Trở về   Nước Nga trong tôi > Nước Nga ngày nay > Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #21  
Cũ 16-06-2013, 02:43
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Biên niên giám sai lầm - thất bại Einstein

TG: Hans C. Ohanian “Einstein's mistakes the human failings of genius”

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

1. 1905 Sai lầm trong phép đồng bộ hoá thời gian mà thuyết tương đối hẹp dựa trên đó, tạo ra nghịch lý đồng hồ, twin (triple) clock, twin paradox

2. 1905 Thất bại trong việc xem xét thử nghiệm Michelson-Morley

3. 1905 Thất bại trong việc chuyển đổi khối lượng hạt có tốc độ cao

4. 1905 Thất bại kép trong việc sử dụng toán học và vật lý học tính toán độ nhớt chất lỏng mà từ đó Anhxtanh suy luận ra kích thước phân tử

5. 1905 Thất bại trong việc tìm các mối liên hệ giữa bức xạ nhiệt và lượng tử ánh sáng

6. 1905 Thất bại lần 1 chứng minh E = mc2

7. 1906 Thất bại lần 2, 3, 4 chứng minh E = mc2


8. 1907 Thất bại trong việc đồng bộ hoá đồng hồ có gia tốc

9. 1907 Thất bại trong nguyên lý cân bằng hấp dẫn và gia tốc

10. 1911 Thất bại trong việc tính toán lần 1 sự bẻ cong ánh sáng bởi hấp dẫn

11. 1913 Thất bại trong nỗ lực giới thiệu thuyết tương đối tổng quát

12. 1914 Thất bại lần thứ 5 chứng minh E = mc2

13. 1915 Thất bại trong thử nghiệm Einstein-de Haas (còn gọi là hiệu ứng Richardson)

14. 1915 Thất bại trong việc vài lần giới thiệu thuyết tương đối

15. 1916 Thất bại trong việc giải thích nguyên lý Mach

16. 1917 Thất bại trong việc giới thiệu hằng số vũ trụ học (“biggest blunder” nói ở bài #19)

17. 1919 Thất bại trong 2 nỗ lực thay đổi/sửa chữa thuyết tương đối rộng

18. 1925 Thất bại và càng sai lầm trong nỗ lực đề ra thuyết thống nhất (unified theory)

19. 1927 Thất bại trong việc bàn cãi với Bohr về tính mất/không ổn định lượng tử

20. 1933 Thất bại trong việc giải thích nguyên lý cơ học lượng tử (chúa chơi trò may rủi?)

21. 1934 Thất bại lần thứ 6 chứng minh E = mc2

22. 1939 Thất bại trong việc giải thích kỳ dị Schwarzschild và sự sụp đổ hấp dẫn (lỗ đen)

23. 1946 Thất bại lần thứ 7 chứng minh E = mc2

Cuối cùng, E=mc2 vì tôi nói thế!
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #22  
Cũ 16-06-2013, 02:44
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Biên niên sử cuộc đời trộm cắp Anhxtanh

TG: Marcus Coleman

1700: Newton tiên đoán ánh sáng bị mặt trời bẻ cong, Anhxtanh đã mượn một số thứ trong dự đoán năm 1911 mà quên không trích dẫn Newton. Một dạng cầm nhầm còn hơn bỏ xót, khá thịnh hành ở các xứ cạc cạc và swine.

1801: Johann Soldner, nhà thiên văn người Đức công bố các dự đoán và tính toán của ông về việc ánh sáng bị bẻ cong bởi hấp dẫn khi đi gần các thiên thể lớn. 114 năm sau, Anhxtanh thuổng phát biểu của ông viết thành phát kiến vĩ đại của ông ta, công bố năm 1915. Cũng quên không đề tên Johann Soldner.

1827: 78 năm trước khi Anhxtanh được vinh danh nhờ “giời ơi đất hỡi” chuyển động Brown trong chất lỏng. Robert Brown người Scotland đã giải thích thế nào là chuyển động Brown.

1878: James Maxwell ở Scotland công bố thuyết tương đối đặc biệt (còn gọi là thuyết tương đối hẹp/chật) trên Encyclopedia Britannica và Anhxtanh thuổng năm 1905 và viết như đúng rồi của ông ta mà không hề nhắc đến Maxwell.

1879: Ngày 14-3, có một ngôi sao Hô-li-út sáng loè trên bầu trời rồi sà xuống máng cỏ. Anhxtanh ra đời tại Württemberg Đức.

1887: Michelson-Morley, các nhà vật lý thực nghiệm đưa ra giả thiết rằng không hề có ether, Anhxtanh lại ăn cắp ý kiến này viết tên mình vào như người phát kiến đầu tiên và giấu tiệt tên 2 ông Michelson-Morley đi.

1988: Heinrich Hertz xuất bản bài viết về hiệu ứng quang điện. Sau đó nhiều năm bị Anhxtanh ăn cắp và thật hài hước, giải Nobel quang điện được trao cho tên ăn cắp.

1889: George Fitzgerald viết bài từ Ireland công bố ý tưởng thuyết tương đối. Sau này, tự nhiên tất cả những gì tương đối là của Anhxtanh tất.

1890: Ludwig Boltzmann người Áo và Josiah Gibbs Mỹ phát triển hằng số Boltzmann.

1892: Hendrik Lorentz công bố phép biến đổi Lorentz.

1895: Tuổi 16, Anhxtanh thi trượt vào trường kỹ thuật ở Zurich.

1896: Tuổi 17, Anhxtanh rời trung học, vào trường Polytechnic ở Zurich.

1898: Paul Gerber công bố phương trình chính xác chuyển động của sao Thuỷ trên tờ Annalen der Physik Đức(tương tự Science of Mechanics),tờ này Anhxtanh đã đọc và học. 17 năm sau, năm 1915 Anhxtanh ăn trộm phương trình và viết thành “chuyển động cực cận của sao Thuỷ” trên cùng một tạp chí mà không hề nêu tên Gerber, khi bị phát hiện, ông ta thỏ thẻ bảo không hay biết gì Gerber và chỉ chịu thú nhận ăn cắp dưới áp lực buộc tội năm 1920.

1898: Poincare-Pháp viết về thuyết tương đối và không hề dính dáng gì đến Anhxtanh. Anhxtanh sau đó cóp nhặt thành của ông ta và công bố lại năm 1905 và lờ Poincare đi.

1900: Max Planck và Wilhelm Wien Đức phát triển thuyết lượng tử. Anhxtanh ăn cắp viết lại thành “lượng tử ánh sáng” năm 1905 chẳng hề đề cập đến Planck hay Wien.

1901: Tuổi 22, sau 5 năm ở trường Polytechnic, Anhxtanh tốt nghiệp với điểm số thấp nhất lớp, trở thành công dân Thuỵ sĩ và làm thủ thư tại văn phòng đăng ký phát minh sáng chế Bern.

1902: Anhxtanh loạn luân với cháu gái 13 tuổi và sinh con Lieserl. Người con này bị mắc chứng down.

1903: Olinto de Pretto nước Ý công bố phương trình E=mc^2 trên tờ Atte,một tạp chí khoa học mà Anhxtanh đọc. 1904, tạp chí Royal Science Institute of Veneto đăng lại bài của de Pretto. Sau đó Anhxtanh tuyên bố phương trình là của ông ta. Không hề đề cập đến Pretto cũng chẳng biết chứng minh phương trình “của mình” thế nào.

1904: Anhxtanh sinh con Hans Albert, người chủ yếu được cho là giữ tiền quyên góp cho tạp chí Mechanics Reviews trong 20 năm.

1904: Friedrich Hasenohrl-Đức, cùng nêu tên J.J. Thomson-Anh và W. Kaufmann-Thuỵ điển, công bố phương trình E=mc^2 trên cùng một tạp chí mà sau đó Anhxtanh cũng viết E=mc^2 vào năm sau như là của ông ta năm 1905, và không hề đề cập đến bất cứ ai trong 3 người đã công bố phương trình năm 1904.

1905: Philipp Eduard Anton von Lenard, người dạy vợ Anhxtanh nhận giải Nobel về khám phá hiệu ứng quang điện. Anhxtanh thuổng nguyên công trình của von Lenard công bố cùng năm. Tất nhiên kẻ cắp chẳng hề nhắc đến tên Lenard.

1905: Tuổi 26 và vẫn làm ở văn phòng cấp bằng phát minh sáng chế. Anhxtanh công bố nghiên cứu về lý thuyết vật lý,cơ chế lượng tử trên tờ Annalen der Physik. Tất cả là sao chép-ăn cắp-cóp nhặt. Được phong là đốc tờ vật lý của trường ĐH Zurich. Bắt đầu lộ rõ là người của tổ chức Zionist rất chi là yêu hoà bình. Trong các thư từ trao đổi với các giới có đề tên vợ đứng đầu làm người ta nghi ngờ vợ đã làm toán cho ông ta.

1907: J. Precht nói Anhxtanh lố bịch bóp méo logic “có lẽ sẽ chứng minh khả năng thử nghiệm thuyết này bằng cách sử dụng cơ thể mà năng lượng của nó chứa ở dạng biến đổi mức độ cao (như muối của radium), thử nghiệm như thế “nằm ở phía bên kia của lĩnh vực có khả năng thử nghiệm.”

1909: Tuổi 30, 4 năm sau khi nhận học vị đốc tờ, bậc kỳ tài này vẫn làm thủ thư ở văn phòng cấp bằng sáng chế. Thế giới DT đang thu xếp để đôn lên hàng giáo sư ĐH Zurich.

1910: Đẻ đứa con tâm thần thứ 2, đứa con này chết ở viện điều dưỡng năm 1965.

1915: Ngày 20-11, David Hilbert trình bày tài liệu ở Berlincùng Marcel
Grossmann, phương trình chính xác như những gì Anhxtanh ăn cắp và công bố 5 ngày sau đó. 2 tuần sau người ta biết Anhxtanh đã copy phương trình của Hilbert chứ Hilbert không hề copy “của Anhxtanh” như media tung tin đồn. Herbert Dingle bác bỏ thuyết tương đối hẹp năm 1972.

1915: Ngày 25-11, Anhxtanh công bố thuyết tương đối tổng quát dựa trên toán học của Marcel Grossmann và Berhard Riemann, đầu tiên như là dựa trên hình học phi Euclide, đó là cơ sở của toàn bộ toán học dùng để mô tả thuyết tương đối.

1919: Ngày 7-11, bắt đầu chiến dịch đánh lạc hướng của dân Zionist DT ở tờ London Times, bơm thổi tâng bốc Anhxtanh thành bậc “thiên tài”.

1921: Lần đầu đến Mỹ theo sự bảo trợ của Zionist.

1922: Nhận giải Nobel Prize về hiệu ứng quang điện.

1932: Ngày 9-12, Anhxtanh bị từ chối cấp thị thực vào Mỹ vì “liên hệ với CS”.

1955: Ngày 18-4, gã dơ dáy DT chết.

1972: Herbert Dingle bác bỏ thuyết tương đối hẹp.

1993: Peter Beckman viết rằng thuyết tương đối hẹp sẽ bị trảm.

1995: Hệ thống định vị toàn cầu “làm việc tốt” khi bỏ qua “thuyết” Anhxtanh.

1998: Ngày 21-12, Tom Van Flandern công bố trên “Lá thư Vật lý” vận tốc lan truyền sóng hấp dẫn (nếu có) phải lớn hơn sóng ánh sáng 20 tỷ lần, điều đó bác bỏ thuyết Anhxtanh.

1999: Time Magazine đặt tên ăp cắp Anhxtanh lên trang bìa với dòng tít “nhân vật của thế kỷ”. Anhxtanh không phải người Mỹ và người Mỹ cũng chả xem Anhxtanh là 1 trong 100 nhân vật kiệt suất của TK20.

2000: Anedio Ranfagni chứng minh "thuyết Anhxtanh" về vận tốc ánh sáng không thay đổi SAI!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #23  
Cũ 16-06-2013, 03:00
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Thuyết Anhxtanh được kiểm chứng trong vũ trụ!

tham khảo Poor Magazine; Science New; Naeye, Robert-Astronomy "Was Einstein Wrong?";

Từ ngày nọ đến giờ, các fan Anhxtanh thường vênh mặt lên phán rằng: Tiên đoán Anhxtanh về cực cận sao Thuỷ theo thuyết tương đối là minh chứng hùng hồn về sự "đúng dồi" của thuyết tương đối. Vạn tuế vạn vạn tuế!!! Chỉ có thuyết siêu phàm như tương đối mới có thể tính chính xác quĩ đạo sao Thuỷ như vậy. Vạn tuế vạn vạn tuế!!!

Năm 1989, Paul Gerber công bố phương trình chính xác chuyển động của sao Thuỷ trên tờ Annalen der Physik Đức (tương tự Science of Mechanics). 17 năm sau, năm 1915 Anhxtanh ăn cắp phương trình và viết thành “chuyển động cực cận của sao Thuỷ” trên cùng một tạp chí mà không hề nêu tên Gerber, khi bị phát hiện, ông ta thỏ thẻ bảo không hay biết gì Gerber và chỉ chịu thú nhận ăn cắp dưới áp lực buộc tội năm 1920.

Bây giờ chúng ta bỏ chút thì giờ xem cái sự "Đúng dồi" này thế nào và cách các fan Anhxtanh hô Vạn Tuế! thế nào.

Có thể khẳng định, phương trình quĩ đạo sao Thuỷ không dính dáng gì đến "Tương đối Anhxxtanh". Điều này không phải chứng minh, những ai học sâu về toán cao cấp phần phương trình dao dộng đều có thể hiểu, nếu đủ dữ liệu đầu vào họ có thể tính toán quĩ đạo vệ tinh hay sao Thuỷ như thế nào. Tính luôn phương trình quĩ đạo chứ không tính cực cận cực viễn gì cả. Tất nhiên, để đạt độ chính xác, cần tính đến ảnh hưởng của các thiên thể khác, đến khí quyển, thậm chí là lực đẩy photon... Còn Anhxtanh và các fan nổ tung giời rằng: thuyết tương đối giải quyết những vấn đề mà cơ học cổ điển vô dụng.

Ai có hứng thú với phương trình quĩ đạo, có thể tham khảo cách tính cho quĩ đạo sao kép DI Herculis ở đây: Anhxxtanh bị báo ứng: http://www.wbabin.net/physics/nahhas.pdf

Trước tiên là sao Thuỷ có quĩ đạo phức, có điểm cực cận, qua quan sát, người ta biết điều này cuối thế kỷ XIX. Trong đó có độ lệch tâm sao Thuỷ và quĩ đạo giao điểm của sao Kim (có liên quan đến mặt phẳng quĩ đạo trái đất).

Tương đối vô dụng. Tương đối không thể nào giải thích nổi thậm chí là thuật ngữ toán học sự méo và lệch tâm quĩ đạo của sao Thuỷ và giao điểm sao Kim. Các thông số được tính bằng giây cung/một thế kỷ như bảng dưới.

Đương nhiên tương đối vô dụng cũng không thể nào chỉ ra sự xáo trộn quĩ đạo của các hành tinh khác. Cũng đương nhiên fan Anhxtanh tuyên rằng thuyết tương đối có qui mô vũ trụ. Đương nhiên tính toán theo tương đối của Anhxtanh với sao Thuỷ là gần đúng nhất. Gần đúng bởi phương trình ăn cắp của Paul Gerber năm 1989.

Lý thuyết của Gerber có thể đúng hay không thật chính xác nhưng 2 phương trình là 1. Chúng ta có thể thấy ở đây: http://en.wikipedia.org/wiki/Paul_Gerber

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Phương trình toàn tài qui mô vũ trụ Anhxtanh khi áp dụng sang các hành tinh khác, dĩ nhiên là thiếu Gerber nên.... Sai bét nhè. Lấy trường hợp sao Kim, tương đối Anhxtanh tính ra độ xoay quĩ đạo là +8,6"/thế kỷ với qũi đạo tiến, trong khi đó máy tính tính là -7,3" với quĩ đạo lùi. Thiên tài Toàn tài Qui mô vũ trụ là như vậy đấy. Trường hợp khác là sao kép DI Hercules sẽ đề cập sau. Và thế là các fan Anhxtanh lấy 1 trường hợp đúng trong vô số cái sai bét nhè để tung hô Vạn Tuế! Vạn Vạn Tuế!

Anhxtanh công bố 43" và tuyên nó không khác phần nhỏ nào so với quan sát của Leverrier (38") và Newcombe các năm 1859 và 1882. Newcombe tính lại năm 1895 là 41,6". Dù thế nào thì tính theo tương đối Anhxtanh cũng có sai lệch so với quan sát. Đó là chưa có ai, trình bày 1 cách tường tận, làm thế nào từ phương trình tương đối, suy ra phương trình cực cận sao thủy Gerber.

Poor: Chuyển động có cực cận khác không chỉ là nguỵ biện duy nhất thấy ở lý thuyết tương đối Anhxtanh...

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Ảnh động mô phỏng một hành tinh có quĩ đạo dịch chuyển kiểu sao Thuỷ.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Anhxtanh bị bắt quả tang ăn cắp. Ông ta đã thú nhận hành vi ăn cắp. Nhưng sau đó bào chữa: tôi sử dụng chúng theo một cách khác, mang ý nghĩa khác hẳn và mới mẻ!

Điều này cũng tương tự tên trộm ăn cắp 1 con gà, khi bị bắt thì hắn bảo tôi có cách sử dụng con gà theo kiểu hoàn toàn khác và mới mẻ!

DI Herculis là sao kép cách trái đất 2000 năm ánh sáng, 2 ngôi sao khá gần nhau, có quĩ đạo xoay quanh tâm chung với chu kỳ 10,55 ngày.

Vấn đề hóc búa là 2 ngôi sao quay quanh nhau và trục quĩ đạo của chúng xoay chậm. Tương đối Anhxtanh tính ra chúng xoay 4,27 độ/thế kỷ. Nhưng thực ra chỉ có 1,05 độ/thế kỷ. Như thế là ít nhất 3 lần lớn hơn quan sát được.

Guinan và Maloney tính toán theo Newton là 1,93 độ/thế kỷ, còn chính xác hơn cả Anhxtanh.

Các tính toán này đã được đăng trên tạp chí Thiên văn. Các nhà thiên văn rất lo lắng.

Edward F. Guinan và Frank P. Maloney: Vũ trụ bây giờ lộ ra, "rõ ràng là ngược với thuyết tương đối rộng".

D. Popper tại UCLA: Quan sát là rất rõ ràng, Tôi không nghĩ có bất kỳ câu hỏi nào là trái ngược ở đây, và nói một cách ngay thẳng, đó là điều quan trọng và chưa được giải quyết.

Còn thách đố hơn nữa với thuyết tương đối khi phát hiện ra, quĩ đạo e-líp sao thứ 2, AC Camelopardalis, cũng chẳng đúng mà lại vi phạm nghiêm trọng thuyết tương đối theo cùng một cách. Cho dù là 2 sao gần nhau, hấp dẫn mạnh không-thời gian siêu cong, siêu vặn xoắn bóp méo, thì tương đối rộng càng hỏng nặng.

Thật mỉa mai, điều này tương tự như một số quan sát thiên văn đã được Anhxtanh lấy làm cột trụ để xây nên ngôi đền ma quái tương đối đầu thế kỷ XX. Quĩ đạo sao Thuỷ tính bị xoay nhanh hơn một chút theo tính toán hấp dẫn Newton. Anhxtanh nhờ "nhặt được" phương trình, tuyên bố tương đối chính xác hoá nó, nó là bằng chứng chứng minh tương đối vô cùng vĩ đại. Đó là sau khi đã có đầy đủ dữ liệu quan sát chứ không như Gerber, đưa ra tính toán từ khi chưa có gì nhiều.

Còn bây giờ người ta, cần đi tìm một lý thuyết mới, để thay cái vĩ đại ấy. It nhất là ở những chỗ không-thời gian bị bẻ vặn xoắn cực mạnh, như ở chỗ sao kép DI Herculis. Thuyết Anhxtanh được kiểm chứng ở qui mô vũ trụ cơ mà. À chỗ này không phải là vũ trụ. Cực cận sao Thuỷ, trong tương quan với tính toán Anhxtanh với các hành tinh khác, không gì hơn trở thành căn cứ khó bác bỏ, cũng như chính ông ta đã thú nhận về hành vi ăn cắp thành quả của người khác. Đổi lại, những tính toán tương đối sai bét nhè kia, cũng không gì khác là bộ mặt thật của cái lý thuyết thiên tài vĩ đại được tung hô vạn tuế suốt gần một thế kỷ.

Goebbel, trùm tuyên truyền phát xít nhận thấy rằng, dối trá lừa đảo thì cuối cùng cũng bị phát hiện, nên ông ta phát minh ra một phương pháp gọi là nói láo lớn. Nói rất láo, nói láo liên tục thì cuối cùng người ta cũng phải tin là thật.

Cỗ máy tuyên truyền nhồi sọ quốc xã không còn, đạo hữu Do Thái Goebbel của Anhxtanh đã chết, nhưng phương pháp của ông ta ngày nay được sử dụng vô cùng rộng rãi, cám bã vung vãi khắp nơi, càng những người tài càng xơi lắm cám. Goebbel mới là đại tài, siêu thiên tài vĩ đại.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #24  
Cũ 16-06-2013, 03:27
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Sùng kính Anhxtanh

Ông A. Pays viết cuốn sách mang tên: The Science and the Life of Albert Einstein, xuất bản tại New York năm 1989. Trang 298 có đoạn: Trong trường hợp Anhxtanh hóa ra điều lớn nhất, trái lại, không có cống hiến thực sự của một nhà khoa học cho khoa học, gọi là cá nhân, mà nếu muốn, là sùng kính cá nhân này, được tạo ra bởi phương tiện truyền thông khắp thế giới.

Phương tây luôn luôn chỉ trích Liên Xô tệ sùng bái cá nhân! Dĩ nhiên người ta vẫn nhớ. Nhưng Sùng kính Anhxtanh thì không.

Đã có một danh sách dài những nạn nhân, đổ máu, và thiệt mạng cũng y như những người đã chết bí hiểm vì phản đối hay dám nêu ý kiến trái chiều vụ 911. Và đã có quá nhiều hậu quả.

Chúng ta cùng xem tiếp theo!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #25  
Cũ 16-06-2013, 11:34
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh

Như đã nói những nạn nhân của Einsteinism có rất nhiều. Hều hết đều có số phận bi thảm!

Mileva Maric (1875-1948) là vợ đầu của Anhxtanh, cô là người Serbia từ Nova Garden di cư sang Áo. Cô học cùng trường polytechnic và cùng khóa với Anhxtanh, họ lấy nhau. Năm 1914, Einstein cùng gia đình chuyển đến Berlin nhưng vì một số lý do Mileva và con phải quay lại Zurich [22]. Ai đó đã không thích gốc Serbia của cô, đang có chiến tranh và căng thẳng giữa Đức và Serbia.

Cho đến tận năm 1917, Anhxtanh vẫn đánh vật với thuyết tương đối mà chẳng nhận được mấy chú ý, ông ta ốm nặng và phải chuyển đến căn hộ của người cháu gái Elza để có người chăm sóc. Nhanh chóng, ông ta sống với cháu gái Elza như vợ chồng và năm 1919 thì chính thức cưới người cháu này làm vợ, còn Mileva thì được hứa sẽ cho tiền giải Nobel nếu nhận được. Mặc dù ở châu Âu từ lâu đời, việc lấy bà con họ hàng, chị em hay con chú con bác, bị phản đối và kỳ thị kịch liệt, bởi thoái hóa nòi giống, nhưng đối với người DT, quan hệ họ hàng cận huyết thống lại không bị ngăn cấm bới Talmud.

Có đồn đại rằng con của Einstein với Mileva là Edward, khi đã lớn (20 tuổi) tuyên bố rằng chính mẹ Mileva của mình mới là người viết bài về tương đối năm 1905. Thực sự, trong tiểu sử Anhxtanh ở LX [36] có đoạn viết rằng, Edward là chàng trai trẻ thực sự có tài năng, một người biểu diễn piano tuyệt vời, và chuẩn bị trở thành bác sĩ thần kinh, đã viết thư cho cha với những lời lẽ “kết tội điên khùng”. Anhxtanh ngay lập tức chạy đến Zurich. Kể từ đó cho đến hết cuộc đời, Edward là bệnh nhân trong bệnh viện tâm thần Zurich và chết ở đó năm 1965 [22]. Ông A. Pays đề cập rằng Anhxtanh khi sống ở Thụy Sĩ, có bạn thân là lãnh đạo bệnh viện tâm thần Zurich, ông ta cũng là 1 DT…

Sẽ là không thừa khi đọc lại Rơi xuống lỗ ký ức ở đây!

Edward sinh năm 1910. Do đó có thể cho rằng, khi đã lớn và lúc đó Anhxtanh đã nổi tiếng, được mẹ kể cho về bí mật khủng khiếp của gia đình. Chàng trai trẻ yêu kính cha rõ ràng đã bị sốc rất nặng và viết bức thư kể trên mà không hề nghĩ về sự an toàn của mình. Nghi vấn chính Mileva là người đã viết những tờ giấy tương đối năm 1905 cũng có cơ sở, khi mọi thư từ trao đổi học thuật với các đồng nghiệp thường được ký tên là Ms. Einstein!

Tạp chí “Cận vệ trẻ” Guard (Молодая гвардия) [15] viết rằng năm 1917, Friedrich Adler (1879-1960) trước kia cũng đã từng cùng Anhxtanh ở Zurich polytechnic, và cũng là người bị buộc phải khám nghiệm tâm thần sau khi xuât bản các bài viết công khai phản đối thuyết tương đối.

Một số phận khác cũng kết thúc tương tự trong trại tâm thần Zurich là Marseille Grossman (1878-1936), cũng như ông Pays [22] là người đã từng giúp đỡ rất nhiều cho Einstein. Trong thời kỳ WW-I, Grossman tận tụy với các hoạt động hòa bình, tổ chức các đoàn tàu cứu thương, y tế, trao đổi tù binh chiến tranh giữa các bên. Sau chiến tranh, ông không còn quan tâm đến thuyết tương đối, và năm 1931, ông công bố bài viết [37] chỉ trích cái gọi là khái niệm di chuyển tức thì (tiếng Anh thường là teleport), một thứ được được bơm thổi ngất trời khi đó và sử dụng để cổ súy cho thuyết tương đối rộng Anhxtanh. Nhưng hầu hết các bài viết của ông bị cấm xuất bản. Bọn chúng cho ông có vấn đề về thần kinh và tống vào trại tâm thần Zurich. Năm năm sau, 1936 thì Grossman chết ở đó, trại tâm thần Zurich.

Vì thế mà khi các tín đồ Anhxtanh hiện tại vu cho người ta là hoang tưởng khi chỉ trích thuyết tương đối, là chuyện chẳng có gì mới. Cũng trên tờ “Cận vệ trẻ” cho biết về A.Bronstein và cuốn sách “Trò chuyện về vũ trụ và các giả thuyết” (Conversations about Space and Hypotheses), rằng “chỉ trong năm 1966 Khoa vật lý ứng dụng và tổng quát thuộc Viện khoa học USSR đã ‘giúp đỡ” cho 24 nhà vật lý tỏ ra hoang tưởng”…

Cho đến nay, 1 thế kỷ sau thuyết tương đối vĩ đại, đã có ai di chuyển tức thời trong không thời gian cong Anhxtanh chưa nhể???!!!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #26  
Cũ 16-06-2013, 16:05
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh

"Trừng phạt y học", đã đến USSR trong thập kỷ 70, nhưng nó bắt đầu ở phương Tây từ năm 1917 và thậm chí còn sớm hơn. Không có gì ngạc nhiên khi nhà biên soạn nổi tiếng Thụy Sĩ A.Dyurenmatt, người viết các tác phẩm hầu hết trong thập kỷ 50, về các nhà khoa học-vật lý bị nhốt kỹ trong các nhà thương điên. Như thấy đó, ông chẳng cần đi đâu xa để tìm hình mẫu cho nhân vật của mình.

Max Abragam (1875-1922) là người chế nhạo Anhxtanh dữ nhất, nhưng ông là nhà vật lý lý thuyết rất có tài. Thậm chí Anhxtanh đã từng đề nghị Abragam làm người kế nhiệm mình ở Zurich khi chuyển đến Berlin. Abragam lúc đó đang ở đại học Goettingen và nổi tiếng vì đã tạo ra mô hình electron cổ điển mô tả và giải thích kết quả thử nghiệm Kauffman. Nhưng Abragam không định làm kẻ kế nghiệm Anhxtanh mà thành kẻ thù khoa học của Anhxtanh. Than ôi! Ông đã bị đánh bại trong trận chiến với Anhxtanh.

Vào năm 1911, khi mà Anhxtanh chết đứng trong lúng túng vì thực tế vận tốc ánh sáng hay thay đổi trong trường hấp dẫn, Abragam đã không chỉ cười nhạo Anhxtanh, mà còn mở rộng kết luận trong thuyết tương đối hẹp (TĐH). Ông Pays viết: ông ấy cố gắng để giành được điều không thể - đưa ý tưởng vận tốc ánh sánh thay đổi vào TĐH. Abragam từ đó rút ra kết luận chính xác: Các phép biến đổi Lorent tồn tại hiển nhiên trong vô hạn nhỏ”.

Anhxtanh ngay lập tức chống lại tuyên bố này. Ông Pays viết rằng: “điều này xảy ra trên tạp chí " Annalen der Physik", cuộc tranh luận mà trong đó Abragam đã cho thấy đối thủ (Anhxtanh) thiếu xử trí và nghèo nàn hiểu biết về bản chất vấn đề. Ban đầu, Abragam tuyên bố là TĐH đe dọa sự phát triển lành mạnh của vật lý bởi những người quan sát rõ ràng thiếu tỉnh táo, và lý thuyết này sẽ không bao giờ dẫn đến mô tả bức tranh thế giới một cách đầy đủ. Nếu như nó không thành công… đưa hấp dẫn vào” [22].

Khi đó Abragam đã đề nghị một lý thuyết khác thay thế: "Tôi sẽ đề nghị phát triển lý thuyết hấp dẫn mới, mà không cần đề cập đến vấn đề không thời gian.” Và hoàn toàn loại bỏ biến đổi Lorent, quay lại với hệ thống tính toán tuyệt đối [38, 39].

Kết quả cuộc luận chiến giữa Anhxtanh và Abragam trên các trang tạp chí khoa học đã kích động một lực mạnh hơn. Nhưng Anhxtanh vội vàng đến Berlin, ông ta không có thì giờ để tranh luận thêm với đối thủ. Tất cả đều hiểu chuyện ông ta đề nghị Abragam ứng cử vào vị trí giáo sư ở trường polytechnic chỉ là khôi hài. Điều thực sự là ý đồ với Abragam, có thể xem trong đoạn sau của sách ông Pays:

"Abragam đã tỏ ra là có tài năng đáng ghen tỵ làm phức tạp ra cuộc sống của mình, thực sự là ở những chế nhạo vô cùng tai hại của ông. Giữa thực tế và quan niệm của ông thường xuyên đụng vào “linh hồn ác quỉ” – Anhxtanh. Abragam hiểu thuyết tương đối, nhưng không thể hòa hợp với nó. Không thể gọi ông là nhà khoa học lớn, nhưng ông xứng đáng được nhớ đến như một con người có những thay đổi mạnh mẽ khoa học. Abraham chết năm 1922 vì u não. Born và Laue đã cùng nhau viết trong cáo phó: ông là người phản biện đáng kính trọng chiến đấu trung thực nhất và gặp thất bại mà không hề kêu ca phàn nàn. Còn Anhxtanh thì rất lạc lõng: ông ấy yêu ether tuyệt đối, hệ phương trình, electron bền vững của mình, chúng đối với ông như là tình yêu đầu tiên… Nhưng ông luôn luôn tư duy trong sáng… sự phản đối của ông dựa trên sức thuyết phục sâu sắc… và không thiếu am hiểu” [22, 24].

Tất cả là rõ ràng? Không chỉ là giải thoát khỏi kẻ thù Anhxtanh, sau khi sắp đặt để ông phải vào bệnh viện, nơi được “điều trị” vì u não? (Liệu có phải như thế không?) mà còn là chứng tỏ rằng, tranh cãi với thiên tài chỉ có thể là đau ốm trong đầu…

Điều đó làm dấy lên câu hỏi: Liệu có thể nào G. Minkowski, người cũng ở Goettingen, và đã chết năm 1909 vì bệnh ruột thừa, không phải là cái chết tự nhiên? Sau tất cả, ông ấy không thực sự quan tâm đến Anhxtanh, chỉ làm công việc tính toán và định dạng TĐH, và Anhxtanh lại kém hiểu biết về điều này.

Đúng là nhà vật lý danh tiếng A. Poincare cũng đã chết đột ngột trước đó, vào tháng 4-1912 khi đang đọc bài giảng [41] về thuyết tương đối, mà không hề đề cập đến Anhxtanh [22]. Bạn bè của Poincare cho rằng cái chết của ông là đáng ngờ, như một học trò, là viện sĩ Pháp L. Brillyuen [42] cho biết. Bất ngờ, Brillyuen cũng chết đột tử năm 1960, khi chỉ vừa viết xong cuốn sách của mình, trong đó khám phá một số thiếu sót và mâu thuẫn thuyết tương đối Anhxtanh.

Ông Brillyuen bắt đâu viết sách vì ấn tướng bởi cuốn sách nhỏ của P. Bridzhmen [43], trong đó tác giả nỗ lực phân tích phản biện thuyết tương đối “theo quan điểm của người có kiến thức ABC”. Cuốn của Bridzhmen cũng chỉ vừa xuất bản không lâu sau cái chết sớm của tác giả.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #27  
Cũ 16-06-2013, 22:23
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh

Sau khi biết tất cả những điều đó, chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên thêm nữa về cái chết của viện sĩ người Ukraina A. Z. Petrov (1910-1972), là người chết tiếp theo sau khi viết lời tựa cho bản tiếng Nga của sách Brillouin năm 1972, lời tựa đó như thế này: TĐH vẫn diện cái quần ngắn cũn cơn của “trẻ con”, nó cho phép tất cả và thậm chí – miễn trừ khỏi kiểm tra thử nghiệm”. Thực sự là đúng ngày 9-5-1972, viện sĩ chết đột tử vì loét dạ dày.

Nhưng chúng ta quay lại đầu thế kỷ XX, nạn nhân tiếp theo Poincare có lẽ là nhà nghiên cứu Đức F. Garres [44], ông làm việc cho hãng danh tiếng "K.Tseys-Yena", và nhà khoa học Pháp M. G. Sagnac [45] (Sanyak). Các năm 1912-1914 họ tiến hành thử nghiệm tia sáng trên chiếc đĩa quay. Kết quả là có hiệu ứng Sagnac không hề hợp với “cái giường hẹp” TĐH (Procrustes) thậm chí trái ngược TĐH [46]. Năm 1928, viện sĩ S. I. Vavilov viết: “Nếu hiện tượng Sanyak được phát hiện sớm hơn… thì sẽ là bằng chứng tuyệt vời của ethe” [47].

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Đương nhiên, cả 2 nhà nghiên cứu đã bị thiệt mạng trong WW-I [46], và kết quả của họ cho đến nửa thế kỷ sau đã bị lấp liếm đi. Ví dụ, từ trước đến nay không có một từ nào trong sách giáo khoa tái bản USSR về quang học vũ trụ G. S. Landsberg. [48]

Viện sĩ hàn lâm Phổ Karl Shvartsshild (1873-1916) – giám đốc Viện vật lý-thiên văn Potsdam nổi tiếng, chưa bao giờ phản đối Anhxtanh hay có liên quan đến công việc đó. Trong khi giới khoa học quan tâm thuyết tương đối là rất nhiều, và cái đài quan sát thiên văn Potsdam bị biến thành cả một học viện.

Ngay từ đầu chiến tranh, ông đã ra mặt trận với Nga [22]. Từ mặt trận gửi về viện 2 công trình lý thuyết, mà thấy có giải pháp chuẩn xác cho phương trình của Anhxtanh về trường hấp dẫn của vật thể có khối lượng. Khái niệm bán kính hấp dẫn được gọi là “khối cầu Shvartsshild” lần đầu tiên là từ đây.

Anhxtanh đã đọc báo cáo của Shvartsshild và gặp gỡ lần đầu tại viện hàn lâm Phổ ngày 16-1-1916. Lần thứ 2 là ngày 24-2. Và ngày 29-6 ông ta đã phát biểu ở viện, tưởng nhớ Shvartsshild. Shvartsshild không chết vì đạn pháo quân thù ngoài tiền tuyến. Mà chết bất ngờ ngày 11-5 vì bệnh mắc phải trên mặt trận. Tác giả 1 cuốn sách viết [22].

Nhưng bệnh dịch ở mặt trận Nga vào mùa xuân 1916 thì không hề có ấm áp cần thiết đủ để vi khuẩn dịch phát triển. Mà có thể là ông ta đã mắc phải từ lá thư gửi đến từ Berlin bị tẩm vi khuẩn. Nhưng ít ỏi như thế là không đủ để khẳng định. Sau tất cả, y tế đang nằm dưới sự kiểm soát của Zionist, thực sự bọn chúng rất tài giỏi.

Cùng một cách nhiễm bệnh như thế là viện sĩ A. Fridman năm 1925, một người Nga là đối thủ của thiên tài, đã chứng tỏ khả năng vượt trội Anhxtanh và ông ta có thể bị thất bại.

Và vẫn còn người khác nữa tài hơn thiên tài, ứng viên giải Nobel Gunnar Nordstryom (1883-1923). Đó là nhà vật lý Phần Lan này cũng chết chẳng phải lúc, khi nghiên cứu những khó khăn Anhxtanh đang phải đối mặt năm 1911, ông tính toán sự phụ thuộc của tốc độ ánh sáng vào trường hấp dẫn và đề xuất một ý tưởng tài tình vào năm 1912 [49] để giải quyết tình trạng lúng túng đã cả thập kỷ. Nordstryom bắt đầu xây dựng thuyết hấp dẫn, trong đó không có hằng số vận tốc ánh sáng C và khối lượng m. Và dĩ nhiên cũng không giống Anhxtanh, ông đi ngay đến chuyển đổi Lorent và làm thỏa mãn định luật bảo toàn.

Norgstryom đã không thể rời Helsinki để dự hội nghị về hấp dẫn vào tháng 10-1913 ở Vienna. Do đó Anhxtanh đã rảnh tay để đọc báo cáo về lý thuyết của mình. Ở lý thuyết của Norgstryom có nhiều thứ làm Anhxtanh hài lòng, ngoại trừ 1 thứ - đó là nó phát triển từ kết quả của Abragam, địch thủ dữ dằn nhất của Anhxtanh.

Trong báo cáo, Anhxtanh cũng không hề nói một lời nào về một lý thuyết hấp dẫn khác, được phát triển bởi Gustav Mi, người không chỉ có mặt tại hội nghị, mà còn hành xử như địch thủ chính của Anhxtanh. Trả lời câu hỏi tại sao ông ta không đề cập đến thuyết của Mi, Anhxtanh không hề do dự trả lời rằng, ông ta chỉ đề cấp đến các thuyết thỏa mãn nguyên lý cân bằng [22]. Như chúng ta thấy, ngay cả ở đó cũng bắt đầu có sự im lặng về những gì gọi là không dựa trên thuyết hấp dẫn!

Tại hội nghị, lý thuyết của Norgstryom được công nhận chỉ như một lý thuyết gắn liền với hấp dẫn trong số hàng chục đề xuất, có cả của Anhxtanh trong đó.

Những tín đồ Anhxtanh ở đây, rõ ràng là đã quên Norgstryom. Năm 1923 ông chết ở tuổi 40 (mà hoàn cảnh cho đến nay vẫn không ai biết). Chẳng còn ai cạnh tranh với thiên tài Zionist nữa.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #28  
Cũ 16-06-2013, 22:29
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh

Lực lượng nào đứng đằng sau Anhxtanh để chống lưng cho ông ta trong những năm đó, để tính sổ các địch thủ khoa học và những đối thủ cạnh tranh? Câu trả lời trở nên rõ ràng nếu nhớ lại thời kỳ làm việc ở Berlin Anhxtanh có quan hệ thân cận với K. Blyumenfeld, kẻ này từ 1910 đến 1914 là Tổng thư ký Ủy ban điều hành tổ chức Zionist thế giới đặt trụ sở tại Berlin khi đó, còn sau 1924 là chủ tịch Liên đoàn Zionist Đức [22]. Không lạ gì, Anhxtanh là thành viên của Hội Ju-đa ở Berlin, và đã không chỉ 1 lần tin cậy vào đào tạo cho những tuyên bố chính trị của mình. Năm 1921, Blyumenfeld thuyết phục Anhxtanh đến Mỹ để gây quĩ thành lập “Viện Do Thái” ở đây [22].

Ở Nga khi đó, Lenin lên nắm quyền năm 1917, 2/3 chính phủ là Do Thái, Zionist ở Berlin kỷ niệm ăn mừng còn hơn cả một ngày lễ chiến thắng quốc tế của họ - sau tất cả, Lenin đã vay tiền từ Berlin để làm cách mạng tháng 10. Và khi mà Lenin cố gắng xuất khẩu cách mạng sang Đức, thì Anhxtanh đã xung phong vào đảng CS Đức năm 1919 [22]. Năm 1923, Anhxtanh tham gia vào tổ chức “Bạn bè của nước Nga mới”. Nhưng người Đức sớm hiểu ra điều đó, CNCS đã không thành ở Đức. CN phát xít đã phát triển, trước mối đe dọa khủng khiếp quá đỗi của cả CNCS và Zionism.

Rõ ràng là trong những năm này Đức có thái độ thù địch với Anhxtanh, không chỉ là từ các nhà khoa học mà còn là từ dân chúng. Vì thế, buổi giảng của Anhxtanh ở ĐH Berlin ngày 12-2-1920 đã biến thành hỗn loạn. Hiệp hội lao động của các nhà khoa học Đức sau đó xuất bản xuốn sách “100 tác giả chống Anhxtanh” [50], người ta thu xếp ở sảnh hòa nhạc Berlin buổi thảo luận về thuyết tương đối và đó là cuộc tuyên truyền bất nhã mà các tác giả này thực hiện.

Anhxtanh lúc này đang ở Đức và cảm thấy khó chịu và uy tín chẳng bao lâu sau thì sụp đổ trên báo chí, nhà vật lý Đức Filipp Lenard (1862-1947) là người tham gia vào tổ chức buổi thảo luận. Ông là người phát hiện hiện tượng hiệu ứng pho-ton năm 1902 [51], là công trình được trao giải Nobel năm 1905. Những nghiên cứu đó là cơ sở cho Anhxtanh làm điều tương tự và sau này cũng lại được trao Nobel 1 lần nữa. Cũng chính Lenard vào năm 1918 đã chỉ ra sự tương đương giữa khối lượng và năng lượng được thiết lập lần đầu tiên, không phải là Anhxtanh, mà là F. Gazenorl [52].

Y. Brovko [15] nêu ra rằng, thực sự thì lần đầu tiên, một nhà vật lý Nga làm việc ở Odessa là N. Umov đã chỉ ra tương quan khối lượng và năng lượng năm 1873, và ông ấy đã được tặng thưởng vì nghiên cứu này, nhà vật lý Anh O. Hevisayd năm 1890 cũng đã đưa ra công thức “Anhxtanh” E = mC2; Ông Pays viết về tiểu sử Anhxtanh [22] biểu thức liên hệ khối lượng và năng lượng thực sự đã được biết đến tận 25 năm trước Anhxtanh. Ông tin tưởng chắc chắn lần đầu tiên nó được đưa ra từ hiện tượng tự nhiên.

Năm 1918 ông F. Lenard xuất bản cuốn "Về thuyết tương đối, ether và hấp dẫn” phê phán thuyết tương đối [53]. Sau đó Anhxtanh và các tín đồ khắp mọi nơi tiến hành chiến dịch tấn công chống Lenard, giống như những người DT nghèo khổ của Anhxtanh vì ông ta mà làm người tiên phong quan điểm chính trị-xã hội.

Tháng 9-1920, ở Bud-Naugeyme tổ chức hội nghị “Giới khoa học tự nhiên Đức và những người hâm mộ nghệ thuật”. Cả Lenard và Anhxtanh đều tham gia thảo luận, Sau đó thì Anhxtanh buộc phải hứa hẹn trong thư gửi ông M. Born “không bao giờ nổi giận nữa” [22].

Năm 1921, sau thắng lợi đinh tai nhức óc của Anhxtanh về cái gọi là tính toán tia sáng bị uốn cong gần mặt trời (xem các bài trước), Lenard viết bài trên tạp chí mà Anhxtanh cũng ưa thích là tờ “Annalen der Physik” trích đoạn từ bài báo của Y. Zoldner [55] công bố năm 1801, trong đó Zoldner bằng các dụng cụ cơ học cổ điển đã tính toán ra góc lệch tia sáng ngôi sao tại đĩa mặt trời cho kết quả tương tự như Anhxtanh năm 1911. Đó là điều mà các tín đồ Anhxtanh không bao giờ có thể tha thứ.

Thật không may, chẳng kẻ nào dám đưa nhà được giải Nobel vào trại tâm thần. Vì thế chúng làm cách khác – sau đó chúng gắn những gì F. Lenard đã làm cho khoa học cái nhãn “vật lý phát xít”. Cho dù từ năm 1919, mối bất hòa này đã bắt đầu, nhưng người ta vẫn không nghe thấy cái tên phát xít ở Đức, kể cả muộn hơn. Sau tất cả, thứ chúng giành được là: kể cả sau WW-II, cái tên Lenard bị xóa bỏ khỏi mọi quyển sách giáo khoa, mặc dù, ví dụ, lý thuyết sự nhiễm điện của giọt nước cho đến nay vẫn được các nhà vật lý nhìn nhận là 1 thành công, trong số đó có cả tôi [56].

Có thể nói gì về A. Eddington (1882-1944) – kẻ đã tiếp tay cho Anhxtanh đến giấc mơ phong thánh, bị kẹp dưới bánh xe sau khi viết những vần thơ vũ trụ được lấy để khắc vào đá thành trùm sò xào số liệu.

Đã nhiều năm trôi qua, và dường như chẳng có ai làm sáng tỏ những cái chết bi kịch và bí ẩn liệu có Zionist can dự hay không, tín đồ Anhxtanh và Zionist sẽ hét lên tất cả là tình cờ và họ đã chẳng làm gì cả. Làm sao lại có nhiều tình cờ đến vậy? Tại sao lại liên quan đến những lý thuyết tiềm năng với số lượng lớn? Người ta hiểu điều đó là gì.

Đúng là cá nhân Anhxtanh đầy mâu thuẫn, tuy nhiên lại là cá nhân được sùng kính. Ở những cá nhân được kính trọng, một mặt, họ thực sự tài năng và lao động hăng say, làm những công việc vĩ đại và mở ra những khám phá lớn, mặt khác, là những kẻ bạo ngược hay xảo quyệt, tự cho mình có quyền chiếm đoạt thành quả của kẻ khác chỉ vì hắn tuồng như không nghe thấy đó là của họ.

Đó là thăng trầm của Anhxtanh, cùng 1 lúc giống như phép lạ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #29  
Cũ 17-06-2013, 02:03
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh

Nạn nhân Einsteinism bên USSR thậm chí còn đông hơn gấp bội, mà viết ra đầy đủ tên tuổi của họ cần đến cả 1 tuyển tập dầy. Do đó chúng ta chỉ có thể đề cập một số trường hợp nổi bật mà thôi. A. A. Friedman (1888-1925) đã đề cập ở bài #27 là một nhà khoa học trẻ tài năng. Sau WW-I tham gia vào các khóa quan sát-quan trắc, sau đó làm lãnh đạo đài quan sát Petrograd và đưa cơ sở toán học vào ngành khoa học thời tiết. Sau đó ĐH Perm được mở, Friedman tìm hiểu thuyết tương đối vào những lúc rảnh rồi. Năm 1922, Friedman công bố 1 bài viết trên tờ tạp chí Đức [57], nó trái ngược với mô hình Anhxtanh đang phát triển về vũ trụ tĩnh, có thể nói, với Friedman, vũ trụ phải dãn nở.

Mặc dù đó là con đường đột phá, nhưng Anhxtanh đã chẳng khởi đầu ra nó, thậm chí ông ta còn nghiêm cứu nó và phản ứng bằng một ghi chép ngắn trên cùng tờ tạp chí, trong đó gọi tính toán của Friedman là hoài nghi và không chứng tỏ được vũ trụ là không tĩnh tại.

Khi đó Friedman gửi cho Anhxtanh một bức thư, năm 1923, Anhxtanh buộc phải đăng tiếp một bài ngắn, trong đó viết cho biên tập tạp chí rằng: "Phản đối của tôi… dựa trên sai lầm trong tính toán. Tôi cho rằng kết quả của Friedman chính xác và đổ ra nguồn sáng mới…” Rất hiếm, cho đến cả ngày nay, lại có một xử sự nhã nhặn đến như vậy.

Năm 1929, một người Mỹ là E. Khabbl đã bắt được quang phổ dịch chuyển đỏ của các thiên hà ở xa như hiệu ứng Doppler, chứng tỏ nguồn bức xạ đang chuyển động ra xa người quan sát. Giả thuyết của Friedman về vũ trụ dãn nở đã được ghi nhận ở hầu như tất cả giới khoa học.

A. Fridman đã không còn sống để mà ăn mừng cho lý thuyết của mình, anh đã chết ở trong khu nghỉ dưỡng ở Crimea năm 1925, khi mới 37 tuổi vì bệnh sốt phát ban.

Hầu như tất cả đều nghĩ đó là 1 cái chết thông thường, bệnh, ốm và chết. Nhưng khi nhìn vào danh sách các nạn nhân Einsteinism, dù không cố ý cũng phải bắt đầu đối chiếu. Quả là cái chết quá bất thường trong thời bình. Và chỉ cần đợi đến giữa thập kỷ 60, khi chẳng còn ai nhớ Fridman thì lý thuyết vũ trụ dãn nở đã thành thời thượng ở phương tây. Công lao được dành cho Hubble, mô hình toán học vũ trụ dãn nở cũng không dành cho Fridman mà gọi là “standard” và cũng không hề cắt nghĩa làm sao lại là “ standard”.

Nhưng nếu như Friedman có khỏi được bệnh sốt và sống đến thập kỷ 30! Thì không chắc đã thọ được thêm nữa. Lý thuyết của Friedman về vũ trụ, có một cái gì đó giống như kinh thánh, và ở thập kỷ 30, ngay lập tức anh sẽ bị qui chụp “duy tâm” và có thể ngồi tù suốt đời. Chúng ta nhớ quyển sách của nhà thiên văn B. Vorontsov-Velyaminov “Luận về vũ trụ”, thậm chí cho đến lần tái bản thứ 5 (1964), thì lý thuyết vũ trụ dãn nở vẫn bị gọi là “ngu dân” và các nhà khoa học liên quan là “duy tâm”. Do vậy, số phận Friedman kiểu gì thì cũng đã bị định đoạt.

Nhưng ở thập kỷ 20, chính quyền XV khó mà liên quan đến cái chết của Friedman, bởi lúc đó vẫn chưa có qui định cấm chỉ trích thuyết tương đối, hồi đó đúng là có rất nhiều nhà khoa học theo đuổi “duy tâm” trong khoa học, và trái lại, thuyết vị lai vẫn còn phổ biến trong các giới, kể cả giới nghiên cứu tương đối, mà Friedman cũng là 1 người đã làm quen với nó từ đó. Ngay một số trong giới lãnh đạo đảng của Lenin cũng bàn luận về nó.

Do đó không ngạc nhiên khi năm 1925, ở USSR các nhà khoa học bàn luận TĐH không thể giải thích hiện tượng quang sai các ngôi sao. Cuối thập kỷ, giáo sư K. Shapochnikov xuất bản bài báo chứng tỏ dịch chuyển đỏ vũ trụ có thể được giải thích mà không cần thuyết tương đối. Năm 1928 viện sĩ S. I. Vavilov công bố công trình [47] mà chủ đề là chỉ trích một cách thận trọng một số thực nghiệm làm cơ sở cho thuyết tương đối. Năm 1933, nhà thiên văn có tiếng G. Tikhov công bố bài viết trong đó tuyên rằng độ cong của ánh sáng trong hấp dẫn mặt trời cho đến nay vẫn chưa được chứng tỏ bằng thực nghiệm…
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #30  
Cũ 17-06-2013, 02:08
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh

Cho đến lúc đó, sự nhẫn nại của các tín đồ Anhxtanh đã hết, và USSR vẫn còn có độc lập ở USSR. Cho đến năm 1934, bắt đầu có bàn luận từ TW về việc ra nghị quyết liệt những ai đối lập với thuyết tương đối là “duy tâm” hay “lạc đề”.

Bắt đầu có các nạn nhân, ví như nhà thiên văn nổi tiếng N. A. Kozyrev, người phản đối Anhxtanh, kẻ cho rằng thời gian có thuộc tính vật chất, có mật độ và có thể chuyển đổi thành năng lượng, và bạn của ông Matvei Petrovitch Bronstein (1906-1938) là một thiên tài bẩm sinh từ Vinnytsia, tốt nghiệp ĐH Leningrad và làm việc cho Khoa vật lý kỹ thuật, cùng trong nhóm bạn bè với G. Gamov, L. LandauD. Ivanenko và cưới cô cháu của K. Chukovsky. Ngay từ sớm đã viết một số lượng lớn chưa từng thấy các bài báo khoa học trên hầu hết các chủ đề. Bronstein đầu thập kỷ 30 dễ dàng lượng tử hóa trường hấp dẫn (công việc cực khó về toán học) và thiết lập hấp dẫn lượng tử của mình [60].

Anhxtanh vào lúc đó vô cùng căm ghét cái từ ‘lượng tử’ và đang chiến tranh với các nhà phát triển cơ học lượng tử. Do đó ông ta đã không nghe về hấp dẫn lượng tử và chưa bao giờ sử sụng những khái niệm như thế trước công chúng. Hóa ra Bronstein đã lượng tử hóa trường hấp dẫn, điều đó đối lập với Anhxtanh!

Họ cùng với Kozyrev bị bắt vào một đêm năm 1937 và bị kết án cùng 1 lần. Kozyrev – 10 năm tù và Bronstein 10 năm không có quyền thư từ. Cuối cùng là bị xử bắn. Kozyrev thì gặp may đã không chết trong tù và đến thập kỷ 60 lại trở thành nổi tiếng nhờ khám phá thiên văn. Bronstein thậm chí còn không có mộ, chỉ có mỗi từ Hấp dẫn lượng tử!

Và như đã nói, Anhxtanh căm ghét không công nhận khái niệm này, trong khi cả thế giới công nhận. Cho đến 100 năm sau, những cái tên G. Minkowski, A. Friedman và M. Bronstein vẫn được nhắc đến.

Năm 1937 ở Kharkov người ta bắt 2 người nổi tiếng, 2 nhà vật lý Xô Viết L. D. Landau (1908-1968) và Y. B. Rumer (1900-1975). Cho dù là Landau lúc đó chưa phải là viện sĩ thì Y. Rumer đã được coi là ngôi sao số 2 trong lĩnh vực khoa học bầu trời. Sinh ra ở Moldova, tốt nghiệp MGU và nghiên cứu ở phương tây. Ông được coi là sinh viên của Anhxxtanh, nhưng Rumer đã bỏ đi theo cơ học lượng tử, thứ Anhxtanh rất ghét. Ông làm việc ở Goettingen, nơi được coi là thánh địa của vật lý, Rumer sáng lập ta hóa học lượng tử, là giáo sư. Dĩ nhiên, ông đối lập với Anhxxtanh và bắt đầu phát triển phiên bản của mình về lý thuyết thống nhất, thứ mà ông gọi là “5-quang học”. Landau tốt nghiệp ĐH Leningrad năm 1929 và 2 năm ở Copenhagen, trong trường của nhà vật lý N. Bor. Cả 2 quen nhau từ đó và rồi trở về USSR.

Rumer bị bắt với cớ gián điệp Romania, mặc dù ông luôn luôn né tránh chính trị. Còn Landau thì bị bắt vì tội “duy tâm”. Nhưng dường như đã có nhầm lẫn, bởi Landau chẳng dính dáng nhiều lắm đến thuyết tương đối và đáp ứng đầy đủ chuẩn mực Zionism, nghĩa là không hề có biểu hiện hoài nghi thuyết tương đối kém hoàn hảo hay mạo phạm Anhxtanh.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên:
chipvn (19-06-2013), Nhật Minh (17-06-2013)
  #31  
Cũ 17-06-2013, 08:54
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh

Nhưng Landau vì sợ hãi đã thú nhận với các nhà điều tra rằng ở Kharkov có 1 nhóm phá hoại có tổ chức gồm toàn gốc DT (Akhiyezer, Brilliants, Vaysburg, Korets, Lifshits, Pomeranchuk, Rozenkevich, etc.) [15].

Landau được thả sau nửa năm, chắc là bởi đã 'thành khẩn' khai báo và bởi viện sĩ tên tuổi P. Kapitsa và cả Nils Bohr đã cầu xin Stalin. Họ vì lý do nào đó đã chẳng giúp Rumer. Ông bị đầy đi trại cải tạo lao động ở Siberia đủ án 25 năm, ban đầu là đốn cây, sau chiến tranh nổ ra là tính toán khí động học trong cái gọi là “sharashka” trại cải tạo ở Omsk, theo thiết kế máy bay của A. Tupolev.

Có lẽ cũng thật khôi hài với những gì đã xảy ra từ cái nghị quyết TW thuyết tương đối, xem ra người ta sợ hãi lý thuyết “5-quang học” của Rumer hơn là nhóm đánh bom khủng bố Do Thái! Đã có rất nhiều các nhà khoa học bị bắt oan uổng thậm chí ngay cả khi chẳng có chút quan hệ nào với tổ chức DT quốc tế Zionist: A. Tupolev, V. Myasishchev, V. Petlyakov, Bartini, N. Vavilov, A. Chizhevsky, P. Oshchepkov, Oparin…

Giáo sư Y. Parkhomovsky trong thời gian chiến tranh đã tình cờ làm việc cùng Rumer ở sharashka, viết trong hồi ký rằng nếu như năm 1942, Tupolev và một số tù nhân tài năng khác ở sharashka đã được tha bổng trước thời hạn và sau đó họ làm việc như các công dân bình thường, thì trường hợp của Rumer, vì lý do gì đó đã không được như vậy. Và cái khác ở Rumer so với những người kia, thì chỉ là lý thuyết của ông là mối đe dọa tiềm tàng đến thuyết tương đối Anhxtanh!

Hồi ký của Landau cũng viết là ông ta không bao giờ quên Rumer và hàng năm đều gửi cho bạn bưu kiện tạp phẩm, nhưng chúng đã chẳng bao giờ đến nơi.

Năm 1951 S. Vavilov trở thành chủ tịch Viện hàn lâm khoa học USSR, còn người anh em của ông, N. Vavilov thì đã chết trong trại cải tạo. Y. Rumer được chuyển từ trại Enisei đến Novosibirsk và cuối cùng được làm giáo viên dạy học cho tù nhân. Landau đã trở thành viện sĩ, ông ta đã không bao giờ đến Novosibirsk hay thậm chí là có một lời nào để giúp đỡ cho bạn Rumer.

Sau cái chết của Stalin thì Rumer được tạm tha vài ngày đển về Mat-xcơ-va báo cáo ở Viện hàn lâm khoa học về lý thuyết “5-quang học” [63] Ông thậm chí đến tận nhà Landau mời ông ta đến nghe báo cáo. Ông ta bối rối, đi lại từ góc nhà này đến góc nhà kia… và cuối cùng đã không đến. Tất cả là dễ hiểu?

Tác giả đã được nghe kể về điều này từ chính Rumer, khi không chỉ 1 lần đến thăm ông ở Novosibirsk đầu thập kỷ 70. Ngay cả sau khi Rumer được minh oan, cuối thập kỷ 50, Landau đã thuyết phục Rumer cùng viết sách khoa học phổ thông pro-Anhxtanh mang tên “Thuyết tương đối là cái gì” [64] Trong đoạn hồi ký về Landau [65], Rumer khi đó viết rằng khi mình mang bản thảo cuốn sách đến viện sĩ, ông ta (Landau) nhìn qua và hỏi: “Rồi sao?” Trả lời: “Hai tên bợm đã thuyết phục khách hàng rằng chỉ cần bỏ ra đồng 10 cô-pếk là hắn ta có thể hiểu, thuyết tương đối là cái gì”.

Rõ là, khi Rumer dùng cái từ “các bợm -жулики” đã không chỉ ám chỉ là 2 tác giả cuốn sách này.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Nghị quyết TW thuyết tương đối năm 1934 đã gây tai họa và tước bỏ sạch bao nhiêu cơ hội của các nhà vật lý tài năng Xô-Viết chỉ vì họ không chịu núp dưới váy Anhxtanh. Nhưng không chỉ có vậy, cái tiếp theo còn rất kỳ quặc. Đó là tháng 11 năm 1942, khi mà chiến tranh WW-II đang rất dữ dội, hầu như tất cả đều phải ra trận, hy sinh và mất mát. Thế nhưng đoàn chủ tịch Viện hàn lâm KH USSR trong buổi lễ kỷ niệm 25 năm CM tháng 10 lại ra nghị quyết chấp thuận thuyết tương đối! Đó là thứ cần thiết cho chiến tranh và xương máu người dân Liên Xô? Có cái gì để làm với thuyết tương đối Anhxtanh vào lúc nước sôi lửa bỏng? Họ không có việc gì để làm? hay có lẽ các ông viện sĩ bị điên!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #32  
Cũ 17-06-2013, 10:36
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh

Tạp chí “Cận vệ trẻ” [15] và nhiều nguồn tư liệu khác cho biết, vào thập kỷ 30, Hitle đã thu xếp 1 thỏa thuận với tổ chức World Zionist để có được những khoản vay phát triển công nghiệp. Đổi lại là thỏa mãn ước mơ lập quốc 1000 năm của người Do Thái. Họ có thể lập quốc ở bất cứ nơi đâu ngoài lãnh thổ nước Đức. Vì thế, tất cả dân Do Thái từ khắp châu Âu, Hy Lạp, Thổ… đổ về đông Ba lan tá túc trong các trại tập trung chờ Liên Xô sụp đổ để xông ra cướp đất lập quốc.

Nhưng Liên Xô không những đã chẳng sụp đổ mà Hitle còn bị nện tơi tả, thế thua cuộc hiện rõ từ nửa cuối 1942. Dân Do Thái tháo chạy về Palestine, một phương án lập quốc khác!

Rất có thể vào lúc đó, Zionist đã phải có 1 thỏa thuận khác với Stalin để thay đổi tình thế. Hitle thành vật bị phế bỏ, đổi lại, LX đã giúp đỡ cho hàng triệu người Do Thái chạy thoát qua biển Caspian, qua Iran về Palestine. Nhưng chiến tranh là chiến tranh, những người dân Do Thái bình thường trở thành nạn nhân bị hủy hoại bởi chính Zionist.

Và hậu quả phụ: tự nhiên [15] Anhxtanh được yêu mến đến thế! Đoàn chủ tịch Viện hàn lâm ngồi trên đống lửa chiến tranh, quyết chấp thuận thuyết tương đối! Còn nữa, LX là nước đầu tiên công nhận Israel, như một thỏa thuận [15]. Dù sao đó cũng là điều tốt (cho LX và không cho dân tộc khác), bởi nếu không thì bà con họ hàng nhà Ju-đa đang tá túc chật cứng cả đất Nga vào lúc này. Nếu có gì sai lầm thì đó là sai lầm của Nữ Hoàng Ekaterina, bà đã làm được nhiều việc cho nước Nga, nhưng đã mắc sai lầm chết người chỉ vì lòng vị tha và tính tình thông thoáng cởi mở, đã chấp thuận cho người Do Thái được làm thần dân đế chế Nga, sao bao lần họ cầu xin mà không được.

Cái nghị quyết tương đối” của Viện hàn lâm có đoạn như sau: “Cấm chỉ tất cả các hội đồng khoa học và tạp chí, các diễn đàn khoa học chấp nhận, xem xét, thảo luận và công bố các công trình, phê phán thuyết của Anhxtanh”…

Nhưng cái nghị quyết phản khoa học của viện khoa học này cũng chỉ được chấp nhận muộn hơn 20 năm sau, vào năm 1964 [15]. Các nạn nhân bị chụp mũ “hoang tưởng” ví như đã nói: năm 1966, khoa vật lý tổng quát và ứng dụng đã “giúp đỡ” cho 24 nhà khoa học tỏ ra hoang tưởng…

Trong số đó có ông giáo sư người Belarus A. Veynik, người dám nêu câu hỏi ngờ vực thuyết tương đối trong quyển sách Nhiệt động học (Термодинамика). Lệnh của ông bộ trưởng USSR, cấm chỉ và Veynik mất dạy!

Viện sĩ hàn lâm USSR A. Z. Petrov năm 1963 viết sách [67] chứa các chỉ trích một số tiên đoán của thuyết tương đối rộng (TĐR), nhưng không ai dám đem ông viện sĩ vào viện tâm thần, bởi dù sao ông cũng là người nổi tiếng cả ở nước ngoài. Cái gì xảy đến với ông thì đã nói ở bài #27, chỉ vì dám công bố sách của Brillyuen [42], trái ngước với nghị quyết của viện khoa học.

Cũng những năm 60 còn có cuộc trừng phạt ông I. S. Filimonenko, nhưng cùng với điều đó là cả một hướng nghiên cứu mới của các nhà khoa học Xô Viết mở ra từ đó. Đó là từ đầu thập kỷ 50, ông Filimonenko đã phát hiện ra khi phun nước vào động cơ phản lực làm tăng công suất của nó lên 15%. Ông đoán điều đó xảy ra là do đốt cháy hi-dro trong quá trình nhiệt phân của nước và bắt đầu nghiên cứu về hiện tượng này. Tổng hợp nhiệt hạch lạnh, điều mà ông Richard Moody Jr. Nói đến trong chùm bài #2-#15, xuất phát từ đây. Ông Filimonenko gọi đó là “Phát xạ nhiệt điện từ của thiết bị thủy phân” và nhận bằng phát minh Liên Xô năm 1962.

Công trình từ thập kỷ 50 của ông được các viện sĩ ủng hộ: I. V. Kurchatov và S. P. Korolyov, có cả nguyên soái G. K. Zhukov [68]. Dựa trên nguyên lý này, thiết bị phát điện gọi là TOPAZ (hoàng ngọc) dành cho trạm không gian được thử nghiệm. Viễn cảnh nó giúp ích hoặc thay thế 1 phần cách lò phản ứng hạt nhân là có thể. Nhưng mọi thứ trước nguy cơ đổ vỡ vì phát minh này. Một hội đồng các chuyên gia được lập ra, do Shpilraen đứng đầu [15] đưa ra kết luận nó trái ngược qui luật vật lý. Không ai còn dám mạo hiểm. Filimonenko bị bãi nhiệm. Năm 1968, sau khi phát giác ông ký đơn đề nghị cấm thử vũ khí hạt nhân, người ta tống ông vào trại tâm thần [15]. Tất cả công việc dừng lại. Cho đến tận 1989, sau khi bê bối nhạy cảm M. Fleischmann và S. Pons xảy ra người ta mới biết đến thử nghiệm hạt nhân lạnh bên Mỹ và đề nghị cho phép Filimonenko trở lại với công việc. Nhưng đã quá muộn, tàu đã trật bánh, tuổi trẻ, sức lực và trí tuệ của ông đã tiêu tan hết qua những năm tháng trong trại tâm thần. Chẳng ai trẻ được mãi, ông vẫn còn sống sót ra được khỏi đó đã là quá may mắn rồi.

I. S. Filimonenko
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #33  
Cũ 17-06-2013, 12:03
Julia's Avatar
Julia Julia is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 386
Cảm ơn: 203
Được cảm ơn 378 lần trong 177 bài đăng
Default

Bài viết của anh SSX có rất nhiều thông tin. Bọn em đọc và ghi nhận, coi như là những thông tin tham khảo. Đọc rất thú vị, tuy nhiên em không dám bấm like vì em cũng chưa có nguồn thông tin chính thống để khẳng định. Mặt khác, Enstein là vĩ nhân được công nhận, một cây cổ thụ quá lớn, trên thế giới các nhà bác học lớn cũng chưa ai dám phản bác nên bọn em cũng chỉ dám đọc nhưng không dám bình luận. Anh SSX cứ tiếp tục.
__________________
THERE IS NO FREE MEAL
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #34  
Cũ 17-06-2013, 18:15
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Thay cho lời kết!

Đừng nghĩ rằng vấn nạn làm điêu tàn USSR đã hết. Cũng vấn đoàn chủ tịch viện hàn lâm ấy lập ra “Ủy ban đấu tranh chống ngụy khoa học”. Nếu như trước, mũ là “duy tâm” và “hoang tưởng”, giờ chúng vẫn có thể chụp mũ bất cứ ai, bất cứ cái gì là “ngụy khoa học”, là “giả tạo”… Thí dụ, cái ủy ban này đã tuyên nhiệt hạch lạnh là ngụy khoa học, trường biến dạng, máy nhiệt Potapov…[70] cũng thế. Những thứ này vẫn cứ đối lập Anhxtanh, và do đó chẳng có gì thay đổi cả. Cho dù máy nhiệt Potapov đã làm việc thường xuyên hàng bao nhiêu năm khắp các nhà máy…

Khi tác giả bài viết này đến gặp viện sĩ Nga A. N. Nikitin – người giữ chức vụ khá cao trong giới hàn lâm, để bày tỏ ý định viết 1 cuốn sách phê phán lỗi lầm và lừa gạt Anhxtanh, con người nhiều kinh nghiệm này thốt lên: "Ну и проживёшь после этого всего дня три, не больше!"

Trong di sản công lao của Anhxtanh còn có một tội lỗi nữa, ký đơn thư gửi TT Mỹ đề nghị làm bom nguyên tử [36]. Trong khi đồng minh đang tiêu diệt chủ nghĩa phát xít mà chẳng cần đến nó, và nhìn chung là bằng cái giá không thể tính đếm được xương máu của nhân dân Xô Viết. Người Mỹ ném bom xuống Nhật Bản năm 1945, hàng trăm ngàn dân chúng vô tội đã chết, hậu quả khôn lường cho đến tận ngày nay!

Khi Anhxtanh chết năm 1955, xác ông ta như kể là được thiêu và rải ra đâu đó bí mật cho gió cuốn đi [2]. Tác giả nói chuyện với một người Do Thái già am hiểu, ông ấy kêu lên: Không phải như thế! Tín ngưỡng chúng tôi cấm làm như vậy! Bởi khi Messiah trở lại, tất cả người DT như đã nói trong Talmud, sẽ đội mồ sống dậy. Ai muốn tái sinh, phải chôn trong lòng đất. Cái gì vậy! Liệu Anhxtanh mà lại chẳng biết điều này!

Tôi biết chắc chắn, Anhxtanh là con người sùng đạo, một “người DT thực sự” như ông Pays từng gọi. Và từ tuổi thơ, Anhxtanh đã siêng năng và cuồng tín học Judaism. Có lẽ ông ta đã không còn muốn sống lại để lại một lần nữa dấy binh làm loạn cái thế giới này, có lẽ ông ta sợ, có lẽ ông ta không chịu nổi mỉa mai chế nhạo và khạc nhổ vào mình thêm một lần nữa bởi những người am hiểu thực sự thế nào là vai trò đích thực của khoa học chân chính. Ông ta biết, mình cũng chỉ là một chi tiết, trong cỗ máy được vận hành bởi một thế lực khác. Ông ta đủ tài để hiểu, chẳng có ai làm một công cụ mù quáng mà được vinh danh.

Người ta sợ dân Do Thái có lắm ma thuật sẽ dựng ông dậy, và ông đã làm cái việc đúng đắn duy nhất tốt đẹp cho thế giới này. Hãy yên nghỉ vĩnh hằng Anhxtanh!


Phần tư liệu chính của loạt bài trên đây lấy từ cuốn sách của tác giả Н. А. Жук, có tên: О КУЛЬТЕ ЛИЧНОСТИ ЭЙНШТЕЙНА И ЕГО НЕГАТИВНОМ ВЛИЯНИИ НА ФИЗИКУ

Chương: Взлёт и падение Эйнштейна; phần 2.7 và 2.8 Первые жертвы эйнштейнианства; Советские жертвы эйнштейнианства;

Các bạn có thể tìm thấy nó trên yandex, gần 400 000 hits, đủ nhiều để dễ tìm: http://yandex.ru/yandsearch?text=%D0...29569&lr=10552
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #35  
Cũ 18-06-2013, 10:53
minminixi minminixi is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: May 2010
Bài viết: 1,145
Cảm ơn: 1,600
Được cảm ơn 2,176 lần trong 833 bài đăng
Default

Lâu lâu ghé thấy bác SSX vẫn sung sức nhỉ? nhưng có lẽ bác đưa tài liệu mà chưa kịp nêu chính kiến. Từ 10 năm nay BT cũng biết nhiều góc cạnh không phù hợp của TTĐ, cũng dần dần hết coi Anhxtanh là vĩ đại sáng tạo, mà chỉ đơn thuần coi ổng như một người biết tập hợp tài liệu vĩ đại, do đặc thù công việc thủ thư khoa học sáng chế của ông. Người biết đọc tài liệu là yêu cầu bắt buộc cho chương trình học thạc sĩ ngày nay (mình không nói chuyện mua bằng cấp).
Tự mình nhận thấy cái nổi nhất là vụ Nhật thực đo hồi 1917-1921 của Eddington, kết quả theo mình là không thuyết phục. Có những điều khá đơn giản mà giới khoa học cố tình lờ đi ngoài chuyện phép tính sai số, đó là:
-Cuộc thí nghiệm đó chỉ đề cập đến hiệu quả của "bẻ cong tia sáng" với vị trí 1 số sao lẽ ra khuất sau đĩa MT, nhưng khi nhật thực lại thấy chúng ló ra ở mép đĩa.
-Việc tia sáng đi gần bề mặt MT còn có thể bị khúc xạ do lớp khí loãng nóng quanh MT. Không chỉ MT mà bất kỳ ngôi sao nào cũng là các khối cầu khí, xunh quanh nó dĩ nhiên là khí loãng, và nó khúc xạ ánh sáng như bình thường theo nguyên lý thấu kính thông thường. Sự khúc xạ này ta luôn thấy khi bình minh và hoàng hôn, nó khiến MT có vẻ to hơn lúc trên đỉnh đầu và có sắc đỏ.
-Hiện tượng dịch chuyển đỏ của ánh sáng cũng chẳng liên quan gì đến TTĐ và hoàn toàn có cách giải thích khác không cần dùng đến giãn nở. Thậm chí thiên hà gần ta thứ 3 (~ 2 triệu năm AS) là Tinh vân Tiên nữ sẽ đâm vào ta trong hơn tỉ năm nữa, còn 2 đám tinh vân Magienlang thì sẽ sớm hơn thế.
-Hopking đã từ bỏ thuyết hố đen của ông, nhưng không nói lý do chỉ vì sợ làm sụp đổ TTĐ, hay người ta không cho ông nói chăng (ông tự hiểu điều đó)?
Khoa học về bản chất vẫn không thể tách khỏi các cuộc đấu tranh trong xã hội, đơn giản vì nó luôn phải phục vụ xã hội trước hết.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #36  
Cũ 19-06-2013, 03:27
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Khoa học thời đại bế tắc

Lý thuyết trò chơi, có ví dụ được lấy để giảng dạy là về 2 tù nhân. Có hệ quả rút ra từ đó: Khi tồi tệ đến thì tồi tệ nhất sẽ đến! Mấy bà buôn thúng bán bưng vỉa hè gặp cái tồi tệ là chỉ thị: đường thông hè thoáng! Các bà có nguy cơ gặp phải những anh trật tự đô thị hung hãn nhất.

Khoa học cơ bản đã có thời kỳ phát triển rực rỡ thế kỷ XVII-XVIII, và sau đó suy tàn. Cái tồi tệ ở đây là khoa học đã thối nát ngay từ thế kỷ XIX, trên cái nền đó Anhxtanh xuất hiện, là cái tồi tệ nhất cho khoa học.

Thập kỷ 1930, có 1 người Áo là Kurt Godel đưa ra định luật bất toàn. Theo đó: Bất kỳ một tập hữu hạn các tiên đề nào cũng là không đủ để mô tả cho mọi sự vật hiện tượng.

Một cách nói khác của Godel: Bất cứ một lý thuyết nào mà con người xây dựng nên, đều chỉ phản ảnh một tình huống nhất định của nhận thức. Nên phàm những gì càng to lớn vĩ đại, càng hay sai. Bên trong một tình huống, không thể hiểu hết mọi chuyện trong tình huống đó, chỉ khi đứng ngoài tình huống đó thì may ra mới đạt đến một bức tranh sâu rộng hơn để có thể nhận ra toàn bộ mối quan hệ tạo nên cấu trúc bên trong của nó. Nhận thức có hạn còn vũ trụ vô biên! Liệu có thể đứng ngoài vũ trụ để có thể có nhận thức đúng về nó? Nhận bừa vô biên thành cái có hạn, dẫn đến kiêu ngạo và ảo tưởng. Tưởng mình bao trùm cả vũ trụ, hóa ra chỉ cầm đầu một đám tín đồ cuồng tín khi biến mình thành giáo phái khoác áo khoa học.

Mẹ hát con khen hay có gì sai không? Bà mẹ dựa trên một tập các trải nghiệm của mình và đứa con. Nó dễ sai bởi trải nghiệm là hữu hạn và càng dễ sai với qui mô tổ dân phố, phường xã.

Việc các ông TS bầu ra một ông TS làm chủ trò trong cái hội các ông TS, ông ta không chắc có thể phán xử đúng trong nội bộ cái hội ấy. Và sẽ càng nguy cơ sai khi ông đi phán vũ trụ.

Rõ ràng để có được đúng đắn, cả bà mẹ và ông chủ hội cần thêm những điều kiện khác nữa, bên cạnh cái tập tiền đề là trải nghiệm.

Chúng ta có thể có ví dụ khác nữa: Kẻ ngoài cuộc sáng suốt hơn kẻ trong cuộc, hay các anh đi Tây về bao giờ cũng ngon hơn anh trong nước… Hay thậm chí là câu châm ngôn: Cho tôi biết người bạn thân của anh như thế nào, tôi sẽ cho anh biết anh là người như thế nào. Tất cả các điều đó có nghĩa là không bao giờ biết đầy đủ về chính mình, nếu không nhìn từ bên ngoài vào. Cũng có hệ quả khác: tranh cãi với các môn đệ giáo phái Anhxtanh là vô ích, khi họ không bao giờ đứng ngoài tầm ảnh hưởng của Anhxtanh.

Nền khoa học thế giới cũng không thể tránh được con đường thử và sai, càng sai càng thử. Chúng ta thấy, thử nghiệm nhật thực Anhxtanh được thử suốt cho đến tận 1979, chứ không phải chỉ có 2 cuộc 1919 và 1922. Thấy liên tục những trò chứng minh Anhxtanh, tốn kém tiền của, thì giờ, công sức. Cho đến nay, không có bất cứ thử nghiệm nào chứng minh nổi tương đối là đúng. Chúng ta thấy, người Mỹ liên tục cả chục lần bay lên mặt trăng, các du hành gia lên đó, lần nào cũng thế làm cùng 1 số việc, càng làm càng lộ ra là lừa đảo, trong khi chỉ cần bay 1 chuyến là đủ. Tất cả những việc đó dĩ nhiên có lý do khác nữa: tiền! Làm khoa học với động lực tiền rất nguy hiểm.

Cỗ máy Large Hadron Collider vừa qua, người ta không bao giờ công bố số liệu, chỉ tuyên: Ơ-rê-ka! Tìm ra rồi! Higg boson đây! Nếu có ai đó hỏi, họ bảo em thấy từ boson, bắn ra 4 electron về 4 hướng! Làm thế nào để 4 electron cân bằng năng lượng với 1 boson, chẳng ai thèm nói gì về bảo toàn?

Chưa yên với tốn kém chục tỷ $, có ngay phí tổn chục tỷ $ khác, mà lý do cũng tương tự: để em nhìn hạt vừa thấy cho rõ hơn!

Ở ta cũng tương tự như thế thôi: em cần ngàn tỷ đóng tàu nghiên cứu đại dương! Em cần 6 ngàn tỷ chữa cháy!

Những đồng tiền chi tiêu mà không có sản phẩm gây lạm phát, làm méo mó tất cả. Cũng chính từ hệ quả Bất toàn Kurt Godel, khi tập tiền đề càng kém, nguy cơ sai hỏng càng cao: Để phát triển kinh tế-xã hội, nếu chưa đủ dữ liệu để hoạch định mô hình, thì những dự án trăm ngàn tỷ dựa trên tư duy duy lý, khoa trương thành tầm cỡ quốc gia, qui mô vũ trụ đầy tiềm ẩn đổ vỡ mà Vinashin và Bô-xít là 2 ví dụ điển hình. Bởi người ta giấu biệt lý thuyết Bất toàn của ông Kurt Godel đi, nên không ai biết tại sao phải trả giá đắt do dự báo sai về tầm nhìn phát triển, không chỉ ta mà nhiều nước cũng thế, lại còn đổ lỗi lung tung. Tắc đường là do xe máy, hôm khác lại bảo tắc đường là do ô-tô. Hôm nữa hiên ngang đứng lên nói tất cả đi xe đạp sẽ hết tắc đường, còn ông nào chót có ô tô thì đi theo chẵn lẽ, thằng buôn xe đạp đang sắp chết cười như Liên Xô.

Kurt Godel chỉ ra giới hạn của khoa học từ 1930. Chúng ta đã với quá xa về cả 2 phía vĩ mô và vi mô. Sai rất nhiều và hỏng rất nhiều.

Vĩ mô thì như Anhxtanh, cuối đời ông mơ về lý thuyết thống nhất lớn (Grand Unified Theory), Hawking như kẻ kế thừa tuyên chỉ ít năm nữa khi nghiên cứu xong thuyết thống nhất lớn, nhân loại sẽ đi đến chỗ tận cùng, hoàn thành khoa học cuối cùng và không còn gì để làm nữa. Thì mới đây đã phải ngậm ngùi khâm phục Godel và nói rằng không thể bước qua Godel, ông đã mất lòng tin vào Grand Unified, không thể có Grand Unified Theory vì Godel đã quá đúng. Lỗ đen, bigbang, hay thậm chí sao neutron cấu tạo từ cái gì, có tồn tại hay không, chẳng ai có chút bằng chứng nào ngoài các tưởng tượng. Hay thậm chí ether có hay không vẫn còn đang tranh cãi chứ không hẳn đã hết.

Vi mô chúng ta có cơ học lượng tử, đã thấy cả thế giới khác mà tất cả đều rung rinh huyền ảo, bất định, đã giải quyết được một số vấn đề, đã biết rõ nguyên tử và hạt nhân. Nhưng ngoài ra thì hầu như chẳng còn gì. Chúng ta thậm chí không biết neutron dính với proton theo qui luật nào để thành hạt nhân, tại sao proton tồn tại tự do còn neutron thì không, chúng ta có mô hình hạ nguyên tử cấu tạo từ quark, nhưng chưa bao giờ thấy nó, thậm chí chưa không biết neutrino có tồn tại hay không ngoài những tuyên bố quá ít ỏi và rất đáng ngờ. Chúng ta có mô hình chuẩn nhưng thủng lỗ chỗ và đầy rẫy nghịch lý.

Tất cả những gì chúng ta có ngày nay, thời hiện đại là những nỗ lực tuyệt vọng của các nhà bác học và những tốn kém khổng lồ vô bổ chỉ để cho chứng tỏ: chúng em vẫn đang mò mẫm trong ngõ cụt đây!

Thế mà nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi nói từ tận đầu thế kỷ XIX: Khoa học đã bế tắc, mất phương hướng, và dĩ nhiên công lao đóng góp của Anhxtanh vào việc này không hề nhỏ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #37  
Cũ 30-06-2013, 01:04
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Khoa học cửa hậu - Наука с черного хода

Ở phương tây, do ít bị cấm đoán hơn nên nhiều phản đối Anhxtanh hơn. Có thể liệt kê 6 tác giả có những mổ xẻ phân tích rất thuyết phục. Trong đó, có 1 tác giả Nga và là người đề cập nhiều khía cạnh nhất.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Có một thuật ngữ thịnh hành trong giới học thuật Nga phản đối Anhxtanh: Khoa học cửa hậu! (Наука с черного хода). Có lẽ nó xuất phát từ một tập sách của nhà xuất bản St. Petersburg năm 1998. Chúng ta xem một số ý kiến trong đó.

Anhxtanh vĩ đại, người là tác giả duy nhất của học thuyết cách mạng mới, vậy nhưng các fan Anhxtanh lại lo lắng và bực bội với thực tế là ông ta chỉ tạo ra sự đảo lộn qui mô khoa học chưa từng có. Có 1 thực tế phũ phàng là cho đến tận ngày nay, 1 thế kỷ sau Anhxtanh, không có bất cứ ứng dụng nào của học thuyết Anhxtanh. Không có bất cứ ứng dụng nào cả! Người ta phóng vệ tinh bằng những phương trình và tính toán khác Anhxtanh, người ta có hệ thống GPS và GLONASS mà không cần Anhxtanh. Trái lại càng khi những công trình bộc lộ Anhxtanh vô dụng, các fan Anhxtanh càng rúc vào dưới váy người nhắm mắt bịt tai run cầm cập và tự an ủi với nhau Anhxtanh thật vĩ đại.

Tác giả bộ sách, S. G. Bernatosyan có ý tưởng và đặt tên cho tuyển tập sách bất thường về “những trí thức” gian lận và lừa đảo này xếp hạng Anhxtanh là kẻ ăn cắp khoa học với lý do chẳng có gì tốt đẹp: Nhiều trong các luận điểm nêu bởi nhà lý thuyết vật lý trẻ, đã được đưa ra bởi những người tiền nhiệm của anh ta (p. 159), và công trình không phù hợp với công lao của tượng đài Anhxtanh (p. 160-161).

Chúng ta đọc cuốn “Trộm cắp và lừa đảo trong khoa học” (tên tiếng Nga: Воровство и обман в науке) cuốn đầu tiên trong tuyển tập lớn “Khoa học cửa hậu” (Наука с черного хода) của nhà xuất bản St. Petersburg, 1998. Sẽ hết mọi ngờ vực không mấy dễ chịu về khái niệm tương đối bao trùm trong cuốn sách và nêu ra câu trả lời thú ví cho câu hỏi: ”Các vị có biết không... Thuyết tương đối không thuộc về Anhxtanh?”
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #38  
Cũ 01-07-2013, 01:45
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Khoa học cửa hậu - Наука с черного хода

N. Mikhailov viết trong “Техника и наука”, № 3/83”: “Anhxtanh là như thế nào với Anhxtanh”, theo cách của mình tìm câu trả lời cho “cửa hậu” – Vấn đề chủ chốt để hiểu về quá trình này bị che dấu ở thực tế là khi ông ta hoạt động ở độ tuổi 23-30. Bảy năm làm việc ở văn phòng sáng chế Bern đã định hình quan điểm của mình về khoa học. “Ở đó đã rèn luyện nên đặc điểm của Anhxtanh – thường xuyên và nhanh chóng tiếp xúc với những vấn đề khoa học nhạy cảm và kỹ năng tiếp cận vấn đề khoa học.”

Đặc điểm là các công trình khoa học lớn trong những năm này được thực hiện chỉ dựa trên hiểu biết ông ta có được từ các nghiên cứu có chứng nhận phát minh sáng chế. Mikhailov giải thích: Làm việc ở văn phòng sáng chế là nơi mà các ý tưởng đi qua. Các đơn đăng ký phát minh là “nguyên liệu thô”, những kết quả lao động trí óc chưa đến độ chín, Anhxtanh có thể nhanh chóng nắm bắt được vấn đề, truy cập vào “sản phẩm” và định hướng ra con đường ngắn nhất đến kết quả. Bắt được các ý tưởng đã công bố một cách rõ nét, toàn bộ… Anhxtanh cuối cùng trở thành thời đại.

Trong 1 lần phỏng vấn, khi được hỏi: Ông nghĩ có cái gì khác nhau giữa ông và những người khác? Anhxtanh trả lời: “Nếu mọi người tìm cái kim trong đống cỏ, phần lớn họ sẽ dừng tìm kiếm ngay khi thấy nó. Tôi làm khác. Tôi sẽ tiếp tục tìm kiếm và nhanh chóng thấy cái thứ 2, thứ 3. Và nếu tôi rất kiên trì, thì có thể tìm thấy cái thứ 4, 5…”

Ông ta nói bằng giọng đơn giản, và người ta tưởng “thiên tài” vẫn đang nghiên cứu khoa học! Và ông ta đọc bằng giọng đơn giản…

Hai lý thuyết tương đối của Anhxtanh, rộng và hẹp không hề có bất kỳ ứng dụng thực tế nào! Bất chấp điều đó, chúng vẫn được tán tụng thiên tài và vĩ đại. Kể từ khi ra đời đến nay, đã bao nhiêu tiền bạc, thì giờ và công sức để chứng minh giả lý thuyết là đúng đắn. Nhưng quan trọng hơn, nó như chiếm ngự như khái niệm Vật lý lớn, hay Ong chúa, hay Mô hình mạnh đã nêu trong loạt bài của Richard Moody.

Thậm chí, người ta quên luôn cả những nhà khoa học, đã có những đóng góp vô cùng lớn và những công trình của họ đang có ứng dụng hàng ngày. Thí dụ, Nicolas Tesla hay M. O. Dolivo-Dobrovolsky, cả 2 đều là về điện xoay chiều 3 pha, biến áp và truyền tải. Thử hình dung ngày nay không có điện xoay chiều 3 pha?

Càng ngày càng có nhiều thứ lộ ra Anhxtanh đã hoang đường. Mỗi lúc như thế, các tín đồ giáo phái Anhxtanh lại núp dưới váy thánh, chờ sóng yên biển lặng rồi lại xông ra sủa Vạn tuế! Vạn vạn tuế! Khi hệ thống định vị toàn cầu GPS và Glonass ra đời là lúc như vậy. Đợi người ta quên, chúng sủa GPS chứng minh Anhxtanh!

GPS nào chứng minh Anhxtanh? Thậm chí trong các yếu tố gây ra sai số GPS, có một thứ mà nói ra là các tín đồ Anhxtanh trốn mất dạng: Ánh sáng đi cong! Nó bị cong bởi không khí như thấu kính, bởi lớp trên khí quyển là plasma loãng. Và điều đó làm cho GPS sai số. Thế mà nhật thực của quí ông Eddington, chưa kể ông ta đã xào nấu dữ liệu, đo thấy ánh sáng các vì sao, đi sát rìa mặt trời, xuyên qua lớp khí quyển đặc plasma, bị bẻ cong là chứng minh ánh sáng cong do hấp dẫn Anhxtanh!

Thực sự, bạn sẽ rất khó tìm thấy sai số ánh sáng cong trong GPS. Nó chìm lấp trong hàng đống những ngôn từ rối rắm phức tạp, đánh lừa người đọc kiểu bác học Mỹ! Nhưng có 1 thực tế, chiến tranh Nam tư, Iraq, các vũ khí ứng dụng GPS của Mỹ, gọi là vũ khí độ chính xác cao, toàn đánh về đêm. Chúng cần đánh về đêm để đạt được độ chính xác, ban đêm sẽ ít nhiễu hơn, ánh nắng mặt trời không còn, lớp plasma loãng sẽ mỏng hơn, không khí không bị hun nóng bốc lên gây nhiễu loạn…

Và cũng thực sự, GPS và Glonass bác bỏ thuyết tương đối, nhất là tương đối hẹp. Nếu theo tương đối Anhxtanh, chẳng có hệ thống định vị vệ tinh nào hoạt động nổi. Các con quay hồi chuyển la-de 3D dùng để định vị vệ tinh xung đột nặng với tương đối hẹp. Hệ thống định vị cần đồng bộ các đồng hồ nguyên tử trên vệ tinh. Người ta phát sóng điều khiển đồng bộ từ mặt đất, còn tính toán thì theo hiệu ứng Sagnac hoặc những lý thuyết khác chính xác hơn rất nhiều, những thứ khác ấy bị Vật lý lớn đè bẹp, nhưng lại có ứng dụng.

Nhưng đúng là vật lý và vũ trụ có một số hiện tượng, không thể giải thích được theo cách hiểu thông thường, như hiệu ứng Sagnac chẳng hạn. Những hiện tượng đó bị Anhxtanh vo viên và xào xáo trong thuyết tương đối. Gã đầu bếp tồi tệ đã trình bày một món ăn hổ lốn, ghê tởm đến độ media DT có xức nước hoa vào thì những kẻ biết đến qui trình chế biến cũng đều bịt mũi chạy sạch. Thậm chí người ta quay sang giải thích những hiện tượng đó hoàn toàn bằng cơ học cổ điển. Mà lại giải thích thành công. Chúng ta có ví dụ kinh điển: Cực cận sao Thủy (bài #23), hoàn toàn có thể tính toán theo Newton mở rộng đạt chính xác hơn nhiều.

Nhưng bọn chúng nói, Anhxtanh ra đời đã đưa Newton xuống mồ! Hai ông Leonid Davidovich và Stanislav Davidovich tin rằng, những hiện tượng tự nhiên đã biết không thể giải quyết được bằng thuyết tương đối và nhấn mạnh, họ tin rằng tín đồ Anhxtanh đã tấn công Newton bằng quan điểm vô nguyên tắc và thiếu hiểu biết những luận điểm cơ sở của cơ học cổ điển và nguyên lý tương đối được đặt nền móng từ Galile. Không thiếu những ứng dụng của Newton trong khoa học kỹ thuật và đời sống hàng ngày ngày nay. Nó giản dị như chính Newton vậy.

Những ai quan tâm có thể đọc cuốn sách lạ thường : “Воровство и обман в науке” ở đây.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #39  
Cũ 01-07-2013, 11:41
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Khoa học đáng ngờ!

Thực sự, cơ học cổ điển là một chương quan trọng và cơ bản của vật lý. Chưa có ai nghiêm túc có ý định bỏ nó. Ông tổ của ngành hàng không Nga, N. E. Zhukovsky từng nói: “Thật đáng ngờ công trình của Anhxtanh lại là quan trọng… và các vấn đề của lý thuyết điện từ đã được giải quyết dựa trên cơ học cổ điển.”

Còn Konstantin Tsiolkovsky (1857-1935), ông tổ ngành vũ trụ Nga nhấn mạnh: "Tôi thấy chẳng có gì hổ thẹn để bỏ cơ học Newton”. Ông phủ nhận “không gian 4 chiều” vì nó là “ngu xuẩn vật lý” và nó chẳng thêm được gì vào kho tàng kiến thức của chúng ta. Ông nói: “Tôi rất buồn vì các nhà khoa học bị mê hoặc vào thứ lý thuyết thật nguy hiểm, như Anhxtanh” (Исследования по истории механики. М., 1981, с.58-70). Tư tưởng của Tsiolkovsky là trùng hợp theo một số cách nào đó với ông P. Spolter thời nay. Spolter cho rằng: Suy luận của Anhxtanh về không thời gian 4 chiều là kết quả của định lý hóa tự biện và triết lý tục tĩu! Không đếm xỉa đến thực tế đã biết mà một lý thuyết phải đề cập (P.Spolter. Gravitational Force of the Sun 4 , 1993).

Spolter nêu rõ đặc điểm của thuyết tương đối hẹp là một thứ “khoa học giả tưởng” và cũng là ngụy khoa học. Theo những gì người ta quan sát được, càng ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu thấy “thuyết tương đối hẹp đã sai lầm từ tận nền móng của nó” (“Наука и жизнь”, №3/90, с.121). Nó chỉ để trình diễn mà không giải quyết được vấn đề. Còn thuyết tương đối rộng, mang tiếng là tổng quát cho toàn vũ trụ, thì lại khuyết tật đến tận cùng, với nhiều hệ lụy kéo theo nó (А. А. Денисов. Мифы теории относительности, Вильнюс, 1989). Những lý thuyết này đơn giản chẳng đáng là thế giới vật lý thực, chúng đánh mất tất cả những gì liên quan đến thực tế và, theo con đường phát triển của toán học trìu tượng, đã tích lũy đầy trái nghịch và không được thực nghiệm xác nhận (В. А. Ацюковский. Материализм и релятивизм. М., 1993, с.143).

Viện sĩ A. Logunov đã từng phải bỏ công sức để hệ thống hóa những cơ sở ngu ngốc của thuyết tương đối rộng. Gồm cả tiên đoán ngớ ngẩn kỳ quái “lỗ đen”. Chẳng có lỗ đen nào nơi vật chất bị nén đến độ đậm đặc, và về nguyên tắc là không thể. Như thế đã loại trừ “khủng hoảng lớn nhất mọi thời đại trong vật lý cơ bản”. Ông Logunov khẳng định: vật lý không được phép theo những tiên đoán như thế, bởi như vậy là thừa nhận “vạn vật tự nó”.

Logunov nói thuyết tương đối rộng chứa lắm sự mơ hồ hơn là tin cậy, “lý thuyết mà không có định luật bảo toàn thì không thể đầy đủ”. Mô tả trong thuyết tương đối rộng, trường vật lý mà có thể bị hủy hoại bởi xảo thuật toán học – đơn giản thay thế các biến… đã là gì đó xằng bậy! Ngay cả cái tên của lý thuyết đã phản ánh sự lẫn lộn rất lớn – bởi trong thuyết tương đối rộng, tính tương đối lại ít rõ nghĩa hơn trong thuyết tương đối hẹp (“Наука и жизнь”, № 2-3/87, “Техника - молодежи”, № 10/86). Và thực ra, tương đối rộng phải gọi là thuyết tuyệt đối mới đúng, theo ý tưởng bao trùm toàn vũ trụ.

Như sau này cho thấy, số phận của viện sĩ Logunov cũng chẳng ra sao, một nạn nhân khác của chủ nghĩa Anhxtanh.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #40  
Cũ 01-07-2013, 11:48
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Khoa học đáng ngờ!

Nicolas Tesla, nhà vật lý để đời những phát minh quan trọng, trong một lần trả lời một tay phóng viên ông nghĩ thế nào về thuyết tương đối nói: “Đọc cái lý thuyết vật lý này chỉ có những kẻ ngây ngô” ((“Молодая гвардия”, № 8/95). Một nhà nghiên cứu Nga nổi tiếng trong lĩnh vực quân sự, ông A. A. Denisov cho rằng: thực sự, nhiều thứ to tát chết người trong tương đối chỉ là những tiên đoán toán học có tính hình thức. “Thuyết tương đối tự dẫn mình đến ngõ cụt, tạo ra hệ thống hoang đường vật lý móc xích với nhau, mà đôi khi người ta hoàn toàn chấp nhận trong mô hình tính toán mô phỏng, trông bề ngoài có vẻ hợp lý, nhưng lại lật nhào thực tế khách quan từ đầu đến cuối.”

Thực tế, trong những trường hợp thử nghiệm cả 2 lý thuyết, người ta thường phải đối mặt với ý nghĩ thèm muốn rõ ràng có xu hướng can thiệp trực tiếp vào các yếu tố (Ацюковский, с.55). Ví dụ về điều đó có rất nhiều, khuynh hướng cực đoan khó ưa của các nhà khoa học là tìm cách chứng minh Anhxtanh bằng mọi phương tiện và mọi giá có thể. Điều đó được phân tích kỹ trong cuốn sách của V. A. Atsyukovsky có tên “Những cơ sở logic và thực nghiệm của thuyết tương đối (Логические и экспериментальные основы теории относительности - М., 1990).

Có thể lấy ví dụ thực nghiệm nhật thực 1919 của Richard Moody. Cuộc thử nghiệm xào số liệu này bị phản đối ngay từ đầu. Từ sách của ông Pays chúng ta biết thêm về 1 người khác ngang bướng nhưng thông minh và phản đối thuyết tương đối, đó là Ludwik Silberstein. Trong thảo luận, Silberstein nói: trong khi không có cơ sở đầy đủ để khẳng định rằng tia sáng bị bẻ cong, sự tồn tại của những gì mà tôi thừa nhận, là gây ra bởi hấp dẫn! Ông chỉ vào bức chân dung Newton treo trên sảnh kêu lên: “Ký ức về con người vĩ đại này khiến chúng ta phải rất thận trọng trước những gì liên quan đến mưu toan sửa đổi hay xem xét lại toàn bộ qui luật hấp dẫn” (Брусины. Иллюзия Эйнштейна, с.56). Hóa ra, chứng minh Anhxtanh bằng nhật thực, lại vô tình chứng tỏ sự đúng đắn của cơ học cổ điển Newton (М.Гарднер. Теория относительности для миллионов. М., 1964 с.117).

Ether! Môi trường trung gian để truyền ánh sáng là nỗi bí bức, cơn khủng hoảng khoa học của thời 1900. Vì sao sáng lòa trên trời đã ra đời để giải quyết bế tắc khoa học! Niềm vui hân hoan vỡ òa trên gương mặt các nhà bác học. À ra thế!

Ra thế nào? Tương đối hẹp không tương thích với ý tưởng ether tồn tại, tương đối rộng lại không tương thích với ý ether không tồn tại. Hai lý thuyết vĩ đại của cùng 1 tác giả, cùng 1 giáo lý, tương đối rộng là kế thừa mở rộng của tương đối hẹp nhưng 2 thứ tự mâu thuẫn với nhau và không chỉ ở ether (Ацюковский, с.30).

Để tổng kết. Học thuyết tương đối Anhxtanh đã hỏng ngay từ cốt lõi, chúng không giải thích được các qui luật tự nhiên, không cần cho các kỹ thuật ứng dụng hay khoa học, kể cả vật lý và khoa học cơ bản. Tất cả vô số những “xác nhận” những “chứng minh” Anhxtanh – là hậu quả của sai lầm hoặc xuyên tạc, bộc lộ sự thèm muốn thật sự và là suy đoán ngụy khoa học, tiên tri hoang tưởng “thiên tài” siêu vật lý.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
ĐẤT VỠ HOANG 1959 - Поднятая целина - No sub Dzũng mèo Điện ảnh - Truyền hình 8 31-05-2014 21:24
Các tác phẩm của M. Sholokhov - Đất vỡ hoang và Sông Đông êm đềm vasily Văn học 31 13-09-2012 22:23
Chó hoang Đin-gô weekdaysman Văn học 57 11-06-2009 10:07


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 04:29.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.