âm nhạc khác đã giúp ông trở thành một con người vĩ đại. Nhiều nhạc sỹ sau này như Tchaikovsky, Balakirev, Mussorgsky, Rimsky-Korsakov... đều chịu sự ảnh hưởng của Glinka và coi ông là bậc tiền bối đáng kính trọng. Âm nhạc của Glinka luôn tràn đầy những giai điệu của dân ca Nga, đầy ắp sự dung dị và trìu mến. Các tác phẩm của ông nếu không là những vũ khúc rộn ràng, vui vẻ thì cũng là các bản romance đầy trữ tình sâu lắng.

Sinh ngày 1 tháng 6 năm 1804, tại Novospasskoye gần Smolensk, Belarus, từ nhỏ Glinka đã được tiếp xúc với một kho tàng khổng lồ các bài dân ca Nga qua tiếng hát của những người nông dân trong trang trại của gia đình. Tỏ ra có năng khiếu âm nhạc từ rất sớm, 10 tuổi cậu bé đã nhận ra được âm thanh và cao độ của nhiều nhạc cụ trong dàn nhạc đồng thời chơi được cả violin và flute.

Năm 1816, cậu bé đi học tại Tsarskoe Selo trong một trường chỉ dành cho con em các gia đình quyền quí. Tại đây Glinka gặp Pushkin (hơn Glinka 5 tuổi) và đã nảy sinh một tình bạn đẹp đẽ giữa hai người. Glinka là người hiểu rõ hơn ai hết giá trị các tác phẩm của Pushkin và chính Pushkin đã khuyến khích và ủng hộ Glinka rất nhiều trong con đường hoạt động nghệ thuật.

Năm 1818, Glinka được gia đình cho học nhạc tại Saint Petersburg. Tại đây ông được tiếp xúc với John Field _ nhà soạn nhạc, nghệ sỹ Piano nổi tiếng người Ireland thời kỳ đó. Cũng trong thời gian này, các vở opera của Mozart, Rossini đã thực sự cuốn hút ông và ý tưởng sáng tác một vở opera đầu tiên cho nền âm nhạc Nga đã được Glinka ấp ủ. Trong các mùa hè chàng trai thường đến chơi Violin trong dàn nhạc của người bác.

Trong những năm 1820, Glinka sáng tác rất nhiều bài hát cũng như các bản romance và bắt đầu trở nên nổi tiếng.

Vốn sinh ra đã có thể trạng yếu đuối, vào năm 1830 theo yêu cầu của bác sỹ Glinka có chuyến du lịch đến một số nước Tây Âu _ nơi có khí hậu ấm áp hơn để chữa bệnh. Nơi dừng chân đầu tiên là Đức, rồi sau đó là Thuỵ Sỹ và Ý. Thông thạo 6 ngoại ngữ cùng với bản tính thân thiện và tinh thần ham học hỏi, ông có thể kết giao bạn bè ở bất kỳ đâu. Glinka ở lại Milan rất lâu vì tại đây ông được tiếp xúc với rất nhiều ca sỹ và nhạc sỹ nổi tiếng như Donizetti hay Bellini cũng như xem buổi trình diễn đầu tiên các vở opera Anna Bolena và La Sonnambula. Năm 1833, Glinka qua Áo và gặp Joseph Lanner và Johann Strauss. Tuy nhiên Glinka phải nhanh chóng trở về Nga vì cái chết đột ngột của người cha.

Cả mùa đông năm 1834, Glinka sống ở St.Petersburg. Tại đây Glinka đã gặp Mariya Petrovna và hai người cưới nhau 1 năm sau đó. Thời gian này Glinka đang bế tắc trong việc tìm kiếm nội dung cho vở opera cho đến khi ông gặp nhà thơ Vasili Zhukovsky. Chính Zhukovsky đã gợi ý cho Glinka câu chuyện về người anh hùng Ivan Susanin _ một người nông dân thế kỷ 17 đã hy sinh thân mình để cứu Sa hoàng thoát khỏi bọn quân Ba Lan xâm lược. Và vào ngày 27 tháng 11 năm 1836 vở opera đầu tiên của nền âm nhạc cổ điển Nga Life for the Tsar (chúng ta thường quen với tên gọi Ivan Susanin) được công diễn tại Nhà hát lớn St.Petersburg (nay đã không còn tồn tại) trong sự hân hoan chào đón của tất cả công chúng yêu nhạc. Ngay chính bản thân Glinka cũng không thể ngờ thành công lại rực rỡ đến thế, trong bức thư gửi cho mẹ ngay sau buổi biểu diễn ông viết: “Đêm hôm trước mọi ước mơ của con đã trở thành hiện thực, vở opera được tất cả mọi người đón nhận”.

Sa hoàng Nicolai đệ Nhất đến xem một buổi tập và có mặt trong buổi công diễn đã tỏ ra rất thích thú và tặng cho Glinka một chiếc nhẫn quý mà sau này Glinka cho vợ đeo.

Ngay sau cột mốc lịch sử này, Glinka được mời làm nhạc trưởng cho dàn hợp xướng nhà thờ Hoàng gia với những đãi ngộ vô cùng ưu ái. Với lòng nhiệt tình cháy bỏng của tuổi trẻ, Glinka bắt tay vào viết vở opera thứ hai trong khi đi thăm một dàn hợp xướng tại Ukraine. Lần này nội dung là dựa theo tác phẩm nổi tiếng Ruslan và Lyudmila của Pushkin. Glinka hy vọng được chính tác giả viết phần lời cho vở Opera nhưng rất tiếc Pushkin đã qua đời trong một cuộc đấu súng vào ngày 10 tháng 2 năm 1837. Vì vậy phải mất đến 5 năm vở opera mới được hoàn thành.

Vào năm 1839, cuộc sống riêng tư của Glinka có nhiều xáo trộn. Ông chia tay với vợ và cũng rời bỏ cương vị nhạc trưởng dàn hợp xướng nhà thờ Hoàng gia. Cuộc gặp gỡ cô gái trẻ Yekaterina Kern là nguồn cảm hứng để Glinka sáng tác bản Valse-Fantasie cho Piano. Những giai điệu trong sáng, tươi mát xen kẽ với những khoảnh khắc u sầu là những tiền đề cho âm nhạc trong các vở ballet của Tchaikovsky sau này. Glinka chuyển soạn tác phẩm này cho dàn nhạc vào năm 1856 sau khi bản phối đầu tiên năm 1845 bị mất tại Paris.

Tháng 3 năm 1841, Glinka hoàn thành phần âm nhạc gồm 1 Overture, 4 entracte và 3 bài hát cho vở kịch Price Cholmsky của Nesto Kukolnik.

Đúng 6 năm sau ngày ra mắt Ivan Susanin, ngày 27 tháng 11 năm 1842, Ruslan và Lyudmila đã trình diễn buổi đầu tiên. Vở opera đã được rất nhiều nhạc sỹ khen ngợi trong đó có Liszt (trong một buổi biểu diễn tại St.Petersburg, Liszt đã ngẫu hứng phóng tác ngay một biến tấu dựa trên chủ đề “hành khúc Chernamor” để tặng khán giả) nhưng việc dàn dựng và công diễn tác phẩm này lúc đầu gặp rất nhiều trở ngại. Nhiều người phản đối cho rằng nội dung của Ruslan và Lyudmila quá lộn xộn và bắt khán giả phải tưởng tượng quá nhiều. Tuy nhiên ngày nay Ruslan và Lyudmila đã trở thành một tác phẩm thường xuyên được các nhà hát Opera nổi tiếng đưa vào danh mục biểu diễn. Đặc biệt bản overture tràn ngập không khí lễ hội, vui tươi luôn được vang lên ở khắp nơi trên thế giới như là một tác phẩm độc lập.

Năm 1844, Glinka lại tiếp tục cuộc du lịch châu Âu của mình. Lần này điểm đến là Pháp. Tại Paris, ông làm quen và trở thành bạn của Berlioz. Trong 10 tháng trời, Glinka học hỏi được rất nhiều ý tưởng của nhà soạn nhạc Pháp vĩ đại và từ đó về sau âm nhạc của Glinka trở nên đa dạng và nhiều màu sắc hơn.

Một năm sau Glinka đến Tây Ban Nha. Sự khác biệt về văn hoá, phong tục ngôn ngữ cùng với một nền âm nhạc dân gian vô cùng phong phú khiến ông tỏ ra rất thích thú. Chính nơi đây là nguồn cảm hứng dể Glinka sáng tác hai bản overture Jota Aragonesa (1845) và Summer Night in Madrid (1851).

Bản nhạc Kamarinskaya ra đời năm 1848 tại Warsaw chính là những xúc cảm trào dâng của Glinka về mảnh đất quê hương. Tác phẩm mang đậm dấu ấn của các bản dân ca Nga đầy sự trong sáng và hứng khởi. Kamarinskaya có sức lôi cuốn mạnh mẽ đến nỗi Tchaikovsky phải thốt lên: “Mọi tác phẩm âm nhạc cổ điển của Nga đều xuất phát từ Kamarinskaya”.

Mùa xuân năm 1856, Glinka thực hiện chuyến du lịch cuối cùng của mình đến Berlin. Thời gian này trong ông vẫn đầy ắp ý tưởng sáng tác nhưng sức khoẻ suy sụp đã ngăn cản ông thực hiện chúng. Ngày 15 tháng 1 năm 1857, gia đình nhận được bức thư của Glinka: “Vào ngày 9 tháng 1, vở Ivan Susanin của tôi được biểu diễn tại cung điện của đức vua. Tôi được mời và tôi là người Nga đầu tiên có được vinh dự đó... Bệnh cúm của tôi rất nặng, thời tiết thì rất đáng sợ, toàn sương mù và tuyết...”. Glinka qua đời ngày 15 tháng 2 năm 1857 và theo ước nguyện thi thể ông được đưa về quê hương Nga yêu dấu. Glinka được chôn tại nghĩa trang Alexander Nevsky. Nước Nga đã mất đi một người con xuất chúng.

Tại hai bên tường của phòng hoà nhạc Nhạc viện Tchaikovsky ở Moscow có hai dãy ảnh của các nhạc sĩ vĩ đại. Đứng đầu một bên là Johann Sebastian Bach và bên còn lại chính là ảnh của Mikhail Glinka. Một sự tưởng thưởng xứng đáng cho những đóng góp vô cùng to lớn của ông đối với nền âm nhạc cổ điển Nga.

cobeo (NCĐ)
http://www.nhaccodien.info/modules.p...=Detail&cid=77
__________________
Đã rời NNN...
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn tykva cho bài viết trên:
Flamingo (28-10-2009), Nguyễn Nguyên Hải (02-10-2009), osen (13-01-2009)
  #9  
Cũ 10-12-2007, 09:45
tykva tykva is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 822
Cảm ơn: 309
Được cảm ơn 998 lần trong 443 bài đăng
Default

Aram Khachaturian

Aram Illyich Khachaturian sinh ngày 24 tháng 5 (theo lịch mới là 6 tháng 6 năm 1903 tại Tiflis (ngày nay là Tbilisi, thủ đô Gruzia), mất ngày 1 tháng 5 năm 1978 tại Moscow.

Tiểu sử Aram Khachaturian, nhà soạn nhạc vĩ đại người Armenia, rất thú vị. Ông sinh ra tại Tifflis, thủ đô Gruzia, trong gia đình thợ đóng sách người Armenia. Cha mẹ ông không hề học nhạc, nhưng là những người rất tài năng trong lĩnh vực này, vì thế ngôi nhà của họ luôn tràn đầy các giai điệu âm nhạc, các bài ca và những điệu múa. Nhà soạn nhạc tương lai yêu thích âm nhạc từ thuở ấu thơ, biết chơi các nhạc cụ dân gian từ rất sớm, tuy vậy cho đến tận năm 19 tuổi Aram không hề học nhạc lý, cũng không hề có khái niệm gì về nhạc giao hưởng và opera.

"Tifflis xưa là một thành phố âm nhạc", - ông hồi tưởng về thành phố tuổi thơ của mình. - "Để có thể đắm mình vào không gian âm nhạc, tạo thành từ rất nhiều nguồn khác nhau, người ta chỉ cần đi theo các con phố nhỏ rời xa trung tâm thành phố một chút...". Hồi đó, trong thành phố có chi nhánh của Hội Âm nhạc Nga, Học viện Âm nhạc, và nhà hát Opera Italia. Các nghệ sĩ lớn như Fedor Saliapin, Sergei Rachmaninov, Konstantin Igumnov từng biểu diễn ở đây. Thành phố này cũng là nơi hoạt động của các nhà soạn nhạc về sau sẽ đóng vai trò chủ chốt trong sự xuất hiện của trường phái âm nhạc Gruzia và Armenia.

Năm 1921 cùng với một nhóm thanh niên Armenia, Aram Khachaturian đến Moscow, thi vào khoa dự bị để sau đó dự thi vào khoa Toán-Lý đại học Tổng hợp Moscow. Một năm sau, năm 1922, Khachaturian một mình thi vào lớp cello Học viện Âm nhạc mang tên Anh em Gnessin, nơi ông nhận được sự giúp đỡ tận tình và nguồn cổ vũ mạnh mẽ từ các nhà sư phạm âm nhạc tài danh thời đó. Chàng trai Armenia tài năng lọt vào mắt xanh của Mikhail Gnessin và được nhà soạn nhạc này giúp đỡ rất nhiều trong học tập. Tại Moscow, lần đầu tiên trong đời Aram Khachaturian đi nghe hoà nhạc và biết đến nhạc giao hưởng.

Sự nghiệp của Khachaturian với tư cách là nhà soạn nhạc được xác định dứt khoát vào năm 1925, khi trong Học viện Gnessin xuất hiện lớp soạn nhạc. Khachaturian đã nhận được các kiến thức đầu tiên về soạn nhạc tại đây. Các tác phẩm của Beethoven và Rachmaninov làm rung động tâm hồn ông và cho ông nguồn cảm hứng để viết nên tác phẩm đầu tay "Vũ điệu cho violin và piano". David Oistrakh viết về tác phẩm này của Khachaturian như sau : "Là một nghệ sĩ vĩ cầm, tôi tự hào là "Vũ điệu..." - tác phẩm đầu tay của Aram Khachaturian, được viết cho violin. Nhà soạn nhạc vĩ đại hiểu cây vĩ cầm như một nghệ sĩ vĩ cầm thực thụ".

Tác phẩm đầu tay này đã thể hiện những nét đặc trưng cho phong cách của Khachaturian: tính ngẫu hứng, đa dạng, các thủ thuật biến cách, các thủ thuật để đạt được hiệu ứng màu âm của các nhạc cụ truyền thống phương Đông, và nhất là các ostinato được mệnh danh là "khoảnh khắc Khachaturian". Về sau chính nhà soạn nhạc đã viết: "Các khoảnh khắc đó tôi đã từng nhiều lần nghe thấy trong tuổi thơ, trong âm vang của các nhạc cụ dân gian như buben, kermancha hay sazandar-tar...".

Năm 1929 Khachaturian thi vào Nhạc viện Moscow, theo học lớp soạn nhạc dưới sự hướng dẫn của nhà sư phạm âm nhạc Nikolai Iakovlevich Miaskovsky. Cùng năm này Khachaturian gia nhập dàn nhạc giao hưởng Nhạc viện Moscow.

Việc S. Prokofiev thăm lớp soạn nhạc của Miaskovsky năm 1933 có ảnh hưởng lớn đến Khachaturian. Về phần mình, các sáng tác đầu tay của nhà soạn nhạc trẻ tuổi cũng khiến S.Prokofiev quan tâm đặc biệt, tới mức ông mang chúng theo trong chuyến đi Paris của mình và tại đây các tác phẩm này đã được trình diễn.

Trong thời gian này Khachaturian chuyển hướng từ các tác phẩm nhỏ tới các hình thức lớn hơn. Năm 1932 ông hoàn thành Suite dành cho piano, mà phần đầu tiên "Tokkata" sau này trở nên rất nổi tiếng, được nhiều nghệ sĩ piano tài năng thể hiện. Năm 1933 ra đời tác phẩm Suite dành cho dàn nhạc giao hưởng, cũng được giới âm nhạc đánh giá cao. Năm 1934 ông tốt nghiệp Nhạc viện và bắt đầu học nghiên cứu sinh. Tên họ của ông được khắc bằng chữ vàng trên một tấm bảng treo bên lối vào phòng hoà nhạc nhỏ của Nhạc viện.

Năm 1935 tại phòng hoà nhạc của Nhạc viện Moscow bản giao hưởng số 1 của Khachaturian được dàn nhạc biểu diễn dưới sự chỉ huy của E. Senkar. Bản giao hưởng này được coi như tác phẩm tốt nghiệp của Khachaturian. Nó đánh dấu sự kết thúc một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời nhà soạn nhạc và mở đầu một giai đoạn mới.

Năm 1937 "concerto dành cho piano và dàn nhạc" của Khachaturian lần đầu tiên được trình diễn. Cùng với các tác phẩm trước đó, bản concerto đã mang lại cho ông vinh quang trên toàn thế giới. Trong số các tác phẩm nổi tiếng nhất của Khachaturian sáng tác trước chiến tranh Vệ quốc có Giao hưởng số 2. Trong Chiến tranh Vệ quốc ông làm việc cho Đài phát thanh Liên Xô, viết các ca khúc có nội dung ái quốc và các hành khúc. Sau chiến tranh ông trở lại với nhạc cổ điển và viết nên những tác phẩm lớn mang tầm cỡ thế giới.

Khachaturian đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của mình trong các thập kỷ tiếp theo. Ông dành mối quan tâm lớn cho việc sáng tác nhạc nền cho các tác phẩm kịch nói, mà nổi bật nhất là nhạc nền cho các vở "Bà goá thành Valencia" của Lope de Vega (1940) và "Dạ hội hóa trang" của Lermontov (1941). Các suite viết trên cơ sở nhạc nền của các vở kịch này về sau trở thành các tác phẩm âm nhạc độc lập và thường xuyên được trình diễn trong các chương trình hoà nhạc lớn.

Khachaturian cũng hiểu rõ tầm quan trọng của âm nhạc trong cấu trúc một tác phẩm điện ảnh và coi trọng việc sáng tác nhạc nền cho phim điện ảnh. Ông đã viết cho điện ảnh rất nhiều, đáng kể nhất phải nói đến nhạc nền các phim "Pepo" và "Zangezar", bởi các tác phẩm này đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp của Khachaturian. Tuy nhiên, tài năng thiên bẩm của ông thể hiện trọn vẹn ở các tác phẩm giao hưởng. Các bản concerto cho piano với dàn nhạc (1936) và violin với dàn nhạc (1940) thành công vang dội, thể hiện sự tiếp tục và phát triển nâng cao các xu hướng đã bước đầu hình thành trong các suite trước đó và trong Giao hưởng số 1, về sau này chúng trở thành những đặc điểm chính làm nên phong cách của Khachaturian. Trong thể loại concerto ông cũng có những sáng tạo và cách tân độc đáo và táo bạo.

Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô bắt đầu năm 1941, khi Khachaturian đã nổi tiếng và được xếp vào hàng các nhà soạn nhạc lớn của đất nước. Trong thời kỳ chiến tranh bất chấp mọi khó khăn gian khổ, ông vẫn say mê tìm tòi sáng tạo, nhiều tác phẩm của ông vẫn nối tiếp nhau ra đời và được trình diễn.

Vở ballet Armenia đầu tiên với nhan đề "Hạnh phúc" được Khachaturian viết từ năm 1939, nhưng những khiếm khuyết của libretto khiến nhà soạn nhạc phải viết lại âm nhạc hầu như từ đầu, và trên cơ sở đó vở "Gayane" viết theo libretto của K. Derzhavin được hoàn thành. Trong tác phẩm này Khachaturian kết hợp một cách tài hoa các truyền thống của ballet cổ điển với nghệ thuật ca vũ kịch dân gian. Ballet "Gayane" cho đến ngày nay vẫn thường xuyên được trình diễn trong các nhà hát nổi tiếng trên toàn thế giới. Buổi biểu diễn ra mắt của vở ballet này được tổ chức vào ngày 3 tháng 12 năm 1942, đúng vào những ngày tháng khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh Vệ quốc. Ba suite do Khachaturian sáng tác trên cơ sở âm nhạc của "Gayane" cũng trở thành các tác phẩm độc lập được nhiều người mến mộ. Năm 1943 tác phẩm được trao giải thưởng Stalin hạng nhất - một trong những giải thưởng lớn nhất của nhà nước Liên Xô trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Chỉ một thời gian ngắn sau đó vở ballet "Gayane" đã nổi tiếng trên toàn thế giới.

Năm 1943 Khachaturian hoàn thành Giao hưởng số 2. Trong tác phẩm viết vào thời chiến này thể hiện những khía cạnh mới, rất độc đáo của tài năng và sáng tạo. Âm nhạc được làm giàu thêm bởi những sắc màu mới, mang tính hoành tráng và bi hùng. "Giao hưởng số 2 của Khachaturian là tác phẩm đầu tiên của nhà soạn nhạc thiên tài, trong đó cái bi được nâng lên một tầm cao đến như thế," - D.Shostakovich viết. "Tuy nhiên, bất chấp bản chất bi kịch của nó, cả tác phẩm vẫn tràn đầy lạc quan và niềm tin vào chiến thắng. Sự kết hợp tính bi kịch và sức sống tràn đầy trong tác phẩm này cho nó một sức mạnh truyền cảm lớn".

Năm 1944 Khachaturian sáng tác bản Quốc ca Armenia. Một năm sau, không lâu sau khi chiến tranh kết thúc, ông hoàn thành Giao hưởng số 3 "Chiến thắng". Tác phẩm tràn đầy cảm hứng yêu nước, một bản hành khúc chiến thắng, bản nhạc mà viện sĩ B.V. Asaphiev viết: "Âm nhạc của Khachaturian vẫy gọi: "Sẽ là ánh sáng! Sẽ là niềm vui!"

Mùa hè năm 1946 nhà soạn nhạc vĩ đại hoàn thành bản concerto cho cello, được nghệ sĩ S.Knushevitsky trình bày tại Moscow và thành công vang dội. Cùng thời gian đó ông viết một loạt các ca khúc nghệ thuật phổ thơ các nhà thơ nổi tiếng của Armenia. Nếu như concerto luôn là thể loại yêu thích của nhạc sĩ thì loạt các ca khúc này có thể nói là thử nghiệm đầu tiên của ông trong thể loại lied.

Năm 1956 đánh dấu sự thành công của một trong những tác phẩm vĩ đại nhất trong sự nghiệp của Aram Khachaturina - vở ballet "Spartacus". Xét về chiều sâu ý tưởng, về độ chói sáng của hình tượng nghệ thuật, về tính hoành tráng của tác phẩm kịch nghệ và những cách tân và sự dũng cảm trong cách giải quyết các vấn đề học thuật trong nghệ thuật nhạc kịch đương đại, vở "Spartacus" đáng được xếp vào hàng những vở ballet lớn nhất thế kỷ XX. Ballet "Spartacus" trở thành tác phẩm lớn nhất của Khachaturian thời hậu chiến. Tổng phổ của nó đã được nhà soạn nhạc hoàn thành vào năm 1945, nhưng đến tháng 12 năm 1956 mới được công diễn lần đầu tiên. Từ đó trở đi vở diễn liên tục có mặt trên sân khấu nhiều nhà hát danh giá nhất thế giới.

Đồng thời Khachaturina cũng làm việc nhiều với nhà hát và điện ảnh. Nhạc nền cho vở kịch nói "Vũ hội giả trang" của M.Iu. Lermontov được đánh giá cao. Giai điệu của nhiều ca khúc do ông sáng tác trở nên rất được ưa chuộng và trở thành những bài hát yêu thích của nhiều thế hệ.

Các tác phẩm điện ảnh Xô viết do ông sáng tác nhạc nền cũng trở nên rất nổi tiếng. Đó là các phim như "Pepo", "Vladimir Illyich Lenin", "Đô đốc Ushakov", "Trận Stalingrad"...

Từ năm 1950 Khachaturian còn làm việc với dàn nhạc với tư cách nhạc trưởng và đi biểu diễn tại nhiều nước trên thế giới. Đồng thời, ông trở thành giáo sư Nhạc viện Moscow và ĐH Sư phạm âm nhạc mang tên anh em Gnessin.

Năm 1956 Khachaturian được nhận giải thưởng Lênin cho toàn bộ sự nghiệp của mình. Ông tiếp tục sáng tác hầu như đến cuối đời, nhưng các tác phẩm sau này như các concerto cho violin, cello, piano và dàn nhạc (1961, 1963, 1967), các sonata cho cello, violin và alto (1974, 1975, 1976) đã không vượt qua được đỉnh cao sáng tạo của các năm trước đó.

Khachaturian dành nhiều công sức cho sự nghiệp giáo dục, suốt một thời gian dài giảng dạy lớp soạn nhạc tại Nhạc viện Moscow và ĐH SP Âm nhạc mang tên Anh em Gnessin. Ông phát triển lên đến đỉnh cao các nguyên tắc sư phạm của thầy mình là Miaskovsky, cùng với kinh nghiệm sáng tạo của cá nhân, ông trở thành người sáng lập một trường phái soạn nhạc - trường phái Khachaturian.

Khachaturian cũng đạt được những thành công nhất định trong vai trò nhạc trưởng, dù ông trở thành nhạc trưởng một cách tình cờ: Trong buổi hoà nhạc với sự tham gia của nghệ sĩ nổi tiếng Leonid Kogan mừng Viện sĩ Vavilov những người tổ chức muốn mời ông đích thân chỉ huy dàn nhạc. Thành công của buổi hoà nhạc đó mở đầu cho sự nghiệp của Khachaturian với tư cách nhạc trưởng.

Đời tư của nhà soạn nhạc vĩ đại không nhiều sóng gió. Người vợ đầu tiên sinh cho ông một cô con gái - Nune Aramovna Khachaturian, về sau trở thành một nghệ sĩ piano. Năm 1933 ông kết hôn lần thứ hai, bà Nina Makarova cùng học với ông trong lớp của Miaskovky. Từ cuộc hôn nhân thứ hai và rất hạnh phúc này ông có một con trai, Karen Khachaturian, hiện là một nhà nghiên cứu nghệ thuật nổi tiếng.

Trong đời hoạt động nghệ thuật của mình Aram Khachaturian nhận được nhiều giải thưởng lớn của quốc gia và quốc tế. Năm 1963 ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học nước cộng hoà Armenia, viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm Âm nhạc Italia Santa Cecilia (1960), giáo sư danh dự Nhạc viện quốc gia Mexico (1960), Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Nghệ thuật Cộng hoà Dân chủ Đức (1960). Ông được trao danh hiệu Giáo sư, Tiến sĩ nghệ thuật năm 1965.

Tykva (dịch)
__________________
Đã rời NNN...
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn tykva cho bài viết trên:
Flamingo (28-10-2009), Nguyễn Nguyên Hải (02-10-2009), osen (13-01-2009), Thóc (30-03-2008)
  #10  
Cũ 18-12-2007, 08:03
tykva tykva is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 822
Cảm ơn: 309
Được cảm ơn 998 lần trong 443 bài đăng
Default

Modest Mussorgsky

Modest Petrovich Mussorgsky sinh ngày 9 (theo lịch mới là ngày 21) tháng 3 năm 1839 tại làng Karevo tỉnh Pskov trong một gia đình địa chủ thuộc dòng họ Riurikov. Ông được mẹ dạy chơi piano và sáng tác các bản tuỳ hứng từ nhỏ, khi lên chín tuổi đã có thể trình diễn concerto của Field trước công chúng. Năm 1849 ông vào học ở trường Petropavlovsk ở Saint Peterburg và năm 1852 thì nhập học tại trường đào tạo hạ sĩ quan cận vệ và học đàn với nhà sư phạm âm nhạc nổi tiếng A.A. Gerke. Nhạc phẩm đầu tay của ông “Hạ sĩ quan cận vệ” - bản Polka dành cho piano ra mắt công chúng trong thời kỳ này. Năm 1856, dù không được đào tạo một cách bài bản về nhạc lý ông vẫn bắt tay vào sáng tác vở Opera đầu tiên dựa theo một tác phẩm văn học lớn của V.Hugo. Cùng năm này ông nhận nhiệm vụ tại trung đoàn cận vệ Preobragiensky. Năm 1857 ông làm quen với Alexander Dargomizhsky và César Cui, rồi được giới thiệu với Mily Balakirev (người thuyết phục ông học nhạc lý một cách cơ bản và soạn nhạc) và Vladimir Stasov. Chẳng bao lâu sau Mussorgsky trở thành thành viên nhóm “Moguchaya kuchka” (nhóm Hùng mạnh - nhóm các nhà soạn nhạc lấy đấu tranh cho nghệ thuật dân tộc làm tôn chỉ mục đích hoạt động của mình gồm 5 thành viên: Balakirev, Cui, Borodin, Rimsky-Korsakov và Mussorgsky).

Năm 1858, do một khủng hoảng thần kinh và tâm lý, Mussorgsky giải ngũ. Chuyến thăm Moskva vào năm 1859 trở thành một sự kiện lớn trong đời Mussorgsky - nhạc sĩ bởi chính tại đây ông như trải qua một cao trào cảm hứng và các tình cảm ái quốc. Các tác phẩm âm nhạc của Mussorgsky bắt đầu được trình diễn trong các chương trình hoà nhạc, nhưng nhìn chung sự nghiệp sáng tác của ông thời kỳ này chưa ổn định. Trong hai năm sau ngày chế độ nông nô bị bãi bỏ năm 1861 ông buộc phải tham gia quản lý trang trại của gia đình. Bản giao hưởng bắt đầu sáng tác bị bỏ dở và mãi mãi không bao giờ được hoàn thiện, còn hai thầy dạy là Stasov và Balakirev bắt đầu nhìn Mussorgsky với con mắt khác và đánh giá ông “gần như là một thằng ngốc”. Tuy nhiên, Musorgsky vượt qua giai đoạn khủng hoảng này khá nhanh chóng, và lại bắt tay vào sáng tác. Năm 1863 – 1865 ông viết libretto của opera “Salambo” theo tiểu thuyết của G.Flaubert. Để kiếm sống, ông chấp nhận trở thành một viên chức nhà nước và sống trong một phòng trọ rẻ tiền. Ông nhiệt tình ủng hộ những quan điểm tiên tiến (theo cách hiểu của giới trí thức Nga thập niên 1860) về nghệ thuật, tôn giáo, triết học và chính trị. Mâu thuẫn giữa đời tư Mussorgsky với công việc của một công chức ngày càng nặng nề, năm 1865 ông lâm vào tình trạng nghiện rượu nặng, có thể một phần là do cái chết của người mẹ yêu dấu và dẫn đến hậu quả năm 1867 ông bị sa thải.

Mùa hè năm 1867 Mussorgsky sống ở Minkino trong trang trại của anh ruột, và tại đây ông sáng tác thành công tác phẩm khí nhạc lớn đầu tiên của mình – “Đêm trên núi trọc.

Mùa thu năm đó ông trao đổi thư từ với Dargomizhsky, vốn là một người đầy kinh nghiệm trong làm mới nghệ thuật đọc và đang thu hút sự chú ý của cả nhóm “Moguchaya kuchka”. Mong muốn hoàn thiện và phát triển các kinh nghiệm của Dargomizhsky được Mussorgsky thể hiện trong dự kiến sáng tác opera “Đám cưới” dựa trên văn bản hài kịch văn xuôi của nhà văn N.V.Gogol, tuy nhiên, sau khi đã hoàn thành chương I của vở opera này thì ông từ bỏ ý định.

Năm 1869 Mussorgsky quay lại công sở nhà nước, và nhờ sự ổn định một cách tương đối trong cuộc sống ông đã có thể hoàn thành bản đầu tiên của vở opera lớn “Boris Godunov” trên cơ sở libretto của chính mình dựa theo các tác phẩm của A.C. Pushkin và N.M. Karamzin.

Tác phẩm này bị hầu hết các nhà hát thời đó từ chối do thiếu vai nữ chính, nên nhà soạn nhạc buộc phải viết phiên bản sau của nó. Năm 1872 vở opera được sửa chữa nhưng vẫn bị từ chối, dù các trích đoạn từ tác phẩm đã được công diễn rộng rãi, còn tổng phổ của nó đã được nhà xuất bản V.Bessel giới thiệu với công chúng. Mãi sau nhà hát Mariinsky mới nhận lời dựng vở, và buổi công diễn ra mắt năm 1874 đã thành công vang dội.

Năm 1870 Mussorgsky hoàn thành các tiểu phẩm thanh nhạc “Cho trẻ em” với phần lời do chính ông soạn, và hai năm sau thì bắt tay vào sáng tác vở opera thứ hai trong sự nghiệp của mình với chủ đề lịch sử Nga.

Nguyên bản libretto “Khovanshchina” viết về chủ đề các sự kiện lịch sử đã diễn ra vào thời trị vì của vua Piotr Đại đế. Mussorgsky có ý tưởng sáng tác một tác phẩm hoành tráng mà chính ông dùng thuật ngữ “opera truyền thống”, vậy mà ông đã không thể hoàn thành tác phẩm này. Một trong các nguyên nhân là bệnh nghiện rượu, và hơn thế, ông lại dành thời gian cho nhiều ý tưởng sáng tác khác nữa. Suốt thập kỷ 1970 ông đã viết nên những tác phẩm thanh nhạc lớn như “Thiếu mặt trời” và “Ca khúc và vũ điệu của thần chết” phổ thơ A.A. Golenitshev, nhà thơ được Mussorgsky đánh giá rất cao, đồng thời ông hoàn thành tuyệt tác dành cho piano “Những bức tranh trong phòng triển lãm” nhân cảm hứng khi xem các phác thảo của kiến trúc sư V.A. Gartman.

Đó cũng là thời gian Mussorgsky bị lôi cuốn bởi ý tưởng sáng tác vở opera “Hội chợ Sorochinskaya” (dựa theo tác phẩm của nhà văn Gogol, và tác phẩm chưa kịp hoàn thành). Năm 1878 cuộc sống của nhà soạn nhạc dường như ổn định và được cải thiện trong một thời gian ngắn. Ban lãnh đạo Bộ nơi ông làm việc đã quyết định cho phép ông nghỉ để đi lưu diễn ở miền Nam Nga với tư cách là người đệm đàn cho nữ ca sĩ giọng contralto nổi tiếng Daria Leonova (1829 - 1896). Trong thời kỳ lưu diễn này Mussorgsky viết “Khúc hát của Mefistofel về con bọ chét”. Tháng giêng năm 1880 ông thôi việc tại công sở nhà nước để làm việc trong trường dạy thanh nhạc riêng của Daria Leonova, tuy nhiên bệnh động kinh, hậu quả của tệ nghiện rượu tái phát đến mức tháng hai năm 1881 ông bị đưa vào viện quân y Nikolaev ở Saint Peterburg, và một tháng sau, ngày 16 (28) tháng 3 năm 1881 thì qua đời tại đó.

Bản thân Mussorgsky luôn coi sáng tác của mình là “cuộc trò chuyện với mọi người” và coi nói sự thật với tất cả mọi người là nghĩa vụ của mình, sự thật mà ông luôn đặt vào vị trí đối lập với vẻ đẹp hoàn hảo của thứ nghệ thuật đơn thuần. Chính vì quan niệm đó mà âm nhạc của ông có những nét đặc trưng như tính không hoàn thiện trong các chi tiết hình thức, một phần là do ông tỏ ra cố tình không chấp nhận các quy tắc truyền thống của nhạc hàn lâm. Sau khi Mussorgsky qua đời, nhạc sĩ Nicolai Rimsky-Korsakov, một người bạn thân của ông đã nhận trọng trách hoàn thiện tổng phổ và biên tập cho các tác phẩm lớn nhất mà ông để lại như “Khovanshchina”, “Boris Godunov”, các romance, “Đêm trên núi trọc”. Rimsky-Korsakov đã phải can thiệp rất nhiều vào các bản thảo của Mussorgsky, sửa chữa tất cả những “lỗi” và cả những gai góc mà nhà soạn nhạc cố tình để trong bản thảo của mình. Trong cả hai vở opera Rimsky-Korsakov đã phải rút ngắn nhiều chỗ, thậm chí thay cả thứ tự các cảnh. Nhờ việc hiệu đính của Rimsky-Korsaskov mà các sáng tác của Mussorgsky mới được phổ biến rộng rãi tại Nga và cả ở nước ngoài, nhưng lại khiến thính giả khó mà hiểu sâu bản nguyên gốc chưa được sửa chữa của ông.

Cả hai vở opera của Mussorgsky không chỉ là các tác phẩm hoành tráng, và về một khía cạnh nào đó, rất “lạ” đối với nhà hát (trong các bản do Rimsky-Korsakov hiệu chỉnh đặc biệt nhấn mạnh tính hoành tráng và tượng đài của tác phẩm) mà còn thể hiện cái nhìn lịch sử - triết học sâu sắc, đa nghĩa của tác giả. Phát triển và bỏ lại khá xa những khám phá và cách tân của Dargomizhsky, Mussorgsky đã sáng tạo ra một kiểu thể hiện các đoạn hát nói mới hoàn toàn trong âm nhạc Nga. Bằng một ngôn ngữ hài hoà và nhiều âm điệu Mussorgsky thể hiện rõ sự đối lập giữa các yếu tố thuần Nga và ngoại lai. Để thể hiện các yếu tố ngoại lai ông đã rất thành công khi sử dụng phong cách lãng mạn châu Âu (những người Ba Lan trong “Boris Godunov”, người Đức trong “Khovanshchina”) và bắt chước các đặc điểm phương Đông (những người Ba Tư trong “Khovanshchina”).

Các tiểu phẩm thanh nhạc, các bản romance và ca khúc của Mussorgsky được sáng tác trên nền cảm hứng và khát khao thể hiện muôn vẻ của cuộc sống một cách trung thực nhất. Trong số đó các tiểu phẩm dành cho piano “Những bức tranh trong phòng triển lãm” chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ. Đây là tác phẩm lớn duy nhất được chính Mussorgsky hoàn thiện, sáng tác với nguồn cảm hứng từ các bức phác hoạ khiêm tốn của Gartman, đạt tới tầm của các giao hưởng trong đó các bức tranh riêng biệt được tập hợp trong một tổng thể thống nhất bằng một ý tưởng đầy kịch tính xuyên suốt. Không phải vô cớ mà các tiểu phẩm “Những bức tranh trong phòng triển lãm” được nhiều người soạn lại cho dàn nhạc, mà đỉnh cao là tổng phổ của Maurice Ravel năm 1922.

Hầu hết các nhà soạn nhạc lớn của Nga thế kỷ XX như Prokofiev, Stravinsky, Shostakovich vả kể các nhạc sỹ như Janacek của Czech hay Messiaen của Pháp đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Mussorgsky. Năm 1968, Viện bảo tàng trang trại của Mussorgsky mở cửa tại làng Haumovo (nay thuộc vùng Kunhin tỉnh Pskov).


Tykva (tổng hợp)
__________________
Đã rời NNN...
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn tykva cho bài viết trên:
Flamingo (28-10-2009), Nguyễn Nguyên Hải (02-10-2009), osen (13-01-2009), Thóc (30-03-2008)
  #11  
Cũ 13-03-2008, 12:40
phucanh's Avatar
phucanh phucanh is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 880
Cảm ơn: 444
Được cảm ơn 1,338 lần trong 522 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới phucanh Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới phucanh
Default Композитор Глинка

Nhân bác Tykva viết về Glinka, em xin chen vào đây với 1 bộ (2 tập) giới thiệu về cuộc đời và nghệ thuật của nhạc sỹ này:

Композитор Глинка, художественный фильм, 1952 год., 106 мин.

Режиссер(ы): Григорий Александров
Актер(ы): Борис Смирнов, Любовь Орлова, Лев Дурасов, Юрий Любимов, Георгий Вицин, Константин Нассонов, И.Литовкин, Андрей Попов, Святослав Рихтер, Юрий Юровский, Сергей Вечеслов, Михаил Названов, Александр Сашин-Никольский, Павел Павленко, Ирина Ликсо
Сценарий: Петр Павленко, Нина Тренева, Григорий Александров

О фильме:
О жизни и творчестве русского композитора М.И.Глинки (1804-1857).

Tập 1
Tập 2
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Flamingo (28-10-2009)
  #12  
Cũ 13-03-2008, 12:47
phucanh's Avatar
phucanh phucanh is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 880
Cảm ơn: 444
Được cảm ơn 1,338 lần trong 522 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới phucanh Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới phucanh
Default Мусоргский

Còn đây là phim về Мусоргский.

Мусоргский, художественный фильм, 1950 год., 86 мин.

Режиссер(ы): Григорий Рошаль
Актер(ы): Александр Борисов, Николай Черкасов, Владимир Балашов, Андрей Попов, Федор Никитин, Любовь Орлова, Иван Дмитриев, Лидия Штыкан, Валентина Ушакова, Лидия Сухаревская, Бруно Фрейндлих, Герман Орлов, Григорий Шпигель, Василий Сафронов, Лев Фенин
Сценарий: Анна Абрамова, Григорий Рошаль

О фильме:
О великом русском композиторе Модесте Петровиче Мусоргском (1839-1881), его сотрудничестве с "Могучей кучкой" и первой постановке на сцене Мариинского театра народно-героической драмы "Борис Годунов".

Tập 1
Tập 2
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Flamingo (28-10-2009)
  #13  
Cũ 15-03-2008, 04:09
Apomethe Apomethe is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 76
Cảm ơn: 0
Được cảm ơn 64 lần trong 31 bài đăng
Default

À, hôm kia ra hiệu đĩa thấy DVD bộ 4 phim về các nhạc sĩ Nga trong đó có hai phim của bác phucanh giới thiệu.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Flamingo (28-10-2009)
  #14  
Cũ 26-03-2008, 00:42
Thóc Thóc is offline
Bánh bliny nóng - Горячие блины
 
Tham gia: Mar 2008
Bài viết: 36
Cảm ơn: 156
Được cảm ơn 97 lần trong 25 bài đăng
Default

Chờ đợi, rất mong có ai đó viết về Sergei Prokofiev và Alexander Scriabin cho đủ chẵn mười nhạc sĩ cổ điển Nga.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Flamingo (28-10-2009)
  #15  
Cũ 26-03-2008, 10:26
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default

Trích:
Thóc viết Xem bài viết
Chờ đợi, rất mong có ai đó viết về Sergei Prokofiev và Alexander Scriabin cho đủ chẵn mười nhạc sĩ cổ điển Nga.
Bạn Thóc thân mến ơi, số nhạc sĩ cổ điển Nga đâu chỉ có mười . Còn nhiều hơn ấy chứ. Tiếc là bây giờ chưa có ai có thời gian viết cả, hình như mọi người đều bận hết hay sao ấy. Hay bạn Thóc mạnh dạn viết bài nhé.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Flamingo (28-10-2009)
  #16  
Cũ 26-03-2008, 19:37
tykva tykva is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 822
Cảm ơn: 309
Được cảm ơn 998 lần trong 443 bài đăng
Default

Alexander Scriabin

Alexander Nikolaevich Scriabin (sinh ngày 25 tháng 12 năm 1871 (theo lịch mới là 6 tháng giêng năm 1872) tại Moscow. Tài năng âm nhạc của Scriabin được thể hiện từ rất sớm, do ông được thừa hưởng di truyền từ mẹ, nghệ sĩ piano nổi tiếng Liubov Petrovna Scriabina. Tài năng của bà được anh em Anton và Nikolai Rubinstein, Borodin và cả Tchaikovsky khen ngợi. Là con gái hoạ sĩ vẽ gốm Peter Tshetinin, năm 1870 bà kết hôn với Nikolai Alexandrovich Scriabin, sinh viên khoa luật trường Đại học tổng hợp Moscow, và khi tốt nghiệp nhạc viện Saint Peterburg đã đi lưu diễn rất thành công tại nhiều thành phố của Nga.

Về phần mình, sau khi tốt nghiệp ĐHTH Moscow, ông Nikolai Scriabin tiếp tục con đường học vấn tại Đại học ngôn ngữ Phương Đông thành phố Saint Peterburg và trở thành một nhà ngoại giao. Ông làm việc ở Thổ Nhĩ Kỳ và các nước phương Đông khác, ít khi sống ở Nga.

Bà Liubov Petrovna mất vì bệnh lao năm 1873, để lại con trai duy nhất Alexander mới một tuổi rưỡi cho cô em chồng chăm sóc. Niềm say mê piano của bà cô ruột đã truyền sang cho cậu bé Alexander, nhạc sĩ tương lai.

Từ năm 1882 Alexander bắt đầu học piano dưới sự hướng dẫn của sinh viên Nhạc viện Moscow G. Konius (1862 - 1933), người sau này sẽ trở thành nhà lý luận âm nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng. Mùa thu cùng năm ông thi đỗ vào Trường thiếu sinh quân số 2 thành phố Moscow và trong suốt thời gian học tại trường luôn đứng đầu về thành tích học tập. Ngay từ khi còn niên thiếu ông đã tham gia các buổi biểu diễn tại phòng hoà nhạc của Trường Thiếu sinh quân, và tại một trong các buổi biểu diễn đó khi đang trình bày một bản gavotte của Bach, ông đã chơi sai, nhưng không hề bối rối, tiếp tục chơi ngẫu hứng theo đúng phong cách của thiên tài người Đức này cho đến hết. Bản lĩnh tự chủ và ý chí tập trung cao độ của một nhạc công luôn là nét tính cách nổi bật của Scriabin - nghệ sĩ piano trong suốt cuộc đời.

Năm 1885 Scriabin bắt đầu học piano với nhà sư phạm âm nhạc lỗi lạc N. Zverev, và học sáng tác với S. Taneev. Năm 1988 Scriabin thi vào lớp piano Nhạc viện Moscow và thường xuyên biểu diễn. Tác giả yêu thích nhất của ông là Chopin, nhưng ông cũng chơi cả Liszt, Beethoven và Schumann. Quyết tâm hoàn thiện kỹ năng bằng mọi giá đã dẫn đến một bi kịch trong đời Scriabin và để lại hậu quả vĩnh viễn: Ông đã không hỏi ý kiến giáo viên mà tự ý luyện tập đến mức tay bị chấn thương. Nhờ nỗ lực của các bác sĩ giỏi nhất đôi tay của ông được phục hồi chức năng, nhưng ông không bao giờ còn có thể chơi nhạc với kỹ thuật cao như trước. Sự kiện này có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của nhạc sĩ.

Năm 1892, Scriabin tốt nghiệp khoa piano Nhạc viện Moscow, nhưng không được nhận bằng về sáng tác, do quan hệ cá nhân của ông với giáo sư A. Arensky, người hướng dẫn khoa sáng tác vào thời gian đó, không được suôn sẻ. Bởi thế, ông được ghi tên vào ngành lịch sử Nhạc viện Moscow và là sinh viên tốt nghiệp với Huy chương vàng Nhỏ. Cho tới thời gian này nhà soạn nhạc trẻ tuổi đã có khá nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau, nhưng khuynh hướng piano và nhạc giao hưởng đã được xác định khá rõ nét. Phong cách chung cho các tác phẩm thời kỳ đầu tiên của Scriabin có thể xếp vào trào lưu hậu lãng mạn với sự tiếp tục các truyền thống của Chopin, tuy nhiên ngay trong các etude và prelude “hậu lãng mạn” này các yếu tố ngôn ngữ âm nhạc hài hoà hiếm thấy ở một nhà soạn nhạc cách tân tài năng đã được thể hiện.

Năm 1894 xảy ra một sự kiện lớn trong cuộc đời Scriabin. Ông gặp vị “Mạnh thường quân” nổi tiếng thời đó là M. P. Beliaev. Beliaev hầu như ngay lập tức đã đánh giá rất cao tài năng của nhà soạn nhạc trẻ, có phong cách giao tiếp tinh tế và được hưởng một nền giáo dục hoàn hảo. Từ đó trở đi các sáng tác của Scriabin bắt đầu được xuất bản và vang lên trong các chương trình hoà nhạc giao hưởng Nga.

Năm 1896 Scriabin đã là một nhà soạn nhạc nổi tiếng trong toàn quốc. Đây cũng là năm xảy ra nhiều đổi thay trong đời tư của nhạc sĩ. Alexander Nikolaevich Scriabin kết hôn với cô Vera Ivanovna, một nghệ sĩ piano tài năng, tốt nghiệp Nhạc viện Moscow với Huy chương vàng năm 1897. Họ cùng đi lưu diễn nước ngoài trong năm 1897-98, Vera Ivanovna cùng biểu diễn với chồng trong các buổi hoà nhạc và trình diễn các tác phẩm của ông.

Ở lứa tuổi 26, Scriabin đã nhận được lời mời trở thành giáo sư lớp piano tại Nhạc viện Moscow. Trên cương vị này ông tỏ rõ mình là một nhà sư phạm âm nhạc tài năng. Ông giảng dạy piano tại Nhạc viện Moscow và Trường đại học Ekaterinin. Rất nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp trường này đã tiếp tục học vấn âm nhạc tại Nhạc viện Moscow trong lớp piano của Scriabin.

Tuy nhiên Scriabin vẫn giành phần lớn thời gian và sức lực để sáng tác. Năm 1900 và hầu như cả năm sau đó ông giành cho việc hoàn thiện Giao hưởng số 1 – tác phẩm đồ sộ gồm 6 chương, kết thúc bằng một chorus, phần lời của chorus này do chính Scriabin viết. Ý tưởng chính là tôn vinh nghệ thuật và vai trò kiến tạo hoà bình, liên kết mọi con người của nghệ thuật. Chính từ Giao hưởng số 1 này đã định hình các chủ đề chính mà nhạc sĩ sẽ phát triển trong sự nghiệp sáng tác của mình sau này, nhất là các ý tưởng chính của tác phẩm âm nhạc mang tính tôn giáo vĩ đại “Mystery” mà ông không kịp hoàn thành. Sau Giao hưởng số 1 là Giao hưởng số 2, rồi Giao hưởng số 3 “Trường ca thần thánh” (Le divin poème) mà ông hoàn thành vào năm 1904. Tầm cỡ của giao hưởng này khiến người ta choáng váng: Nhạc sĩ đã sử dụng dàn nhạc tới bốn quản. Cũng chính trong giao hưởng này tài năng của Scriabin - nhà soạn kịch được thể hiện hết tầm. Tác phẩm gồm 3 chương có bố cục hoàn chỉnh, liên kết với nhau bởi một ý đồ thống nhất. Chương một có tên gọi “Tranh đấu”, chương hai – “Tận hưởng” còn chương ba – “Màn trình diễn thần thánh".

Trong sự nghiệp sáng tác của mình Scriabin chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các đại diện nghệ thuật Phục hưng Nga, nhất là V. Soloviev, V. Ivanov. Nghệ thuật trừu tượng, với ý tưởng trung tâm là tái tạo cuộc sống trong nghệ thuật mang màu sắc thần bí, đôi khi được đẩy đến tận cùng, là nỗ lực xa rời đời thường, phản ánh những nét tinh tế, nóng bỏng nhất của tâm hồn nghệ sĩ. Tham gia nhóm triết học S.N. Trubetskoi và tin theo học thuyết của ông, Scriabin đồng thời cũng say mê triết học của Kant, đọc các tác phẩm của Kant, Shelling, Hegel... trong thời gian sống ở Geneve. Ông cũng quan tâm đến сác học thuyết tôn giáo phương Đông, văn học thần học hiện đại, nhất là tác phẩm "Học thuyết bí mật" của E.P. Blavatskoi. Từ đây ông nhận thức được bản thân mình như trung tâm và cội nguồn của một học thuyết mới, có khả năng thay đổi cuộc sống, đưa cuộc sống lên một vòng xoay phát triển ở mức cao hơn. Theo Scriabin, nghệ sĩ giống như một tiểu vũ trụ, có thể ảnh hưởng đến toàn thể thế giới, các quốc gia và thậm chí cả thế giới quan chung.

Từ năm 1904 tới năm 1910, Scriabin sống vào làm việc ở nước ngoài, ít khi trở về Nga, và trong cuộc sống riêng của ông xảy ra một sự kiện quan trọng hầu như đã thay đổi cả cuộc đời ông. Nhạc sĩ say mê một phụ nữ tên là Tatiana Fedorovna Shletser. Ông rất đau khổ vì tình cảm của mình và luôn giày vò bản thân bởi nhận thức đã làm một việc “rất đáng trách”. Vera Ivanovna buộc lòng phải mang các con quay về Moscow, nơi bà tiếp tục sự nghiệp của một nghệ sĩ piano, và nhận một chân giảng viên Nhạc viện. Bà không chấp nhận đề nghị ly hôn do ông đưa ra và tiếp tục mang họ chồng. Vậy là Tatiana Fedorovna đành phải chấp nhận vai trò vợ không chính thức của nhà soạn nhạc.

Tháng 10 năm 1905, Tatiana Fedorovna sinh một con gái. Scriabin sống rất căng thẳng. Fedorovna làm đủ mọi cách khiến ông tin rằng đáng lẽ nhà xuất bản Beliaev phải trả ông nhiều tiền nhuận bút hơn, và vì thế, ông đã cắt đứt quan hệ với nhà xuất bản vào năm 1908. Tuy thế, ông đã không thể đưa tác phẩm của mình đến các nhà xuất bản khác, nên đành phải quay lại với sự nghiệp biểu diễn để kiếm tiền. Ông đã biểu diễn ở Geneve, Brussel, Amsterdam và nhiều thành phố châu Âu khác. M.I. Altshuler, một người bạn của Scriabin hồi còn ở Nhạc viện mời ông tham gia biểu diễn cho dàn nhạc Giao hưởng Nga do chính Altshuler thành lập ở New York.

Trở về châu Âu từ Mỹ, Scriabin định cư ở Paris, nơi ông thường xuyên gặp gỡ với các nhà soạn nhạc và nghệ sĩ lớn của Nga như Rimsky-Korsakov, Glazunov, Rachmaninov, Chaliapin… Tình hình tài chính của gia đình tạm ổn, và ông như được tiếp thêm cảm hứng sáng tác nhờ quan hệ với bạn hữu.

Năm 1907 Scriabin hoàn thành "Poem of Ecstasy" đã được thai nghén từ lâu, và năm 1908 nó mang lại cho ông giải thưởng mang tên Glinka lần thứ mười một. Buổi công diễn đầu tiên của tác phẩm được giải được tổ chức ở Nga năm 1909, và dàn nhạc Hoàng gia Peterburg có vinh dự chơi bản nhạc này. Tài năng của Scriabin đạt tới đỉnh vinh quang cao nhất.

Tác phẩm lớn tiếp theo của Scriabin là “Trường ca Lửa” – “Prometheus”. Ở đây, cũng như trong "Poem of Ecstasy", nhà soạn nhạc viết cho một dàn nhạc rất lớn, thêm cả phân phổ cho piano và một chorus hỗn hợp quy mô. “Trường ca Lửa” đòi hỏi phải được trình diễn với sự tham gia của ánh sáng nhiều màu toả sáng khán phòng theo nhịp các phím piano. Hiện nay người ta không giải mã được trọn vẹn các ghi chép miêu tả cụ thể phần trình diễn của ánh sáng này, được định hướng với một bảng mà nhà soạn nhạc gọi là “màu của thính giác”, mô tả sự tương ứng của màu sắc với âm thanh mà người ta cảm nhận được. Ngoài cách tân trong việc mở rộng phổ liên tưởng giữa âm thanh và thị giác với cảm thụ âm nhạc, Scriabin còn đưa vào tác phẩm lớn này một thứ ngôn ngữ hài hoà mà không dựa trên hệ thống cao độ truyền thống. Thế nhưng thành công lớn nhất mang tính cách mạng của tác phẩm này lại nằm trong cách nhìn mới, cách lý giải mới của hình tượng Promethe, và mở ra con đường đến tác phẩm “Mystery”.

Suốt năm năm cuối đời Scriabin chìm trong ý tưởng về một tác phẩm âm nhạc chưa từng có trong lịch sử. Tất cả các tác phẩm ra đời sau “Prometheus” có lẽ cần phải được xem xét như sự chuẩn bị, các phác thảo cho tác phẩm “Mystery”.

Trở lại Nga, Scriabin sống ở Moscow, nơi đã hình thành một “nhóm Scriabin”, hạt nhân của “Hội Scriabin” sau này. Các tác phẩm giao hưởng và viết riêng cho piano của ông được trình diễn khắp nơi, có mặt trong mọi chương trình biểu diễn. Làm việc quá sức, nhà soạn nhạc thường xuyên cảm thấy mệt mỏi và uể oải.

Năm 1914, Scriabin thăm London, dự buổi công diễn đầu tiên tác phẩm “Prometheus” và biểu diễn các tác phẩm của chính mình. Lần đầu tiên ông bị mắc phải căn bệnh mà sau này sẽ trở thành nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông. Nhưng dù phải biểu diễn với môi trên đau nhức, ông vẫn tỏ ra hết sức xuất sắc, nhận những lời tán dương và những tràng pháo tay nồng nhiệt của khán giả London vốn nổi tiếng khó tính và biểu hiện tình cảm chừng mực. Các buổi biểu diễn đưa lại cho ông điều kiện vật chất cần thiết để dựng tác phẩm “Mystery” - điều ông mơ ước từ lâu. Scriabin cũng muốn mua đất ở Ấn Độ để dựng một ngôi đền, như kiểu một “minh hoạ thực tế” cho các ý tưởng sáng tạo vô cùng đồ sộ của mình.

Ngày 2 (lịch cũ là 15) tháng 4 năm 1915 Scriabin biểu diễn lần cuối cùng. Ông thấy rất mệt. Môi trên lại bị sưng tấy, giống như hồi ở London. Tình trạng sức khoẻ của ông xấu đi nhanh chóng, và việc phẫu thuật muộn mằn đã không giúp gì cho ông. Ông sốt cao do nhiễm trùng máu và mất vào buổi sáng ngày 14 (27) tháng 4 năm 1915.

Trong nền âm nhạc cổ điển Nga, Scriabin chiếm một vị trí rất đặc biệt. Các tác phẩm của ông cho đến nay vẫn gây nên những tình cảm trái ngược ở người nghe. Về quan điểm triết học của ông một số người thì cười cợt và xem thường, nhưng những người khác lại khâm phục. Trong sự nghiệp sáng tác đầy mâu thuẫn của mình ông tuân thủ chặt chẽ các chuẩn mực truyền thống, đồng thời khát khao phá vỡ mọi chuẩn mực đó, thể hiện trong các cách tân mạnh mẽ cách phương tiện biểu cảm trong tác phẩm của mình. Mọi thế hệ đều không thể phủ nhận thiên tài của ông, đều tìm cách lý giải sáng tác của ông theo cách riêng của mình, và gắng đưa các ý tưởng của ông vào khuôn khổ các khái niệm của mình. Đôi khi người ta còn cho rằng để hiểu hết Scriabin nhân loại còn cần nhiều thời gian nữa, bởi không chỉ những người đương thời, mà cả các thế hệ kế cận, trong đó có chúng ta, chưa đủ trình độ để hiểu và đánh giá hết chiều sâu, sự phức tạp, tính riêng biệt của học thuyết vũ trụ được Scriabin thể hiện trong các tác phẩm của mình, bởi ông đã vượt trước thời đại của mình rất xa.

Âm nhạc của Scriabin cũng vậy. Một thời gian nào đó các tác phẩm của ông có thể bị lãng đi đôi chút, nhưng chúng luôn trào dâng trở lại như những làn sóng mạnh mẽ, và không bao giờ hoàn toàn vắng bóng trong đời sống âm nhạc của xã hội chúng ta.

Tykva (tổng hợp)


Nguồn: Bách khoa toàn thư Kirill & Methody
http://www.silverage.ru
http://www.musicbox.su – Bài viết của Vladimir Kokonin
__________________
Đã rời NNN...
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn tykva cho bài viết trên:
@@@ (26-03-2008), Flamingo (28-10-2009), hungmgmi (29-03-2008), Nguyễn Nguyên Hải (02-10-2009), Thóc (27-03-2008)
  #17  
Cũ 27-03-2008, 00:43
Thóc Thóc is offline
Bánh bliny nóng - Горячие блины
 
Tham gia: Mar 2008
Bài viết: 36
Cảm ơn: 156
Được cảm ơn 97 lần trong 25 bài đăng
Default

@Nina: Nina ơi, Thóc mới bắt đầu đến với nhạc cổ điển, hoàn toàn không có kiến thức gì về thể loại nhạc này hết.
Thóc cũng rất tò mò muốn biết về nhạc sĩ Shostakovitch, vì tình cờ được nghe mấy Jazz suites của ông, và nhận ra giai điệu bài "Tea for two" trong Tahiti Trot.

Và Thóc cũng mong được đọc thêm về Balakirev và Kabalevski nữa.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Flamingo (28-10-2009)
  #18  
Cũ 27-03-2008, 11:12
Cá Măng's Avatar
Cá Măng Cá Măng is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 571
Cảm ơn: 1,133
Được cảm ơn 721 lần trong 305 bài đăng
Default

Trích:
Thóc viết Xem bài viết
@Nina: Nina ơi, Thóc mới bắt đầu đến với nhạc cổ điển, hoàn toàn không có kiến thức gì về thể loại nhạc này hết.
Thóc cũng rất tò mò muốn biết về nhạc sĩ Shostakovitch, vì tình cờ được nghe mấy Jazz suites của ông, và nhận ra giai điệu bài "Tea for two" trong Tahiti Trot.

Và Thóc cũng mong được đọc thêm về Balakirev và Kabalevski nữa.
Thóc ơi cứ từ từ rồi sẽ biết thôi mà, từ từ rồi cái gì cũng biết, vì thấy bảo học thầy không tầy học bạn...internet mừ. Thế Thóc đã đến với cái gì từ lâu rồi thì Thóc share cho mọi người đi.
__________________
:emoticon-0115-inlov
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Flamingo (28-10-2009)
  #19  
Cũ 28-03-2008, 22:14
Thóc Thóc is offline
Bánh bliny nóng - Горячие блины
 
Tham gia: Mar 2008
Bài viết: 36
Cảm ơn: 156
Được cảm ơn 97 lần trong 25 bài đăng
Default

@Cá Măng: Thóc đọc bài của các bạn viết, lại cảm thấy không còn tự tin để viết thêm gì nữa.

Xem xét lại mình từ xưa đến giờ, Thóc thấy mình đóng vai độc giả trung thành là xuất sắc nhất đó. Như vậy được không Cá Măng?

Hy vọng đọc tiếp bài của bạn về mấy nhạc sĩ cổ điển Nga, cũng như những tác phẩm mà bạn yêu thích nhé.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Flamingo (28-10-2009)
  #20  
Cũ 29-03-2008, 11:32
Cá Măng's Avatar
Cá Măng Cá Măng is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 571
Cảm ơn: 1,133
Được cảm ơn 721 lần trong 305 bài đăng
Default Thóc thân yêu

Trích:
Thóc viết Xem bài viết
@Cá Măng: Thóc đọc bài của các bạn viết, lại cảm thấy không còn tự tin để viết thêm gì nữa.

Xem xét lại mình từ xưa đến giờ, Thóc thấy mình đóng vai độc giả trung thành là xuất sắc nhất đó. Như vậy được không Cá Măng?

Hy vọng đọc tiếp bài của bạn về mấy nhạc sĩ cổ điển Nga, cũng như những tác phẩm mà bạn yêu thích nhé.
Thóc hoàn toàn có quyền là thóc, có quyền là độc giả như Thóc muốn, nếu Thóc đọc một bài khá trên web, xin đừng tiết kiệm một tràng vỗ tay. Còn về các nhạc sĩ cổ điển Nga thì Cá măng tui đâu có biết gì, đang định hỏi Thóc hai cái ông trên kia là ông gì nữa đó, thật sự đấy.
__________________
:emoticon-0115-inlov
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Flamingo (28-10-2009)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 01:51.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.