Trở về   Nước Nga trong tôi > Chiến tranh giữ nước vĩ đại > Vũ khí của Hồng Quân

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #21  
Cũ 13-02-2012, 14:49
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Nga tiết lộ về loại súng trường tấn công Kalashnikov thế hệ thứ năm

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Hãng sản xuất vũ khí JSC Izhmash lớn nhất của Nga, đã chính thức tiết lộ loại súng trường tấn công Kalashnikov thế hệ thứ năm của mình. Loại súng trường mới này được gọi theo mã số là AK-12. Các công đoạn lắp ráp và phát triển loại vũ khí mới này được triển khai bởi tổng công trình sư Vladimir Zlobin của hãng Izhmash, dự án vốn đã được hoàn tất vào năm 2011. Hiện nay các chuyên gia đang tiến hành bắn thử nghiệm loại AK-12, phòng thông tin báo chí của hãng cho biết như vậy vào hôm thứ tư vừa qua.

Bộ nội vụ Nga đã từng có yêu cầu đưa loại AK-12 này vào khai thác thử nghiệm. Izhmash cũng đã chuẩn bị chuyển giao loại vũ khí mới này cho quân đội Nga, theo Interfax đưa tin.


Các cơ quan thông tấn báo chí của Nga vào hôm thứ tư tuần trước, cũng đồng loạt đưa tin rằng, bộ quốc phòng Nga chưa có bất kỳ một kế hoạch mua vũ khí nào của Izhmash trong phạm vi quốc phòng năm 2012. Bộ này còn cho biết thêm, những thông điệp về loại súng trường Kalashnikov mới này là chưa đúng với thực tế.

Phòng thông tin báo chí của hãng Izhmash cho biết: "Loại AK-12 này hiện đang được phát triển nhằm mục đích xuất khẩu. Tuy nhiên, nó cũng đáp ứng được với các yêu cầu của bộ quốc phòng Nga, những yêu cầu thiết yếu mà bộ này cần có để trang bị cho binh sĩ của quân đội Nga. Nếu có đơn đặt hàng, hãng sẽ sẵn sàng chuẩn bị và cung cấp AK-12 cho các lực lượng vũ trang và những đơn vị đặc nhiệm của Nga".


Các giai đoạn thử nghiệm loại súng trường mới này có thể được bắt đầu tiến hành vào cuối năm 2012 và đầu năm 2013. Các quan chức của hãng nói: "Sự phát triển dòng súng trường tự động thế hệ mới là một nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu của hãng".

Trong thời gian này, hãng Izhmash đang tiến hành thử nghiệm AK-12 tại cơ sở riêng của mình. Cấu trúc và sự tối ưu hóa của dòng súng trường này sẽ được thay đổi theo từng kết quả của các cuộc thử nghiệm. Ông Vladimir Zlobin, người thiết kế AK-12 cho biết: "Chúng tôi sẽ phải tiến hành rất nhiều cuộc tham khảo với các chuyên gia giỏi có quan tâm đến lĩnh vực phát triển súng trường tấn công tiên tiến, hiệu lực và đáng tin cậy của Nga.

Phó thủ tướng Dmitry Rogozin là một quan chức đầu tiên của Nga đã công nhận loại AK-12. Các nhà thiết kế đã quyết định cải tiến các tham số trên loại súng trường mới này. Họ đã cải tiến loại vũ khí này cho thích nghi với các điều kiện chiến tranh hiện đại, nhưng vẫn duy trì được các tính năng độc đáo vốn có của dòng súng trường Kalashnikov: Đơn giản, đáng tin cậy và giá cả tương đối thấp. AK-12 có hình dáng kinh điển, với cấu tạo đơn giản kèm thêm một bộ phận để làm tăng cường hỏa lực và mang được nhiều đạn hơn trong ổ chứa. Loại súng trường mới này được thiết kế dựa trên một nền tảng căn bản sau khi đã tuyển lựa gần 20 mẫu biến cải khác nhau của các loại súng dân dụng và quân dụng. Đầu đạn được sử dụng cho loại AK-12 có các loại từ 5,45х39 đến 7,62х51 mm.

Các nhà thiết kế đã làm nâng cao khả năng sử dụng của loại súng trường mới. Các bộ phận kiểm soát súng (khóa, bộ điều chỉnh chế độ bắn, thanh nạp đạn, chốt lên đạn) sẽ được lắp đặt ở một bên cho người sử dụng chỉ cần cầm một tay cũng có thể điều chỉnh được.

Một giá đỡ cũng được lắp thêm cho AK-12. Khi sử dụng giá súng này để nâng thêm những bộ phận được trang bị thêm như: Kính ngắm quang học, kính ngắm chuẩn trực và ban đêm, ống phóng lựu, đèn chiếu, bộ dẫn mục tiêu và các thiết bị khác. Các bộ phận được lắp trên súng cho phép sử dụng súng có hiệu quả trong bất kỳ thời gian nào trong ngày.

Loại súng trường mới này còn có thêm một báng gấp, và gót chỉnh độ cao. Tay lên đạn của AK-12 có thể đặt được cả bên trái lẫn bên phải, sự cải tiến này có thể dễ dàng cho người sử dụng thuận tay trái hoặc tay phải.

Dòng AK -12 mới bao gồm ba chế độ bắn: Bắn viên một, bắn ba viên một và bắn tự động. Hiện nay các chuyên gia đang thiết kế ổ đạn mới để có khả năng chứa được 95 viên.

Để tăng cường hiệu lực khi ở chế độ bắn viên một, AK-12 được trang bị thêm một thước ngắm cơ có độ ngắm rộng hơn. AK-12 còn được kết hợp cả công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực vật liệu và bọc lót bên ngoài. Hơn 10 giải pháp công nghệ sẽ được áp dụng và sáng chế khi chế tạo loại súng mới này.


Theo Pravda
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
baodung (13-02-2012), eurasia2010 (15-02-2012), hungmgmi (13-02-2012), Nhật Minh (14-02-2012)
  #22  
Cũ 30-03-2012, 14:53
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Trang Lenta.ru hôm nay cho biết tập đoàn "Ижмаш" đã sẵn sàng chuyển giao bản quyền sản xuất súng AK cho Ấn Độ, điều mà họ đã tiến hành trước đây với Venezuela. Venezuela đã bắt đầu sản xuất súng AK từ giữa tháng Sáu năm 2010.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #23  
Cũ 05-07-2012, 15:43
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Cóp-py bài này từ vtc.vn:
http://vtc.vn/311-339542/quoc-te/ak-...on-65-tuoi.htm
AK 47 - Súng trường huyền thoại sắp tròn 65 tuổi

(VTC News) - Dự kiến ngày 7/7 tới nước Nga sẽ tổ chức một lễ kỉ niệm hoành tráng nhân dịp súng trường huyền thoại AK tròn 65 tuổi kể từ khi được thai nghén.

AK-47 được thiết kế bởi Mikhail Timofeevich Kalashnikov, một tổng công trình sư thiết kế vũ khí của Nga, tên súng là viết tắt của "Avtomat Kalashnikova mẫu năm 1947", đây là loại súng trường thông dụng nhất trong thế kỉ trước.

Sau khi ra đời lần đầu năm 1947, dòng súng trường AK đã được hưởng ứng nhiệt liệt. Nổi tiếng về độ chính xác và thiết kế cổ điển, AK được xem là dòng súng trường hạng nhất trên thế giới.

Từ phiên bản đầu tiên năm 1947, AK đã có nhiều thay đổi trong thiết kế và cải tiến ở các phiên bản sau như AK-74, AK-101, AK-103 để có thể sử dụng loại đạn có kích thước 5.45mm thay thế cho cỡ đạn nguyên bản là 7.62mm.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Cha đẻ Mikhail Timofeevich Kalashnikov và đứa con huyền thoại của mình

Ngoài ra, một số phiên bản AK xuất khẩu còn được thiết kế để bắn loại đạn tiêu chuẩn của NATO với kích thước 5.56mm.

Theo tính toán của các chuyên gia vũ khí Nga, tính đến năm 2001 đã có khoảng 80 triệu khẩu súng AK các loại được sản suất, đứng đầu về số lượng của các loại súng trên toàn thế giới. Đứng thứ 2 trong danh sách là M16 của Mỹ với 7,5 triệu khẩu.

Tuy nhiên, các loai súng tiếp theo trong danh sách lại chỉ có số lượng bằng khoảng 1/10 AK và M16, tiêu biểu là AUG của Australia, xếp vị trí thứ 3 với nửa triệu khẩu đã được sản xuất.
Sau 65 năm kể từ ngày được thiết kế và chính thức đưa vào sử dụng năm 1949, đến nay AK 47 nói riêng và dòng AK nói chung đã trở thành biểu tượng trong nhiều lực lượng vũ trang trên thế giới.

Hiện tại có hơn 60 quốc gia chọn AK là vũ khí cá nhân tiêu chuẩn cho các binh sĩ trong quân đội, ngoài ra nó còn sử dụng rộng rãi và là con cưng của nhiều lực lượng nổi dậy và khủng bố trên thế giới.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #24  
Cũ 05-07-2012, 16:05
baodung baodung is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2010
Bài viết: 978
Cảm ơn: 3,220
Được cảm ơn 1,105 lần trong 518 bài đăng
Default

Trích:
hungmgmi viết Xem bài viết
Cóp-py bài này từ vtc.vn:
http://vtc.vn/311-339542/quoc-te/ak-...on-65-tuoi.htm
AK 47 - Súng trường huyền thoại sắp tròn 65 tuổi

(VTC News) - Dự kiến ngày 7/7 tới nước Nga sẽ tổ chức một lễ kỉ niệm hoành tráng nhân dịp súng trường huyền thoại AK tròn 65 tuổi kể từ khi được thai nghén.

AK-47 được thiết kế bởi Mikhail Timofeevich Kalashnikov, một tổng công trình sư thiết kế vũ khí của Nga, tên súng là viết tắt của "Avtomat Kalashnikova mẫu năm 1947", đây là loại súng trường thông dụng nhất trong thế kỉ trước.

Sau khi ra đời lần đầu năm 1947, dòng súng trường AK đã được hưởng ứng nhiệt liệt. Nổi tiếng về độ chính xác và thiết kế cổ điển, AK được xem là dòng súng trường hạng nhất trên thế giới.

Từ phiên bản đầu tiên năm 1947, AK đã có nhiều thay đổi trong thiết kế và cải tiến ở các phiên bản sau như AK-74, AK-101, AK-103 để có thể sử dụng loại đạn có kích thước 5.45mm thay thế cho cỡ đạn nguyên bản là 7.62mm.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Cha đẻ Mikhail Timofeevich Kalashnikov và đứa con huyền thoại của mình

Ngoài ra, một số phiên bản AK xuất khẩu còn được thiết kế để bắn loại đạn tiêu chuẩn của NATO với kích thước 5.56mm.

Theo tính toán của các chuyên gia vũ khí Nga, tính đến năm 2001 đã có khoảng 80 triệu khẩu súng AK các loại được sản suất, đứng đầu về số lượng của các loại súng trên toàn thế giới. Đứng thứ 2 trong danh sách là M16 của Mỹ với 7,5 triệu khẩu.

Tuy nhiên, các loai súng tiếp theo trong danh sách lại chỉ có số lượng bằng khoảng 1/10 AK và M16, tiêu biểu là AUG của Australia, xếp vị trí thứ 3 với nửa triệu khẩu đã được sản xuất.
Sau 65 năm kể từ ngày được thiết kế và chính thức đưa vào sử dụng năm 1949, đến nay AK 47 nói riêng và dòng AK nói chung đã trở thành biểu tượng trong nhiều lực lượng vũ trang trên thế giới.

Hiện tại có hơn 60 quốc gia chọn AK là vũ khí cá nhân tiêu chuẩn cho các binh sĩ trong quân đội, ngoài ra nó còn sử dụng rộng rãi và là con cưng của nhiều lực lượng nổi dậy và khủng bố trên thế giới.
Trong ảnh "ông bố" mới chỉ đeo quân hàm Thiếu tướng, còn bây giờ đã là Thượng tướng rồi nhé!
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #25  
Cũ 22-07-2012, 09:48
Cartograph's Avatar
Cartograph Cartograph is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,557
Cảm ơn: 7,075
Được cảm ơn 5,422 lần trong 1,225 bài đăng
Default

Họa sĩ người Anh Damien Hirst sẽ tạo tác phẩm nghệ thuật từ khẩu AK.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Gim cà cà vạt hình khẩu AK.

Theo BBC News(Thứ Năm, 12 tháng 7) đưa tin: Họa sĩ người Anh Damien Hirst sẽ làm các tác phẩm nghệ thuật từ những khẩu súng AK Kalashnikov. Cụ thể tác phẩm của Hirst như thế nào, thì vẫn còn chưa rõ.
Các tác phẩm của Hirst sẽ được trưng bày tại triển lãm kỷ niệm Ngày Hòa bình Quốc tế, tổ chức vào ngày 21 tháng 9. Triển lãm này là ý tưởng của nhiếp ảnh gia Simondson Bran (Bran Symondson), người đã từng phục vụ tại Afghanistan. Các nghệ sĩ sẽ tạo ra các tác phẩm nghệ thuật từ các loại súng đã bỏ đi, và vũ khí này –theo ý tưởng của nhà tổ chức triển lãm- cần phải được biểu thị như là một "vũ khí hòa bình" chứ không phải là chiến tranh.

Ngoài các tác phẩm của họa sĩ Hirst còn giới thiệu tác phẩm của 22 họa sĩ khác. Triển lãm sẽ được tổ chức từ ngày 25 đến ngày 30 tháng 9 tại trung tâm văn hóa của Viện ghệ thuật đương đại ở thủ đô Luân Đôn. Để kỷ niệm sự kiện Ngày Hòa bình Thế giới, ngoài triển lãm nêu trên còn có buỏi hòa nhạc tại sân vận động Wembley, có sự tham gia của Elton John và James Morrison.

AK-47 do kỹ sư Liên Xô Mikhail Kalashnikov thiết kế vào năm 1947, năm 1949 đã được quân đội Xô Viết đưa vào trang bị. Sau đó, dòng vũ khí Kalashnikov đã được phổ biến rộng trên khắp thế giới.

Damien Hirst là một trong những họa sĩ đương đại đắt giá nhất. Ông nổi tiếng bởi những tác phẩm khiêu khích của mình. Một trong những tác phẩm điển hình nhất là một mô hình đầu lâu khảm kim cương " Nhân danh tình yêu với Chúa Trời".(được bán với giá 123 triệu USD)

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Tác phẩm của Damien Hirst
__________________
Tình yêu Vĩnh hằng.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (22-07-2012)
  #26  
Cũ 28-07-2012, 03:09
Polyushko Pole's Avatar
Polyushko Pole Polyushko Pole is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Nov 2011
Bài viết: 91
Cảm ơn: 164
Được cảm ơn 57 lần trong 33 bài đăng
Default


Họ hàng khẩu AK - từ những bản chỉ có trên giấy tới những bản sản xuất đại trà
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
  #27  
Cũ 19-01-2013, 15:04
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Toàn tin động trời, số liệu đâu ra thế.
Ỏa Afghanistan vũ khí Tầu còn ít lắm, vẫn chủ yếu là vũ khí Liên Xô thôi đồng chí lên cơn dại ạ. Liên Xô cũng chỉ rút về vì tình hình sắp 1991, thua cái gì. Thật ra, Liên Xô hoàn thành nhiệm vụ hơn 10 lần toàn bộ NATO ngày nay, chỉ còn một vùng đất nằm lọt thỏm trong Pakistan là không có cách nào tấn công được, chỉ ném bom kiềm chế. Máy bay phải bay qua Pakistan và được lệnh nếu gặp F-16 của Pakistan thì chỉ được chạy không đánh trả. Vì cái thung lũng đó là nmày nay các đồng chí vẫn bôi dầu ăn tự sướng là Liên Xô thua.

Nghe hơi nồi chõ kiểu như mấy thằng cựu binh đảo ngũ Cam sợ vl chiến trường ra, kể M79 không có rãnh xoắn hay M79 có cái hệ thống phóng kinh lắm, thật ra đó là buồng đốt cao áp của cối thế kỷ 17 đã bỏ từ thế kỷ 18.

RPG Tầu tốt hơn ta vì ta hồi ở Cam cho đến 1979 hầu như chỉ toàn B40, lấy đâu ra B41. Cho đến 1989 đình chiến cũng chỉ có 3 sư biên chế đủ B41, còn đâu toàn B40. Còn cái B63 Tầu bắn đạn B40 trên súng B41 nhái thì hay hơn B41 ở chỗ nào mà khoe khoang.

Có mấy cái rác rưởi thì giấu đi, đừng có đen rác da dạy khôn thiên hạ.

Trích:
Liensovsky viết Xem bài viết
AK 47 và RPG của Tàu trang bị cho quân Taliban ở Afganistan đã đánh bại Quân đội Xô viết , tiêu diệt 15.000 người làm bị thương 80.000 người khác. Tuy là hàng nhái nhưng không thể coi thường vì theo một số người từng sử dụng, nó còn có đặc tính tốt hơn hàng chính hãng.
Xe KAMAZ của Tàu cũng vậy, luôn tốt hơn xe Tatarstan chính hãng.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #28  
Cũ 19-01-2013, 17:43
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Tên gọi phân loại
AK là súng trường xung phong, assault rifle, không phải tiểu liên sub machine gun SMG. Trong tiếng Nga, tên chính thức ban đầu của AK là cạc bin ( карабин ) liên thanh, cạc bin là súng trường ngắn gọn. Từ AK (Автомат Калашникова) được đặt khi biên chế, avtomat ( автомат) nghĩa là tự động, chung với các súng ngắn liên thanh (SMG) khác như PPSh. Nhưng nhanh chóng sau đó người ta đã dùng lai từ súng trường, chia súng ngăn liên thanh ra thành nhóm khác. Bên Liên Xô, súng ngắn liên thanh là PP пистолет-пулемёт Шпагина). Súng trường xung phong là штурмовые винтовки, thường dùng tên riêng (AK, ka-las...) hay từ súng trường винтовкa.

Trong tiếng Nga, avtomat chỉ súng liên thanh cầm tay, bao gồm cả súng ngắn liên thanh và súng trường liên thanh. Từ này là một từ lịch sử từ Fedorov Avtomat, thường để chỉ các súng liên thanh cầm tay. Tuy nhiên, khoa học quân sự phát triển, avtomat chia ra súng ngắn liên thanh và súng trường liên thanh. Như trên. Hiện nay ngôn ngữ thường AK là súng trường vì nó là súng trường phổ thông, các súng Mosin cũng là súng trường vì nó đã từng là súng trường phổ thông. Còn bọn SVT, SVD, Mosin M44 (K44), Mosin bắn tỉa M30 (Trường Hung).... thì gọi là bắn tỉa, mặc dù cũng là hạng như Mosin, nhưng ở thời của chúng thì chúng không là súng trường phổ thông.



Ra đời
AK được thiết kế tập thể, thắng là vươn lên lãnh đạo thiết kế là Mikhail Timofeyevich Kalashnikov , Михаи́л Тимофе́евич Кала́шников (dòng này copy để lấy dấu trọng âm nhưng nó đánh sai), sinh ngày 10-10-1919. AK được chấp nhận trong biên chế năm 1949. Nhưng đến khoảng năm 1959-1960 AK mới trở thành súng trường chủ lực của quân Liên Xô. Cùng đợt 1959 có các thành phần khác của bộ binh Liên Xô: B41 RPG-7, BMP-1 (xe chiến đấu bộ binh), RPK (trung liên, súng máy cá nhân, cùng tác giả AK) và PK ( đại liên, súng máy toàn năng, cùng tác giả AK). Trong giai đoạn 1949-1959 thì các súng trường cá nhân đa phần vẫn là SKS (Việt nam hay gọi là xê ca xê Sudaev) và trung liên RPD (Degtiarev).

Năm 1949, Kalashnikov thắng thầu đợt thi đua phát triển súng lớn nhất thế giới đến nay dưới sự lãnh đạo của Viện Sỹ Hàn Lâm Fyodorov, bắt đầu từ năm 1943. Kalashnikov nhận thầu tổ chức sản xuất , tiếp quản nhà máy Izhevsk Machinebuilding Plant, Izhmash, tổ chức sản xuất và phát triển súng tại đó.

Phổ biến
AK nhanh chóng trở thành súng trường tiêu chuẩn của khối xhcn cũ. Bao gồm Đông Âu, Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Cuba , một số nước Mỹ la Tinh, phần lớn châu Phi. Hầu hết các nước này đều có li xăng, tự sản xuất và phát triển các phiên bản riêng.

Các bản AK nhái thuộc hàng rất giống là súng trường tiêu chuẩn của Ấn Độ (INSAS), Israel (Galil), và các bản súng sau này của Trung Quốc như QBZ-95 và QBZ-03, Phần Lan (nhái có li xăng sau làm mẫu cho Galil) và rất nhiều hãng súng nhái Mỹ cũng như các nước khác.

Các bản nhái hơi khác đôi chút là FN FNC Bỉ, bán thành PINDAD Indonexia và một số nước khác.

Con số 80 triệu khẩu đã được sản xuất là con số ước lượng các súng có li xăng, còn sự thật thì quân đội các nước trên, chỉ cần cộng Tầu-Ấn, đã hơn 80 triệu khẩu trong suốt hơn nửa thế kỷ.

Ngoài các súng xhcn, Trung Quốc 198x đổ về.... xem một vài bản nhái AK để biết độ phổ biến và ước lượng có bao nhiêu súng. Sợ rằng AK nhái đông hơn AK li xăng.

Đó không phải là hết vinh quang súng Nga. FN FAL là anh em của FN FNC, là bản sao gần như giống hệt SVT. FN FAL là súng bán chạy nhất ngoài khối xhcn hồi AK-47. Kể cả các nước đồng minh thân cận nhất của Mỹ như Úc, Canada, Anh... cũng dùng. Ngoài ra thì gần hết thế giới còn lại như châu ÂU (AK-4 Thụy Điển là FN FAL chẳng hạn), Brazil, Ai Cập khi chưa dùng AK...

INSAS assault rifle (India)
Súng bắn đạn 5,56x45 mm NATO. Máy và dáng giống hệt AK nhưng trích khí lúc này AK chưa làm cho đạn NATO, dùng trích khí FN FNC.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.



QBZ-03 assault rifle (China)
Súng dùng đạn tầu 5,8 x 42 mm. Cải tiến lớn của súng là dùng khóa nòng FN FNC. Về đại thể, khóa nòng này cũng như AK nhưng chuyển tai quay từ đầu to xuống chuôi, thích hợp với gia công bằng máy đa dụng điều khiển số CNC. AK gia công khóa-bệ bằng máy chuyên dụng.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

FN FNC assault rifle (Belgium)
Về đại thể, khóa nòng này cũng như AK nhưng chuyển tai quay từ đầu to xuống chuôi, thích hợp với gia công bằng máy đa dụng điều khiển số CNC. AK gia công khóa-bệ bằng máy chuyên dụng.
Một thay đổi khác là trích khí. Trích khí AK là trích khí xiên ngược rất khó đổi đạn, nên rất ít súng copy AK nhái lại trích khí này trước khi AK có bản đạn tương tự. Trích khí FN FNC giống FN FAL, là trích khí cải tiến từ SVT, nhưng dễ lau tháo hơn và có hiệu chỉnh lỗ trích. QBZ-03 dùng trích khí xiên ngược của AK tuy khó nòng giống FN FNC. INSAS Ấn Độ rất giống AK, kể cả khóa nòng, nhưng dùng trích khi FN FNC
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bofors AK-5 assault rifle (Sweden)
FN FNC
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Pindad SS2 assault rifle (Indonesia)

Súng SS1 là FN FNC bắn đạn NATO 5,56x45. SS2 ra đời khi AK đã có bản đạn này, nên SS2 có trích khí xiên ngược.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Valmet Rk. 62 / 76 / 95 (Finnland)
Phần Lan copy cả súng lẫn đạn của đất mẹ, có một phần li xăng. Đạn cỡ vỏ như AK nhưng Phần Lan sản xuất. Trích khí cũng xiên ngược
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Valmet M82 rifle (Finland)
Đời sau của Phần Lan, dùng đạn NATO 5,56x45, dang súng khác nhưng máy móc trích khí y đúc AK.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


IMI Galil assault rifle (Israel)
Súng copy AK qua Phần Lan
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Galil ACE assault rifles (Israel)
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Sức mạnh
đạn AK rất chính xác. M16 Mỹ thật ra không đủ tiêu chuẩn súng trường, tiêu chuẩn thử nòng AK điểm phải bỏ đúng bằng điểm nòng mới của M16.
khả năng xuyên sâu của AK-47 gấp hơn 2 lần M16, AK-74 thấp hơn chút nhưng cũng gấp đôi M16.

Thể tích phá thịt (sát thương) của AK gấp nhiều lần M16 ở khoảng cách thông thường trên 100 mét. ở khỏang gần hơn với mục tiêu nhỏ vừa phải thì AK thường xuyên qua lỗ nhỏ, M16 yếu hơn ngoáy phá thịt rộng.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

các loại AK
AK không chỉ do Kalashnikov thiết kế, sau nhiều đợt đánh giá, AK mang nhiều chi tiết và phong cách cả các súng anh em mà nhiều nhất là Bulkin. Ban đầu AK bắn đạn M43 7,62x41mm , sau đó cải lại M43 7,62x39mm năm 1948-1949. Mỗi viên đạn M43 7,62x39mm nặng 16 gram. (đạn Mosin nặng 22 gram, đạn NATO 7,62x51mm nặng 25 gram). Các cỡ súng AK bắn đạn 7,62mm thường được gọi không chính xác là AK-47.
AK-1949 nặng 4,3 kg, đạn M43 7,62mm x 39 mm

Năm 1959 AKM được chấp nhận. Cải tiến quan trọng của AKM về tính năng chiến đấu là lẫy điều hòa tốc độ bắn, cho phép lò xo búa súng bền hơn vì chấp nhận lò xo rất cứng hay đã quá nhão so với trước. Cải tiến lớn nhất về kỹ thuật là thay vỏ máy súng receiver từ cắt gọt sang dập nóng, từ nòng vặn truyền thống sang nòng chèn chốt. Từ đây AK mới thật sự là khẩu súng dễ chế tạo, rất rẻ tiền, nhưng ổn đinh tin cậy và rất mạnh.
AKM 1959 nặng 3,14kg, đạn M43 7,62mm
AKMS là báng gập thép thường thấy ở ta
AKMN là AK có khe gắn ống ngắm nhìn đêm

Năm 1974 AK chuyển sang đạn 5,45mm, chiều dài vỏ đạn và nòng giữ nguyên. Đặc trưng của loại đạn này là có đầu đạn cấu tạo phức tạp như đạn pháo, đạn đắt, nhưng súng và đạn đều nhẹ. Mỗi viên nặng 11 gram (mỗi viên đạn 5,56mm NATO nặng 13-14 gram). Từ đây gọi là AK-74.

Các phiên bản AK nguyên thủy, AKM, AK-74.... đều có rất nhiều chi bản, nhiều linh kiện thay thế khác nhau
AK-74 nguyên thủy 3,07 kg
AKS-74 báng gập 2,97 kg (báng gập khung nhựa gập ngang)
AKM-74 báng nhựa đặc 3,4 kg

AK có các loại lê 3 cạnh cứng lắp cố định, lê dẹt (lá lúa) và lê nhiều tác dụng. Lê nhiều tác dụng là dao găm, lắp vào vỏ dao có cái kìm cắt dây, có thêm các tác dụng cưa, chặt.... lưỡi làm bằng hợp kim đặc biệt bổ củi xong cạo râu được.

Cá biến thể khác trong dòng AK-100. AK-100 là những biến thể mà hãng sản xuất tự phát triển để sống trong thời gian từ sau 1991, không được đánh giá bằng các đợt đánh giá quốc gia.
AK-101: bản sau 1991 cỡ đạn NATO 5,56mm
AK-102: như AK-101 nhưng nòng ngắn

AK-103: bản sau 1991 cỡ đạn 7,62x39mm
AK-104: như AK-103 nhưng nòng ngắn

AK-105: như AK-104 nòng ngắn nhưng đạn 5,45x39

AK-107: là bản chiều dài đầy đủ, dùng hệ thống chuyển động cân bằng, tức là có đối trọng chuyển động ngược với bệ khóa nòng để giảm rung. Bắn đạn NATO 5,56x45

AK-108: như AK-107 nhưng bắn đạn Nga 5,45x39mm

AK-12 là mẫu thiết kế tiêu chuẩn nhưng chưa định hình, update các điều kiện kỹ thuật thế kỷ 21. Những thay đổi lớn là: các khe lắp tiêu chuẩn để lắp các thiết bị điện tử như máy tính đạn đạo, ống kính, nhìn đêm, laser, màn hình máy tính có liên lạc không dây để chiến đấu trong đội hình.... và vật liệu mới, gia công tự động. Súng được đánh giá quốc gia. Cũng chính vì đánh giá quốc gia nên súng và các thiết bị của nó vẫn chưa định hình.


Ngoài các phụ kiện khác, AK có khẩu cối cá nhân đeo theo, có các loại GP-25/GP-30.


Tổ tiên Vladimir Grigoryevich Fyodorov
Nếu như nói cha đẻ của AK là ka la x nhi cov Kalashnikov, thì phải nói tổ tiên gốc của AK là Fyodorov , Vladimir Grigoryevich Fyodorov . Владимир Григорьевич Фёдоров. Sinh 3 (15) tháng 5 năm 1874. Mất 19 tháng 9 năm 1966. Fyodorov là nhà khoa học chế súng Nga thời "hy sinh toàn diện" tức là thời triều đinh Nga Hoàng suy đồi cực điểm, các nhà khoa học phải lo cho nhau từng miếng cơm manh áo, không có trợ giúp của chính quyền-công nghiêp-tư bản, tự chế súng. Sau Chiến Tranh Nga-Nhật, phân tích các đặc điểm chiến đấu của Mosin, Fyodorov tiên đoán mẫu súng tương lai là súng trường xung phong. Fyodorov nhận một cần vụ là Vasily Alekseyevich Degtyaryov (sinh 2-1-1880, mất 16-1-1949). Degtyaryov là hậu duệ của 3 đời thợ súng Tula, đi làm thợ súng từ năm 11 tuổi, đến tuổi đi lính, được Fyodorov nhận làm cần vụ và huấn luyện thành Tiến Sỹ Kỹ Thuật.

Từ năm 1906-1909 Fyodorov trình bày với bạn bè là những nhà khoa học chế súng hàng đầu Nga lúc đó phương thức chiến đấu (concept) mới. Đó là một khẩu súng trường bắn được phát một lên đạn tự động và liên thanh, bắn liên thanh trên tay không cần chân giá. Tầm bắn hiệu quả của súng trường rút xuống 300 mét, đổi lấy sức giật và đạn nhỏ để bắn liên thanh được trên tay và mang được nhiều đạn. Súng có thể bắn ứng dụng ngắm nhanh, hay không ngắm, những mục tiêu xuất hiện đột ngột ở tầm gần trên đường xung phong, bắn khi giáp lá cà, tức là khả năng xung phong. Súng có tầm bắn 300 mét đảm bảo hầu hết các binh nhất có thể khai thác được tối đa khả năng ngắm bắn, đảm bảo chức năng súng trường.

Đây là phương thức chiến đấu concept chi tiết hiệu quả nhất ngày đó. Chúng ta có thể so sánh thế này. Lúc đó gia công tấm mỏng đã phát triển, đạn được làm hàng loạt rất rẻ cùng với băng đạn lò xo thay nhanh, nên ý định thiết kế súng liên thanh rất nhiều. Thompson người Mỹ là một nhà hậu cần nhìn thấy điều đó, nhưng không biết thiết kế phương thức chiến đấu và sau đó không biết thiết kế máy súng, cho ra Thompson SMG, là súng ngăn liên thanh nhưng nặng hơn trung liên RPK, vứt xó. Bên Âu chỉ chú tâm đến các đại liên như Maxim, bắn đạn súng trường như đạn Mosin, nhưng nặng hàng tạ. Hoặc bên Âu có những trung liên là súng máy cá nhân như Madsen Đan Mạch, Chauchat Pháp, MG13 Đức... cũng đều bắn đạn súng trường thường, tuy nhỏ hơn đại liên, nhưng cũng chỉ bắn được trên giá 2 chân. Trong WW1, Ý chế ra khẩu trung liên leo núi VP dùng trên Alps, có hai nòng súng ngắn bắn liên thanh, cuối chiến tranh họ chế ra OVP là phiên bản sỹ quan có 1 nòng, bổ đôi súng này ra tự nhiên phát hiện ra khả năng xung phong. Đức theo đó làm súng ngắn liên thanh Đức MP19 Maschinen Pistole. Các MP và PP có khả năng xung phong nhưng lại không có khả năng súng trường. Ngày nay súng trường xung phong là súng trường phổ thông trên toàn thế giới.



Năm 1909 Fyodorov bắt đầu thiết kế mẫu súng mới sau này mang tên Fedorov Avtomat, ông tiến hành từng bước để dễ có mẫu thử, thử nghiệm, và dễ được chấp nhận. Nikita là nhà khoa học giúp ông tính toán lý thuyết. Có nhiều khẩu súng đi theo hướng này, nhưng Fyodorov nổi trội nhờ Degtyaryov , ông có mẫu thử trình lên hội đồng trong khi các súng khác chỉ là bản vẽ suông. Các thử nghiệm kéo dài đến năm 1913, đồng thời có một số thay đổi sau
Ban đầu là súng phát một tự động, sau đó là súng hai chế độ phát một tự đông-liên thanh.
Ban đầu dùng đạn Mosin trong súng phát một tự động lên đạn. Sau đó Fyodorov tự chế đạn 6,5mm. Sau cùng Hội Đồng bắt dùng đạn 6,5mm Anh Quốc đang sản xuất cho Nhật Bản, Anh là đồng minh của Nga trong WW1.

Hài hước là, món hàng này do Anh bán chịu vũ khí hiện đại cho Nhật Bản đánh thắng Nga hồi 1905. Năm 1915 súng được chấp nhận, nhưng đến cuối chiến tranh chỉ có vài ngàn khẩu được sản xuất.

Điểm quan trọng nhất là đạn. Fyodorov cần phát triển một loại đạn mới. Việc sử dụng đạn Nhật Bản đã ngăn ông phát triển đạn, sau này đạn là mấu chốt của súng trường xung phong.

Súng dùng máy lùi như Mauser C96. Máy này cũng không phải là tốt, cả máy và đạn đều không cho phép Fedorov Avtomat là khẩu súng bền, tin cậy, gọn nhẹ. Nhưng sức chiến đấu của nó nổi trội lúc đó.

Lúc bấy giờ, bên Thụy Sỹ và Đức nhận thiết kế gia công Mondragon cho Mexico. Cũng có nỗ lực súng trường xung phong từ 189x, nhưng hồi đó quá thiếu kỹ thuật. Mondragon dừng ở các phiên bản phát một tự động bắn đạn Mauser 7mm và cạc bin liên thanh cho máy bay.

Khoảng năm 1915-1916, một phiên bản khác của Fedorov Avtomat nhưng dùng kiểu khóa nòng Degtyaryov như là mẫu thiết kế sơ cua của súng.

Fedorov Avtomat là khẩu súng trường xung phong đầu tiên trên thế giới.


Giữa hai thế chiến và chương trình M43 ra đời.
Sau WW1, ba đế quốc Đông Âu đứng đầu thế giới về súng ống tan vỡ, nên các chương trình tiên tiến bị đình lại. Áo-Hung thì tan tành luôn cả đế quốc, nhưng dư âm súng ống của nó còn dài đến AK.

Thầy trò Fyodorov và Degtyaryov ngay sau cách mạng mò đến Kovrov. Đây là một thị trấn nhỏ nằm trên đường sắt Maxcơva-Nizhny Novgorod, cách Maxcơva 240km về phía Tây, trên bờ sông Klyazma ( Клязьма). Hai ông xây dựng nhà máy súng máy chủ chốt của Hồng Quân. Năm 1918 Degtyaryov được bầu làm xếp trưởng nhà máy, còn Fyodorov là giám đốc kỹ thuật. Ngày nay nhà máy và các nhà máy con vẫn mang tên Degtyaryov , thành phố có cỡ 15 vạn người, hầu hết là nhân viên và gia đình, cũng như gia đình các cựu nhân viên của nhà máy, và các ông ty con. Kovrov trở thành một nhà máy-thành phố mới, như Tula trước đây, hay Tomsk-7 hạt nhân sau này, hay thủ phủ mới của Sukhoi Komsmolsk na Amure thời gần đây.... là các thành trì của khoa học-công nghiệp, cả nhà máy và thành phố chung một công ty làm ăn, một phiếu bầu chính trị. Những nhà máy-thành phố như thế là xương sống giúp Nga đững vững trong 199x và sự trỗi dậy của Putin sau đó. Izhevsk được chọn sau này vì WW2 Đức đã tiến đến cách Kovrov 200 km trong trận đánh Maxcơva. Sau WW2, nhà máy và các công ty con vẫn làm cả hàng quân sự lẫn dân sự, chế tạo máy cái cũng như gia công đạn tự hành chống tăng AT-14, máy kéo, mô tô, đồ điện tử.... cho đến pháo tăng và súng 30mm của máy bay, camera hồng ngoại chuyên dụng.... Cossack là nhãn hiệu xe máy khá nổi của nhà máy bán sang châu Âu.

Fedorov Avtomat vẫn tiếp tục được sản xuất, nhưng đạn hiếm dần, Hồng Quân nghèo đói nhất định không chịu tổ chức phát triển đạn. Fedorov Avtomat được dùng như súng máy xe tăng BT một lần, thấy còn được dùng trong Chiến Tranh Mùa Đông Phần Lan 1940. Có rất nhiều loại súng được gọi là Fedorov-Degtyaryov, từ súng cá nhân, súng máy bay, súng trên xe.... đến đủ loại. Tuy nhiên, phiên bản khóa nòng trích khí Degtyaryov được chấp nhận năm 1927, bắn đạn Mosin, trở thành DP, súng máy cá nhân Degtyaryov. DP không phải là súng trường mà là trung liên, nặng gần 10kg bắn trên giá 2 chân. Phải nói rằng, trừ cái băng dành cho đạn có gờ móc Mosin thì DP là trung liên tốt bậc nhất ngày đó, tốt hơn nhiều các loại lầm cẩm khác và chỉ có Nga và Đức đánh giá đúng con đường phát triển trung liên. Các trung liên khác ngày đó đều dùng khóa chèn nghiêng như SKS, gây rung ngang, không chụm loạt liên thanh. DP kém súng Đức là không bắn được ở tư thế khóa nòng đóng, nên chỉ bắn tốt ở loạt liên thanh, không kiêm chức súng bắn tỉa được.

Fyodorov trong thời giữa hai thế chiến đóng góp to lớn cho ngành vũ khí Liên Xô. Ngoài việc tham gia trực tiếp thiết kế súng, thiết kế máy móc và dây chuyền làm súng... ông tiếp tục cùng bạn bè phát triển khoa học lý thuyết, cũng như dạy ra các nhà chế súng tài ba, ngoài Vasily Degtyaryov có Georgi Shpagin (PPSh), Sergei Simonov (SKS xê ca xê). Ông không quên phổ cập toàn dân khoa học súng ống bằng cuốn sách viết rất ngắn gọn "lịch sử súng trường", ở Nga ngày nay trẻ con cũng biết phải làm đầu đạn nở trong nòng súng, điều mà Anh-Pháp-Mỹ đến nay vẫn chưa biết làm. Thế hệ tuổi ông cũng để lại nhiều học trò xuất sắc khác.

Một khẩu súng cũng thai nghén từ thời Nga Hoàng được hoàn thiện và chấp nhận như là một loại vũ khí chính, súng trường phát một lên đạn tự động SVT của Fedor Vasilievich Tokarev , Фёдор Васи́льевич То́карев. Sinh 2 tháng 6 1871 (14 lịch cũ) . Mất 6 tháng 3 1968. Súng bắn đạn Mosin, sử dụng trích khí rời (sau này là của AR-18), sau này FN FAL gần như giống SVT. G43 Đức ngay trong chiến tranh được chấp nhận với chìa khóa duy nhất khi cải tiến từ G41 không được chấp nhận, là trích khí SVT . Với súng phát một thì không vấn đề, Nga và Đức hầu như không chấp nhận chèn nghiêng trong liên thanh vì rung ngang, nhưng cũng có những súng đặc biệt như thế, là ZB-26(t) Đức, MP44 (Đức) và AS-44 (Liên Xô), chúng thế nào ta nói sau.

Tokarev cũng đóng góp nhiều cho ngành súng đạn Nga, cùng với Fyodorov ông thiết kế súng máy hai nòng dùng trên xe bắn đạn 6,5mm Fyodorov năm 1922, như là con đường VP-OVP, nhưng đạn không được chấp nhận sản xuất. Năm 1927 Tokarev thiết kế mẫu thử súng ngắn liên thanh, nặng 3,3kg; tốc độ 1200 (20 viên / giây), dùng đạn 7,62x38mm Nagant đang dùng cho súng ngắn Nga. Đạn này không được thiết kế cho liên thanh hay súng tự động vì có gờ móc, nó được thiết kế cho súng ngắn revolver đơn giản cổ lỗ, tức là loại súng ngắn ổ xoay có nhiều buồng đạn, không có chức năng nạp đạn tự động vào buồng. Đây không phải là khẩu súng ứng dụng thực tế, mà là một mẫu thử concept-nguyên lý chiến đấu. Tốc độ này bắn quá cao, cho phép chụm loạt liên thanh một số lượng đầu đạn lớn, khả năng tiêu diệt mục tiêu tốt. Sau này Suomi Phần lan WW2 và M16 Mỹ ngày nay giữ lại 900. Từ mẫu súng này, ông thiết kế đạn súng ngắn có thể dùng cho liên thanh và các súng nạp đạn tự động. Tokarev cải tiến đạn súng ngắn Mauer C96 thành 7,62×25mm Tokarev, áp dụng những tiến bộ về thuốc súng mới. Bản thân Mauser C96 cũng là súng có nòng cạc bin có báng (báng là cái hộp), nên từ mẫu cải tiến này thuận tiện cho súng ngắn liên thanh. Đạn này về sau tỏ ưu thế cho súng ngắn liên thanh Liên Xô vì nó khác hẳn những đạn đường kính nòng lớn chuyên dùng cho súng ngắn cầm một ay nòng rất ngắn, mà các nước Âu-Mỹ dùng cho súng ngắn liên thanh. Sau khi có đạn và áp dụng lên pistol K54 TT-33, Tokarev bận bịu với những súng quan trọng hơn và không tham gia vào các chương trình PP.

Con đường phát triển của súng ngắn liên thanh Liên Xô không đơn giản. Liên Xô không coi trọng súng ngắn liên thanh, điều này là đúng. Nhưng Liên Xô không phát triển súng trường xung phong thay thế, điều này dẫn đến sai lầm. Ban đầu Liên Xô chấp nhận bản súng ngắn liên thanh đơn giản PPD của Degtyaryov. Súng nặng 3,2kg rỗng, băng hộp lò xo thẳng, dùng đạn Tokarev nên tầm bắn hiệu quả khá hơn các súng Đức. Máy súng lùi thẳng tự do đơn giản, bắn từ khóa nòng mở. PPD-34 sau có một số cải tiến như dùng băng trống kiểu Suomi PPD-40.

Liên Xô ấn tượng về súng ngắn liên thanh tồi của mình trong Chiến Tranh Mùa Đông Phần Lan 1940. Súng ngắn liên thanh Phần Lan Suomi là súng rất tốt, nhưng không thích hợp với Liên Xô. Ví dụ, ống vỏ máy súng reciver của Suomi làm từ trụ hợp kim crôm khoan ra, rất cứng và không gỉ (inox cứng). Điều này tốn nguyên liệu quý hiếm và thời gian máy gia công, không cho phép một quân đội lớn như Liên Xô nhanh chóng có hàng triệu súng. Suomi có nhiều điểm cấu tạo đáng phải học. Một là cổ băng gài về sau là băng AK, hai là băng trống về sau cũng là của PPSh và RPK, ba là "điểm hỏa trên đường bay", tức là kim hỏa gắn liền với khối lùi. khi vai vỏ đạn chạm vai buồng đạn, đạn dừng lại, thì kim hỏa điểm hỏa trước khi khối lùi-bịt đáy nòng chạm nòng súng gây rung.

Liên Xô cấp tốc chế tạo PPSh. PPSh không có đệm khí chạy êm như súng Đức và Suomi, nhưng chắc chắn, tin cậy. Điểm vượt trội của PPSh là kết hợp rèn thủ công tiết kiệm thời gian máy gia công, nên sản xuất rất nhanh chóng. Điểm trội nữa là đường đạn của đạn Tokarev. Trong chiến tranh, PP Liên Xô có tầm bắn hiệu quả 200 mét, MP Đức trước khi dùng đạn quá áp 100 mét, cải dùng đạn quá áp giảm tuổi thọ nòng lên 150 mét. Các súng Mỹ Thompson SMG chỉ 30-50 mét.

Liên Xô có đường đạn tốt hơn là do các súng Đức-Anh-Mỹ dùng đạn đường kính lớn chuyên dùng cho nòng rất ngắn của súng ngắn cầm một tay như 9x19 mm Đức hay ".45 ACP" 11,43 × 23 mm. Đạn đường kính lớn có gia tốc trong nòng cao, thích hợp với nòng rất ngắn của súng ngắn cầm một tay, nhưng nhanh mất tốc độ trong không khí, không thích hợp với nòng dài của súng trên chiến trường cầm hai tay. Đức về sau phải cải tiến quá áp 9x19 mm Luger Parabellum và chỉ dẫn trên hộp đựng đạn "chỉ dùng cho MP", nhưng vẫn kém PP.

Trong chiến tranh, PPSh được sản xuất rất nhiều, cùng với các đời Mosin và SVT trở thành những súng chủ lực của chiến tranh. Tuy nhiên, PP xung phong được nhưng bắn gần, SVT bắn xa lại kém xung phong. Không một trận chiến nào không chứng topr phải cần cả hai thứ súng đó.

Vì thế, chương trình M43 sản xuất súng trường xung phong xuất hiện năm 1943. Việc ban đầu là lập hội đồng và đưa ra ước lượng cỡ vỏ đạn 7,62 mm x 41 mm. Cỡ vỏ ước lượng này tham chiếu nhiều kết quả thử nghiệm trước chiến tranh (thử vài viên đạn thì đâu cũng thử được), trong đó có đạn Đức. Đương nhiên, concept của Vladimir Grigoryevich Fyodorov là xương sống của chương trình, đó là:
rút tầm bắn hiệu quả từ Mosin 600 mét xuống còn 250 mét. Tầm bắn này là tầm ngắm tối đa của các binh nhất phổ thông (sau này cải tiến bia và các bài bắn là 300 mét, nhưng hai con số này như nhau, dưới tầm này thì thợ sửa AK thay nòng). Điều này sẽ làm giảm sức giật và khối lượng viên đạn thuận tiện cho bắn liên thanh.
Bắn được liên thanh trên tay
đó là hai tính, tính súng trường và tinh xung phong. Ngoài ra, còn có các yêu cầu khác như chiến đấu bằng lê.... và phát triển khả năng bền, tin cậy, dễ làm, ít hao nguyên liệu quý, sức sát thương, nhẹ.... vân vân.

Khẩu súng đầu tiên tham chiến là AS-44, Alexey Ivanovich Sudayev, Алексей Иванович Судаев, 23-8-1912 17-8-1946. Đích của chương trình là AK năm 1949.

Đại diện của Viện Hàn Lâm Liên bang trong chương trình là Vladimir Grigoryevich Fyodorov. Như thế, tổng công trình sư gần nửa thế kỷ thiết kế AK là Fyodorov, còn Kalashnikov chỉ là một thí sinh đỗ đầu, được Fyodorov chọn làm người tập hợp các thiết kế tốt nhất, và nhận thầu sản xuất phát triển súng.

Cả đạn Mosin, đạn súng ngắn Tokarev, đạn AK đều có đường kính 7,62mm. Như vậy chương trình thay súng không dẫn đến những xáo trộn lớn trong các nhà máy. Điều này cũng y như bên Đức. Là cỡ nòng 7,62mm nhưng thật ra đường kính rộng của nòng (tính từ các rãnh xoắn) là 7,92mm, đường kính hẹp của nòng (tính từ các gờ xoắn) là 7,62mm. Đạn gia công không chính xác lắm nhưng tiêu chuẩn 7,92mm.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 20-01-2013 thời gian gửi bài 00:51
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Polyushko Pole (21-01-2013)
  #29  
Cũ 19-01-2013, 18:38
Ban Quản Trị Ban Quản Trị is offline
Ban Quản Trị NNN
 
Tham gia: Jul 2009
Bài viết: 159
Cảm ơn: 13
Được cảm ơn 289 lần trong 96 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Ban Quản Trị Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Ban Quản Trị
Default

Ban Quản trị đề nghị thành viên huyphuc1981_nb rút kinh nghiệm không nên dùng các tính từ so sánh mạnh quá mức cần thiết trong bài viết.
__________________
banquantri@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
huyphuc1981_nb (19-01-2013)
  #30  
Cũ 19-01-2013, 23:32
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Cái lũ vtc này thì anh em trên các 4r chửi suốt, kẻ cả đệ tử của nó là hai cái báo giáo dục.


"AK-74, AK-101, AK-103 để có thể sử dụng loại đạn có kích thước 5.45mm thay thế cho cỡ đạn nguyên bản là 7.62mm."
AK-101: bản sau 1991 cỡ đạn NATO 5,56mm
AK-102: như AK-101 nhưng nòng ngắn
AK-103: bản sau 1991 cỡ đạn 7,62x39mm
..........................

2001 đã có khoảng 80 triệu khẩu súng AK các loại được sản suất, đứng đầu về số lượng của các loại súng trên toàn thế giới. Đứng thứ 2 trong danh sách là M16 của Mỹ với 7,5 triệu khẩu.
Tuy nhiên, các loai súng tiếp theo trong danh sách lại chỉ có số lượng bằng khoảng 1/10 AK và M16
AK gấp hơn 10 lần M-16 (như dưới đây, đó chỉ là AK li xăng), thế gấp 10 lần AK và M16 là cái gì vậy, bằng 1/10 AK+M16=(7,5+80)/10=8,75 triệu khẩu AUG ?

"tiêu biểu là AUG của Australia" Những con bờ con lờ này thì về học lại cấp 1 đi đã rồi hãy lên báo bi bô. Sự thật là hãng tin lớn nhất nước vtc nó bờ lờ như vậy. Steyr AUG Armee Universal Gewehr, là của Áo Austria, còn Australia là Úc.
Không tin hỏi ông Gúc mà xem.


"Theo tính toán của các chuyên gia vũ khí Nga, tính đến năm 2001 đã có khoảng 80 triệu khẩu súng AK các loại được sản suất, đứng đầu về số lượng của các loại súng trên toàn thế giới. Đứng thứ 2 trong danh sách là M16 của Mỹ với 7,5 triệu khẩu.
Tuy nhiên, các loai súng tiếp theo trong danh sách lại chỉ có số lượng bằng khoảng 1/10 AK và M16, tiêu biểu là AUG của Australia, xếp vị trí thứ 3 với nửa triệu khẩu đã được sản xuất.
" Súng triệu khẩu thì thiếu gì.

Mauser, Mosin, Springfield ".3006", Lee-Enfield. ... là các cỡ súng nhiều chục triệu

Rồi hàng triệu
Thompson SMG (1,7 triệu), M3 Grease (tuy nhên có 700 ngàn vì chiến tranh kết thúc), Lanchester, Sten (4 triệu), Sterling , MP.38/40 (1,2 triệu), PPSh (6 triệu).... .

M1 Garand (6,25 triệu), SVT (1,6 triệu)....


Thời AK-47 thì súng nhiều nhất là FN FAL/ FN FNC.....




Trích:
hungmgmi viết Xem bài viết
Cóp-py bài này từ vtc.vn:
http://vtc.vn/311-339542/quoc-te/ak-...on-65-tuoi.htm
AK 47 - Súng trường huyền thoại sắp tròn 65 tuổi

(VTC News) - Dự kiến ngày 7/7 tới nước Nga sẽ tổ chức một lễ kỉ niệm hoành tráng nhân dịp súng trường huyền thoại AK tròn 65 tuổi kể từ khi được thai nghén.

AK-47 được thiết kế bởi Mikhail Timofeevich Kalashnikov, một tổng công trình sư thiết kế vũ khí của Nga, tên súng là viết tắt của "Avtomat Kalashnikova mẫu năm 1947", đây là loại súng trường thông dụng nhất trong thế kỉ trước.

Sau khi ra đời lần đầu năm 1947, dòng súng trường AK đã được hưởng ứng nhiệt liệt. Nổi tiếng về độ chính xác và thiết kế cổ điển, AK được xem là dòng súng trường hạng nhất trên thế giới.

Từ phiên bản đầu tiên năm 1947, AK đã có nhiều thay đổi trong thiết kế và cải tiến ở các phiên bản sau như AK-74, AK-101, AK-103 để có thể sử dụng loại đạn có kích thước 5.45mm thay thế cho cỡ đạn nguyên bản là 7.62mm.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Cha đẻ Mikhail Timofeevich Kalashnikov và đứa con huyền thoại của mình

Ngoài ra, một số phiên bản AK xuất khẩu còn được thiết kế để bắn loại đạn tiêu chuẩn của NATO với kích thước 5.56mm.

Theo tính toán của các chuyên gia vũ khí Nga, tính đến năm 2001 đã có khoảng 80 triệu khẩu súng AK các loại được sản suất, đứng đầu về số lượng của các loại súng trên toàn thế giới. Đứng thứ 2 trong danh sách là M16 của Mỹ với 7,5 triệu khẩu.

Tuy nhiên, các loai súng tiếp theo trong danh sách lại chỉ có số lượng bằng khoảng 1/10 AK và M16, tiêu biểu là AUG của Australia, xếp vị trí thứ 3 với nửa triệu khẩu đã được sản xuất.
Sau 65 năm kể từ ngày được thiết kế và chính thức đưa vào sử dụng năm 1949, đến nay AK 47 nói riêng và dòng AK nói chung đã trở thành biểu tượng trong nhiều lực lượng vũ trang trên thế giới.

Hiện tại có hơn 60 quốc gia chọn AK là vũ khí cá nhân tiêu chuẩn cho các binh sĩ trong quân đội, ngoài ra nó còn sử dụng rộng rãi và là con cưng của nhiều lực lượng nổi dậy và khủng bố trên thế giới.
=============================================
\
thôi nhé, không dây với XYZ nữa nhé.

Thay đổi nội dung bởi: Nina, 20-01-2013 thời gian gửi bài 00:49
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #31  
Cũ 20-01-2013, 00:18
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Súng trường xung phong và súng trường đối kháng
Thế hệ AK là súng trường xung phong, còn thế hệ Mauser-Mosin là súng trường đối kháng. AK là Assault Rifle , còn Mosin là Battle Rifle.

Có thể hiểu thế này. AK có mặt trội khi cầm xúng tấn công xung phong, bắn ngắm ẩu hay thậm chí là không ngắm những mục tiêu xuất hiện đột ngột trên đường đi bằng cách bắn liên thanh trùm lên mục tiêu. Mosin thì hai bên nấp trong hào ngắn bắn nhau cẩn thận đoàn từng phát. Mosin khi xung phong thì bắn từng phát một không thể trùm lên địch khi ngắm ẩu.

Vào thời AK thì người ta vẫn sản xuất các súng có chức năng như Mosin tuy là cải tiến bắn tự động từng phát một, như SVD. Nhưng lúc đó SVD được sản xuất để bắn tỉa, chức năng còn lại của những súng như Mosin. Vào hồi Mosin phát một không sợ giật, đạn không có nhiều, không lo lính mang nặng, nên người ta có xu thế làm đạn to để khai thác tối đa khả năng bắn phát một của một khẩu súng cỡ 3-4kg. Những súng như Mosin có thể sát thương ở 2km, bắn chính xác ở 600 mét (Mosin là súng trường mạnh nhất hồi đó). Điều này là thừa, vì đại bộ phận các binh nhất chỉ ngắm bắn được 250 mét (tỳu cách đánh giá, một số cách đánh giá là 250 mét). Sau này các súng máy dùng các cỡ đạn này để bắn xuyên tưởng, xuyên rừng, hay các súng trường để bắn tỉa bởi các xạ thủy hàng tuyển.

AK phải dùng đạn có động lượng yếu hơn. Ví dụ, một cỡ súng trường cầm tay khoảng 3-4kg như AVS-36 bắn đạn Mosin (youtube), súng rất giật. Việc làm đạn có động lượng yếu hơn mà vẫn sát thương bắn xa là một khó khăn khi thiết kế súng.

Súng ngắn liên thanh (PP/MP) cũng có khả năng xung phong, nhưng chúng không bắn xa được, không khai thác hết khả năng bắn của binh nhất. Một định nghĩa súng trường tối thiểu là tầm bắn hiệu quả 250 mét (300 mét). Tầm bắn hiệu quả là tầm bắn mà trừ các viên đạn hỏng thì tất cả trúng bia số 4 (hay bia tròn đường kính 40" kiểu Mỹ), thử bắn bằng phát một.

Người ta có thể hiểu tầm bắn hiệu quả theo nhiều cách khác nhau. Nòng mới của M16 đúng bằng điểm thay nòng của AK.

Bên Đức. Cuộc đấu súng trường xung phong và súng ngắn liên thanh.
Đức gặp nhiều khó khăn vì các lệnh cấm súng sau khi bại trận. Từ 192x phái bác học già bâu quanh Mauser đã đề xuất các thiết kế súng hiện đại. Tuy nhiên, đặc điểm chung của thời này là Đức bị cấm làm súng máy, nên các chương trình súng máy bí mật rất ít, điều này làm máy súng máy tụt hậu xa so với Liên Xô. Tuy nhiên, Đức đánh giá súng ống vẫn như Liên Xô, hàng đầu thế giới, vượt xa các nước khác.

Ví dụ, trong một thời gian dài Đức dùng hệ thống khí Bang system. Nó gồm một piston có lỗ tâm cho đầu đạn chui qua đặt ở đầu nòng, khi súng nổ, khí thuốc thổi piston này về trước, kéo một cần, cần này chuyển thành chuyển động lùi qua đòn bẩy, đẩy máy súng chạy. Cả hai khẩu súng trường bắn phát một lên đạn tự động G-41 đều dùng cái này và chưa được chấp nhận chính thức, chỉ sản xuất vài vạn khẩu chờ quân đội đánh giá. Đó là G.41(M) mauser và G.41(W) Walther. Khẩu G.41(W) Walther sau đó thắng thầu thành G43 sản xuất lớn cùng với việc mang trích khí SVT copy ngay trong chiến tranh.

Máy súng G.41(W) Walther là kiểu máy súng tự động phác thảo bởi nhà khoa học Thụy Điển Rudolf Henrik Kjellman ăm 1907, nhưng chưa có thử nghiệm nào. Đây là họ máy súng tự động được dùng rất rộng ở Nga và Đức, nó hơn hẳn những chèn nghiêng và quay nhiều tai của Tây Âu. Bên Liên Xô chính là máy DP, còn Đức có MP45, MG42 và G43. Sau này, khẩu súng thử nghiệm Anh trong thập niên 196x sử dụng lại khóa nòng G43, nhưng chỉ dùng để thử nghiệm. Trong các kiểu khóa nòng cùng họ đó, thì các máy súng kia biến đổi rất khác phác thảo của Rudolf Henrik Kjellman, riêng G43 thì như hệt. Thực tế là, nguyên lý máy của G43 đã chứng minh rằng, kiểu máy này có nhiều nhược điểm. Nhược điểm chính của nó là nó không thoáng, cần chăm sóc kỹ, không chịu được sai số do mòn, cũng như cần vật liệu cứng, gia công khó, khó tháo lau.

Nguyên lý phác thảo của Rudolf Henrik Kjellman, từ trang gotavapen
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Một thành công nữa của súng Đức là MG42. Cần phân biệt với FG42 chúng ta sẽ nói sau. MG42 dùng máy có động cơ lùi nòng. Máy lùi nòng được dùng ở súng ngắn như C96 cũng như các pistol ngày nay, C96 có nòng dài và báng để lắp vào và dùng như một súng trường nhỏ. Fedorov Avtomat có máy như C96, kiểu máy này không hợp với súng bắn nhiều đạn vì nó va đập mạnh không bền. Những súng máy Đức như MG30, MG34 của Rheinmetall (một nhánh của phái Mauser) cũng là lùi nòng nhưng khóa nòng quay kiểu khác. Đức cũng không hoàn thiện được khóa nòng quay nên các súng này được thay thế. MG42 dùng nguyên lý được phác thảo của nhà khoa học Thụy Điển Rudolf Henrik Kjellman, nhưng biến đổi đi nhiều. Súng cũng có máy như DP, nhưng hai ngạnh chống của DP được thay bằng con lăn. Vòng bi Đức số dách toàn cầu cho đến nay, nên cũng vì thế mà ít công ty làm được cái con lăn này. MG42 sau chiến trang được tây Đức dùng lại với tên MG3, cải đạn NATO 7,62x51.

Nguyên lý chiến đấu của MG42 rất xuất sắc. Có hai điểm quan trọng, một là chụm loạt cực nhanh 1200, giá súng chuyển động rất cân trong loạt, nhgowf đó trùm một số lượng lớn đạn lên mục tiêu điểm ở xa khó ngắm bắn. Nguyên lý chiến đấu của súng máy Nga-Đức hoàn toàn khác nguyên lý của súng máy Tây Âu. Ở Tây Âu người ta được nhồi sọ bởi những phim răm bô, bắn súng ngắn cả ngày không hết đạn, nên dùng súng máy để quét diện tích. Còn Nga-Đức dùng súng máy để bắn loạt diệt mục tiêu điểm. Điểm thứ hai, MG42 là súng máy toàn năng, nó có các giá bắn 2 càng trung liên, 3 chân đại liên và giá bắn cao xạ. Cách thiết kế súng máy toàn năng này được áp dụng lên DPM và PK sau này của Liên Xô. Khi làm trung liên, súng có 1 nòng và ít đạn, còn khi làm đại liên thì súng mang theo nòng thay nhanh.

MG42 cũng là súng của phái bác học già. Ba công ty phái này Johannes Grossfuss AG, Stubgen AG, Rheinmetall-Borsig AG nhận thầu thiết kế, thiết kế được duyệt là của Grossfuss.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Một kiểu máy tương tự nhưng không lùi nòng, chỉ có bịt đáy nòng lùi có hãm, khác với các súng ngắn liên thanh MP/PP bịt đáy nòng lùi tự do. Súng cũng dùng con lăn. MP45 ra đời lúc gần hết chiến tranh. Một số MP44 sản xuất đầu năm 1945 cũng được dập lên dòng MP45, nhưng không phải loại MP45 được nói ở đây. Sau chiến tranh kiểu máy này được Pháp thử nghiệm rồi bỏ, sau đó được dùng ở Tây Ban Nha, Thụy Sỹ, Thụy Điển... là nững nước thân mật với Đức.
Súng này thì thuộc bác học già chính chủ Mauser (mẫu thử có tên Mauser Gerat 06 ). Sau chiến tranh Đức dùng lại kiểu máy này ở G3, khi cấm vận nhàn nhạt thì họ bán nhiều nơi như Pakistan, Iran... và một số nước khác.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Chúng ta tham quan lại máy DP cùng họ phác thảo của nhà khoa học Thụy Điển Rudolf Henrik Kjellman, máy dùng động cơ trích khí. Như đã nói trên, bên Đức trích khí không phát triển tốt, trong chiến tranh phải copy trích khí SVT. Trích khí DP là tridchs khí mẫu mực ngày đó, chỉ có khẩu trung liên Pháp fusil-mitrailleur de 7,5 mm modèle 1924 (FM mle 1924) là có trích khí ngần sánh được với DP, Brno ZB-26 Tiệp Khắc là một dòng khác tốt xấu ta nói sau, các trích khí khác hạng từ BAR đều đụt xa. Trích khí FM mle 1924 có cấu tạo đã gần giống DP, chỉ thiếu tuye thổi và lỗ thoát bẩn. DP-27/28 được chấp nhận sau FM mle 1924. Trích khí SVT là bản cải tiến từ trích khí dùng cho súng nhẹ, đến nay vẫn là mẫu mực của trích khí Mỹ, được dùng trên AR-18. Các trích khí FN FAL và G36 cải tiến một để chuyển động đều và dễ tháo lau nhưng vẫn là cấu tạo từ SVT.

Máy DP là 2 máy chèn nghiêng hai bên để bù rung ngang, máy này khá nặng cho súng cá nhân, sau được dùng trên RPD.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Một kiểu súng nữa cần quan tâm trong này là FG42, cùng được chấp nhận một năm với MG42. Súng dùng trích khí, trích khí của nó có nhiều vấn đề ta sẽ đề cập dịp khác. Sau này Mỹ copy thành M60. Về nguyên lý chiến đấu, FG-42 là súng trường xung phong, nhẹ như súng trường cá nhân 4,3kg, súng máy dùng cho nhảy dù, nhưng vẫn bắn đạn súng trường to Mauser, điều này không hợp lý khi bắn liên thanh vì súng rất giật như bản SVT liên thanh-vì súng rất nhẹ so với động lượng đầu đạn, nên nó vẫn được xếp vào hạng súng trường thường, nguyên lý chiến đấu này bất hợp lý. Các súng trường xung phong về sau này khi dùng đạn súng trường chiến đấu đều phải cắt ngắn nòng đi, làm yếu đạn, giảm sức giật.

Ở đây, ta chỉ quan tâm đến cơ cấu máy súng, nó là khóa nòng quay hai tai, và chúng ta cần so chúng với AK cũng là khóa nòng quay 2 tai.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Trước khi quan tâm đến khóa nòng quay 2 tai, chúng ta xem loại máy điển hình của súng máy Tây Âu nó kém Nga Đức thế nào. Lúc bấy giờ hầu hết súng trung liên Tâu Âu .

Đây là kiểu máy chèn nghiên. Rõ ràng, nó chỉ là một nmuwar máy DP, và vì DP cần hai nửa bù rung nên kiểu máy này rung ngang, không bao giờ được Nga-Đức chấp nhận đàng hoàng. FM mle 1924 (Pháp), BAR (Mỹ), ZB-26 (Tiệp Khắc), Bren (Anh) đều dùng loại máy súng này. ZB-26 (Tiệp Khắc), Bren (Anh) có cấu tạo nguyên thuỷe rất giống hình này, Bren thật ra là bản ZB-30 cải trích khí và đạn bán li xăng sang Anh. FM mle 1924 được thiết kế theo BAR tiền nhiệm , có cái khớp gập.

Bên Xô-Đức, cũng có 3 phiên bản chèn nghiên được chấp nhận và tham chiến. Đó là ZB-26(t), chính là ZB-26, sau khi sát nhập Tiệp Khắc và MG-42 chưa ra đời, chữ t tỏ ý miệt thị nên viết thường (Tschechoslowakei=Tiệp Khắc trong tiếng Đức). MP44 là câu chuyện bi hài của phái súng ngắn liên thanh mà chúng ta sắp đề cập, thật ra chỉ là thu nhỏ ZB-26. Còn AS-44 là khẩu súng đầu tiên trong chương trình M43 Liên Xô thiết kế xong, được đem ra trận với 3-4 phiên bản, gồm súng trung liên súng trường xung phong, súng trường nòng dài bắn phát một tự động... coi như là một thử nghiệm trên chiến trường của cỡ đạn này. Như đang nói, chương trình M43 có đích đến là AK năm 1949. Lý do của 3 khẩu chèn nghiêng liên thanh được châpos nhận ở Xô-Đức là như vậy.

Máy chèn nghiêng cũng là kiểu máy của SVT và SKS, tất nhiên chúng đều phát một nên không sợ rung. Sau này, Thụy Điển copy SVT thành AG42 (gotavapen), nhưng Thụy Điển sai lầm dùng trích khí trực tiếp kiểu Pháp mà không dùng trích khí SVT. Đọc trong link trên để biết người Thụy Điển đã đánh giá sai lầm của họ. Sau này, hãng FN Bỉ làm lại FN FAL rất giống AG42 chỉ trừ việc dùng lại trích khí SVT có cải tiến. FN FAL sau đó có người em là FN FNC là một bản sao AK, nhưng nhiều nước vẫn mua FAL cho rẻ và dễ nhập kỹ thuật về chế tạo. Sau này AR-15 bê nguyên xi trích khí AG42 vào vua đẻ non M16 cho đến nay, còn Armalite thì thay mặt AG42 xin lỗi SVT bằng cách copy y hệt trích khí SVT, không cần những cải tiến của FAL, áp dụng trong AR-18.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

FM mle 1924 với cái khớp gập như BAR
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Trước khi phân tích, chúng ta tham chiếu đến laọi máy tự động khác. Các súng khóa nòng quay nhiều tai. Nguyên tắc chịu lực khỏe là cái kiềng ba chân sẽ chia đều lực, với khóa nòng quay hai tai thì 2 tai chịu lực là chính, cái chân thứ 3 là đuôi khóa nòng. Khi có nhiều tai, nếu như chân khấp khểnh thì những chân nào co lên không chịu lực, lực dồn vào những chân dài, nhanh hỏng súng và hỏng không đều. Chính vì thế M16 ngày nay không được lắp lẫn khóa nòng vào máy súng đã qua sử dụng, vì các súng khác nhau sẽ mòn khác nhau. Đức trước đây khi vội cũng dùng nhiều tai, nhưng về sau họ có những máy trên. Liên Xô thì không bao giờ.
Le fusil (semi-)automatique de 7 mm Meunier A6 modèle 1916. Còn M16 có thuỷ tổ là Mondragon Mexico.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Nhìn xa hơn, thì toàn bộ các máy súng trên, trừ bọn quay nhiều tai, là của ba họ
Rudolf Henrik Kjellman
Vetterli M1869 Thụy Sỹ
Mannlicher Model 1885 Áo Hung

Vetterli 1869 và Mannlicher 1885 là những súng bắn phát một lên cò tay, nhưng là "Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng. Những Mauser, Mosin đều phải quay - kéo lùi - đẩy lên - quay để lên cò nạp đạn, nhưng những "Straight-pull bolt action" chỉ cần kéo lùi đẩy lên. Như thế, chúng ta có thể hiểu, chỉ cần thêm trích khí là chúng tự động. Vetterli là khóa nòng quay hai tai, còn Mannlicher là chèn nghiêng.

Vấn đề chèn nghiên chúng ta đã đi khá nhiều, Xô-Đức không thể chấp nhận loại mạt hạng này. Rudolf Henrik Kjellman lại đem lại những giải pháp không tốt cho Liên Xô, DP thì nặng, còn con lăn thì khó làm. Còn quay hai tai cũng là loại khóa nòng của AK ?.

Dòng súng trường phát một lên cò tay thì thế giới chủ yếu là những khóa nòng quay hai tai từ 189x, như Mauser, Mosin... Vetterli và FG42 thi hành y đúc loại khóa nòng này chuyển lên liên thanh. So với phát một lên cò tay, thì súng có thêm cái bệ khóa nòng, bệ khóa nòng chứa khóa nòng và bệ chuyển động tiến lui. Khóa nòng có thêm một tai quay tương tác với rãnh xoắn trên bệ khóa nòng. Người ta lắp trích khí vào bệ khóa nòng là Mauser-Mosin bắn tự động. Những mâu thuẫn khi chuyển từ p[hát một lên liên thanh đuwocj đắp bằng những hợp kim quý

Nhắc lại là, súng máy cho đến WW2 là hàng quý tộc-trừ súng ngắn liên thanh, rất đắt, rất ít, nên thả cửa đắp thêm hợp kim quý. Đó là điểm mà AK không thể chấp nhận, nó không thể chỉ có vài vạn khẩu, mà hàng trăm triệu khẩu.

............... để sau.

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 21-01-2013 thời gian gửi bài 16:08
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (20-01-2013), tolaind (22-01-2013)
  #32  
Cũ 21-01-2013, 15:34
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Chúng ta đang dừng ở phần mô tả những loay hoay của người Đức trước WW2. Là vị trí hàng đầu về súng ống, Đức có súng rất tốt, có các cơ quan đánh giá súng sáng suốt, nhưng vì họ bị cấm sản xuất súng máy một thời gian dài, nên họ tụt hậu sau Liên Xô xa. Cho đến liền trước WW2 thì Đức chưa có các kiểu máy súng đủ chất lượng. Trong WW2 Đức có các khẩu súng danh tiếng MG42, MP45, G43.... nhưng chúng vẫn chứa những nhược điểm chưa hoản hảo. MG42 và MP45 khó chế tạo quy mô lớn con lăn. G43 copy trích khí Liên Xô ngay trong chiến tranh, đồng thời nó chứa đựng nhược điểm cần chăm sóc kỹ trong khóa nòng, và khi chuyển sang liên thanh điều đó không chấp nhận được.

Còn các nước Anh Pháp Mỹ thì đơn giản là chấp nhận những kiểu súng mà Xô-Đức không thể ngửi nổi.
================

Để hình dung ra cuộc đấu súng trường xung phong-súng ngắn liên thanh bên Đức, chúng ta cần nhìn lại cuộc cách mạng súng từ súng trường cổ sang súng hiện đại chút. Cuộc cách mạng này bắt đầu vào khoảng giữa tk19, có năm bước liên tục cho đến 198x. Đến nay, các kỹ thuật mới được nói đến nhiều nhưng không đem lạc hiệu quả đáng kể, nên chưa hình thành một đợt súng mới. Những thay đổi từ 1990 đến nay, sau năm 2010, kể cả là lớn nhất, cũng khó sánh được với những đợt thay đổi giữa các đợt cách mạng lớn, như AK nguyên thủy 1949 sang AKM 1959. Ngày nay thì thay đổi đáng kể nhất với súng gồm máy tính đạn đạo và kính nhìn đêm. Máy tính đạn đạo thì không cần cho súng trường, mà chỉ ích lợi cho nòng phóng lựu đi kèm nó. Còn kính nhìn đêm đang được do dự để trên súng hay là trang bị cho lính dùng cho nhiều việc khác chứ không chỉ dùng súng trường.

Đợt 1: giữa thế kỷ 19
súng hiện đại ra đời với những đại diện Mauser IG71 1871 Đế Quốc Đức, Berdan M1870 Đế Quốc Nga, Vetterli M1969 Thụy Sỹ (sau được vài nước đùng trong đó có Ý), "Gendarmerie Repetier Gewehr System - Fruwirth M1872" Đế Quốc Áo-Hung. Gras mle 1874 Pháp.... và những tiến bộ của chúng như Austro-Hungarian Mannlicher Model 1885 , Khẩu súng mà các chó các lợn xưng là "chống trên mũi nhọn" nhưng vẫn thuộc lớp này là Lebel 1886 Pháp (Le fusil de 8 mm modèle 1886), nó sao chép lại khẩu súng Áo-Hung bán cho Pháp cũng thuộc lớp này Kropatschek Model 1881 Gendarmerie Carbine, thu nhỏ lại đạn so với mẫu trước Fruwirth M1872.

Ngoài ra, có các khẩu súng hàng "tiền khởi nghĩa", tức có cấu tạo trung gian, là "Le fusil d'infanterie de 11 mm modèle 1866", thường gọi là Chassepot 1866, Pháp, vỏ giấy, đường kính 11mm, sơ tốc 375 m/s, đầu đạn 25 gram. Trước đó có Dreyse M1841 "súng mỳ" Zündnadelgewehr của Phổ, đường kính 15,4mm đầu như trên, sơ tốc 305 m/s (http://oldmilitaryrifles.eu/germany/germany.htm) (ảnh http://www.littlegun.info/arme%20all...reyse%20gb.htm). Súng trung gian còn có một số súng rẻ tiền và các súng hoán cải từ súng cổ sang có vỏ nạp sau.

Các súng này được gọi là súng trường đối kháng battle rifle, chúng được phát triển và có vai trò là súng chủ lực cho đến khi AK xuất hiện.

đợt hai: 189x, súng dùng băng hộp lò xo ngang
Những súng có băng là Repeter, nhưng băng ống gỗ dọc không thật sự là băng. Khi bắn hết đạn không thay băng được nên thà lắp từng viên như không băng còn hơn là lắp đầy băng đánh nhau tiếp. Ban đầu băng ngang cố định nhưng có cái kẹp đạn lắp đạn cho nhanh, sau đó là băng thay nhanh.

"Súng Hội Đồng" Phổ (Đế Quốc Đức) G88 năm 1888, Mosin nguyên thủy Nga M1891, Lee Enfield Anh, Berthier 1892 "Le mousqueton d'artillerie de 8 mm modèle 1892" của Pháp.

Súng Áo-Hung Austro-Hungarian Kropatschek Carbine M1881, cũng như bản nhái của nó là Lebel Pháp, đều là trung gian giữa hai đợt, đã thu nhỏ đạn nhưng vẫn dùng băng ống gỗ dọc.

Austro-Hungarian Mannlicher Model 1885 là đại diện đợt này của Áo-Hung, nó là súng "Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng, kiểu khóa chèn nghiêng sau này sẽ phát triển thành những BAR-ZB-Bren-SVT-FN FAL... Krag-Jorgensen được dùng ở các nước Bắc Đức Đan Mạch/Na Uy (không sát nhập vào Đế Quốc Đức của Phổ) và sau đó truyền sang Mỹ.

Tuy có nhiều, nhưng các súng đợt này thì trừ các bản "Straight-pull bolt action" đều xoay quanh các thiết kế Mauser và Mosin. Mauser có bộ kim hỏa tinh vi hơn bao gồm chức năng khóa an toàn.

Winchester Lee Navy rifle model 1895 Mỹ cũng là "Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng, nhưng đơn giản hóa chèn nghiêng thành bản lề sau này sẽ tiến thành các trung liên BAR Mỹ và FM 1924 Pháp.


Đợt 3: chống trên mũi nhọn 190x
Đó là các bản G88 Mauser, Mosin M1908, ".3006" Mỹ.... và các súng khác. Các súng này có cỡ nòng giống như trước, bắn được lẫn đạn, ở nhiều nước không có phân biệt rõ rệt. Cải tiến đợt này chủ yếu là ở đạn, chuyển sang lõi thép vỏ đồng.

Đợt 4, súng trường xung phong lần 1
Gồm các súng trường xung phong assault rifle bắn đạn có cỡ đường kính nòng như súng trường cũ. Như AK 7,62mm (thường gọi không đúng lắm là AK=47), FN FAL, FN FNC Bỉ bán cho rất nhiều nước, G3 Đức và bán cho một số nước.

Cải tiến lớn nhất của đợt này là giảm động lượng đầu đạn để có thể bắn liên thanh trên tay.

M14 Mỹ thật ra là M1 Garand liên thanh cũng thi đua trong đợt này nhưng không thể xung phong vì nó giật như AVS-36 hay AVT (bản liên thanh của SVT). M16A1 cũng thuộc nhóm quái thai a dua đợt này mặc dù đạn nhỏ, vì nó quá lởm đạn yếu.

Đợt 5, súng trường xung phong lần 2
Thu nhỏ đầu đạn xuống AK-74. NATO chấp nhận sử dụng bản nòng-đạn FN SS109 (FN= Fabrique Nationale Bỉ), Mỹ áp dụng nòng đạn này lên M16 thành M16A2.
==================



Súng trường và súng ngắn cổ truyền trước cách mạng súng ống hiện đại
Súng trường cổ. Trước khi có súng hiện đại, thì súng cổ là súng nạp miệng, đã chuyển sang hạt nổ , thôi không dùng đã lửa, ví như anh Phú Lãng Sa "Le fusil d'infanterie de 18 mm modèle 1842 T". Những súng cổ này xuất hiện ở châu Âu từ trước chiến tranh Bắc Âu 1700 ở Ottoman và Thụy Điển, trong chiến tranh này Piotr làm ở Nga, sau đó truyền đến Pháp 1717 và Anh 1747. Ban đầu chúng là đá lửa, sau đó chuyển sang hạt nổ đầu tk19. Cỡ nòng của chúng khoảng trên dưới 17mm, đầu đạn khoảng 30 gram , như Thiên Tự "trọng bát tiền diên tử" 17mm đạn nặng 8 đồng cân. Cỡ đó là cỡ hòn chì hình cầu khoảng 17mm.

Chúng ta vinh dự có Hồ Nguyên Trừng đã chỉ huy format khẩu súng trường đầu tiên trên thế giới, tuy rằng lúc đó nó còn yếu do chưa có kỹ thuật khoan nòng dài. Thiên Tự là tên Trung Quốc đặt cho súng này khi Hồ Nguyên Trừng bị bắt sang đó cùng 17 ngàn kỹ thuật viên của ông, bắn đầu sản xuất khoảng 1409.

Có thể nô tả súng cổ đó như sau, nạp miệng thuốc rời, cả lê dài hơn 2 mét, nặng 4-5kg, nòng trơn, súng dài để làm cán lê giáp lá cà. Sơ tốc 250-300 m/s vừa đủ sức chịu giật của người. Cũng có một số nỗ lực làm xoắn nòng trơn, như siêu súng siêu đạn Miniê Pháp, bán sang Mỹ đăng ký phát minh năm 1959, nhưng siêu súng Minie cũng không khác gì siêu xe tăng, siêu máy bay nhà Mỹ ngày nay, toàn nổ tung trời.

Một số nước tiên tiến trong nhóm súng cổ sẽ dùng cỡ đường kính nòng bé hơn một chút, còn những nước ngớ ngẩn như Anh Pháp thì chỉ thích to. Nga-Phổ dùng khoảng 15-17mm, Anh-Pháp 17-19mm. Cỡ nòng to làm súng hơi nặng khi đấu lê, ngày đó không thể nạp đạn được khi giáp lá cà.

Tầm bắn hiệu quả của súng cổ rất kém, có thể sát thương được ngoài 300 mét nhưng bắn chính xác bia to hình người đứng chỉ đạn dưới 50 mét.

Súng trường cổ dùng bộ máy cò flint-lock, thường được gọi ở ta và Tầu là súng điểu đầu, đầu chim, do các nước Đông Nam Âu và Pháp-Tây-Bồ-Ottoman thường quan hệ với phương đông manhg theo kiểu "đầu thiên nga" của họ. Còn Anh Thụy Điển... dùng "đầu chó". Đó là hình dáng cái búa. Búa súng chạy bằng lò xo lá ngắn, búa nặng gây rung theo chiều xoắn và ngang trục nòng, làm lệch trục rất nhiều trước khi điểm hỏa. Tuy nhiên, với độ chính xác của súng nòng trơn thì điều này không quan trọng.


Vật liệu làm súng cổ
Súng trường cổ chủ yếu được làm từ thép rèn. Đây là loại thép cổ không nóng chảy, có một số phương pháp sản xuất chúng, nhưng đều cho chất lượng không ổn định và thành phần không đồng đều trong mỗi khối thép. Một phương pháp được dùng để rèn kiếm Nhật, xuất phát từ phương pháp rèn thép Đa-mát (Damacus), là người ta làm gang xám dễ nấu chảy trong lò cao, nung đỏ khối gang xám, đập dẹt, gập lại.... nung đỏ đập dẹt gập lại... . Lớp gang xám gần ngoài khối gang nóng đỏ bị thấm oxy không khí cháy bớt carbon, dần dần cả khối gang dẻo dần thành thép. Vì kỹ thuật làm thép tốt nên Nhật Bản nhanh chóng thực hiện được súng hỏa mai tốt, khẩu súng mồi thừng có nòng dài 1 mét đường kính lỗ 10mm từ 1530. Tuy nhiên họ không kiếm được đủ trình độ làm lò xo để bỏ cái thừng mồi lửa như người Mèo ta.

Bên châu Âu, thép rèn sản lượng cao được làm từ các lò thấm carbone theo phương pháp xi măng, sắt xốp được làm từ các lò không nóng chảy như nung vôi, được rèn thanh thanh, lèn vữa trong các hộc lò, vữa chứa carbone như than củi hay bồ hóng, và có thể có chất thấm phốt pho chống gỉ như bột xương, tuy phốt pho làm thép ròn. Lò thấm carbone là lò lửa quặt như lò mác tanh nhưng nhiệt độ thấp 600-800 độ C rất dễ thực hiện, lò xây bằng đá sa thạch, có nguồn gốc Ấn Độ.

Thép rèn xấu đó chỉ làm nòng không cho ra bộ máy cò tốt. Ví dụ Anh Quốc đến đầu tk19 mới tự chủ được bộ máy cò. Trước đó họ nhập nguyên bộ từ Thụy Điển nên thừa kế kiểu dáng "đầu chó", Pháp nhập từ Ottoman sau đó là Áo thừa kế dáng "thiên nga" điểu đầu. Thụy Điển và các nước tiên tiến nấu chảy được thép mà không biến chất, cho ra "thép trắng" đồng đều, dẻo, đàn hồi, dai.... để làm bộ máy cò.



Súng ngắn cổ cũng dùng nhiều, có một bản đặc biệt là "hộp hạt tiêu" pepper box, tiền thân của các revolver. Súng "hộp hạt tiêu" có nhiều nòng nạp sẵn, mỗi phát bắn một nòng, thuận lợi khi giáp lá cà-xung phong, chính là tiền thân của "súng ngắn liên thanh" MP/PP. Loại súng này phát triển thành các revolver, đầu tiên là hạt nổ sườn Lefaucheux , sau đó có các revolver hạt nổ tâm như ngày nay. Các "hộp hạt tiêu", revolver , Lefaucheux .... là những súng có thể bắn được nhiều phát không cần nạp lại, nhưng không thể là súng tự động vì nó không tự động nạp đạn. Các súng này khi bắn hết đạn thì nạp vào rất lâu, đồng thời chúng có nhiều buồng đốt nên mỗi buồng đều mỏng yếu, không thể có đạn khỏe. Revolver , Lefaucheux.... và các súng ngắn nạp miệng cổ truyền cũng dễ dàng làm rãnh xoắn vì nòng nó ngắn, gia công và nạp đạn đều dễ.
=======================



Cách mạng súng và cách mạng thép.
Cuộc cách mạng súng ống ra đời cùng với việc thép chất lượng cao ngày càng nhiều, đặc biệt sau Siemens chế ra lò mác tanh ngày nay 185x, cho phép có nhiều công cụ gia công kim loại tốt. Đây cũng là điểm khởi đầu của thời hiện đại.

Lò Siemens cũng là loại lò lửa quặt nhưng lớn và dùng máy thổi, than cốc (than luyện), cho nhiệt độ cao. Lò Mác Tanh Martin là gọi theo tên phiên bản cải tiến năm 187x chủ yếu là các lò vớt nhiệt. Các lò này tiết kiệm nhiên liệu, rất nóng, có thể ủ lâu ở nhiệt độ cao mà không tốn nhiều để carbone cầu hóa, đồng thời thử đi thử lại cho thành phần thép thật đúng chuẩn.


Cuộc cách mạng súng ống đầu tiên "đợt một giữ thế kỷ 19" là nỗ lực chuyển sang nạp sau, nhờ đó thuận lợi cho dùng rãnh xoắn cho súng trường. Đạn xoáy cho phép trục đạn ổn định khi bay nên làm được đạn dài thay cho đạn cầu, vì vậy, các súng đợt này giảm đường kính từ 17mm xuống 11mm. Ở tỷ lệ giảm đường kính này, diện tích tiết diện đạn giảm gấp đôi tương ứng với kép dài đạn gấp đôi. Khối lượng đầu đạn vẫn như đạn nòng trơn cổ truyền, động lượng đầu đạn vẫn như cũ vì tuân theo lực giật điển hình .

Đặc điểm của đợt này là vẫn dùng thuốc nổ đen truyền thống. Đạn vẫn là đạn chì đúc.

Những súng tốt hơn sẽ có đầu đạn nhẹ hơn một chút đổi lấy sơ tốc, cho phép chính xác hơn chút. Khối lượng đầu đạn 25-30 gram, sơ tốc 300-375 m/s. Lúc này súng đã chính xác hơn, nhưng tầm bắn hiệu quả vẫn chưa khai thác được điểm 250 (300 tùy cách đánh giá rộng), để khai thác tối đa năng lực ngắm bắn của đa số binh nhất. Tầm bắn hiệu quả của súng thời này đạt 150 mét trong những bản đầu tiên và nâng dần lên. Đến cuối đợt này, khoảng cuối 187x đầu 188x thì những súng Áo 8mm đã đạt tầm bắn hiệu quả 250 (300).

Berdan 1870, Mauser IG71 và Gras 1874 đều là súng khóa nòng quay, cái đế tay cầm là tai khóa nòng dụy nhất. Thao tác kiểu bolt action / kéo khóa bằng tay , động tác kéo khóa vừa nhả vỏ (lên đạn nếu có băng) và lên búa cò.

Kết quả của đợt này là các súng dùng vỏ đồng có vai, hạt nổ tâm như ngày nay, nhưng có gờ móc như đạn Mosin (đạn PK) (hình ảnh đạn Mauser IG71). Gờ móc cản trở chuyển động của đạn trong băng hộp lò xo đẩy ngang như ngày nay. Gờ móc vừa để móc vỏ đạn ( extractor ) của khóa nòng làm việc, vừa để vỏ đạn không tụt sâu vào trong ổ đạn trong điều kiện gia công kém chính xác. Ký hiệu đạn gờ móc là R, như Mosin 7,62x54R.

Vỏ đạn làm bằng đồng thau có thành phần chính là đồng Cu, và phụ gia chính là kẽm Zn. Đồng thau dễ dập tạo hình và đàn hồi, dai (lâu bở khi va đập trong sức bền gọi là dai). Đuôi vỏ đạn là phần đặc để tránh sai số quá rộng giữa bịt đáy nòng và đuôi nòng. Khi đạn nổ, vỏ đồng thau nở ra thành van một chiều bịt kín, ngăn khí thuốc lọt về sau.

Hạt nổ đặt trong một lỗ khoan nông ở tâm đáy vỏ đạn dầy, có ống dẫn lửa vào khoang trong. Nga và Áo-Hung dùng ống dẫn hai bên thường được gọi sai là kiểu Berdan (xuất hiện rất lâu trước súng Berdan như Krnka 1857/67) , kiểu này đen đặt hạt nổ lồi tâm lên thành một kim hỏa phụ nên rất nhậy, vì gia công đắt nên Đức không theo vẫn dùng lỗ tâm.

Hồi đó dùng vỏ đạn dùng nhiều lần, xạ thủ có thể tự đúc đầu, chỉ mua thuốc và hạt nổ. Đầu đạn được đúc bằng các "khuôn tiêu chuẩn", nhiều khi đơn giản trông như cái kìm, gập vào để làm khuôn đúc, mở ra lấy đầu. Đầu đạn làm bằng chì pha 1-2% nikel. Người ta lấy giấy dầu lót chặt đầu đạn.

Xoắn đều chuyển sang xoắn chữ nhật thay cho xoắn tam giác (rãnh xoắn hình tam giác dễ gia công nhưng chóng hỏng) và xoắn đa giác (không cõ rãnh xoắn mà nòng hình đa giác xoắn dễ gia công và nạp miệng).

Ngoài các bản súng mới trung gian như Chassepot 1866 Pháp, Dreyse M1841 "súng mỳ" Zündnadelgewehr của Phổ, thì đợt này người ta hoán cải rất nhiều súng nạp miệng cổ sang nạp sau bằng khóa nòng lật trap door như Wanzl Infanterie Gewehr M1954/67 und M1862/67 (các model 1854/1862 hoán cải năm 1867). Một số súng dùng đạn mới cũng dùng trap door như các súng Mỹ đến 189x hay Áo-Hung bán lừa đảo các chư hầu loại súng Werndl Model 1867 Infantry . Trap door thao tác phức tạp, dễ kẹt vỏ đạn và đạn chưa bắn trong ổ vì không có móc vỏ đạn.

Hầu hết các súng của các nước lớn và tiên tiến Nga-Đức đều dùng 1 viên như Mauser IG71 nguyên thủy, Berdan 1870, Gras 1874. Anh Mỹ lúc này súng ống thậm tệ không đáng bàn, Anh vẫn dùng xoắn đa giác, Anh-Mỹ thì vẫn dùng cửa lập trap door.

Một số súng đợt này có băng đạn ống dọc như Fruwirth M1872 Áo-Hung. Băng này ngày nay chỉ dùng cho súng bắn đạn ria vì đạn ngày nay cứng nhọn đâm chọc nhau gây nổ trong băng. Lebel M1886 cũng băng ống gỗ dọc. Mauser IG71/1880 cũng băng ống gỗ dọc. Một số súng có ""Straight-pull bolt action", kéo khóa nòng thẳng" như Vetterli 1869Mannlicher 1885 , tiền thân của súng tự động.

Băng ống gỗ dọc cũng như súng ngắn revolver đều không thay nhanh lắp nhanh được, nên khi hết đạn trong băng mà đang chiến đấu thì thà lắp từng viên coi như không có băng, còn hơn là nhồi từng viên đến khi đầy băng. Vì thế ít nước dùng băng ống gỗ dọc kể cả những nước quân sự mạnh như Nga-Đức, mà Áo cũng chỉ dùng cho một vài mục đích, như hiến binh đuổi trộm cần bắn thật nhanh, hay thủy quân lục chiến xung phong.


Súng trung gian của đợt 1. Súng hiện đại đầu tiên, M1941 Dreyse súng mỳ Zündnadelgewehr của Phổ.
Các súng M1841 Phổ và mle 1866 Pháp đều dùng vỏ giấy, chúng là những sản phẩm trung gian. M1841 Phổ vẫn dùng cỡ đường kính nòng gần như cũ 15,4mm, nên đạn không nhỏ dài được bao nhiêu, vẫn gần như hình cầu, ban đầu là hình cầu, rồi dài ra chút hình trứng. Sau người ta làm đai đạn bao quanh trụ để có những ránh bớt khối lượng, đầu đạn dài ra chút. Tiếp sau nữa thì lõm đuôi được dùng để đạn dễ nở và dài ra mà không cần thay tiêu chuẩn nòng súng toàn quân rất rắc rối trong thời súng sản xuất rất chậm. Đường kính đạn lớn đương nhiên bị cản nhiều trong không khí. Súng có khóa nòng quay một tai như kể trên, tiến thành Berdan M1870-Mauser IG71-Gras mle 1874, và sau này phát triển thành khóa nòng quay 2 tai như Mauser-Mosin. Vỏ giấy thoát khí rất nhiều nên các súng này yếu, và hay kẹt máy súng do bột giấy không cháy hết khi lọt vào khe khóa nòng.

M1941 Dreyse súng mỳ Zündnadelgewehr có xoắn tăng độ chính xác và cái búa điểu đầu gây phiền. M1841 sử dụng lò xo xoắn ruột gà đẩy búa theo chiều dọc, cái lò xo ruột gà ngày đó hiếm có khó tìm và được gọi là mỳ. Như trên, cơ cấu này là cơ cấu chung của súng trường cho đến Mauser-Mosin. Các súng hoán cải và các súng chế tạo mới nhưng lạc hậu rẻ tiền dùng cửa lật trap door và búa điểu đầu không hưởng được việc tránh rung xoắn và đứng của ruột gà "mỳ". Mặt khác, một động tác kéo về đẩy lên của M1941 Dreyse vừa mở cửa, lên cò, còn cửa lật trap door thì lên búa thay đạn rời nhau làm lần lượt. M1871 - M1889 British Martini-Henry có một cơ cấu mở cửa lật để lên cả búa lẫn lật cửa, nhưng các súng cửa lật trap door lại không thằng nào có móc vỏ đạn , và không tiến lên có băng được. Martini-Henry là xoắn đa giác sao rất ngớ ngẩn sản xuất đến năm 1906 (ảnh đã sao lưu, ảnh to gốc, kích thước xoắn).

M1941 Dreyse súng mỳ Zündnadelgewehr đi trước quá nhiều thời gian trong thời này. Nó là một vinh quang của Phổ. Lúc đó, Đức chưa thống nhất được đến như ngày nay, vẫn còn nhiều nước Đức lớn chưa chịu nhập, (không kể các nước còn lại đến ngày nay như Đan Mạch Hà Lan....). Các nước Đức khác đều có súng riêng, vào thời điểm chiến tranh Pháp-Phổ 1870 thì các súng các nước nói trên đã có nhiều vỏ đồng 11mm ngon lành hơn Phổ về đạn, như Bavaria ban đầu dùng nạp miệng 13,9mm, hoán cải thành súng tuy hoán cải những vẫn cỡ nòng bẽ hơn Phổ Podewils M1858/67. Sau đó là M1869 Werder 11,5x50 R, Tuy nhiên, bản này lại dùng búa điểu đầu và khóa nòng lật như hoán cải.

Chưa hết sung sướng nếu đọc những nước Đức theo Tây khác, cũng dễ hiểu việc chúng bị Phổ làm thịt sạch. Mới nhìn cấu tạo súng đã thấy ngân sách các anh đầy giun sán giòi bọ. Mặc dủ các anh có thể sản xuất súng tốt như Mauser, nhưng cách anh không biết thế nào là súng tốt vì chóp bu các anh thối nát. Baden Jägerbüchse M1863 và Bavaria Gewehr M1867 đều có vỏ giấy như Prussia Dreyse IG M1841, nhưng vẫn dùng búa điều đầu, và đặc sắc nữa là hạt nổ rời như súng đá lửa Tây Phú Lãng Sa mle 1842 nói trên, búa không hề hiệu chỉnh để bớt rung đứng mà vẫn bổ chửng từ trên xuống. Đương nhiên hoán cải này rất dễ thực hiện nhưng nó không có kết quả của nạp sau là bắn chính xác.

Sau chiến tranh Pháp-Phổ thì có Mauser IG71 chung cho toàn nước Đức vì Tây Phú bị cưỡng bức rồi, mấy anh theo tây bị Phổ xích tuốt trừ mấy anh Bắc Đức như Đan Mạch dẻo mỏ còn đến ngày nay.

M1841 Phổ đặt hạt nổ ở tâm đuôi viên đạn, khi bắn kim hỏa phải xuyên qua thuốc, nên so với ngày nay có nhiều phát xịt. Chassepot mle 1866 thì đặt hạt nổ như vị trí ngày nay, nhưng đế đe của hạt nổ là vỏ giấy, kết quả thử nghiệm được làm giả để nhận thầu ồ ạt trước chiến tranh, Pháp bị Phổ bắn thua. Sau chiến tranh Pháp khoan rộng buồng đốt Chassepot mle 1866 để chèn sửa thành Gras mle 1874. Chassepot mle 1866 có cỡ nòng điển hình của đợt này 11mm, hiện đại hơn M1841.

Dễ thấy, Pháp thay súng trước chiến tranh dễn đến nhiều điều. Phổ vì thế vẫn dùng súng khá lạc hậu mặc dù trước đó 30 năm nó số một thế giới, mà không thay súng. Sau chiến tranh thì Phổ lấy vàng của Pháp mua Mauser IG71, Pháp thì hoán cải như trên, đến lúc người Pháp trắng mắt ra thì đã muộn, họ thay súng trước chiến tranh với một đống các quân xưởng bâu đầy các nhà thầu giun sán giòi bọ, họ ỉm đi kết quả thử nghiệm để có thầu, và ngớ ngẩn là bại trận rồi, mất vàng đền chiến phí rồi, mới làm vỏ đồng.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 21-01-2013 thời gian gửi bài 22:20
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (22-01-2013), tolaind (22-01-2013)
  #33  
Cũ 21-01-2013, 20:30
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Nối tiếp đợt 1 của cái post trên


Khi tinh thần cách mạng bên Đông Âu nổi lên, thì cách mạng là món hàng có giá và vẫn thường được tây Âu làm giả, cuộc cách mạng to nhỏ nào cũng vậy. Ví dụ sau.

Pháp không phải là không biết đến vỏ đồng, khẩu cạc bin vệ binh hoàng gia mle 1854 đã là vỏ đồng, nhưng vỏ đồng này hạt nổ lệch như súng ngắn Lefaucheux . Mút cơ tông mle 1954 có hạt nổ sườn, búa đập ngang, vì thế nó không thừa kế việc nạp sau dùng xoắn có mục tiêu để bắn chính xác, chỉ a dua a tòng dùng vỏ đồng mà không biết tại sao người ta lại dùng vỏ đồng. Súng này có đường kính rất hiện đại lúc đó 9mm, đầu đạn 11 gram, sơ tốc 547 m/s, phải nói là cực kỳ nếu như không đập ngang súng trước khi điểm hỏa. Được cái, súng được điểm sơ tốc như thế với một cái máy súng siêu đơn giản, khóa nòng then trượt đứng đồng thời là búa, không cần mì tôm mỳ sợi gì cả. Súng được nạm vàng, nên nó chứng minh rằng càng nhiều tiền càng dễ mua phải súng lởm.

Chưa hết, bác Tây Phú Lãng Sa còn có thêm đạn Minie làm xiếc súng nạp miệng xoắn. Minié ball là đăng ký phát minh tại Mỹ của một sỹ quan Pháp Claude-Étienne Minié lang thang sang kiếm ăn. Đạn có lỗ nở đằng sau, đường kính bé hơn nòng, khi bắn đạn nở ra khớp với xoắn trên thành nòng. Tất nhiên, các hãng bán súng Mỹ sau này sản xuất cả trơn và xoắn, vì nếu như viên đạn chì trứ danh Miniê có thành mỏng mà cong méo, thì phải đem súng đến lò rèn. Cái hài là, sau lần này thì lỗ nở này Anh-Pháp-Mỹ không dùng cho đến nay. Cùng là đạn NATO nhưng Đức cứ dùng đạn Đức. Bao giờ Đức-Nga cũng phải có lỗ nở, từ Krnka 1867 cho đến AK hiện đại. Người Pháp dùng lỗ nở để biểu diễn xiếc, còn Nga Đức để đạn gia công không chính xác khít với nòng mòn, nên súng của họ rất chính xác.

Sau hai lần dùng xoắn kiểu đó, thì bác Phú chuẩn bị chiến tranh với vỏ giấy giả vờ vỏ đồng bằng cách đặt hạt nổ y như vỏ đồng, và vì thế hạt nổ đặt trên đe bằng giấy. Napoleon III trước chiến tranh có câu "Đã chuẩn bị đến cái khuy áo cuối cùng trên quân phục người lính cuối cùng". Sau Napoleon (I, Bô na pác), những sức mạnh và vinh quang Pháp bị tiêu diệt, người Pháp tủi nhục, ngai vàng Pháp là những ông vua xác khô liệt não được ngoại bang dựng lên, nghiện ngập những đức tính cao quý của súc vật. Ngân sách thối nát bâu đầy chặt giun sán giòi bọ.


Ngoài những súng đó thì có khẩu Kammerlader 1842 Na-Uy. Súng nạp sau dùng nòng xoắn, đạn đai như M1841, nhưng không có vỏ. Phần buồng đốt lật lên đổ thuốc nạp đạn. Khẩu súng này có cơ cấu máy giống như khẩu "trung liên bắn đạn ria" "Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831". Tuy nhiên "Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831" không cần bắn chính xác như súng trường, nó là súng trợ chiến nặng 8,6 kg, đường kính 21,8mm; xoắn tam giác, vai trò như trung liên ngày nay. Kammerlader 1842 và "Le fusil de rempart de 21,8 mm modèle 1831" đều yếu do thoát khí quá nhiều, dùng hạt nổ.


Lùi lại thời gian, có bác Patrick Ferguson Anh-Mỹ. Bác là một sỹ quan Anh sang Mỹ đàn áp Washington. Trận đầu tiên tham chiến bác chết, thế là súng hết. Bác dùng một con ốc để đóng mở cửa hậu, thuốc bột rời, đá lửa.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Chúng ta cần hiểu rằng, không phải cứ có vỏ nạp sau là hiện đại, vì súng thế kỷ 15 đã có vỏ nạp sau để bắn cho nhanh. Cái buồng đốt là vỏ đạn, có thể có nhiều nhóm nhồi đạn , nhiều vỏ... phục vụ một khẩu súng bắn cho nhanh. Tiếng Thụy Điển là Vögler , Tiếng Bồ Đào Nhà là Ninigret , tiếng Đức là Vogler...

Vì khó đánh giá thế nào là hiện đại nên các chính khác tha hồ lừa đaqor ngân sách. Từ đây xuất hiện nạ quảng cáo súng, súng được quyết định bằng đoàn chó dại cùng ngu cực xuẩn và điên rồ hết cỡ trong xã hội thông qua quảng cáo, át lời thiểu số bác học.
=========================





Đợt hai 189x xuất hiện cùng với việc "gia công tấm mỏng" xuất hiện trong kỹ nghệ kim loại. Ban đầu, gia công tấm mỏng chỉ là làm thủ công, người ta đập dẹt kim loại bằng lò rèn thủ công. Sau đó các máy cán thép cho ra các tấm-dây sản lượng lớn, đem đột cắt, rồi dập nóng (rèn) hay dập nguội (nguội) , gò tán hàn... thành công cụ và chi tiết máy rất rẻ so với rèn và cắt gọt như cũ.

Thời này xuất nhiện băng hộp lò xo chuyển động ngang viên đạn như các băng đứng của AK hay băng trống của RPK như ngày nay. Cũng thời này xuất hiện nhiều băng đạn dây cho súng máy cũng tấm mỏng. Như nói trên, băng ống gỗ dọc không thay băng nhanh, nên khi hết đạn trong băng thì nếu như đang chiến đấu, thà là lắp từng viên coi như không có băng còn hơn. Băng ngang ban đầu là cố định, nhưng xạ thủ đem sau các kẹp đạn đã lắp sẵn đầy đạn để trút sang băng nhanh. Một số súng có cơ cấu hãm khóa nòng ở sau để dễ trút đạn. Ban đầu một số băng có 3 viên, về sau này tăng lên 5 và hơn nữa. Một số súng thay cả kẹp đạn, người ta nhét luôn kẹp đạn rẻ tiền vào băng, bắn xong vứt đi.

Việc dùng băng ngang dẫn đến việc cái gờ móc lạc hậu, nó cản chuyển động của vỏ đạn trong băng ngang. Điều này dẫn đến việc dùng vỏ đạn có rãnh móc thay gờ móc như G88 dùng đạn Mauser 7,92x57. Vỏ đạn có rãnh nặng hơn vỏ đạn có gờ một chút. Điều quan trọng với vỏ đạn có rãnh là nó cần gia công vai buồng đạn và vỏ đạn chính xác vì vỏ đạn không tụt sâu vào nòng bằng vai chứ không phải là bằng gờ móc nữa, điều này dẫn đến các máy móc khoan buồng đốt của nòng đắt đỏ hơn. Có một câu chuyện buồn là Mosin chấp nhận dùng gờ móc lạc hậu để dành việc cho các quân xưởng cổ truyền như Tula, nhưng những đợt hàng lớn đầu tiên của Mosin vẫn bị bán đứng sang Anh-Pháp-Mỹ, có lẽ vì thế mà cho đến nay PK không bỏ gờ móc để nhắc lính Nga cái thời Nga Hoàng bán nước toàn diện.



Đợt hai cũng đánh dấu việc bỏ thuốc nổ đen. Đông Âu chuyển sang thuốc súng cháy chậm, cùng một động lượng đầu đạn thì nòng súng mỏng hơn nhẹ hơn. Anh Mỹ dùng cordite vẫn cháy nhanh nhưng không khói.

Đích của việc thay thuốc đến WW2 mới đủ chức năng và cho đến nay vẫn hoàn thiện. Thuốc súng cháy chậm được làm bằng những chất rắn, cứng chắc, không vỡ khi bắn, không truyền chấn động vào sâu viên thuốc, nên chỉ cháy ở bề mặt viên thuốc, tốc độ cháy bão hòa tỷ lệ thuận vởi tổng diện tích bề mặt các viên thuốc. Nhờ thế người ta có thể tạo hình những viên thuốc sao cho nó thay đổi diện tích bề mặt như ý muốn. Ví dụ, đạn pháo ngày nay làm bằng những viên hình trụ rỗng to như ngón tay người, vừa cháy ngoài vào, vừa cháy trong ra, nên ít thay đổi diện tích mặt ngoài. Pháo có viên to dễ làm, còn súng trường cần viên rất nhỏ nên khó làm, đến thời AK viên thuốc mới gọi là đều hình dẹt, còn trước đó vẫn là những dạng như đùn sợi hay vê viên giống như viên cám chăn nuôi.

Việc thay thuốc súng bắt đầu bởi pháo to ở Nga-Đức 187x. Bởi vì gia tốc đạn pháo nhỏ, thời gian chuyển động lâu, cần thuốc cháy chậm. Ban đầu thuốc súng thay bởi nitrô-xenlulôz (nitrocellulose) như poudre B Pháp. Poudre B là nitrô-xenlulôz khử acid, trộn keo da trâu gelatin và 2% nến faraffin, hòa dung môi ê-te (ether), cán, sấy thành giấy mỏng, cuộn thành cuộn hay cắt vụn cho vào vỏ đạn lebel (giống như kỹ thuật làm phim chụp ảnh ngày đó). "Viên giấy cắt vụn" này quá sơ khai. Sau đó Nobel đưa "thuốc súng đường đạn" "Ballistite" và đăng ký phát minh ở nhiều nước để bán thương mại, sau khi ông đăng ký ở Thụy Điển quê ông. "Thuốc súng đường đạn" ghồm 2% chất Diphenylamine (C6H5)2NH để ổn định, còn lại là hỗn hợp nitrô-xenlulôz (nitrocellulose) và nitrô-glyxêrin (nitroglycerin), hỗn hợp được hóa keo trong long não camphor C10H16O, tạo hình rồi sấy khô. Với súng trường có viên thuốc nhỏ thì tạo hình thường là đùn thành sợi rồi cắt lát. Tùy từng loại súng mà người ta gia giảm hai thành phần chính và kích thước hình dang viên thuốc đễ có tốc độ cháy và tốc độ tỏa năng lượng như ý. Đến năm 1907 thì long não được sản xuất nhân tạo quy mô lớn ở Tainionkoski/Phần Lan, nên thuốc súng tốt đã quá dễ để cho ra Mosin M1908.



=
Tây Âu đánh giá thuốc súng Đông Âu.... và đưa ra hai kết luận như sau.
Một là nó không có khói
Hai là mật độ năng lượng / khối lượng cao

Thế là Anh Mỹ đưa ra cordite, thuốc súng thừng. Thuốc này không có khói và mật độ năng / khối rất chi cao.... VL Tây Âu. Quá dễ để các nhà khoa học Tây Âu hồi đó nghiên cứu các bài báo khoa học Đông Âu cũng như phân tích thuốc súng Nobel xem có những chất gì. Không có khói và mật độ năng lượng cao thì đúng là mạnh rồi còn gì nữa nào.

Vấn đề là, cordite làm bằng phương pháp đùn sợi. Để trơn tru dễ đùn, cordite có lượng khá lớn vadelin, tức là mỡ gốc dầu khoáng, nó nhẹ hơn một chút loại mỡ cho vào vòng bi, các quý cô cũng hay dùng làm trơn da. Vadelin cũng kỵ nước nên về sau này nó có tác dụng bảo quản rất tốt, chống ngấm nước hút ẩm. Nhưng vấn đề là, cordite có thành phần vadelin nên nó là một thuốc nổ dẻo, truyền phản ứng cháy vào bên trong khối thuốc, không thể làm thuốc súng hiện đại được.

Một điều ngu xuẩn là. Dù cho có dùng thuốc nổ đen làm thuốc súng như cổ truyền, thì lượng thuốc súng cũng rất nhỏ so với khối lượng đầu đạn. Đến đạn hiện đại mạnh như AK chẳng hạn, thì chỉ có hơn 1 gram thuốc súng hiện đại, nếu thay thuốc nổ đen là 3 gram, vẫn nhồi thừa thãi vào cái vỏ đạn AK hiện đại. Đầu đạn AK nặng 8 gram và cả vỏ là 16 gram. Như thế, nếu AK dùng thuốc nổ đen thì nó sẽ nặng 18 thay cho 16, tăng không đáng kể. Thuốc nổ đen hiện đại cũng không khói và được sản xuất rất nhiều, không khói vì hiện nay người ta dùng đường ăn trộn với NH4NO3, là những chất dễ kiếm và rẻ tiền hơn nhiều KNO3-S-C.

Lee Enfield đã có tai chịu lực kéo dài phần thép dầy ở vỏ máy súng, lại có thuốc súng "thuốc nỏo đen cổ truyền không khói" nên sơ tốc hàng 700m/s không bằng các bản cạc bin cưa nòng cho ngắn của Mauser-Mosin. ".30-06" Springfield cùa Mỹ đạt sơ tốc đến hàng 800m/s gần bằng Mosin thì vỏ đạn nặng ục, 64x7,62 so với 54R x 7,62 (Mosin).

Còn Pháp, thì Giáo Chủ Ri-sơ-li-ơ, thiết giáp hạm Richelieu , soái hạm Pháp, đã bay mất nòng trong trận đánh đầu tiên tại Dakar Senegan 23-25 tháng 9-1940. Thuốc poudre B Pháp được cải tiến nhiều lần. Nhưng như chúng ta thấy, thuốc súng tốt không phải là một thứ thuốc, mà mỗi súng người ta sẽ trộn tỷ lệ thuốc khác nhau, ép thành các viên hình dang kích thước khác nhau, không có thứ thuốc nào chúng như mopij loại súng như poudre B Pháp hay cordite Anh-Mỹ cả.


Tuy nhiên. Vấn đề gia công đạn lõi thép vỏ đồng không đơn giản, nên bước 2 chỉ dừng ở băng ngang, và cải tiến chút thuốc súng, vẫn là đạn chì đúc tuy nhanh hơn chút. Sau khoảng 10 năm thì vẫn các súng đó chuyển sang bước 4 thay đạn "chống trên mũi nhọn", hầu hết đều bắn được chung đạn, nhưng phair thay thước ngắm chẳng hạn.




Đồng thời các mác thép đã chuẩn nên thép súng đã tốt hơn, gia công bằng máy chính xác hơn cắt gọt bằng các công cụ thủ công, nên máy súng chau chuốt hơn. Các súng khóa nòng quay Mauser, Mosin.... và các súng khác đều dùng 2 tai nhỏ thay cho 1 tai trên cán tay cầm như Berdan và IG71. Hai tai trước (ngay sau nòng) cho phép đường truyền lực rất ngắn, khóa nòng và vỏ máy súng đều nhẹ đi mà đắp vào nòng, nhưng Lee-Enfield và các súng Mỹ cho tai chịu lực về sau để gia công rẻ, né được cái cổ vỏ máy súng khoan khoáy phức tạp. Lee-Enfield có đạn yếu xìu so với Mauser, Mosin, thậm chí không bằng những bản cạc bin nòng ngắn.


Lúc này chuyển đường kính đạn xuống 8mm (Lebel, nhưng Lebel chỉ cải đạn mà cấu tạo súng vẫn cũ, Berthier mới là súng thế hệ mới nhưng bên Pháp Lebel đã làm vua không cho Berthier được trang bị, nên 1900 thì súng thuộc địa Pháp tốt hơn súng chính quốc Pháp), 7,62mm (Mosin), 7,92mm (Mauser G98 và súng trường "hội đồng" G88).

Sơ tốc đầu đạn đạt 500-600 m/s. đợt này phổ biến dùng các đầu đạn 15 gram. Vẫn là đầu đạn chì đúc.

Các ví dụ về đợt 2 có G88 Đức, Mosin 1891 Nga, Berthier Pháp như trên chính là Anh Đô Si Noa nhà ta sau này, Krag – Jorgensen của Đan Mạch Na Uy Mỹ, Lee Enfield Anh, Mannlicher Model 1885 là đại diện đợt này của Áo-Hung.




Đợt 4. Đợt 3 có thể được chia làm đôi, đợt sau của đợt 3 là "đợt 3,5", đó là chống trên mũi nhọn 190x. Nhưng ở đây ta đánh số đợt 4

Mấu chốt kỹ thuật của đợt 3 này là gia công được đầu đạn lõi thép vỏ đồng. Điều này cho phép sử dụng sức mạnh của thuốc súng mới. Hầu hết các súng đều không có thời điểm chính xác chuyển sang kiểu này trừ Mauser G98 năm 1898, ".30-06" năm 1906, Mosin M1908.

Riêng bác Lebel thì bác chống trên mũi tù vì băng ống dọc đạn thép chọc hạt nổ nhau gây tai nạn, không cho Berthier lên. Hài hước là từ khoảng gần 1900 thì súng thuộc địa như ANh Đô Si Noa nhà ta tốt hơn súng chính quốc vì dùng Berthier không có băng ống gỗ dọc phải cưa bằng đầu đạn lõi thép.

Tuy nhiên, bên Nga thì không dùng thuốc lởm của Anh-Mỹ-Pháp poudre B/cordite, muốn dùng "thuốc súng đường đạn" của Nobel, nhưng lại không có nhiều long não, trước đây được chưng cất từ một số loại gỗ. Thuốc súng dùng cho pháo lớn dên làm hơn, viên nó to, Nga tìm ra một số giải pháp đúc rắn tạo hình... nhưng súng trường thì khoai. Mosin đi hợ chậm M1908 nhưng là súng vừa mạnh nhất vừa chính xác nhất trong số các súng trường phổ thông ngày đó.



Các súng đợt này đầu tiên phải là Mauser G98 Đức/Phổ (Phổ thống nhất các miền dân Đức thì đặt tên đế quốc là Đức). G88 được gọi là súng hội đồng mặc dù nó rất giống các súng khác của nhà Mauser, nhưng nhà Mauser không hiểu vì sao dỗi không tham gia hội đồng. Mosin bắt đầu M1908 với việc Long Não để sản xuất thuốc súng đường đạn Nobel đã được tổng hợp bên Phần Lan thuốc Đế Quốc Nga năm 1907. Mỹ có ".30-06" nói trên.

Sơ tốc lúc này đạt 700 m/s (Lee Enfield Anh), 800m/s (Mauser), 870 m/s (Mosin, về sau còn 860 vì bỏ bản nòng dài).... và ".3006" Mỹ gần như Mosin nhưng đổi lấy cái vỏ đạn to tướng báo hại súng máy. Sơ tốc này làm vỡ đầu đạn chì, vì vậy các súng chuyển sang đạn thép có vỏ mềm bằng đồng. Đạn lõi thép vỏ đồng đầu nhọn sinh ra việc áp dụng thuật phóng "chống trên mũi nhọn". Trong thuật phóng này, đầu đạn có một cái "mũi đường đạn" xé không khí, toàn bộ viên đạn sau mũi đó nằm trên buồng chân không do mũi tạo ra. Việc đạn xoáy và vì thế nó như con quay, luôn muốn chổng ngược trọng tâm lên mũi đinh quay. Điều này giúp đầu đạn uốn dẻo theo đường cong của đường đạn.

Đạn xoáy cũ không có đầu nhọn do đúc chì, đồng thời đạn bay chậm buồng chân không bé, mà đạn thì lại to dài thò ra khỏi buồng đó, chỉ cố định trục đường đạn.

Khối lượng đầu đạn giảm xuống còn 9,5 gram cho đạn sát thương điển hình, 12 gram cho đạn súng máy có khả năng xuyên tốt hơn. Khả năng bắn trúng bia hình người (tầm bắn hiệu quả) lên đến 600 mét, thừa gấp đôi khả năng ngắm bắn của binh nhất điển hình. Mức động lượng của đầu đạn vẫn giữ gần bằng cũ - tính từ thời nạp miệng. Các đạn cầu nạp miệng Nga-Đức thời Napoleon cởi truồng khoảng 15-17 mm có động lượng cũng ngang với Mosin-Mauser ( đạn cũ nặng 27-30 gram sơ tốc 300 m/s, đạn mới 9,5-12 gram sơ tốc 800-900). Đây gần như là "tiêu chuẩn động lượng" phù hợp với sức chịu giật người lớn khi bắn phát một.

Ban đầu, các đầu đạn như G98 chọn cỡ 12-13 gram. Tuy Mosin chưa được duyệt loại đạn mới (năm 1908), nhưng đã chỉ ra cỡ đầu 9,5 gram. Loại đầu nhẹ này xuyên giáp, xuyên rừng... không bằng đạn nặng, nhưng sơ tốc lớn-buồng chân không dài, đạn ngắn, nên chính xác hơn trong khoảng 600 mét đầu tiên, và xuyên qua phần lớn các giáp cá nhân kể cả như ngày nay. Đến năm 1930 thì có một số ý kiến quay lại đạn nặng vì xe thiết giáp lúc đó nhiều, nhưng sau đó ý kiến này nhạt vì đạn súng trường thôi không hy vọng đánh xe tăng nữa. Tokarev đến 1936 đưa ra đạn phức tạp như đạn pháo có sức xuyên và chính xác tốt cho Mosin.

Bên Anh Mỹ thì muốn dùng súng máy bắn diện tích, nên sử dụng đạn nặng. Đức thì phái Hitler không giỏi về súng ống lắm nên nửa nhẹ nửa nặng 12 gram

Các đường đạn chống trên mũi nhọn ngày đó vẫn được dùng cho đến nay như Mosin và NATO 7,62x51. Sau này các súng này chuyển sang tự động lên đạn. Cỡ đạn này không cho phép dùng liên thanh với cỡ súng cá nhân 3-4-5 kg vì rất giật. Xô-Đức đều có những súng như thế ví dụ AVS-36, AVT-40 (bản liên thanh của SVT), nhưng đều không dùng. Còn Mỹ thì có bác M14 sang Việt Nam bán vung và còn nhồi cho Nhật Bản bại trận. Các bản xung phong của FN FAL, FN FNC, G3, CETME.... đều cắt ngắn nòng đi để giảm động lượng khi xung phong. Để ổn định, thì ít nhất súng phải nặng 7kg, quá nặng với cá nhân.




Đợt 4 của cách mạng súng ống là AK năm 1949.
Nhưng như chúng ta đã biết, do 3 đế quốc Đông Âu tan vỡ nên chương trình chậm lại, đáng ra đợt 4 đã xuất hiện cùng với các súng Mondragon (Mexico, Thụy Sỹ và Đức thiết kế chế tạo), Fedorov Avtomat (Nga).

Bản chất của đợt 4 là các máy móc gia công hàng loạt đạn đã nhiều, cũng như các máy móc gia công hàng loạt các mặt hàng khác. Điều này cho phép tạo hình thuốc viện điểu khiển đúng tốc độ cháy, đạn mạnh, cũng như đạn nhiều như biển và rẻ.

Tác dụng với súng ống của đợt này là cắt bớt động lượng đầu đạn để có thể bắn liên thanh trên tay khi xung phong.

Mỹ đưa ra khẩu súng lởm M16A1 năm 1967. Nó lởm quá đến nỗi chẳng nước nào mua, chúng ta sẽ nói sau. Lúc đó ngoài quân bộ binh Mỹ thì chỉ có các cỡ Nam Hàn, Nam Việt... là dùng M16. Kể các các đồng chí thân nhất của Mỹ, hay bị Mỹ đô hộ nhưng còn có chút quyền... như Úc, Canada, Anh, Nhật... đều chổng mông vào M16. Các nước trên trừ Nhật dùng FN FAL, các nước đánh giá súng tiên tiến hơn dùng FN FNC. Nhật dùng M14 là bản liên thanh của M1 Garand.

Các súng FN FAL, FN FNC (Bỉ), G3 (Đức), CETME (Tây Ban Nha-Thụy Sỹ) đeeuf dùng bản nòng ngắn để xung phong. Làm đạn to nặng, nhưng ném sức đạn đi... là NATO sỉ nhục Mỹ trong thời AK.

Hầu hết thế giới dùng FN FAL, đây là bản copy SVT có cải tiến một chút để dễ tháo lau trích khí, đồng thời khung vỏ máy kiểu gập thích hợp với điều kiện gia công truyền thống của nước này (giống khung súng DP). Một số các nước dùng FN FNC, đây là bản nhái AK nhưng có 2 cải tiến, một là khung súng gập như trên, hai là chuyển tai quay từ đầu to xuống chuôi khóa nòng, điều này sẽ thuận tiện hơn khi gia công trên máy phay/tiện đa năng thường (phôi được đặt trên trục quay như máy tiện, lưỡi gia công quay như mũi khoan), sau đó là máy điều khiển số CNC. Còn AK thì bệ-khóa phải dùng bộ gá chuyên dụng, không thích hợp với các nhà máy làm ra nhiều loại súng bán nhiều nơi.

Chúng ta đang nói đến súng ngắn liên thanh tranh ngôi súng trường xung phong, xuất phát từ những rối loạn chính trị bên Đức và sự tan vỡ khó khăn của 3 đế quốc Đông Âu, chính điều này là nguyên nhân chủ yếu đẩy lùi đợt 4 đến 40 năm.



Đợt 5 của cách mạng súng ống là AK-74 năm 1974
Đạn AK-74 phức tạp như đạn pháo, thực hiện được bằng các máy móc điện tử mới xuất hiện. Như thế, cho phép giảm động lượng đầu đạn xuống nữa mà súng vẫn khỏe, giảm khối lượng đạn, lính mang được nhiều đạn.

AK chuyển từ 7,62x39 xuống 5,45x39. AK chỉ giảm đường kính nòng đạn, chiều dài nòng đạn và các chi tiết khác giữ nguyên.

Đạn NATO 7,62x51 nặng 25 gram. Đạn Mosin nặng 22 gram, đạn có gờ móc nhẹ hơn một chút vì đạn có khe móc đế dầy, đồng thời Liên Xô cách mạng luôn cái vỏ đạn chuyển sang vỏ sắt. Đạn AK 7,62mm nặng 16 gram, đạn AK 5,45mm nặng 11 gram.

Đến đây, thì các FN FAL, FN FNC, G3, CETME.... dùng đạn NATO 7,62x51mm quá nặng sop với đạn AK. Tỷ số là 25 gram / 11 gram, suýt soát 2,5 lần. Vậy nên NATO mới thống nhất nòng / đạn mới do FN Bỉ đề xuất, là FN SS 109. Mỹ chuyển tiêu chuẩn này samng hệ inch là M855 Mỹ. Nòng đạn này mạnh nước nào nước ấy áp dụng. Mỹ là M16A2. Chương trình này bắt đầu áp dụng đầu 198x.

ôi trời, mạng ở nhà đang dỡ nhà hàng xóm phải thay dây, ra quán chát mãi mới chọn được cái key, thì đang gõ mất mouse, thôi, pause hôm nay.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 21-01-2013 thời gian gửi bài 23:49
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (21-01-2013), tolaind (22-01-2013)
  #34  
Cũ 22-01-2013, 01:04
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Như trên. Nước Đức bước vào chiến tranh Xô Đức không có vũ khí tốt so với Liên Xô, nhưng tiến nhanh ào ào bởi hai thứ, một là các binh đoàn cơ giới thiết giáp, hai là súng ngắn liên thanh MP.

Tuy nhiên, chiến tranh không lâu thì người Đức thấy súng của họ không tốt, nên có MG42, G43 và sau đó là MP45. Kể cả họ có điều đó bằng copy luôn bộ phận máy Liên Xô mà tất cả lính Đức đều biết.

Liên Xô chủ quan không coi trọng súng ngắn liên thanh, đúng là súng ngắn liên thanh là súng lởm, nhưng sai lầm của Liên Xô là không kịp phát triển bản súng trường xung phong thay thế, nên Liên Xô thiếu súng xung phong. May cho Liên Xô là Tokarev đã làm cỡ đạn súng ngắn chuyên dùng cho súng ngắn liên thanh 7,62x25 Tokarev, nên súng ngắn liên thanh Liên Xô PP dễ dàng nhanh chóng vượt mặt MP Đức chỉ bằng khẩu súng ra đời cùng chiến tranh PPSh-41. Có khoảng 6 triệu PPSh được sản xuất trong chiến tranh so với 1,2 triệu SVT.

Không phải là SVT đáng khinh hơn, mà thật sự súng ngắn liên thanh quá rẻ mạt. Đức dựa vào cái rẻ mạt đó nên ưu thế của họ cũng rẻ mạt dễ mất.


Lúc bấy giờ, súng máy là mặt hàng quýt sờ toọc, rất đắt đỏ, nhưng trừ súng ngắn liên thanh vì súng ngắn liên thanh rất rẻ mạt. Chính vì thế, Hitler và băng đảng đã lừa đảo, rồi hút máu ngân sách quân sự Đức từ lúc chưa chiến tranh, và Đức bại dễ dàng trước Liên Xô.

Chúng ta đã nói nhiều đến khóa nòng, trích khí... Súng ngắn liên thanh hầu hết đều không cần quan tâm đến khóa nòng trích khí. Chúng ta thấy Đức trong chiến tranh không thật sự hoàn thiện khóa nòng và trích khí, nên súng ngắn liên thanh quả thật là súng máy .... thành công nhất của Đức.


Thế này, súng ngắn liên thanh không có khóa nòng, không có trích khí, mà là lùi tự do. Phản lực của đạn đẩy bịt đáy nòng lùi, bịt đáy nòng chuyển động theo quán tính và lò xo lùi về tiến lên, thực hiện tháo vỏ nạp đạn điểm hỏa. Hầu hết súng ngắn liên thanh chỉ bắn được khi khóa nòng mở. Cái khóa an toàn của MP Đức càng siêu đơn giản nữa.


Súng máy lo nóng nòng ? súng ngắn liên thanh dek lo vì áp suất nhiệt độ thấp, đạn yếu xìu.

Vấn đề là, súng ngắn liên thanh rất dễ thực hiện nhưng không khai thác đủ sức ngắm của người lính, nên chẳng nhẽ mỗi lính mang 2 súng, một PPSh và một SVT.

PPSh-41 mạnh mẽ vì đường đạn là chính, súng làm việc không êm bằng MP38/40, nặng hơn một chút. Ưu điểm của PPSh chỉ là không quá lệ thuộc vào gia công tấm mỏng, mà những bộ phận quan trọng nhất như khối lùi và phần dưới vỏ máy súng được rèn, điều này huy động một sức sản xuất lớn nhanh chóng bằng các máy rèn khuôn đơn giản.

Đường đạn Tokarev 7,62x25mm mạnh vì nó được thiết kế ban đầu là đạn cho súng cầm hai tay trên tiền duyên, chứ không phải là loại súng ngắn cầm một tay. Như đã nói trên, ban đầu Tokarev thử một loại súng ngắn liên thanh năm 1927, sau đó ông đi làm đạn, áp dụng trên súng ngắn cầm một tay K54 TT-33, rồi ông bị triệu đi làm đại liên và SVT quan trọng hơn, bỏ bễ súng ngắn liên thanh. Vì thế, nên đạn Tokarev là đạn súng ngắn liên thanh nhưng lại được áp dụng lần đầu trên súng ngắn cầm một tay.

Đạn Đức 9×19mm Parabellum dùng cho súng ngắn cầm một tay P08. Đạn có đường kính lớn hơn cỡ súng trường, nhờ đó, đầu đạn ngắn gia tốc mạnh thích hợp với cái nòng ngắn tũn của súng ngắn cầm một tay. Nhưng đạn đường kính lớn bị không khí cản nhiều, bắn gần. Sau này, Đức cải quá áp hết cỡ, đến mức bắn trên súng ngắn cầm một tay sẽ tai nạn, nên ghi "chỉ dùng cho MP". Phóng to đường kính đạn lên cho nòng ngắn, vì thế yếu quá nên cải quá áp... cũng là nghịch lý bên Đức, chính điều này làm đạn Xô mạnh hơn.

Hài hước là. Tuy phát triển với ứng dụng thuốc mới, nhưng Tokarev 7,62x25 được format từ đạn Mauser C96. Bản thân C96 cũng có nòng và báng cạc bin, rất dễ để trở thành đạn một súng ngắn liên thanh mạnh của Đức, nhưng Hitler không chọn, đương nhiên vì đó là đạn của phái bác học già Mauser.




Thật ra, bên Đức, phái Hitler không phải là đại diện cho đám bác học cốt lõi như các nhà chế súng bác học già bâu quanh Mauser. Chúng ta có thể ví dụ ngay cái ông Vollmer của Erma, đã chế ra MP38/40.

Vollmer có biệt tài về gia công tấm mỏng. Như post trên, gia công tấm mỏng bắt đầu đơn giản từ cuối 188x, rồi trở thành một ngành công nghiệp lớn. Khi người ta cán ra một số lượng lớn thép mỏng thì cưa cắt đột dập cho ra sản phẩm rẻ nhiều hơn rất nhiều cắt gọt và rèn. Mà trong súng ống thì băng đạn xuất hiện.

Vollmer trở thành ông chủ khi bán một mẫu máy cưa do ông sáng chế khi mới 2x tuổi. Rồi ông mở công ty, dây dần vào chiến tranh với việc gia công băng đạn. Đức bại trận và Volmer không thể trả được nợ cho đến đầu 193x. Trong thời gian đó ông đã bán một số mẫu súng cho Trung Quốc (Thập Lục Thức 1927), Tây Ban Nha (các VMP 35). Cuối cùng Vollmer sát nhập vào ERMA, cũng là một nhà buôn trẻ và một hãng súng trẻ.

Toàn bộ MP38 hầu hết là gia công tấm mỏng.

Với các công ty súng ngắn liên thanh Đức khác cũng thế. Những công ty và những nhà khoa học mỏng, thiếu tiềm lực toàn diện về khoa học, thiếu vốn tài chính... cùng đường phá sản bâu quanh Hitler.

Như bạn SSX đã post, Hitler tập hợp quanh mình các tư tưởng hận thù Do Thái và Nga. Nga đã phản bội liên minh Đông Âu Nga Đức và Áo Hung, tấn công vào sau lưng Đức cứu Pháp năm 1914, cả 3 đế quốc Đông ÂU bại trận thê thảm và tan vỡ. Sau đó Do Thái làm bần cùng hóa Đức 192x.

Và Hitler cũng tập hợp quanh mình các nhà khoa học và công ty cùng đường, chứ không phải các đại diện của súng ống Đức. Từ khi Hitler lên, thì lần lượt các nhà lãnh đạo MP làm "lãnh tụ công nghiệp chiến tranh" của đảng NAZI, Vollmer cũng làm một lần. Điều này đã gây họa cho súng máy Đức.

Trong các lĩnh vực khác như máy bay tên lửa cũng như vậy. Ví dụ, đạn tự hành-tự dẫn chống hạm được bỏ bễ, hay Panzer Faust (súng chống tăng cá nhân như B40/B41) đã có thể là ông Bụt hiện ra cứu Đức, nhưng bị bỏ bễ coi rẻ từ đầu chiến tranh. Đức miệt mài làm tên lửa V2 chả ăn nhằn gì mặt dù rất nổi tiếng và hiện đại, còn Liên Xô thì cứ Ca Chiu Sa đơn giản mà quạt.





Từ năm 192zx Mauser đã phát triển súng trường tự động như đã nói trên, và hầu hết các chương trình Đức đều dùng trích khí kiểu Bang. Năm 192x Mauser đã thử nghiệm kiểu súng như là G41(M) sau này.

Đến 1935 thì cục hậu cần Đức đã đưa ra chương trinh MKB35, cạc bin liên thanh. Cạc bin là súng trường nhẹ, và như thế đã rất gần súng trường xung phong. Đến năm 1939 thì lần đầu tiên tên súng trường xung phong được dùng, SK39, cạc bin xung phong sturm karabiner, từ bão tố sturrm được dùng để chỉ vũ khí tấn công.

Tuy nhiên, chỉ có vài chục mẫu SK39 được thử nghiệm trước khi quên.

Nếu nhìn lại những yêu cầu của hội đồng năm 1935 thì dễ thấy. Hội đồng bất lực. Những yêu cầu cảu hội đồng có điểm cốt yếu nhất, lại chung chung và không thể thực hiện nổi, do phái súng ngắn liên thanh phá đám, họ đứng đầu hội đồng mà. Ví dụ, hội đồng yêu cầu tầm bắn hiệu quả 600 mét, như thế là bằng Mosin-Mauser, và không thể bắn liên thanh được trên tay, chỉ giảm giật được khi súng nặng trên 7kg bắn trên giá 2 chân. Một súng như thế Xô-Đức đầy rẫy nhưng không dùng vào việc gì được.


Hài hước là, sau đó thì Đức gặp PPSh-41. Đức đã bóp chết súng trường xung phong rồi, mới định phóng to súng ngắn xung phong ra. Từ đó ra con MKB-42. Xưng là cạc bin làm cả làng chế súng Đức cười, nên khi được biên chế nó dập lên thân nó dòng chữ MP44, tức là súng ngắn liên thanh. Đầu đạn bằng AK, nhưng cỡ vỏ đạn quá bé, dù đã cải quá áp hết cỡ vẫn yếu. Thậm chí súng nặng đến hơn 5kg mặc dù là súng ngắn, ngang với trung liên RPK sau này, vì cải quá quá áp. Súng MP44 cũng dek cần có đến cái ốp lót trước để kéo dài bán kính tay cầm trước đặc trưng cho súng trường.

Máy MP44 cũng đơn giản, nó thu bé lại khẩu ZB-26(t) và lộn ngược xuống. ZB-26 là súng Tiệp Khắc bị sát nhập vào Đức, Đức tạm dùng vì không có súng máy tốt trước khi có Mg42. Trích khí xiên ngược của ZB khóm làm thì bỏ đi thay bằng tiết lưu sơ khai. Lúc đó, bên Nga kiểu chèn nghiêng đã phát triển thành 2 tai sườn SVT sau là FN FAL, một nhánh là đuôi bẹt rộng PTRS-SKS về sau có AS-44 cùng năm với MP44. Nhưng MP44 vẫn là khóa lưng cao thuần chủng sơ khai của ZB-26. Nhắc lại là, Xô-Đức không như Tây Âu Anh-Pháp-Mỹ, trừ ba phiên bản này thì không bao giời chấp nhận chèn nghiêng trong liên thanh. ZB-26(t) là súng Tiệp Khắc dùng tạm. AS-44 ra vội để thử nghiệm chiến trường loại đạn M43, AS-44 có kiểu khóa nòng chèn nghiêng nhưng đuôi bẹt như PTRS vàd SKS. Và một là MP44 bất đắc dĩ.

Có thể hiểu về các loại chèn nghiêng thế này. Chèn nghiêng gây rung ngang nên người Nga cố hết sức để giảm rung, những cũng chỉ áp dụng trên súng phát một trừ AS-44. Khi giảm chuyển động đứng của khóa nòng thì chiều dài chuyển động bệ khóa nòng ngắn, máy súng gọn nhẹ. Để giảm chuyển động đứng có kiểu 2 tai hai bên của SVT/AG42/FN FAL và kiểu đuôi bẹt rộng của PTRS/SKS/AS-44. Đuôi rộng ra khỏe hơn nên có thể làm bẹp để giảm chuyển động đứng. Từ kiểu ZB-26 đến SKS là một chặng đường rất dài nên MP44 sao lại dáng ZB-26 quá tụt xa.

MP44 dùng đạn 7,92×33mm, Pistolenpatrone 43, cùng năm với M43 AK. Pistolenpatrone là đạn súng ngắn, nó cũng như là chữ MP dập trên vỏ súng có nghĩa là Maschine Pistole, MP=súng ngắn liên thanh. Tuy nhiên, rất nhiều đám lợn cố chứng minmh đó là súng trường.



Chúng ta có thể so sánh, khẩu AS-44 ra đời sau MP44 một chút, cũng nặng bằng MP44, nhưng dùng đạn mạnh mẽ hơn nhiều. và nhắc lại là AS-44 là súng thiết kế vội vàng, chứ không như MP44/MKB42 mấy năm liền.


=====

Thế SK39 dùng đạn gì.

Trả lời là, rất giống đạn M43 Liên Xô. Khẩu súng thử các loại đạn tương ứng với các cỡ đường kính súng trường thông dụng Đức. Sau cùng, chương trình tiếp tục với GECO 7,92x40mm. 7,92 là cỡ đạn súng trường Đức Mauser, 7,62 là cỡ đạn súng trường Liên Xô Mosin. Người ta dùng cỡ đường kính đạn súng trường để không xáo trộn mạnh công nghiệp trong chiến tranh. Đạn M43 Liên Xô ban đầu là 7,62x41mm. Đến năm 1948-1949 AK mới dùng 7,92x39mm.

Như thế, Liên Xô tí nữa không có cơ hội format đạn M43, và bị tràn ngập bởi SK39. May cho Liên Xô là chỉ có đâu 60-70 mẫu SK-39 được chế tạo thử nghiệm, và nó còn rất lâu nữa mới thành công. Nhắc lại là, lúc đó Đức chưa có máy súng phù hợp, cả khóa nòng và trích khí. Một máy súng "thiết bị 06" về sau thành máy G3, CETME, MP45.... đã có, nhưng lại của bọn bác học già Mauser đáng ghét.

===
Câu chuyện là như vậy Hội đồng lợn thế giới thường chỉ AK bảo giống MP44. Thật ra, MP44 là súng ngắn chứ không phải súng trường, những thằng chế tạo nó và dùng nó dập lên đạn và súng chữ MP, nhưng hội đồng lợn quyết tâm bảo đó là súng trường. Thật ra, MP44 quá lạc hậu, quá sai, và là súng ngắn.

Đạn M43 Liên Xô format theo SK39 và chả liên quan gì đến M43 Đức bắn trên MP44 cả.

Đức có tham khảo Fedorov Avtomat không thì không biết. Nhưng rõ ràng Fedorov Avtomat là khẩu súng trường xung phong đầu tiên trên thế giới. Loay hoay 30 năm thì Fyodrov cũng xin được tiền format một loại đạn như ý, không phải dùng đạn Nhật Bản.
=============

Chương trình M43 được đầu tư rất lớn, có rất nhiều nhà khoa học tham gia. Ngoài AS-44 đến vòng cuối cũng còn kha khá. Đây là chương trình chế súng lớn nhất trong lịch sử cho đến nay.

Hầu hết các súng tham gia, toàn bộ những bản chung kết đều dùng kiểu khung súng Liên Xô, bao gồm phần trên vỏ máy súng bằng tôn mỏng dập. phần dưới khỏe hơn cố định, thay cho kiểu bản lề gập phần dưới xuống truyền thống, như DP trước đây, hay FN FAL/FN FNC sau này.

Alexey Ivanovich Sudayev đưa ra bản gia công tấm mỏng thay thế PPSh-41 là PPS-42/43. Súng có thể làm được và ban đầu làm trong Leningrad bị bao vây, được chú ý sản xuất khá nhiều. Khoảng nửa triệu súng được sản xuất từ năm 1943. Súng rất nhẹ và rẻ, nặng khoảng 3kg. Súng tiếp tục được sản xuất sau này đến năm 195x. Bản AS-44 có khóa nòng như là SKS. Súng đem ra chiến trường vài bản, từ trung liên đến súng phát một. Đây là thử thách đầu tiên của đạn M43, kết luận là súng khá nặng hơn 5kg.

Nhà Tokarev đưa ra một bản thử nghiệm nửa sau 1945. Tất nhiên là trích khí khóa nòng SVT rất giống FN FAL sau này, tất nhiên trừ cái bản lề gập phần dưới vỏ máy xuống của FN FAL.

Bulkin AB-46 giống AK nhất, thật ra AK đã học rất nhiều từ Bulkin AB-46. Bulkin AB-46 về đại thể giống AK phiên bản được chấp nhận, chỉ khác khóa nòng và trích khí. Trích khí Bulkin AB-46 là tiết lưu, nhưng liền với bệ klhoas nòng nhứ không rời như SVT, không có cốc như DP-SVT. Khóa nòng của Bulkin AB-46 cũng là quay hai tai, có chuôi to và khe quay trên chuôi.

Sau AB-46 thì AK giữ lại khóa nòng và trích khí, còn khung vỏ, cần đẩy về.... theo Bulkin AB-46. AK-46 vẫn còn cái cần piston rời và lò xo đẩy về như là SVT. Đến AK-47 thì đã đem khóa nòng trích khí lắp vào khung vỏ/đẩy về của Bulkin AB-46.


AK-46, cần piston rời và lò xo đẩy về như SVT
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


AB-46. Giống như AK sau này trừ trích khí và khóa nòng
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


AK-47, mẫu thắng thầu, khóa nòng trích khí AK lắp trên máy AB
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.



Từ sau năm 1947, đạn AK còn thay đổi nhiều nhưng không phải bên thiết kế súng làm. Ban đầu, vỏ đạn làm bằng đồng nặng hơn 20 gram. Sau đó, đạn có thuốc mới, vỏ thép, nặng 16 gram. Bản thân thuốc và vỏ cũng lại áp dụng cho Mosin, rút đạn Mosin từ 25 gram xuống con 22 gram.


Thế thì, chúng ta biết, khóa nòng AK được trình diễn lần đầu bởi khẩu súng phát một cùng tác giả năm 1944, lúc đó chưa có trích khí. Chúng ta tiếp tục với hai vấn để

AK lấy trích khí của ZB-26
Khoác nòng AK từ đâu ra ? khiếp vía cái văn minh súng ống ngu hơn lợn của Mỹ. AK không có liên quan gì đến MP44 cả, không như các đồng chí Mỹ sủa nhặng sị nhậu. Mà AK lấy khóa nòng, móc đạn trong băng, băng... của M1 Grand nhà Mỹ. Thế mà các đồng chí Mỹ không biết đến cái vinh quang đó của các đồng chí.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 22-01-2013 thời gian gửi bài 01:41
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (26-01-2013), tolaind (22-01-2013)
  #35  
Cũ 22-01-2013, 22:36
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Chúng ta đang quan tâm đến một chủ đền ồn ào, đó là AK sao chép lại khẩu MP44 Đức. Điển hình cho kiểu vũ khí Mỹ, vũ khí là chuyện trọng yếu nhất cuả một cường quốc, nhưng ở bên Mỹ vũ khí không được đánh giá bằng một thiểu số các nhà khoa học đứng đầu xã hội, mà được đánh giá bởi các quân đoàn chó dại được nhồi sọ bằng kiểu quảng cáo " tình nguyện viên" từ bán hàng cho đến chính trị, đàn đàn lũ lũ các học sinh trong các trường trông trẻ cấp bằng khống kiểu Mỹ, rỗi rãi vì không phải học, đầu óc đần độn bí bức điên rồ, cuồng nhiệt xuôngs đường và xông vào internet làm hồng vệ binh.

Khẩu MP44 Đức dập trên lưng nó dòng chữ MP44, tức là "MaschinenPistole", tức là "súng ngắn liên thanh". MP44 bắn đạn PistolenPatrone 43, tức là "đạn súng ngắn năm 1943". Những người chế ra MP44 gọi nó là súng ngắn, những người sử dụng MP44 gọi nó là súng ngắn, MP44 bắn đạn súng ngắn....

thế nhưng thế giới ngày nay, 60-70 năm sau MP44, có một đoàn lợn đi đâu cũng sủa nhặng sị nhậu MP44 là súng trường, MP là súng trường, MaschinenPistole 1944 là súng trường, Pistol là súng trường, súng trường xung phong assault rifle.... Tất nhiên, wiki là nơi mà các chó các lợn tập hợp đông đủ. Wiki là nơi tàng trữ phân phối những cám dạng như ớt là do Mỹ phát minh ra, và đến cả Kim Chi Hàn Xẻng cũng phải đợi Chủ Chúa Mỹ ban cho ớt. Khác hàng của những thúe rác rưởi nhảm nhí này là hàng đống nhân viên nhà nước được tuyển vào các cơ quan ăn lương ngân sách theo kiểu chạy đua số phiếu bầu, không có việc làm, thừa thời gian, nhiệt tình xông xáo làm tình nghuyện viên kiểu Mỹ, và đặc biệt xông xáo nhiệt tình là đám đàn bà nhà quê ra tỉnh, liệt não vì bị tràn ngập quảng cáo, thừa hoóc môn sinh dục vì chế độ cấm đẻ ngặt với nhân viên nhà nước. Nhiều khi, mình có việc trong các văn phòng kiểu này, vừa làm vừa tán dóc với các bà cô, giật mình, các bà cô cam đoan rằng, ớt ở xứ chào mào này có nguồn gốc ở Mỹ !!!! các bà các cô thời cổ không có ghen như Hoạn Thư vì không có ớt. (thật ra, ớt có mặt trên khắp thế giới, sách cổ châu Âu cũng nói nhiều đến ớt, Tầu cổ gọi ớt là hắc tiêu, Nhật cổ gọi ớt là đường tiêu vì nhập khẩu ban đầu từ nước Đường Trung Quốc, ớt châu Mỹ là thứ ớt rau quả to chúng ta thường ăn, không phải ớt gia vị và ớt màu để làm kim chi.)

Thậm chí, MP44 không thèm có ốp lót trước, đặc trưng của súng trường. Ốp lót là tấm làm bằng vật liệu cách nhiệt như nhựa hoặc gỗ bao quanh nòng, để xạ thủ có thể cầm tay trước ở vị trí nòng, xa hơn về phía trước, kéo dài "bán kính tay cầm trước", để tăng "độ phân giải" của góc hướng súng, tối thiểu vị trí tay cầm trước phải cách điểm tì vai 60cm để có tầm bắn súng trường 300 mét, khi đó tay cầm trước lệch 0,5mm là đạn lệch 25cm, ra khỏi bia số bốn 50cm. Súng ngắn không bắn được xa nên MP44 và PPSh đều đơn giản là cầm tay trước lên cổ băng, khoảng cách đến điểm tì vai quá ngắn so với súng trường trong tư thế bắn xa. Chúng ta có thể quan sát tư thế bắn xa của súng trường, cách cầm AK, MP44 không có ốp lót, và ảnh chụp tư liệu MP44 cầm cổ băng, ảnh bắn thử MP44ảnh bắn thử AK. Thế nào là vị trí tay cầm trước của MP Đức thì xem MP38, ảnh súng có dập chỗ cầm tay là cổ băngsỹ quan Đức làm mẫu. Có bạn đã từng hỏi, đương nhiên là MP38/40 không thể cầm lên phần nòng vì xung quanh nó không có tí ốp nào, nhưng MP44 có một cái ốp thép, vâng, thì AK cũng có cái ốp thép bên trong cái ốp gỗ, PPSh cũng có cái ốp thép, nhưng chỉ có thể cầm được vào đó khi bắn viên đầu tiên, vì nó không cách nhiệt, người ta làm cho nó như thế để xạ thu khỏi bỏng khi chạm vào, mà vẫn thoát nhiệt tốt. Súng trường khó làm hơn súng ngắn ở nhiều điểm, trong đó nó nóng hơn nhưng lại phải bọc ốp cách nhiệt. Như thế, MP44 không những chỉ dập chữ "súng ngắn" lên súng, mà nó còn cấm tiệt xạ thủ dùng MP44 như súng trường. Nhắc lại là, sau MP44 60-70 năm có đàn lợn kiểu Mỹ tìm mọi cách chứng minh P là súng trường.


Chúng ta đã biết, MP44 và AK không hề có điểm nào chung. AK là súng trường, MP là súng ngắn, AK có khóa nòng quay, MP44 là khóa nòng chèn nghiêng đời đầu thô thiển, AK là trích khí khí động xiên ngược, MP44 là trích khí tiết lưu sơ khai.

Nếu như có giống súng Đức, thì đạn AK rất giống đạn Đức GECO 7,92x40mm, loại đạn dùng để thử trong chương trình MKb35, MaschinenKarabiner, cạc bin liên thanh, AK cũng là cạc bin liên thanh. Cạc bin trong tiếng châu Âu là súng trường nhỏ ngọn. Thật ra, chương trình M43 có tham khảo Đức không thì không rõ, nhưng việc thu nhỏ đạn đến cỡ đó là hợp lý với bất kỳ những người định hướng chương trình nào. Như ta đã biết, cần đến một khẩu súng bắn liên thanh được trên tay mà không quá yếu như súng ngắn, tối thiểu phải bắn chính xác bia số 4 ở 250 (300) mét để khai thác hết khả năng ngắm bắn của các binh nhất, và mặt khác là không thay đổi đường kính, chỉ có thể rút ngắn chiều dài, nên việc ước lượng hết sức đơn giản và đưa đến kết quả giống nhau ở các nhóm thiết kế hoàn toàn tách biệt nhau, đừng nói là những chương trình quốc gia khổng lồ. Nga có 7,62x54R Mosin, Đức có 7,92x57 Mauser. Như thế thì đi đến một vỏ đạn có chiềudài giống nhau là chuyện thường. Đến lúc đó, các nhà khoa học đã có điều kiện nghiên cứu đường đạn chống trên mũi nhọn 30 năm rồi, quá thùa thời gian để định dạng đạn chuẩn xác. Thậm chí, các cỡ đạn đó đã được bắn thử từ lâu rôì.

Và, rất có thể Liên Xô khi format đạn M43 có tham khảo các kết quả bên Đức, vì trước khi đánh nhau thì Liên Xô và Đức trao đổi kỹ thuật quân sự mật thiết. Nhưng quan trọng là Liên Xô tham khảo SK39, chứ không tham khảo súng ngắn.

MP44 đã từng có thời tên là MKb, cạc bin liên thanh, gần giống súng trường xung phong. MKb42, MKb43. Nhưng như chúng ta đã thấy. SK39 mới là bản hậu duệ cuối cùng của MKb35, đến đây thì chương trình MKb bị đì chết. Phái Hitler lấy súng ngắn ra bảo súng ngắn là siêu súng, súng trường đã hết thời. Và Hitler đánh thắng Pháp. Nhưng mà súng ngắn thì Liên Xô có PPSh vượt mặt quá đơn giản. Lúc này súng trường MKb39 đã chết... thì Hitler lấy súng ngắn ra bảo đó là súng trường. Chuyện lừa đảo không nhồi sọ được tên lính Đức nào. Người ta dập chữ MP44 lên thân cái khẩu súng đã từng được tuyên truyền là MKb43.


Nếu nói chi tiết hơn về đường đạn thì chúng ta cũng đã biết. MP38/40 bắn bằng đạn 9x19, đạn đó thiết kế cho súng ngắn cầm một tay. Súng ngắn cầm một tay như P08 là loại súng ngắn để bắn ta, để chỉ huy chém đầu lính nhát gan, để cảnh sát ra oai với trộm.... Súng ngắn cầm một tay có nòng rất ngắn và yêu cầu tầm bắn hiệu quả chỉ 30 mét. Để thích nghi với nòng rất ngắn và tầm rất ngắn, người ta làm đường kính nòng lớn, đạn ngăns và có diện tích tiết diện lớn, gia tốc đạn lớn.... nhưng đạn đó nhanh mất tốc độ trong không khí, không thích hợp với loại súng cầm hai tay trên tiền duyên, không phải để ra oai, mà là chiến đấu một mất một còn, cần khai thác hết sức xạ thủ. Tokarev có thể không đúng lắm, đáng ra cần thu nhỏ đường kính, nhưng ít nhất là nó thu tầm trên quan điểm súng cầm hai tay như súng trường, súng chiến như súng trường.... nên nó thu ngắn chiều dài đã, chứ không phóng to cái gì cả. Đối lại, 9x19 dùng cho MP38 cải hết cỡ theo hướng quá áp, giảm độ bền nòng, mà vẫn tụt xa 7,62x25 của PPSh.

Chúng ta đã biết cấu taọ của thuốc súng hiện đaị. Khác với thuốc nổ cần cháy thật nhanh 9 ngàn mét / giây để thuốc cháy nhiều trước khi bị chính những thành phần thuốc đã cháy thổi bay. Thuốc súng tốt cần cháy chậm đủ mức, để khi đạn chưa dịch chuyển được nhiều, không gian còn bé, thì thuốc chưa cháy nhiều, không tạo áp suất quá cao, và sau đó giảm nhanh. Thuốc súng hiện đại vẫn phải chấp nhận áp suất giảm dần, nhưng cố làm sao để áp suất giảm chậm bằng giảm tốc độ cháy, nòng mỏng mà dài, cho sơ tốc lớn mà súng vẫn nhẹ, đồng thời nhiệt độ thấp lâu nóng nòng khi bắn liên thanh. Thuốc pháo lớn làm viên to như ngón tay cháy rất chậm, thuốc súng ngắn cầm một tay nhét thuốc nổ dẻo cháy nhanh cũng được. Việc cải quá áp, nhồi quá liều thuốc súng ngắn vào pháo.... thì không khác gì thuốc nổ đen cổ truyền.

Thật ra, số lượng MP44 không có nhiều, mặc dù nó được làm từ 1943. Ngày được chấp nhận là ngày 6-4-1943. Thế nhưng số lượng súng sản xuất được chỉ bằng 1/3 PPS trong chiến tranh cũng 1943. Chính vì thế mà nó là con ngáo ộp, chẳng ai nhìn thấy và ai cũng ngộ độc quảng cáo. Nếu nói về máy thì so luôn với AS-44 cùng năm 1944. Không nói trích khí SVT đến nay vẫn là hiện đại nhất của Mỹ, thì khóa nòng AS-44 đã là kiểu chuôi bẹt rộng giảm chuyển động đứng từ PTRS và SKS. MP44 cùng kiểu chèn nghiêng đó, nhưng vẫn là kiểu đứng lạc hậu xa vời từ thời ZB-26.

Như thế, Hitler định lấy súng ngắn làm súng trường, bẽ mặt. Hitler mới đạt tên súng bằng một từ không có chữ súng ngắn pistole, không có chữ súng trường büchse. Đó là gewehr . Rất nhiều lợn sẽ nói G98, G88 đều là G gewehr , nên gewehr là súng trường vì G88 G98 là súng trường. Sự thât là, gewehr là súng chính của lính, vì thế MP súng ngắn hoàn toàn có thể là MP. Ta có thể hiểu gewehr thế này, mỗi lính có một vũ khí chính như giáo, vũ khí phụ như kiếm hay dao găm.... thì trong trường hợp đó, giáo là gewehr. MP44 có tên là gewehr xung phong, gewehr bão tố, SturmGewehr 44.... nhưng quan trong là chữ StG44 không được dập, mà chữ được dập 70 năm trước là MP44 = "súng ngắn liên thanh 1944".

Và các lợn có thể nói Sturmgewehr 44 là khẩu súng trường xung phong đầu tiên trên thế giới chẳng hạn.... Có nhiều khẩu súng có khả năng xung phong bằng cách cắt ngắn nòng khi bắn đạn to. Nhưng, Fedorov Avtomat là khẩu súng trường xung phong ddầu tiên trên thế giới được chấp nhận năm 1915, chấp nhận bản thử nghiệm năm 1913, nó được thiết kế làm súng trường xung phong, chứ không phải là súng trường đối kháng tự động cắt nòng. Chỉ có vài trăm ngàn khẩu MP44 được sản xuất, bằng nửa PPS và là một phần rất nhỏ, 1/30 PPSh. Đường đạn của MP44 mạnh hơn PPSh một chút nhưng vẫn chưa đủ tuổi làm súng trường.

============

Chúng ta dễ dàng phân tích đạn MP44 thế này. Nó có vỏ đạn dài hơn các súng ngắn khác dùng cỡ đường kính súng trường. Ví dụ Mauser C96 Mao-de Mao-sắt và PPSh. PPSh dùng đạn có vỏ 7,62x25mm. Còn đạn của MP44 là 7,92x33mm. Khi cải quá áp hết cỡ thì sơ tốc của MP44 đạn hàng 600 m/s với đầu đạn 8 gram (bằng khối lượng đầu đạn AK 7,62mm có sơ tốc 710 m/s), còn PPSh đầu 5,5 gram sơ tốc 500 m/s.

Cải quá áp là gì ? Như đã nói trên, thuốc súng hiện đại hơn thuốc nổ đen cổ truyền ở chỗ cháy chậm, nhờ đó áp suất tăng chậm, giảm chậm, áp suất tối đa thấp, khí thuốc nguội, nòng súng mỏng và dài, đầu đạn mạnh, nòng bắn lâu không nóng.... Còn pháo dùng thuốc nổ đen cổ có nòng rất dầy gù lưng như gấu, có thể xem khẩu mle 1870 ở Bảo Tàng Quân Sự (bạn Chiangshan). Súng trường cổ như đã nói, nó có nòng khoan dài để làm cán lê thay giáo, chưa cái nòng dài đó không có mấy tác dụng đẩy đạn.

Để có áp suất tối đa thấp, thì người ta cần một thể tích ban đầu của vỏ đạn và nhồi vào đây một liều thuốc, thường chiếm 1/3 thể tích. Ví dụ đạn AK có thể tích vỏ 2,31 ml bvà nhồi 1,67 gram thuốc khoảng 0,8 ml.

Cùng một loại thuốc súng hiện đại, cùng vỏ và đầu đạn, thì cải quá áp là nhồi thêm thuốc vào cái vỏ đó để tăng năng lực đầu đạn. Việc cải quá áp là giải pháp giật gấu vá vai cho vừa tiêu chuẩn, vì nếu như không phải làm như thế thì người ta mở rộng thể tích vỏ đạn ra và kéo dài nòng ra. Như đã nói, MP38 cải quá áp vì Hitler dựa vào đám súng ngắn cùng đường kinh doanh bỏ sang làm chính trị, họ nhồi sọ xã hội rằng súng ngắn lên vua súng trường lỗi thời. Đến khi gặp PPSh thì quân Đức đã ngập MP rồi nên khồng thể sửa lại toàn bộ và phải cải quá áp. Đạn 9x19 ban đầu là đạn của súng Luger P08, nó làm ngắn và phóng to để thích hợp với súng ngắn cầm một tay có tầm bắn rất thấp, đạn ngắn và to tạo được gia tốc lớn trong nòng ngắn, nhưng nhanh mất tốc độ trong không khí, không hợp với các súng dùng trên tiền duyên có nòng dài cầm hai tay.

MP44 thừa kế cái kỹ thuật "súng trường hết thời" đó, bóp chết SK39, rồi cải quá áp. Chúng ta đã thấy AK có cùng khối lượng đầu đạn và cỡ đường kính với MP44, sơ tốc cao hơn, ở thời sau này thép rẻ hơn, nhưng vỏ đạn dài hơn và cũng dừng ở mức sơ tốc 710 m/s. Thì MP44 ở thời thiếu thép tốt đã cải quá áp kịch trần. Điều này làm súng rất nặng, nặng hơn AK phiên bản đầu tiên (cả đạn nặng hơn 5kg). Và tất nhiên súng này không thể có nòng bền.

Vấn đề là, MP38/40 rất rẻ, nên việc nòng nó không bền cũng không dẫn đến nhiều tác hại. Còn MP44. Với cỡ đạn đó, thì người Đức thấy rằng không thể lùi tự do như MP38 và phải làm loại súng máy có khóa nòng khá đắt. Điều này cũng như bên Thompson SMG Mỹ dưới đây. Thế nhưng, một nước Đức giỏi làm súng cũng lại điên rồ y như Mỹ, với khối lượng đó của MP44 thì thừa sức mang một khối lùi nặng gấp đôi gấp ba MP38 để không cần khóa nòng.

Như nói trên, cải quá áp là làm hàng giả, súng tốt không thể chịu cải quá áp, người ta có thể cho thêm hợp kim crôm để làm ra vài trăm ngàn khẩu súng có tác dụng thuốc lắc tiêm chop đội quân bại trận, chứ không thể làm ra hàng triệu khẩu như những súng chủ lực ngày đó. Cùng ra đời năm 1943, nhưng số lượng MP44 chỉ bằng nửa PPS trong chiến tranh. PPS sau này dừng sản xuất 195x vì có AK rồi, súng ngắn quay về vị trí phụ việc của nó, mà Liên Xô thì đã quá thừa PPSh-41.

Thậm chí sau này,m sau chiến tranh, các nhà nhồi sọ vẫn làm ra những khẩu MP44 cơ sơ tốc đến 680 m/s gần bằng AK để chưng minh cho các lợn biết AK học MP44. Tất nhiên đến đây thì chúng ta đã biết, những súng đó chỉ có thể là hàng hót của dân chơi dùng nòng chịu nhiệt đắt tiền và bắn một số ít phát, là một thứ hàng lởm, không thể là một súng chiến trên mặt trận.
==============

Nga Đức nhiều rối rắm, nhưng chúng ta có thể so sánh với Mỹ.

Thompson bố là một ông tướng hậu cần Mỹ, vì thế ông ta sớm nhìn ra việc đạn được sản xuất hàng loạt rất rẻ. Thế là ông ta thấy rằng súng máy sẽ rất có giá. Ôg tìm hiểu trên kho tàng phát minh Mỹ và tìm được "khóa nòng ma sát" Blish. Thompson format - định dạng một công ty bán súng, nhà Ryal có vốn, li xăng từ nhà Thompson và nhà Blish. Khẩu súng ngắn liên thanh không ra kịp chiến tranh, như các mătj hàng bán ế khác, đẻ ra một cái tên hoàn toàn mới lạ là SMG, Sub Machine Gun, Thompson SMG.

Khóa nòng của Thompson SMG hay đến nỗi khi người ta bỏ khóa nòng đi cho lùi tự do thì súng nhẹ hơn. PPS 3kg là lùi tự do, còn Thompson SMG nguyên thủy nặng hơn 5kg.

Thompson SMG dùng đạn súng ngắn ".45 ACP" 11,4mm. Như trên, súng có tầm bắn hiệu quả dưới 50 mét. MPO38 khi chưa cải đạn quá áp 100 mét, khi quá áp 150 mét, PPSh 200 mét. Đây là đạn của súng ngắn tieu chuẩn liên bang Mỹ M1911 John Browning. Như trên, người ta phóng to quá đường kính súng trường để dùng nòng quá ngắn của súng ngắn cầm một tay. Súng cầm hai tay không cần nòng quá ngắn như thế. Đạn đường kính lớn hơn đạn súng trường sẽ làm đạn nhanh mất tốc độ trong không khí.

Thompson SMG ban đầu bán 200-400 $, sau đại hạ giá xuống 20-40$.


==============

So sánh như thế để thấy rằng. Nếu không có trình độ thiết kế nhà nước như Đông Âu, sau WW1 chỉ còn Nga Đức, thì không thể có súng tốt. Nhưng ở Nga và Đức thì vấn đề cũng không đơn giản. Cùng là nhìn thấy khả năng đạn rẻ như bùn, nhưng Fedorov tiếc cho Mosin không bắn được khi giáp lá cà ở chiến tranh Nga-Nhật, còn Thompson thì nhìn thấy cơ hội bán súng máy. Người Đức có bằng được súng máy và chỉ có súng ngắn máy trước khi bị Liên Xô dạy bảo. Liên Xô khinh súng ngắn, và thiếu cả súng trường, Liên Xô không có súng gì.

Thật ra, PPD cũng không tồi lắm so với MP38, nhưng PPD choáng trước Suomi, phải nói mlà khẩu súng ngắn liên thanh tốt nhất trong WW2. PPSh là bản vớt vát những ưu điểm của Suomi và vẫn là loại súng triệu khẩu, chứ không phải là súng Suomi làm toàn bộ trừ nòng bằng inox. Suomi và PPSh tốt thế nào thì ở đâuy chúng ta không đi rộng, mà nói ở chỗ khác.

Vấn đề ở đây là, Nga-Đức có nhiều chỗ khuyết, nhưng không phải vì những chỗ khuyết đó mà họ sánh bằng những loại hạ đẳng Tây Âu. Ít nhất thì người Đức đã dập lên MP44 dòng MP44 dưới tay kéo khóa nòng (Đức để bên trái theo binh pháp cá nhân của lính Đức, nay G36 vãn thế), chứ không phải là hạng 70 năm sau vẫn bảo p là súng trường.

Anh-Mỹ-Pháp thì chỉ nhìn thấy như Thompson SMG là hết tầm.

Súng trường xung phong đã có thể có mãu thử từ năm 1913 trước ww1. Fedorov Avtomat có máy móc tồi (tuy là khá khẩm so với ngày đó), nhưng vẫn là súng trường xung phong. Ngay từ lúc có C96 Mauser, thì đã có điều kiện đó về mặt kỹ thuật năm 1896. Súng này Pa-ven Coóc-sa-ghin gọi là "Mao-de".

Súng trường xung phong đã có chương trình quốc gia bên Đức MKb35. Nhưng Hitler tập hợp đám cùng đường phá sản, nên dập những gì đúng đắn chính nghĩa.

Tuy vậy, có thể nói. Nếu như không đi qua "hy sinh toàn diện", nếu không tham gia vào việc lập ra nhà máy súng máy chủ chốt của Hồng Quân, nếu như không trở thành nhà chế súng uy tín nhất Liên Xô, nếu như không có đội ngũ học trò khổng lồ toàn là những bác học và ông chủ đứng đầu xã hội..... Nếu như không có 30 năm chậm chễ, thì Fyodorov không thể có một chương trình chế súng có một không hai, mà cho đến nay chưa một chương trình nào vượt mặt về quy mô như thế.
============

====================
Chúng ta có thể quan sát cách cầm súng trường khác cách cầm súng ngắn, cấu tạo súng trường khác cấu tạo súng ngắn ở ốp lót... qua các bức ảnh mà link đã post trên.

Súng trường được hiểu là súng khai thác hết khả năng ngắm bắn của xạ thủ. Hầu hết các binh nhất đều chỉ có thể bắn chính xác ở tầm bắn 250 mét vào bia số bốn, cho dù súng đạn chính xác tuyệt đối. Tùy theo cách đánh giá mà mức 250 mét này nâng lên 300 mét. Bia số bốn là bia hình người bán thân, tượng trưng cho lính đứng trong chiến hào thò đầu lên. Một số cách thử khác thay bằng bia tròn đường kính 50 phân (25 inch, Mỹ). Một số cách thử phải bắn ngoài trời, một số cách thử bắn trong hầm thử súng... nên đưa ra con số khác nhau 250-300 mét. Tầm bắn hiệu quả được tính bằng cách bắn phát một. Tầm bắn hiệu quả thấp hơn nhiều tầm bắn sát thương. Ví dụ, AK 7,62mm sát thương 1200 mét, Mosin và Mauser 1800 mét-2000 mét. Tầm bắn hiệu quả tiêu chuẩn này cũng thấp hơn nhiều hiệu quả của chùm liên thanh bắn chính các nòng-đạn đó.

Cùng một bia, thì cách tính tầm bắn hiện quả bia số bốn 250 mét cũng khác nhau. Với AK, thì phải bắn ngoài trời, súng mới bắn trên giá chui hết vòng 100. (RPK-74 ở 250 mét ngoài trời 3 viên chui trong một lỗ 18mm). Điểm AK bỏ nòng bằng điểm M16 nòng mới.

Các súng không đạt tầm bắn hiệu quả trên được ngọi là súng ngắn. Những súng ngắn liên thanh nổi tiếng WW2 có tầm bắn hiệu quả như sau
Thompson SMG Mỹ và M3 Grease Mỹ 30 mét (rộng là 50 mét)
MP38/40 Đức dùng đạn Luger Parabellum 9x19mm nguyên thủy có tầm bắn 100 mét. Tầm bắn này đồng thời là tầm bắn của các súng nhái như Lanchester, Sten , Sterling (Anh Quốc nhái lại khẩu MP28.II Đức)
MP38/40 Đức dùng đạn Luger Parabellum 9x19mm cải tiến quá áp đạt 150 mét
PPSh và các súng dùng đạn Tokarev 7,62x25mm đạt 200 mét.

Để có thể bắn chính xác, xạ thủ phải có "bán kính điểm ngắm trước" và "bán kính tay cầm trước" đủ dài, để đủ "độ phân giải" của mắt ngắm và tay hiệu chỉnh súng. Để bắn xa 250 hay 30 mét phải có điểm cầm tay trước ít nhất là 60 cm, tính từ điểm tì vai. Tất nhiên, súng và đạn phải có độ chính xác đủ như thế mới cần tay cầm trước ở xa.

Để có tay cầm trước ở xa thì xạ thủ phải cầm súng ở vị trí nòng, vì nòng nóng nên người ta phải có ốp lót cách nhiệt. Điều này khác biệt với súng ngắn liên thanh như MP38/40, PPSh, MP44.... chúng cầm vào cổ băng.


Súng M126 Mỹ và tư thế bắn súng trường
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Cách bắn AK (ông này bắn không đúng lắm)
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Đây là MP44
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Đây là khẩu MP40. Súng có phần cổ băng dập gờ ma sát để cầm, để có cái cổ băng này thì người ta phải làm băng cắm vào trong cổ, cổ băng dễ biến dạng không cắm được băng trong chiến đấu, nên đây là một cái hy sinh của MP. Điều hài hước là, M16 Mỹ dã có ốp lót nhưng tôn súng súng Đức đến mức cũng làm băng cắm.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Ảnh tư liệu về MP40
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Hình khẩu MP44
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.



Đó là huyền thoại rằng AK học theo MP44. Để có điều đó thì các đại lý cám sản xuất ra pistol là súng trường. Sự thật là, MP44 được những người làm ra nó và sử dụng nó gọi là súng ngắn, dập chữ súng ngắn lên vỏ súng (dưới tay kéo khóa nòng), và cấm chỉ xạ thủ dùng MP44 như súng trường.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 23-01-2013 thời gian gửi bài 12:07
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (23-01-2013), tolaind (23-01-2013)
  #36  
Cũ 23-01-2013, 14:30
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Trích khí AK

Một trong những điểm đặc sắc của AK là trích khí. Trích khí M16 là cái lỗ xỏ kim không lọt, dẫn đến dễ tắc. Thậm chí khẩu M16 nhúng nước vớt lên không thể bắn được vì tắc lỗ trích khí. Các súng khác không đến nỗi ngu xuẩn như súng Mỹ, nhưng cũng gặp nhiều vấn đề với trích khí, nếu làm to chúng hao sức đạn, còn làm bé thì bụi bẩn tích trong khoang trữ năng lượng sau lỗ trích sẽ làm tắc lỗ. Còn AK thì lỗ trích khí to bằng 1/2 cái nòng M16 Mỹ, thẳng tắp và ngắn, không bao giờ tắc cả vì áp suất khí thuốc thừa đủ để thổi bay mọi thứ trong đó. AK cũng không cần thiết kế đường cho xạ thủ lau súng thông lỗ trích vì điều đó. Vấn đề là cái lỗ trích khổng lồ đó lại không làm hao sức đạn.

Trích khí là một loại động cơ của máy súng, máy súng cần được động cơ đẩy chạy, người ta có thể dùng động cơ nối từ ngoài như Gattling dùng điện, hay lùi như các súng ngắn và pháo dùng phản lực của vỏ đạn, và trích khí. Trích khí sẽ lấy một phần năng lượng khí thuốc vào xi lanh, đẩy piston chạy, kéo máy súng chạy. Nhiệm vụ của các nhà thiết kế trích khí là làm sao cho máy súng chạy mạnh mẽ tin cậy, mà không lấy đi nhiều năng lượng của đầu đạn. Phần lớn các súng trường dùng trích khí kéo máy súng.

Trích khí AK là trích khí khí động, nguyên lý điều tiết lượng khí của nó khác với trích khí tiết lưu thường gặp. Trích khí AK sử dụng quán tính dòng khí để ngăn khí trích vào trong ống trích. Ống trích AK thẳng, to, nghiêng một góc xiên ngược với nòng nên thường gọi là trích khí xiên ngược. Dòng khí chuyển động với tốc độ 600m/s, nên dù cho nó có áp suất rất cao, thì nó không thể phanh gấp lộn ngược quay về trong ống xiên ngược nhanh được, thời gian từ lúc đầu đạn đi qua lỗ trích ra đến miệng nòng chỉ 1/3000 giây, trong một phần ba ngàn giây đó khí thuốc bị quán tính giữ lại, nên hầu như không hao khí. Phần lớn năng lượng đẩy piston có được sau khi đạn đã ra khỏi nòng. Nhược điểm của trích khí xiên ngược là nó không bắn đạn nặng như phóng lựu được. AK thì có GP-25/30 rồi, ngày nay cũng không mấy súng trường phóng lựu từ nòng chính vì phải dùngđạn không đầu tháo lắp rắc rối, các nước đều dùng ống phóng lựu rời.

Đây là hình ảnh sơ đồ nguyên lý máy AK. Có thể quan sát hình dáng cái lỗ trích đó
http://www.youtube.com/watch?v=lQe864rGLyk



Thế trích khí tiết lưu thông thường là gì ?
Từ phân tích các ưu nhược này sẽ thấy tại sao người ta dùng loại trích khí gì.

Cấu tạo hoàn chỉnh của trích khí tiếp lưu xuất hiện ở DP. Khí trích được dẫn qua một cái lỗ tiết lưu có tiết diện rất nhỏ để ngăn không hao khí. Sau lỗ đó, khí trích đi vào một khoang dựa trữ năng lượng rộng, vì đạn ra khỏi nòng nhanh, mà máy súng chuyển động chậm, nên cần đẩy máy súng sau khi đạn ra khỏi nòng, nòng mất áp suất khí thuốc. Với súng to như DP thì khoang này lớn, súng nhỏ thì khoang này có thể đơn giản hóa như một đoạn lỗ trích phình to ra. Sau đó khí trích đẩy piston.

Ở DP. Từ khoang trữ năng lượng khí trích được dẫn ra pít tông piston cố định, đẩy xi lanh cylinder chạy. Khí được dẫn ở lõi pít tông, đi qua miệng phụt có hình loa, hình loa là tuye giúp biến đổi áp suất thành tốc độ thuận tiện. Khí thuốc có tốc độ cao sẽ thổi vào mặt xi lanh, trong quãng đường xi lanh rời xa thì khí thuốc này thổi sạch bụi bẩn cho DP. Tất nhiên xi lanh sẽ được gắn lên cần đẩy lùi, cần đẩy lùi kéo khóa nòng và bệ khóa nòng chạy.

Đây là hình trích khí DP mình trích từ cái ảnh to này. Máy DP nặng, nên khoang trữ năng lượng khá lớn
http://i180.photobucket.com/albums/x...ng/DP/4361.jpg
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


SVT cải tiến một chút DP cho thuận tiện với súng trường cá nhân dùng băng hộp lò xo. Ở máy DP, thì vỏ đạn thoát xuống dưới qua một lỗ khét giữa cần đẩy lùi (đầu cần có xi lanh nói trên). Ở SVT, thì Tokarev thiết kế cần đẩy lùi rời với bệ khóa nòng, có lò xo đẩy về riêng. Cần đẩy lùi SVT đẩy bệ khóa nòng chạy rồi nó tự co về, lấy đường thoát thuận tiện cho vỏ đạn. Hành trình của piston ngắn không đi theo bệ khóa nòng nên về sau hệ thống quảng cáo nhồi sọ lợn của Mỹ đặt tên là "hành trình ngắn". Ảnh của SVT có thể xem trong này. http://www.gunpics.net/russian/svt40/svt40dis.html. Đây là hình ảnh dễ hình dung ra trích khí SVT http://www.gunpics.net/russian/svt40/svt4030.JPG.

Nhược điểm của trích khí SVT so với DP là xi lanh không hoàn toàn thoát khỏi piston nên không có giai đoạn thổi bẩn, đồng thời, tháo trích khí SVT ra lau khá mất thời gian. Cũng như khó chỉnh tiết lưu để điều hòa tốc độ bắn liên thanh nếu như áp dụng trên súng liên thanh.

Như đã nói trên, SVT là khẩu súng lừng lẫy. SVT có khóa nòng chèn nghiêng. Liên Xô và Đức không bao giờ chấp nhận chèn nghiêng trong liên thanh như chúng ta đã nói. Chỉ có 3 bản xuất hiện trong quân đội Xô-Đức. Một là ZB.26(t), khẩu trung liên Tiệp Khắc ZB-26 được Đức sửa dụng tạm sau khi sát nhập Tiệp (http://world.guns.ru), lúc đó chúng ta đã biết Đức chưa có súng máy tốt MG42, chữ T viết thường tỏ ý miệt thị, khác với các G.41(W) và G.41(M) được viết hoa. Hai là khẩu AS-44 Liên Xô ra vội để thử đạn M43 trên chiến trường. Ba là khẩu súng nhồi sọ MP44 StG44 có cấu tạo đơn giản với dáng khóa nòng của ZB26. Khóa nòng của các MG42, MP45, PD.... thực chất là hai bộ chèn nghiêng sang hai bên để cân rung khi bắn loạt. Với súng phát một thì chèn nghiên "nửa DP" chấp nhận được, vì rung của chuyển động khóa nòng đến sau khi đạn đã ra khỏi nòng.

Liên Xô có hai hướng cải tiến khóa nòng chèn nghiêng chứ không thô sơ như ZB-26. Cả hai hướng đểu làm nhẹ khóa nòng và giảm chuyển động rung, cũng như chiều cao khóa nòng. SVT chuyển một tai xách lưng như ZB26 xuống thành hai tai ở đuôi khóa nòng, khóa nòng thấp xuống rất nhiều. Cải tiến hướng khác là PTRS và SKS, đuôi khóa nòng làm bẹp và rộng để giảm chuyển động đứng. Khẩu MAS-49 của Pháp lừng lẫy, nó là súng trường phát một lên đạn tự động cùng ra đời với AK, cách hẳn một đời súng, tích hợp cả hai SVT và SKS, nhưng mà nó lại không có khe cho mấu hất vỏ đạn ejector chạy ^.^, súng này phải dùng chọc vỏ lò so. MAS-49 còn có một cái lừng lẫy nữa là trích khí trực tiếp. AG42 Thụy Điển copy khóa nòng của SVT, nhưng cải tiến một chút cho hợp kỹ thuật gia công. AG42 không copy trích khí SVT mà dùng trích khí trực tiếp , đây là trích khí dùng ống dẫn khí thay cho cần piston, để dẫn khí thuốc đến thổi thẳng vào bệ khóa nòng, được Pháp đề nghị trong chương trình phát triển súng tự động không có kết quả trước WW1. Những nhược điểm của trích khí này được người Thụy Điển nói trong này. Vào thời chiến tranh này, Thụy Điển không tham chiến nên cũng không cần súng tốt lắm, họ chỉ quảng cáo át đi, báo hại MAS-49 và AR-15 sau này dùng lại trích khí này. Trích khí AG42 có vị trí piston-cylinder ngược với MAS-49, M16 Mỹ bê luôn cái AG42.

FN FAL thay mặt AG42 xin lỗi SVT bằng cách bê trích khí SVT. FAL cũng có một khóa nòng như SVT. Trích khí FAL cải tiến một chút so với SVT để thêm các chức năng dễ lau tháo và hiệu chỉnh bằng nút vặn mở ra phía trước. Cải tiến sau này của trích khí kiểu này là G36 ngày nay.

Mỹ làm AR-15 bằng cách cóp nhặt linh tinh các loại súng trên thế giới, toàn những tác phẩm quảng cáo, nên ngộ độc cái trích khí AG42 và bê về. Sau này, AR-18 lại thay mặt AG42 xin lỗi SVT bằng cách bê luôn y sì trính khí súng SVT. Tuy nhiên, chúng ta đã biết, AR-15 đã được vua buôn vua Colt mua về để dựng lên ngôi vua súng trường Mỹ, cho đến nay AR15 vẫn làm vua đẻ non như vậy.
===============


Chúng ta có thể quan sát sơ đồ "hành trình ngắn" short stroke piston. Đây là sơ đồ được các hãng bán súng Mỹ quảng cáo ầm ỹ năm 200x. Nhưng thật ra, sơ đồ này không mới, đó chính là sơ đồ của SVT trứ danh. Bản thân sơ đồ dưới đây của hãng LWRC cũng chứa đựng những nhược điểm mà SVT đã tránh rồi. Sau SVT, thì FN FAL đã cải tiến nhiều để khắc phục nhược điểm của SVT là khó tháo lau, vì trích khí tiết lưu dễ tắc. Việc Mỹ "phát minh" ra cái này quá lạc hậu.

Việc quảng cáo cái trích khí này có slogan là "trích khí không trực tiếp" indirect gas system, để đối lập với trích khí nổi tiếng lởm bẩn của M16 là "trích khí trực tiếp" direct gas system . Seri quảng cáo này còn đẻ ra một cặp khái niệm siêu khủng kiểu Mỹ, cup piston = pít tông hình chén, và nozzle cylinder = xi lanh hình mũi. Nghe khó hiểu, nhưng mà cup piston là cái xi lanh và nozzle cylinder là cái pít tông. VL dân Mỹ. Vì cái trình độ cùng ngu cực xuẩn vốn xuất phát từ những chiến dịch bán súng bằng các tình nguyên viên trong chính trị siêu điên khùng, nên tiếng Anh có rất nhiều từ hay ho. Rifle chẳng hạn, là súng trường, trong khi nó là rãnh xoắn. Hai mini gun là loại súng máy gattlinh to nhất trong các loại súng cùng cỡ đạn.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Có thể xem trích khí G36. Trích khí này thoát bẩn và khí thuốc về trước, cũng như điều hòa lực đẩy. Trong tranh này có thể thấy thêm cải tiến từ thời FN FAL được thừa kế, đó là một nắp vặn đằng trước để rút cần piston ra lau tháo, FAL có vít chỉnh tiết lưu.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
==================

Chúng ta quay về với trích khí AK
Như đã nói trên. Chuyển sang liên thanh cần một số vấn đề. Riêng trích khí thì Liên Xô đã chế ra trích khí mẫu mực cho đến nay. Cho đến 200x của Thế Kỷ 21 thì bên Mỹ các hãng như LWRC vẫn quảng cáo trích khí kiểu SVT là lừng lẫy nhất thế giới. Thật ra, trích khi SVT vẫn tồn tại nhược điểm đã được FN FAL khắc phục, đó là dễ tháo ra lau.

Dù có cải tiến đến mấy thì trích khí tiết lưu vẫn tồn tại nhược điểm là lỗ trích quá bé dễ tắc. Các nước như Đức với G36 cải tiến đặt khoang trích khí vào đường ống bằng lỗ khoan rộng đơn giản, lô trích vẫn nhỏ nhưng đoạn nhỏ đó rất ngắn có thể dễ thông hơn.

Vấn đề nữa đã nói đến là đường thoát vỏ đạn thông thoáng. SVT và các hậu duệ của nó có khóa nòng lắc lư, không thể làm một mặt bịt đáy nòng cân đối chính xác, nên móc vỏ đạn extractor làm việc trong lắc lư và như thế cần tụt cần đẩy lùi vào lấy đường cho vỏ đạn chạy.

Vấn đề khóa nòng AK chúng ta sẽ nói sau. Ở đây chỉ đề cập đến một điểm, đó là khóa nòng đó cũng như các Mauser, Mosin, chuyển động thẳng không lắc, nên vỏ đạn thoát ra khe nghiêng thuận tiện, không cần cần đẩy lùi rời, do đó súng ít bộ phận rời, bớt đi được một cái lò xo, dễ tháo lau và tin cậy, rẻ, bền.

Trích khí AK là trích khí xiên ngược, AK học điều đó từ ZB-26 Tiệp Khắc. Nhưng chúng ta cần nhắc lại một đặc trung ít người nói đến của trích khí xiên ngược, đó là rất ít súng theo, kể cả khi người ta đã bỏ kiểu phóng lựu từ nòng chính. Đó là do trích khí này rất khó tính toán, rất ít các chuyên gia kỹ thuật có thể tính được và cũng rất ít các nhà quân sự đủ sức đánh giá giới hạn các loại đạn sẽ dùng bắn trên súng để chấp nhận xiên ngược.

ZB-26 cũng vậy. Súng có bản ZB-33 bán li xăng sang Anh Quốc thành Bren, nhưng Bren quay lại tiết lưu. Điều đó cho thấy, khả năng tính toán trích khí cho hợp với đạn đã rời bỏ nhà máy trước năm 1933, Có thể là một chuyên gia hoặc một nhóm chuyên gia, cũng có thể người Anh lo rằng trung liên Bren sau này sẽ bắn đạn quá nặng chẳng hạn. Nhưng nhiều khả năng hơn là chính ZB chủ động bỏ trích khí xiên ngược, sau khi thêm vít chỉnh năm 1930 trong bản ZB30, để thuận lợi dùng các loại đạn khác nhau.

ZB-26 bán li xăng sang Thụy Điển thành LMG kg 39 năm 1939. Tuy nhiên, kg 40 sau đó đổi đạn quá khác và thành một kiểu trích khí không giống ai, xiên ngược thành xiên xuôi.

Sau FN FAL thì Bỉ nhái AK thành FN FNC. FNC dùng trích khí tiết lưu của FAL.

INSAS Ấn Độ copy rất giống AK mọi mặt trừ trích khí, nó dùng trích khí FN FAL/FNC cho dễ.

Indonexia dùng Pindad SS1 là FN FNC bắn đạn NATO 5,56x45. Sau khi AK có bản xuất khẩu bắn đạn NATO thì SS2 dùng xiên ngược.

Đặc biệt có Phần Lan mua li xăng đạn AK 7,62x51 dùng trích khí xiên ngược trong bản nhái AK của họ. Phần Lan nắm được ký thuật tính xiên ngược, chuyển cho Israel, Gallil của Israel cũng xiên ngược.

ZB-26
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

LMG kh-40 xiên xuôi. Đây là bản ZB-26 đổi đạn
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Như trên. Trước WW2 Liên Xô đã tạo ra trích khí mẫu mực cho thế giới ngày nay, cái hạng như nước Mỹ thì đến tận thế kỷ 21 vẫn quảng cáo ở mức nhồi sọ sự mê tín trích khí SVT như trích khí chúa trời-tất nhiên khi quảng cáo LWRC các nhà chế súng Mỹ ỉm đi chuyện đó là trích khí SVT, người Mỹ vẫn vậy, súng đạn không được quyết định bởi một nhóm nhỏ bác học dẫn đầu xã hội, mà bởi một đoàn những con nghiện quảng cáo mãi mãi tuổi lên ba.

Các súng trường có nhiều loại máy đẩy tốt. Ví dụ, kiểu lùi có hãm của MP45 Đức hay Kiraly 39M Hungary, hay kiểu cải tiến Kiraly lùi có hãm sang có thêm khóa Baryshev AB-762, các máy đẩy này không dùng trích khí và hao trích khí, được dùng trên các súng MP45 và Kiraly , sau đó là các G3 Đức, CETME Thụy Sỹ Tây Ban Nha, FAMAS Pháp, bên Liên Xô có các mẫu thử Baryshev (kiểu Kiraly có thêm khóa)Korobov TKB-517(kiểu Kiraly ) . Tuy nhiên, những kiểu khóa này đều chứa đựng những nhược điểm. Kiểu con lăn hãm MP45 không dễ sản xuất đại trà con lăn, còn kiểu đòn bẩy hãm Kiraly cho các thiết bị chuyển động trượt lên nhay trong khi lực còn lớn. Đồng thời, những kiểu lùi đó đều yêu cầu vỏ đạn có đế dầy, điều này làm vỏ đạn nặng hơn một chút. Vỏ đạn của súng lùi cũng chỉ tốt khi nó thuôn, còn AK thì vỏ đạn rất côn đổi lấy chuyển động trơn tru dễ dàng.

Và, tóm lại là, thế giới này không thiếu bác học, nhưng rất ít nước có thể chuyển đổi trích khi xiên ngược sang các loại đạn khác. Hầu hết thế giới đều chỉ dùng xiên ngược khi Liên Xô và Nga đã thiết kế AK bắn loại đạn của họ như NATO 7,62x51 và NATO 5,56x45 (ví như Pindad Indonexia). Một số nước khác như Trung Quốc thì có một số mẫu khi còn chơi với Liên Xô. Ngay cả ZB-26 sau đợt đầu tiên cũng đánh rơi mất khả năng tính toán thiết kế xiên ngược và phải bỏ khi đổi đạn. Phần Lan dùng xiên ngược trên đạn mua li xăng vỏ đạn M43 Liên Xô, sau đó Phần Lan thông qua những bạn bè Liên Xô có thiết kế trích khí xiên ngược đạn NATO và truyền điều đó sang Israel.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 24-01-2013 thời gian gửi bài 12:01
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Мужик (23-01-2013)
  #37  
Cũ 24-01-2013, 16:36
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Chúng ta xem đến một mặt cơ bản khác của khẩu súng, là khóa nòng AK.

Trên kia, chúng ta đã chứng kiến một câu chuyện là cả cái nước Mỹ và văn hóa tiếng Anh ngu hơn giống éng éc, điên hơn loài gâu gâu, chúng cố chứng minh pistol là súng trường, MP44 là súng trường, để AK là học trò của phát xít dã man. Ở đây, chúng ta sẽ lại thấy "văn hóa súng ống" Mỹ ngu xuẩn điên rồ thế nào.Ở nước Mỹ, mỗi năm có 100 ngàn người bị thương vì súng ống trong đó có 30 ngàn người chết, trong khi chiến tranh Afghan chỉ chết có 6-7 ngàn người Mỹ trong 10 năm. Đặc sản Mỹ, trong các trường trông trẻ cấp bằng khống kiểu Mỹ mỗi năm có một vài vụ to như Cho Seung Hui. Đặc biệt, cuối năm 2012 thì thủ phạm vụ thảm sát là một năng khiếu khoa học. Ở Mỹ, những năng khiếu nghệ thuật khoa học được xếp vào dạng tâm thần "tự kỷ", bị hành hạ từ thơ ấu trong các trường đặc biệt, để khoa học không ngoi lên chiếm chỗ các ông lái súng, bị biến thành những quái vật như Adam Lanza. Từ một năng khiếu khoa học, anh ta bị xếp vào hạng bệnh tâm thần kiểu Mỹ mang tên tự kỷ, và bị biến thành tâm thần thật sự. Cái phương pháp đánh giá, phát hiện "bệnh nhân tự kỷ" từ sơ sinh, hành hạ chúng để chúng thành tâm thần... được người Mỹ xuất khẩu đi khắp thế giới, đến các nước chính trị có giá rẻ mạt, chúng dọa các bà mẹ dốt nát nhà quê ra tỉnh, để biến những ngôi sao của họ thành quái thai. Mục đích không ngoài việc đần độn hóa các dân tộc bị Mỹ nô dịch bằng chủ nghĩa thực dân.

Các trường trông trẻ cấp bằng khống của Mỹ cũng ồ atj xuất khẩu tiếp thị các nợi bằng đủ thủ đoạn , từ mua chuộc các chính trị rẻ mạt để các bộ giáo dục giáo dục thanh thiếu niên sang đó, đến các trang "tổ chức sinh viên", các quân đoàn "tình nguyện viên" mà nòng cốt là đám thanh thiếu niên dốt nát lười biếng điên rồ, và các binh đoàn người ăn bám sinh ra từ các trường trông trẻ cấp bằng khống đó. Ví như các nhân vên nhà nước bên ta, được tuyển vào theo kiểu chạy đua phiếu bầu của các phe phái, không việc làm, thừa hoóc môn sinh dục vì lệnh cấm đẻ, a la xô xông vào internet làm tình nguyện viên kiểu Mỹ. Có thể thấy các cô các cậu mới lớn thèm thuồng xem trên internet những đại hội trần truồng trong các trường học Mỹ, hay rỉ tai nhau kẻ trước người sau về những buổi sinh nhật tràn ngập thuốc phiện và bao cao su.

Gọi là văn hóa súng ống vì bên Mỹ súng ống - chuyện hệ trọng bậc nhất của một cường quốc, lại không được đánh giá bằng một nhóm rất nhỏ các nhà bác học đứng đầu xã hội, mà bằng những đoàn "tình nguyện viên", tức đám ngộ độc quảng cáo, điên rồ và ngu xuẩn nhâts xã hội, được chế tạo hàng loạt bằng công nghiệp sản xuất quái thai, trông trẻ cấp bằng khống, nghiện ngập từ xương tủy những ma túy vật chất và tinh thần. Đến mức, người Mỹ đah đâu thua đấy, nhưng tự xương là siêu cường quân sự số một toàn cầu. Sự thật là, từ sau chiến tranh Mexico hơn 100 năm trước, thì ngưoừi Mỹ chỉ thắng một cuộc chiến tranh duy nhất do họ phát động, là đánh chiếm Grenada bằng một quận của Hà Nội. Các cuộc chiến tranh khác mà họ "thắng" là WW1, WW2... đều do châu Âu looi kéo Mỹ vào giải quyết những việc không liên quan gì đến Mỹ. Đánh đâu thua đấy, nhưng càng thua càng nhồi sọ tinh thần chó dại, để đanhs nữa, để bán súng lởm nữa.

Một sự thật là. AK không liên quan gì đến MP44 cả. Về nguyên lý chiến đấu thì súng trường Mondragon của Mexico 189x đã nỗ lực làm súng trường xung phong nhưng điều kiện kinh tế-kỹ thuật chưa cho phép. Fedorov Avtomat đã thật sự là khẩu súng trường xung phong và ra trận. MP44 chỉ là một cái quái thai súng ngắn cố làm ra vẻ súng trường bằng nhồi quá áp. Còn khóa nòng AK thì lại xuất phát tưf bên Mỹ, điều mà rất ít những kẻ điên dại ngu xuẩn, những kẻ luôn tự hào Mỹ... biết đến. Đó là, khóa nòng AK được phát triển từ mẫu khóa nòng súng trường phát một lên đạn tự động G1 Garand của Mỹ.
================

Khóa nòng là gì ?

Mỗi khẩu súng hiện đại có một cái cửa sau của nòng để nạp đạn, còn súng cổ thì người ta nạp miệng, cái đó biết rồi. Cửa hậu của súng hiện đại trong tiếng Anh là bịt đáy nòng breech. Cái cửa hậu breech ấy có một cái khóa, gọi là khóa nòng, tiếng Anh là bolt. bolt là từ tiếng Anh của bu-lông, tiếng Ta bồi Tây từ "boulon". Trong tiếng Pháp, thanh xoắn ốc bên ngoài là vis, vít, loại vít dùng vặn vào thép để kết nối thép gọi là bu-lông, khác với loại vít khác, như vít me dùng để canh me-điều chỉnh vị trí chính xác. Tiếng Anh dùng từ con ốc để chỉ khóa nòng có tryền thống từ thời súng đá lửa nạp miệng. Khi đó, để dễ gia công phần buồng nổ, người ta khoan thông cái nòng súng, rồi bịt cửa hậu vào bằng một bu-lông, có thể tán cố định. Tiêng Anh thì nổi tiếng là thông thái trong sáng rõ ràng rồi, đến mini gun là súng to nhất trong các loại súng cùng cỡ đạn thì phải biết. Tiếng Pháp thì bộ bịt đáy nòng-khóa nòng gọi là quy lát, culasse, tức là cái bịt đầu ống, cái nắp xi lanh máy nổ cũng là culasse với đầy đủ các bộ cửa khóa phức tạp của nó.

Như thế, khóa nòng là bộ phận chính của máy súng. Nếu như trích khí là động cơ của máy súng thì trích khí sẽ kéo cái máy công tác chính là khóa nòng. Có thể hiểu bịt đáy nòng là cái cửa, còn khóa nòng là cái chốt cửa, chốt ngăn không cho cửa mở ra khi đạn nổ có phản lực rất mạnh , khoảng 2-4 tấn với súng trường. Sau khi đạn nổ thì chốt-khóa nòng lại tháo ra trơn chu để cửa-bịt đáy nòng mở ra, tháo vỏ đạn cũ và thay viên đạn mới.

Khóa nòng dùng để làm gì ?
Mỗi một cái khóa nòng ngoài chức năng đóng mở cái cửa chịu lực đó, còn có các chức năng nữa là móc vỏ đạn đã bắn rồi khỏi nòng và giữ vỏ đạn đó trên đường di chuyển-extractor, hất vỏ đạn ra khỏi khóa nòng ejector, móc đạn từ băng và đẩy nó vào nòng.

Các loại khóa nòng và hoạt động.
Như chúng ta đã biết, các khóa nòng súng hiện đại xuất phát từ các hệ khóa nòng cổ. AK xuất phát từ Mauser-Mosin là khóa nòng quay hai tai trước. Loại khóa này cũng như cái chốt cửa, người ta quay nó một góc để nó không rơi xuống. Tai chịu lực đằng trước ở đầu khóa nòng ngay sát đuôi nòng. Khóa nòng quay hai tai trước có ưu điểm là đường truyền lực ngắn, vỏ máy súng không cần chịu lực bắn, chuyển động đơn giản, mặt bịt đáy nòng không lắc nên đạn và vỏ đạn chuyển động ổn định. Cũng là khóa nòng quay tai trước nhuưng các súng FG42 (Mỹ sao lại thành M60), Mauser G.41(M)... và một số súng khác khi tiến lên liên thanh không thay đổi gì nhiều so với súng lên cò tay Mauser-Mosin.

Ở các súng như Dreyse M1841 Phổ, Berdan M1870 Nga, Mauser IG71 Phổ, Früwirth M1872 Áo-Hung, Gras mle 1874 Pháp.... cho đến các Lebel (Pháp 1886), Berthier (Pháp 1892, đáng chú ý đây là súng trường tiêu chuẩn đầu tiên của của nhà ta, Anh-Đô-Si-Noa, tốt hơn Lebel chính quốc vì không dùng băng ống gỗ dọc nên dùng được đạn đầu nhọn, đây là cái hài hước vua đẻ non mà văn hóa súng ống eng éc gâu gâu kiểu Mỹ sẽ nhai lại trong M16/AR-15 đẻ non trước AR-18), Mauser, Mosin, Lee Enfield (Anh), ".30-06" Springfield (Mỹ), thì thao tác là xạ thủ cầm tay khóa nòng làm "quay - kéo lùi - đẩy tiến - quay". Súng sẽ thực hiện các thao tác : móc vỏ khỏi nòng , hất vỏ khỏi khóa nòng, móc đạn từ băng, đẩy đạn lên nòng, đồng thời với lên búa cò. Các thao tác này gọi chung là lên đạn. Trong số các súng đó thì Lee Enfield tai sau truyền lực xa, súng này rất yếu chúng ta đã đề cập rồi.

Vetterli được Thụy Sỹ chấp nhận năm 1869 là súng chuyển súng khóa nòng quay phát một lên cò tay thành kiểu "kéo thẳng"-"straight pull bolt". Tức là xạ thủ không cần "quay - kéo lùi - đẩy tiến - quay", mà chỉ cần "kéo lùi-đẩy tiến" là máy súng đã làm đủ các thao tác. Bên Áo-Hung cũng có một súng "straight pull bolt" là Mannlicher Model 1885 (được chấp nhận năm 1886), khẩu súng Mỹ M1895 Lee Navy cũng có kiểu Mannlicher. Về nguyên tắc, thì cái máy này đã gần giống như máy tự động, chỉ lắp động cơ vào đẩy tiến lui là nó chạy tự động (động coư ví như trích khí). Cả Vetterli và Mannlicher đều là khóa nòng truyền lực xa.

Mannlicher phát triển thành các máy chèn nghiêng ZB-26, SVT, FN FAL... mà chúng ta đã xem. Ngoài rung khi bắn liên thanh, thì ngay cả khi bắn phát một cái này cũng đáng chú ý. Kiểu chèn nghiêng phải chấp nhận truyền lực xa và gây khó khăn cho động tác văng vỏ đạn ra ngoài, vì mặt khóa nòng không được thiết kế như ý, do trước khi chuyển động khóa nòng đã phải nghiêng đi một chút, điều này dẫn đến khó khăn khi thiết lại cần đẩy lùi vướng đường hất vỏ, nên chúng ta đã biết SVT đẻ ra cái cần đẩy lùi rời..

Khóa nòng quay hai tai Mauser-Mosin trực tiếp tiến lên thành các kiểu máy cuả Mauser G.41(M), FG42 (Mỹ copy thành MG6), đến nay vẫn có súng dùng kiểu khóa nòng này, được cái là dễ chế tạo. Tuy nhiên, khi chuyển sang tự động và liên thanh thì tiến lên đơn giản như thế không được. AK cũng là kiểu khóa nòng quay hai tai trước nhưng nó biến đổi nhiều và ở post này chúng ta nói đến sự biến đổi đó.
==========

Khóa nòng chuyển từ phát một lên liên thanh
Chuyển từ phát một lên súng máy thì khóa nòng gặp nhiều vấn đề. Súng ngắn liên thanh PP/MP thì không có khóa nòng. Trước WW2 súng máy khác là hàng quýt sờ toọc, trong khi súng ngắn liên thanh cũng là súng máy nhưng siêu đơn giản, không hãm, không khóa, không trích khí, ít phải lo nóng nòng... nên Hitler mới lừa bán cho ngân sách Đức. Đây là nước cờ liều, vì súng ngắn liên thanh rất dễ làm, dựa vào nó thì không giữ lâu được vị thế so với Liên Xô. Quả như vậy, liền trước chiến tranh Liên Xô mới có PPSh, nhưng nó quá dễ làm nên trong 4 năm chiến tranh có 6 triệu khẩu được sản xuất tràn ngập Đức, trong khi đó dù có ưu tiên thì vẫn chỉ có 1,2 triệu SVT ra đời. Súng ngắn liên thanh dù có chau chuốt thì cũng quá rẻ mạt.

Trong việc lựa chọn kiểu khóa nòng chúng ta đã dể ý đến một việc, là Xô-Đức thể hiện đẳng cấp một trời một vực so với Tây Âu, đó là không chấp nhận khóa nòng chèn nghiêng (trừ 3 bản ZB26(t), MP44 và AS-44 đã nói trên). Trong thực tế, các súng liên thanh DP (Xô 1927), MG42 (Đức 1942), MP45 (Đức 1945) là các bản "chèn nghiêng kép", thực chất là hai chèn nghiêng hai bên bù rung. Kiểu khóa "chèn nghiêng kép" này là những biến đổi từ phác thảo năm 1907 của nhà kỹ thuật Thụy Điển Rudolf Henrik Kjellman. Như thế, các súng chèn nghiêng có cấu tạo quá đơn giản, chỉ được chấp nhận ở những nước người ta đánh giá sai về rung.

Súng máy dùng để làm gì ? sungs máy Đông Âu và súng máy Anh-Pháp-Mỹ
Ở Tây Âu cho đến nay vẫn dùng súng máy như trong phim, bắn diện tích, thậm chí là Mỹ dùng để bắn cầu vồng mưa đạn. Có thể dễ dàng tính, để bắn diện tích 1km2 thì cần đến 1 triệu viên đạn cho mỗi mét vuông một viên, và như thế có xác suất trúng vẫn chưa đáng kể. Một triệu viên đạn như NATO 7,62x51 là 25 tấn đạn và bắn một ngày mới hết, đó là sự thật đằng sau những hoang tưởng rồ dại của thế giới điên rồ. Khẩu súng máy có chùm bắn điển hình là MG42, loạt cực nhanh 1200 và giá súng rung đều không lệch, loạt nhanh không phải là để đổ đạn đi nhanh như dân hoang tưởng bên Tây, mà là để trùm thật nhanh đạn lên mục tiêu trước khi nó thụt xuống hào. MG42 không phải nước nào cũng theo được tốc độ bắn vì quá hao đạn, nhưng nó minh chứng cho sự khác nhau của Xô-Đức và Anh-Mỹ-Pháp (video MG42 có bộ giá giảm giật giữ súng luôn đúng hướng, và đường ngắm cực ổn khi bắn liên thanh).

Khác với Anh-Pháp-Mỹ. Bên Liên Xô và Đức người ta làm ra súng máy không phải để bắn diện tích, mà là để diệt mục tiêu điểm, cũng như là súng trường phát một. Chỉ khác là, loạt liên thanh sẽ cho tầm bắn hiệu quả của cả chùm tăng lên, vì ném vào mục tiêu nhiều đạn thành một chùm rộng hơn mục tiêu trong khoảng thời gian mục tiêu chưa né được. Như thế, có ngắm kém chính xác hay quá tầm chính xác của mỗi viên đạn, thì cả chùm vẫn có khả năng diệt mục tiêu cao.

Như thế, chỉ định nghĩa thế nào là súng máy thôi, đã là vấn đề lớn quyết định cấu tạo súng máy. Đâu có phải cứ bắn liên thanh được là thành súng máy, như Gattling cho đến thế kỷ 21 vẫn phải chạy bằng điện ngoài chiến trường. Chính Gattling cũng là một sự minh chứng cho ngu xuẩn của súng ống Mỹ. Ngày nay, do kéo bằng động cơ điện, nên Gattlinh bắn nhanh dần, nó mất cả chục viên để tăng tốc súng. Như trên ta đã nói, súng máy Đông Âu dùng để bắn mục tiêu điểm, sau chục viên khởi động đó, mục tiêu đã tụt vào hào và cười giễu khẩu súng đến bây giờ mới đủ tốc độ bắn bình thường. Nga cũng làm súng máy nhiều nòng, người Mỹ cũng gọi súng máy nhiều nòng Nga là Gattlinh như khẩu AK-630 6 nòng 30mm phòng không, nhưng các súng này chạy bằng năng lượng phát bắn chứ không hề phải cõng máy phát điện ra chiến trường, và đạt ngay tốc độ bắn chứ không cần lấy đà, cũng như AK 7,62mm. Thậm chí súng trường tiên tiến của Nga-Đức ngày nay còn làm các viên đầu bắn với tốc độ rất cao đến 2000, sau bắn chậm lại, ngược hoàn toàn với súng máy chạy điện.
=====

Chương trình M43 thiếu khóa nòng
Như thế, cho đến thời AK thì số loại khóa nòng được lựa chọn không nhiều. Chúng ta đã biết, dù có trình độ thiết kế và đánh giá súng ống cao, nhưng Đức cho đến năm 1942-1943 chưa có máy súng tốt. Tây Âu thì không nói làm gì, họ chỉ chấp nhận những thứ mà Xô-Mỹ không thể ngửi nổi. SVT cũng là chèn nghiêng không liên thanh hóa, mặc dù AS và AT (nhà Tokarev) cũng tham dự đợt thi AK bằng chèn nghiêng, nhưng chúng không đóng góp cho giá trị của khẩu thắng cuộc. Ví như AS-44 là thử nghiệm trên chiến trường của đạn M43, được thiết kế rất nhanh vì giống y PTRS và SKS (xê ca xê). AT thì là một bước tiến lên liên thanh của kiểu máy nhà Tokarev, dù Liên Xô không dùng thì sau cũng có FN FAL.

Khóa nòng họ Rudolf Henrik Kjellman khá tốt, cải tiến kiểu con lăn cho ra súng máy nhẹ, tin cậy. Có thể kể ra cả họ, cả con lăn và thanh chèn như sau. DP Liên Xô (1927) và RPD, MG42 Đức, MP45 Đức, CETME (Tây Ban Nha), SIG Stgw.57 (Thụy Sỹ), .... và một vài biến thể khác của Phần Lan, Thuỵ Điển, Iran, Pakistan.... Khẩu G43 Đức có máy giống phác thảo Kjellman nhất, được Anh Quốc sau này dùng lại khóa nòng trong súng thử nghiệm EM2. Nhưng vấn đề là các con lăn của MG42 và MP45 không thể làm trong những điều kiện khó khăn. Còn máy DP thì khá dài và nặng, dùng cho trung liên được nhưng súng trường cá nhân khó. Cùng họ nguyên lý lùi có hãm với MP45 có Kiraly 39M Hungary, được dùng trên FAMAS ngày nay, nhưng súng này mòn nhanh do nó cho các bộ phận chuyển động khi lực ép còn mạnh, mà là chuyển động trượt mòn nhiều, thật ra giá trị chính là đơn giản hóa khâu chế tạo so với MP45 và các hậu duệ. Liên Xô không dùng lùi có hãm từ đầu nên đạn AK khá côn so với các đạn khác, băng rất cong, khi dùng lùi có hãm thì xác suất hỏng vỏ đạn tăng lên. Kiểu G43 thì máy súng không thoáng, khi chuyển sang liên thanh dẫn đến tần số hỏng hóc cao.

Chúng ta đã biết họ súng Mauser G.41(M), FG.42 (Mỹ copy thành M60). Đây là các súng sử dụng khóa nòng quay 2 tai tiến lên thẳng từ Mauser-Mosin. Một số mẫu thử của MKb35 và SK39 cũng dùng kiểu máy khóa nòng quay hai tai trước này. Ngày nay vẫn có một vài súng dùng khóa nòng kiểu này. Nhưng cả G.41(M), FG.42 đều chứa đựng những nhược điểm, còn Mỹ thì có hay ho cái gì, thậm chí là súng nào Mỹ chấp nhận dùng chính thức đều là súng quái thai, hay Mỹ chấp nhận dùng là một biểu nhiện của bệnh quái thai. G.41(M) Mauser và G.41(W) Walther đều là súng được thử nghiệm đến mức làm một ít đem ra chiến trường cho lính đánh giá. Sau đó thì chúng ta đã biết, G.42(W) thắng cuộc thành biên chế chính thức G.43 với việc copy y sì trích khí SVT không sợ nhục ngay trong chiến tranh, trước đó cả hai súng đều dùng trích khí Đức Bang system. Cả hai súng đều có thể dùng trích khí SVT, nhưng máy Mauser có vấn đề. FG42 cũng vậy, nó là súng trường liên thanh có cỡ cân nặng bằng AVS-36 hat AVT-40 (SVT liên thanh), như thế là rất giật không thể chấp nhận được, vì cỡ đạn này muốn không giật phải cắt ngắn nòng đi giảm sức đạn hoặc nặng trên 7kg. FG.42 là súng lính dù Đức, nó chấp nhận khá nhiều nhược điểm để có khẩu súng liên thanh nhẹ.

Một kiểu khóa nòng khác nỗ lực các giải pháp để được hiệu quả như kiểu khóa AK sau này, đó là khóa nòng quay nhiều tai. Ban đầu là Mondragon, sau đến là M16 ngày nay. Chúng ta đã nói đến nhược điểm của khóa nòng nhiều tai rồi. Nếu như vật rắn tuyệt đối thì lực chỉ tác động lên 3 điểm, là 2 tai của khóa nòng quay 2 tai và cái đuôi khóa nòng. Nhưng nếu làm nhiều tai, thì với điều kiện gia công và mòn không chính xác, chỉ một số nhỏ là 2-3 tai trong số nhiều tai làm việc, chúng sẽ mỏi và chóng hỏng. M16 và các súng dùng kiểu khóa này ngày nay vẫn cấm ngặt việc đổi khóa nòng sang cổ súng khác nếu chúng đã cũ.

Như thế, điểm qua các kiểu máy súng trên, thì chưa thấy giải pháp cho AK. Lúc đó với yêu cầu Xô-Đức thì vấn đề khóa nòng AK là nan giải. Liên Xô thì thật sự là chưa tìm ra khóa. Còn Đức có MP45, nhưng chính những cái Đức chấp nhận đó lại không đạt yêu cầu Liên Xô lúc đó, là dễ làm số lượng lớn chưa từng có, kể cả trong điều kiện như năm 1941, phải dễ làm gần như PPSh-41. Các máy con lăn khó làm, khó đẩy quy mô lớn bùng lên nhanh chóng như năm 1941, khó làm chính cái con lăn.

Chúng ta đã thấy, nếu như không tính đến độ bền bỉ tin cậy dễ sửa... thì dễ dàng chấp nhận khóa nòng nhiều tai của Mondragon, khẩu súng trường tự động đầu tiên trên thế giới trang bị cho quân Mexico 199x-190x. M16 ngày nay vẫn dùng kiểu khóa nòng đó.
=============

Góc quay nhỏ, chia khóa nòng ra thành nhiều tai như hoa khế M16
Tại sao Mondragon và M16 lại có bộ tai chịu lực như hoa khế đó, thì xem lại từ Mosin-Mauser, các bậc cha chú của khóa nòng quay hai tai trước. (Mosin có thể xem trong video này, ảnh tháo lắp). Súng Berthier không có chức năng này nhưng không ai bảo Berthier hay ho cả, ít nhất là nó không được châps nhạn làm súng trưởng chủ lực của Pháp và nước Pháp chẳng có súng nào hay cả, Lebel cũng không có bộ phận này

Như đã nói trên, trên cái khóa nòng không chỉ có cái khóa nòng, khóa cái cửa hậu nòng, mà nó còn có một số bộ phận nữa, chủ yếu là các bộ móc vỏ đạn trong nòng ra rồi kéo về, hất vỏ đạn ra ngoài, móc đạn từ trong băng nạp vào nòng, và bộ kim hỏa. Với một góc quay lớn đủ lực để khóa nòng, thì các bộ phận trên có thể làm việc không đúng. Ngày nay, M16 vẫn dùng chọc vỏ lò xo yếu đuối, do không thiết kế được khe cho mấu hất vỏ, mấu này cố định trên vỏ máy, vì thế nó chạy quay-dọc quá nòng khi khóa nòng chạy.

Như hình các link trên. Mauser và Mosin dùng một đoạn rời, đoạn này không quay cùng khóa nòng, mà chỉ tiến lùi cùng khóa nòng. Mauser gắn lên cái đó móc đạn từ nòng. Mosin gắn lên cái đó đẩy đạn từ băng vào nòng. Khi tiến lên liên thanh thì đoạn rời đó mỏng mảnh, thêm khe chứa bụi bẩn gây kẹt. Nếu không có đoạn rời đó thì phải trả giá. Một là phải chuyển tai chịu lực về sau, vỏ máy súng phải chịu lực. Hai là chất lượng của các động tác trên giảm đi, khi tiến lên liên thanh cũng suốt ngày tắc. Ba là phải làm tai và cổ súng siêu cứng, cổ súng là một khối với vỏ máy súng hình dáng phức tạp, khi dùng vật liệu cứng thì gia công khó. Tất cả những điều trên đương nhiên là dễ dàng chấp nhận một kiểu đạn nào đó yếu đuối.

Như thế, các máy móc trên khóa nòng không cho phép khóa nòng quay tai trước quay một góc lớn, nếu như muốn làm một khẩu súng tốt. Với cấu tạo Mauser Mosin truyền thống, thì khóa nòng nhiều đoạn phức tạp không đủ độ bền và độ tin câỵ khi chuyển lên liên thanh.

Để quay góc nhỏ đã có hai giải pháp. Một là dòng FG42 (M60 Mỹ), vẫn dùng thiết kế cơ bản của các khóa nòng súng 189x, nhưng dùng hợp kim tốt làm toàn bộ vỏ máy súng và khóa nòng. Như thế thì giá gia công rất cao, vì vỏ máy súng là bộ phận cấu tạo phức tạp, cần nhiều công đoạn gia công, dùng phôi cứng sẽ khó làm. Cả hai súng trên đều không phải là súng trường phổ thông. Ngày nay có một số nước vẫn dùng kiểu khóa nòng đó.

Hai là, băm cái khóa nòng 2 tai ra 7 tai như M16 ngày nay hay Mondragon cách đây 110 năm. Đây là giải pháp dở người nhất vì cho dù có làm hợp kim tốt nó cũng rất nhanh mòn, vì cập kênh không kiềng ba chân đã nói trên.

Như thế, AK không thể chấp nhận các tình huống trên.
=============

M1 Garand Mỹ. Bệ khóa nòng
M1 Garand Mỹ là súng trường phát một lên đạn tự động. Đây là loại súng được sản xuất rất nhiều đến hơn 6 triệu khẩu. Súng này đã giải quyết được mâu thuẫn trên củakhóa nòng hai tai trước. Nó không chia đoạn nào. Mấu chốt ở chỗ, M1 phóng to bán kính của các tai chịu lực, như thế, nó cần quay một góc nhỏ vẫn lọt vừa cái tai chịu lực lớn. Tuy vậy, M1 có nhiều nhược điểm của một nước Mỹ điên rồ và ngu xuẩn về súng ống. Có thể dễ thấy nhất, là M1 không thiết kế được khe cho mấu hất vỏ chạy, dùng chọc vỏ lò xo yếu đuối nhanh dão. M1 cũng có nhiều ưu điểm khác, như cái cửa băng cuả nó. Những ưu khuyết tồn tại song song này đặc trưng cho súng ống Mỹ, mỗi thiết kế không huy động được đông đảo các tinh hoa của cả nước, mà chỉ do một nhóm nhỏ các nhà kỹ thuật phát triển với một vài ý tưởng chưa trưởng thành. Các ý tưởng đó không bao giờ được tính toán thử nghiệm già dặn, vì thiết kế phải tranh ngôi vua li xăng loại súng đó, và ông vua nào cũng đẻ non trọn đời như Lebel dùng băng ống gỗ dọc đến WW1.

Nhược điểm nghiêm trọng nhất của M1 Garand là nó không có bệ khóa nòng.

Như trên đã nói, những súng như Vetterli 1869 và Mannlicher đã có thể trở thành súng tự động nếu như nối nó vào cái piston chỉ biết chuyển động tiến lui. Nhưng, máy hơi nước hay máy nổ đều là piston chuyển động tiến lui, nhưng chúng đều phải có bánh đà. Bệ khóa nòng chính là bánh đà cuả súng. Nhiệm vụ của các bánh đà là trữ năng lượng, điều hòa tốc độ chuyển động, tích năng từ piston, trả lại năng lượng đó cho piston, biến đổi thành các chuyển động tiến lui của piston... Ví dụ, không ai cấm việc bỏ bánh đà máy nổ hai thì đi cho nhẹ rồi thay vào đó một cái lò xo đẩy về như súng đạn (ví như lò xo khí nén hay dùng trong súng đạn không bao giờ mỏi), nhưng không ai làm thế. Ví dụ đó để nói rõ tình huống, khi khóa nòng của M1 chuyển động đến vị trí hết phía trước, bắt đầu quay vào tư thế khóa, thì quán tính khóa nòng hết, lúc này khóa nòng M1 chỉ còn chuyển động bằng lò xo đẩy về. Các súng khác thì lúc đó bệ khóa nòng đang vẫn lao lên nhanh, đẩy tai quay khóa nòng trong khe chéo, khác nào búa đập khóa nòng vào vị trí khóa không cưỡng được.

Thật ra thì bộ đẩy lùi đẩy về của M1 Garand còn thô sơ i sì đúc Mondragon của thế kỷ 19, ngộ độc các súng tự động Pháp hồi WW1, như FSA-1917. Có thể tưởng tượng ra thế này, trích khí truyền chuyển động đến một cần đẩy lùi-đẩy về bên sườn súng, cần này đẩy một ngăn kéo chạy trên một caí ray ở thành vỏ máy súng. FSA-1917 cũng có nhiều tai và chọc vỏ lò xo, thiết kế hết sức đơn giản, nhưng nó còn có cái bệ khóa nòng tuy là hơi nhỏ.

Bệ khóa nòng là gì
Người ta không nối trực tiếp trích khí của súng với khóa nòng. Ở súng kéo khóa nòng tay Mauser-Mosin, thì không có bệ khóa nòng, mà khóa nòng chuyển động trực tiếp bởi đường đi ray rãnh của nó trong vỏ máy súng. Đến súng tự động thì mới có bệ khóa nòng. Bệ khóa nòng thường chỉ chuyển động tiến lùi và nối trực tiếp với trích khí. Thông thường nhất thì trích khí đẩy bệ khóa nòng lùi, sau đó thì lò xo đẩy về đẩy bệ khóa nòng tiến. Gọi là "đẩy về" vì "nhà" là vị trí sẵn sàng bắn, "về nhà" được vì được "đẩy về". Khóa nòng chuyển đoọng trong bệ khóa nòng, các khe rãnh chi tiết tương tác sẽ biến chuyển động tiến lui của bệ khóa nòng thành những chuyển động phức tạp của khóa nòng như xòe nêm chèn (và thu nêm chèn), nghiêng chèn..., quay khoá...

====================

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 24-01-2013 thời gian gửi bài 22:38
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Polyushko Pole (27-01-2013)
  #38  
Cũ 24-01-2013, 18:33
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Cửa băng của M1 Garand
Cửa băng của M1 Garand 2 hàng. Điểm quan trọng của cửa băng này là viên đạn đang nằm trên cùng của bằng sẽ ngóc lên hợp lý, chứ không trượt dọc ra ngoài như các băng hộp lò xo truyền thống. Cửa này kết hợp với kiểu cửa của Suomi tạo thành kiểu băng AK. Cửa băng Suomi có hai mép cong, ấn viên đạn qua đó khi nạp đạn vào băng được, nhưng ngược lại lò xo không đẩy đạn ra ngoài, khi bắn thì móc đạn trên khóa nòng đẩy, đầu viên đạn ngỏng lên, viên đạn vừa trượt dọc nhưng có thể nhảy ngang ra khỏi băng, nên máy súng ngắn lại và thiết kế thuận tiện các chi tiết khác.

Khoá nòng M1 Garand (phút 3), Video hướng dẫn quân Mỹ năm 1943
https://www.youtube.com/watch?v=GJJeBXZeVZU

M14, bản liên thanh của M4
https://www.youtube.com/watch?v=1Kgnh4neVaY

=================
Chúng ta thấy văn hóa Mỹ hay nói đến "Ý Tưởng", thậm chí là kinh doanh ý tưởng.... Như ví dụ trên, khóa nòng quay hai tai đầu to là một ý tưởng, nhưng ở châu Âu thì ý tưởng đó trở nên già dặn, nó được các nhà vật lý tính toán tối ưu, được các tổ chức lắm tiền kể cả là nhà nước thử nghiệm lâu dài.... trở thành một bài toán thiết kế.... mà những người khác không có-kể cả những kẻ nghĩ ra các "ý tưởng" đó cũng không có-và thật ra những kẻ nghĩ ra "ý tưởng" thì rất nhiều mà rẻ. Vì đầu tư lớn để chọn lọc và phát triển, các "ý tưởng" được phát triển sẽ trở thành một công cụ hữu ích. Ngược lại, bên Mỹ thì "ý tưởng" trở thành một slogan quảng cáo và đẻ non.

Thật ra, M1 Garand không được đánh giá ở châu Âu. Ngoài Mỹ thì có Nhật Bản hồi Mỹ đô hộ dùng bản liên thanh của nó là M14 một thời gian ngắn. Bản thân cái khóa nòng đó còn thiếu nhiều điểm, như hất vỏ ra ngoài, trong khi nó chỉ hoàn thiện được hai điểm là góc quay nhỏ và móc đạn từ băng. Về tổng quan, thì súng phát một không chê chèn nghiêng nên SVT không phải là súng ống Mỹ. Chính vì thế châu Âu copy SVT chứ không ai đi chú ý đến M1 Garand. Ít ra thì SVT có bệ khóa nòng, có ruột để bên trong (không những thế ruột đến nay Mỹ vẫn mê tín "indirect gas system" và "short stroke piston" của SVT). SVT dễ làm hơn nhiều, chấp nhận đủ các phương án tốt nhất như mấu hất vỏ cố định.... chỉ có mỗi tội khi tiến lên liên thanh thì Liên Xô chê thôi. Nên các nước khác không ai nhái M1 Garand Mỹ cả, thậm chí là họ lấy SVT làm liên thanh.

==============

Tóm lại, AK dùng khóa nòng quay hai tai đầu to. Vì đầu to nên khóa nòng chỉ cần quay một góc nhỏ là khớp, không ảnh hưởng đến những thiết kế khác, không những thế đầu khóa nòng rất rộng rãi để nhét đầy đủ các phương án tốt nhất lên đó. Khóa nòng AK liền khối chứ không như Mauser hay Mosin, khe cho mấu hất vỏ, tai chiụ lực, mấu móc đạn từ băng, móc vỏ đạn từ nòng.... đều nằm tuốt tuột lên đầu to đất rộng mênh mông. Đó, đầu to thì đất trên đầu rộng mênh mông, thế nhưng M1 Garand lại không tận dụng đất đó.

Như nói trên, ở súng tự động khóa nòng quay, thì chuyển động quay của khóa nòng được chuyển đổi từ chuyển động thẳng giữa bệ khóa nòng và khóa nòng thông qua một khe chéo trên bệ và tai quay trên khóa. Ví dụ, khi bắn xong, trích khí đẩy bệ lùi về, thì khe chéo đẩy tai quay sang ngang, khoá nòng quay cho đến khi mở xong, lúc đó khóa nòng chạy lùi theo bệ ở tư thế mở, kéo vỏ đạn ra ngoài. M1 không có bệ khóa nòng và vẫn dùng cần đẩy lùi ruột để ngoaì da của Modragon-khẩu súng trường tự động đầu tiên trên thế giới, và FSA-1917/ một thiết kế nổi tiếng về độ lởm. AK có bệ khóa nòng khá nặng, một phần khối lượng đó được trả cho cần đẩy lùi to khỏe nhất trong các loại súng trường cá nhân, dùng bánh đà khóa nòng đó như cái búa đập máy súng đi qua những kẹt tắc và tham gia điều hòa tốc độ bắn.

Tai quay của AK đặt ngay trên đầu to, bán kính lớn, nên lực bẻ khóa quay rất mạnh. Khả năng kẹt nhiều nhất là khi khóa nòng bắt đầu chuyển động quay, vì nếu như khi đạn nổ mà trong ổ đạn có vết, như bẩn hay khuyết tật, thì áp lực lớn ép vỏ đạn ăn vào vết đó, cần giật ra. Để tăng khả năng mở kẹt, khe quay cuả AK không chéo đơn giản như như FSA-1917 hay Vetterli , mà làm chữ S. Khi mới bắt đầu có chuyển động của bệ khóa nòng , thì tai quay cuả khóa nòng chạy trên một đoạn thẳng chứ chưa chéo, nhờ đó khóa nòng tăng tốc lấy đà đập tung vỏ đạn kẹt. Khi trở về cũng vậy, thêm một đoạn thẳng nữa, vậy nên khe quay này hình chữ S. G36 và AR-18 ncũng thế. Chỉ có AR-15/M16 vua đẻ non thì như như FSA-1917 , nên có câu búa dùng để ấn chứ không để đập.

==============

Búa cò của AK
https://www.youtube.com/watch?v=hXL-bF_2YHw
Búa cò của AK thuộc loaị búa quay, cò hai chiều. Búa quay là loại búa như của súng cổ đá lưả flint lock. Một thời gian dài búa quay mang tiếng là làm rung súng vì chuyển động xoáy và đứng rất mạnh, ưu điểm của các súng trường hiện đại từ M1841 Phổ là "mỳ", tức lò xo xoắn ruột gà làm búa chuyển động dọc như Mauser-Mosin. Ưu điểm đó làm cho búa quay cổ truyền mang tiếng. Nhưng thật ra, cái sự "búa quay mang tiếng" đến thời AK lại đã lạc hậu, vì nó không dùng lò xo lá đơn và đầu búa nặng thời cổ đã chuyển sang lò xo xoắn ruột gà, đồng thời hạt nổ-kim hỏa hiện đại cũng nhẹ, thêm cơ cấu đòn bẩy đặt đầu nặng búa có bán kinh lớn hơn điểm đập kim hỏa, nên búa quay nhẹ, ngày nay hầu hết các súng ống đều làm búa quay, nên chúng ta có thể đánh giá AK khá tiên tiến khi không nặng nề với "tiếng xấu" của buá quay, từng điểm của AK đều được đánh giá rất sáng suốt. Dưới đây có anh AK Tiệp Khắc VZ-58 nỗ lực "màu cờ sắc áo" làm máy truyền thống Áo-Hung cho AK .

Từ video trên, chúng ta thấy búa quay của AK có lò xo sợi xoắn ruột gà rất dài, thậm chí các búa dọc cũng khó mà có sợi dài như thế. Buá quay cổ flint lock to nặng rung một phần vì nó mang tiếng oan, do điểm hỏa đá lửa cần búa rất mạnh nên nó rung súng chứ không phải lỗi ở cái búa thích to. Một phần búa flint lock mang tiếng không oan, đó là thép làm lò xo lúc đó hiếm và xấu, lò xo ruột gà không dùng được vì nhanh mỏi, phải dùng lò xo lá bằng "thép trắng" ram nhiệt rất từ từ, hiếm và đắt, để cái lò xo đó lâu hỏng thì người ta dùng nó ít thôi, căng nó góc nhỏ thôi, rồi lấy đầu to nặng của búa trữ năng lượng. Nhìn vào búa AK, chúng ta thấy so với búa thẳng có ưu điểm hơn, đó là để khối lượng lớn ở xa, có bán kính lớn, còn điểm đập kim hỏa ở gần bán kính nhỏ, nên moment khi đập lớn trong khi vẫn giảm được khối lượng búa. Cái kiểu búa này thì nhiều súng lúc đó đã nhìn ra như FM mle 1924 Pháp, nhưng FM mle 1924 có hẳn hai cò cho hai chế độ bắn ^.^

Búa AK là loại búa mà người Mỹ goị là "chức năng đôi/ chức năng đúp" Double-action (có thể tìm hiểu bằng wiki). Những khái niệm single action và duoble action này do hiệp hội súng Mỹ đưa ra và chúng thể hiện độ ngu hơn con eng éc của người Mỹ về chuyện súng ống, những cái đầu đần độn không luận được những chi tiết đơn giản nhất, cố nặn ra những khái niệm để nhồi sọ, như là dạy bọn tâm thần ăn cơm. Có thể hiểu "chức năng đúp" như sau, mỗi cái cò súng tự động thật ra là hai cò ngược xuôi để ngắn phát bắn thứ hai trong động tác bắn phát một lên đạn tự động (vì thế mà phát một lên đạn tự động cần "tự động" nhiều hơn là liên thanh). Khi bóp cò thì cò xuôi mở ra (releases) thả búa điểm hỏa (striker). Cò xuôi mở ra đồng thời chuyển cò ngược sang chế độ đóng, máy súng tự động lên buá, và búa mắc vào cò ngược. Khi ngón tay xạ thủ thả cò ra thì, cò xuôi chuyển sang trạng thái đóng, cò ngược mở thông, búa mắc vào cò ngược chờ lần bóp cò tiếp theo.

Búa cò AK có nhiều chức năng hơn là những "chức năng đôi" của bọn tâm thần. Chúng ta nói dưới đây về điều hòa tốc độ bắn. Chỉ riêng phần cò thì AK không chỉ có hai cò, mà là ba cò. Hai cò bóp tay đôi ngược nhau như nói trên, thêm một cò là cò liên thanh ngóc lên bên phải máy súng, được bệ khóa nòng gạt để điểm hỏa khi bệ khóa nòng đã về đúng điểm, phức tạp hơn việc bệ khóa nòng thả búa không cò trước đây. Nhờ thế buá có khoảng trống lớn trước khi va vào kim hỏa, chuyển động thoải mái, do đó vừa điều hòa tốc độ bắn thuận tiện vừa nhẹ.

Trên mạng các bạn có đủ tập tin solid work rồi render ra những tập tin video khác nhau. Tuy nhiên, các bạn thường là nghiệp dư về súng ống, các tập tin phía dưới không nói đến cái cò thứ ba, riêng có tập tin này mô tả nó ở giây 30 và 60. Đó là cái nẫy nằm bên phải máy súng. Cò này được "bóp thả" bằng bệ khóa nòng khi bắn liên thanh.
AK-47 Single Shot Mechanics - Механика одиночного выстрела на АК-47


Bắn liên thanh
AK-47 Work Cycle - Принцип работы автоматики АК-47
AK-47 Secret Mechanism [Working Fucntion]

Một số bạn sẽ nói, cò AK không có chức năng bắn loạt như M16 đời mới. Đúng cái tư cách AK thì nó sẽ trả lời: "ừ đúng" một cách kiêu hãnh thần bí như mọi chuyện khác. Thật ra, lính bắn AK đã được huấn luyện kỹ để bắn loạt ngắn nhất 2 viên, nên cò bắn loạt 3 viên là không cần thiết, và ai sử dụng AK nhớ tập bắn loạt đó. Các súng trường thử nghiệm hiện đại của Nga-Đức có bắn loạt, nhưng có cơ chế máy móc đặc biệt để loạt 2 viên đầu hay 3 viên đầu bắn siêu tốc độ 2000, còn bắn loạt như M16 với tốc độ thường chỉ để nhồi sọ đám đần độn như hội súng ống Mỹ, cùng các fan cuồng trên nét. G36 làm bộ máy cò thay nhanh dễ bán, thằng nào thích mua kiểu gì thì chiều, đỡ phải sủa thi với chó.
==========

Điều hòa tốc độ bắn bằng bộ cò búa.
Như đã nói. Tokarev năm 1927 thử nghiệm nguyên lý chiến đấu của súng liên thanh cầm tay Liên Xô. Bản PP/súng ngắn liên thanh Tokarev năm 1927 không phải là một khẩu súng ứng dụng thật, vì nó không có đạn, đúng hơn là nó tạm dùng đạn gờ móc của revolver Nagant Liên Xô đang dùng, đạn có gờ móc không thuận tiện cho súng tự động. Sau đó thì Tokarev phát triển đạn Tokarev 7,62x25 cũng ta đã biết, nhưng ông bị tách khỏi chương trình súng ngắn liên thanh vì những việc quan trọng hơn. Tốc độ của bản PP năm 1927 là 1200, như tốc độ của MG42, dồn một lượng lớn đạn lên mục tiêu trước khi mục tiêu thụt xuống hào. Tuy nhiên, vì những khó khăn kỹ thuật nên PPSh và Suomi chỉ giữ ở mức 900, M16 Mỹ lấy lại tốc độ này.

Còn AK thì Liên Xô đưa ra lý thuyết chiến đấu khác. AK nhường loạt bắn nhanh cho trung liên đại liên, không bắn liên thanh ở tầm quá xa, mà chỉ khuyến kích bắn liên thanh khi tấn công bằng loạt ngắn 2-3 viên, ở tầm xa AK được khuyến khích bắn phát một. Người ta giới hạn tốc độ tiêu thụ đạn AK trong tình huống chiến đấu dữ dội là 120 phát / phút. Để có điều đó, tốc độ bắn liên thanh của AK là 600. Giới hạn tốc độ này để đảm bảo thời gian chiến đấu lâu dài, vì xạ thủ không thể mang quá nhiều đạn, điều mà thời phát một không phải nghĩ.

Các súng ngắn liên thanh không cần quan tâm điều hòa tốc độ bắn quá nhiều. Chúng điều hòa tốc độ bắn chủ yếu bằng khối lượng khối lùi và lực lò xo. Thật ra, súng ngắn liên thanh quá rẻ mạt nên người ta không tiếc lắm việc vất súng đi khi lò xo yếu, bắn chậm, mà lò xo thì yếu đi nhanh. AK sử dụng búa cò đặc biệt để giảm tốc độ bắn. Khi búa cò mới bắt đầu chuyển động, lò xo bố trí ở một thế riêng nên búa băng ra chậm. Khi búa văng ra một chút thì lò xo mới đẩy búa bằng moment lớn, búa mới đập nhanh. Đến AKM thì thêm một cái lẫy quán tính để búa văng ra điều hòa hơn khi lò xo búa cũng nhão.

Cái lẫy đó của AKM rất nhỏ, có thể tưởng tượng nó như một cái búa đầu nặng, phải gạt buá đó bật lên thì búa chính mới thoát đi điểm hoả. Ban đầu, đầu búa chính sẽ gạt vào phần gốc cán búa lẫy nhỏ, nên quán tính của cái lẫy búa nhỏ lớn, cản búa chính bật ra một thời gian khá dài.
AKM Rate Reducer - How does it work?

Nếu so sánh điều hòa tốc độ bắn với M16 thì cười bò lăn. M16 như các súng ngắn liên thanh đơn giản MP38/40 và PPSh, điều hòa tốc độ bắn thô sơ bằng lò xo đẩy về và khối lùi. Tuy nhiên, các súng Nga Đức khi làm điều này đều lấy khối luì khá nặng để dễ điều hoaf, còn M16 ngu xuẩn càng nhẹ càng tốt. Vì vậy nên M16 mới có một thiết bị không một súng nào trên trái đất có ngoài nó, đó là nút "trợ lực đẩy về" bên phải súng, nếu lò xo đẩy về không hết thì xạ thủ tuự đẩy. Chúng ta biết, khi quay khóa nòng và nhồi đạn vào buồng nổ (ổ đạn) trong nòng có nhiều chuyện xảy ra, và đạn NATO không côn nhiều như đạn AK, nên dễ tắc kẹt, mà đến lúc đó lò xo đẩy về yếu thế thì phải biết. Làm sao được, M16 đã bắn quá nhanh 900, nòng rất nhanh hỏng, mà lò xo còn mạnh nữa để bắn nhanh nữa thì vỡ nòng, làm lò xo non thì một thời gian ngắn là nó dão quas mức, phải giúp nó đẩy về thủ công, trước khi nó chuyển hoàn toàn thành súng phát một kéo khóa nòng tay bolt action.

========

Khóa nòng AK có từ bao giờ.
Đó là khẩu cạc bin phát một cùng tác giả năm 1944. Đây là bước đệm tiến lên AK. Tác giả súng năm 1942 trước đó, trên giường bệnh sau khi bị thương ngoài chiến trường, đã thiết kế nháp một khẩu súng ngắn liên thanh lùi có hãm xoắn, như khẩu súng Ý VP hồi WW1 chúng ta đã nói đến. Ông hy vọng khẩu súng ấy sẽ bắn được đạn mạnh hơn là súng ngắn liên thanh PPSh. Tuy khẩu súng đó không được ai chi tiền hoàn thiện thiết kế, nhưng ông đã được cấp trên đánh giá ở một điểm quan trọng, là nhìn thấy điểm yếu đuối của súng ngắn liên thanh. Sau đó ông được cử đi học (Kalashnicov đến lúc đó là thợ súng như Degtiarev). Không biết ông ấp ủ từ bao giờ để năm 1944 có bộ máy đó.
1944, có khóa nòng kiểu AK nhưng chưa có trích khí
http://vintovki.1234.kiev.ua/index/a...iny_str_3/0-11
http://www.megasword.ru/index.php?pg=228
http://www.megasword.ru/index.php?pg=227


Khẩu cạc bin đó năm 1944
http://www.nvkz.kuzbass.net/michael/raznoe/karkal.htm

Khoá nòng kiểu AK
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Trích khí tiết lưu nhưng đã có nỗ lực cải tiến nhược điểm khó tháo lau của SVT. Xạ thủ dễ dàng mở ống xi lanh ra lau
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

===========



Khóa nòng AK và cái khe chữ S của nó. Tình huống hay tắc súng và tắc chặt nhất là kẹt vỏ đạn đã bắn rồi trong ổ đạn đuôi nòng. Khi bệ khóa nòng mới lùi, thì bệ chưa đẩy khoá chạy vì đoạn thẳng đầu chữ S, beej lấy được đà, bệ đập mạnh khóa nòng gỡ kẹt.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

So sánh, đây là khe quay thẳng "búa để ấn chứ không để đập". Cái này cũng là quay 2 tai nhưng nó băm tai ra làm nhiều tai, vi phạm quy tắc kiềng ba chân
http://armesfrancaises.free.fr/FSA%201917.html
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Khóa nòng AK http://www.ak-47.net/ak-47/comp/bolt.php
1 - Recess for case bottom, hố chứa đuôi vỏ đạn
2 - Extractor slot, lỗ nhét móc vỏ đạn từ nòng
3 - Guide lug, tai quay , tai tương tác với khe quay trên bệ
4 - Hole for extractor pin, lỗ xỏ chốt hãm móc vỏ từ nòng
5 - Locking lug, tai khóa chịu lực
6 - Longitudinal slot for ejector lug, khe dọc cho mâú hất vỏ chạy, mấu này nằm cố định trên vỏ máy súng
7 - Extractor spring, lò xo móc đạn từ nòng
8 - Extractor pin, chốt hãm cais móc đạn từ nòng
9 - Firing pin retaining pin, chốt hãm kim hỏa
b - kim hỏa
c - móc đạn từ nòng
(cái mấu nằm giữ chữ số 1 và chữ số 5 là cái mấu móc đạn từ băng)
https://www.youtube.com/watch?v=lQe864rGLyk
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Một cái khóa nòng kiểu AK lắp trong bệ khóa nòng, cái này dùng cần đẩy về rời như SVD hoặc SIG (AK nhái Thụy Sỹ). CHúng ta thấy với cái đầu rộng rãi, khóa nòng AK chơi đủ đồ và toàn đồ xịn trên một khối liền.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Có thể so với Mauser. Để các chức năng làm việc tốt thì Mauser ném móc vỏ đạn từ nòng lên một đoạn khác, đoạn này không quay cùng khóa nòng. Mosin cũng có đoạn không quay dùng để nhét cái móc đạn tf băng. Khi chuyển sang liên thanh thì các đoạn rời này yếu, phức tạp.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Khóa nòng M1 Garand. Nó chưa có bệ khóa nòng-bánh đà cuả máy súng, ruột để ngoài da như Mondragon và FSA-1917. Trích khí đẩy cần đẩy lùi ốp bên sườn súng
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


FN FNC. Súng đổi tai quay ra chuôi, như thế sẽ gia công khe quay thuận tiện hơn bằng các máy đa năng, khe quay AK phải gia công trên giá chuyên dụng. Gia công bằng mays da năng (tiện phay...) thuận loưị hơn cho hãng sản xuất nhiều loại súng chứ không chỉ chuyên về súng dùng khóa nòng kiểu AK. Nhưng tai quay này có bán kính nhỏ, moment yếu.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


================


Cuối cùng, mình nói đến điều này

Vấn đề AK có sao lại MP44 hay không thì mình đã nói trên. Trên tất cả các thứ tiêngs đều có những 4r bàn luận về chuyện này, và topic "ak vss m16". Đương nhiên vote ak laf điều đương nhiên, ở đây mình cũng sẽ tóm taứt một vài điểm đó. Nhưng thế giới dân tộc nào cũng đông đảo những chàng hâm như mình, ví như ế vợ người yêu đá đít..... thì giở thói côn đồ trêu chó chọc lợn làm vui.Ít ra là cũng vui hơn cảnh thằng FA chọc thằng OKAY.

Ở ta, nhân dịp mình tham gia mấy cái 4r, thì đám tâm thần kiểu Mỹ như báo giáo dục, đất việt.... cũng mô đi fê các post đó câu viêu, đã bị ném đá nhiều rồi, ở đây mình trích lại chút câu chuyện Schmeisser tham gia làm AK. ví dụ:
"Hugo Schmeisser làm việc cho Cty " Bergman" nổi tiếng với việc sản xuất mẫu khẩu súng MP-18. Sau chiến trang thế giới lần 1, ông chuyển sang làm cho Cty "Haenel" do Cty cũ suy thoái. Tại Cty mới ông tham gia thiết kế các mẫu MP-36/38/40, nhưng nổi tiếng trong thế giới lần thứ 2 , là 2 mẫu MP-38 và MP-40 đã sản xuất 1,2 triệu khẩu."
Xin lỗi các con lợn MP18 là Schmeisser bố. CÒn EMP36, MP38, MP40.... đều là các thiết kế của ERMA có đóng góp chủ yếu là Vollmer. Vollmer là điển hình cho bi kịch của các nhà sản xuất súng ngắn liên thanh Đức. Schmeisser cải tiến khẩu MP40 thành MP41 nhưng không dùng nhiều.

Theo cái báo ấy thì Schmeisser tư vấn cho các chuyên gia Nga về gia công tấm mỏng, các anh chàng kia gọ là dập. Sự thật là, đến AKM năm 1959 AK mới dùng nhiều tấm mỏng trong đó có chi tiết quan trọng bậc nhất là vỏ máy súng. Và Vollmer mới là chuyên gia gia công tấm mỏng, có thể thấy Schmeisser trong MP41 bớt đi nhiều gia công tấm mỏng, mà hãng của ông không lại nổi Erma của Vollmer, chí ít có thể quan sát cái báng thép xuất hiện từ EMP36 bị MP41 bỏ đi. Bên Liên Xô, thời này thì gia công tấm mỏng đã phát triển với đại diện là PPS, 500 ngàn khẩu trong chiến tranh, cũng toàn sắt như MP40. PPS có tên sản xuất muộn vì nó thiết kế và sản xuất cầm chừng trong Leningrad bị bao vây, thực chất được sản xuất từ 1941. Sau này, khi có AK thì súng ngắn liên thanh co về vị trí súng phụ, nhu cầu thấp, Liên Xô đã tràn ngập 6 triệu khẩu PPSh, nên PPS dừng sản xuất, bằng của PPS khác băng của PPSh.

Nhà thiết kế PPS là nhà thiết kế AS-44 mình đã đề cập nhiều trên kia, khẩu súng đầu tiên dùng đạn M43 trên chiến trường có mục tiêu thưr nghiệm đạn này trong chiến tranh. Ông ốm cuối năm 1945, cũng một phần vì lý do này mà Kalashnicov vượt lên. Sau đó ông mất năm 1949.

Schmeisser có đóng góp ý kiến cho bên Nga không ? Đương nhiên là hoàn toàn có thể có điều đó, cũng như hoàn toàn có thể một số ý kiến đó được dùng trong AK. Tuy nhiên, toàn bộ khẩu AK không có dấu ấn gì của Schmeisser cả.

Tại sao lại có thể có chuyện Schmeisser tham gia thiết kế AK ? Ô kìa, đến Mỹ còn tham gia thiết kế AK nữa là Schmeisser . Mỹ để dấu ấn đậm đặc lên khóa nòng AK cơ mà, chỉ có đám thần kinh mới không thấy điều đó. Như chúng ta thấy trên, không chỉ Mỹ, mà ZB cũng để lại dấu ấn đậm trên AK, nhưng AK dùng những giải pháp đó mà tiến bộ một trời một vực so với súng gốc. Đến những anh đó còn không dám vỗ ngực ddã tham gia thiết kế AK, nữa là Schmeisser. Người nguyên thủy cũng có thể tự hào đã tham gia sản xuất AK vì họ phát minh ra sắt... ddiều đó hoàn toàn đúng.

Không như bên Mỹ, nơi toàn bộ các "ý tưởng" đều bị đẻ non. AK tích hợp những cái hay ho nhất của các đối thủ của nó. Năm 1946 AK đã coi như thắng thầu-đã có đủ khóa nòng và trích khí, nhưng với điều kiện là ông phải sửa lại mẫu súng của ông với nhưng giải pháp ưu việt khác trước khi ông được nhận thầu sản xuất. Bản AK-47 chưa phải là bản cuối cùng thắng thầu năm 1949, nhưng quá rõ ràng rằng, từ maaú 1946 sang mẫu 1947, thì AK đã chuyển khung vỏ máy súng từ kiểu SVT truyền thống sang kiểu của Bulkin, người cùng đua với AK trong đợt này.

Như thế, Kalashnicov cũng chỉ là một thí sính đạt điểm cao nhất, người chấm là hội đồng, hội đồng có đại diện khoa học là Fyodorv, người đã dành cả đời cho súng trường xung phong. Nhiệm vụ của Kalashnicov là tích hợp những cái hay, trong đó có Bulkin, và Tiệp Khắc, Mỹ, Đức....

AK học từ nhiều nơi, nhưng MP44 thì rất khác AK, không có gì chung cả. MP44 là súng ngắn còn AK là súng trường. Các anh tâm thần trên gd hay đv nếu đọc dòng này thì nhớ như vậy, chủ chúa Mỹ của các anh để lại nhiều mùi trên AK hơn bất cứ thằng phát xít nào.


Có lẽ chua thêm câu nữa. Trong thời đại của AK-7,62mm , tức là trước 21974 mà cụ thể hơn trước 198x. M16 của Mỹ nhôì sọ các kiểu nhưng không một ai thèm dùng trừ Nam Hàn Nanm Vịt... Kể cả những đồng minh thân cận nhất của Mỹ như Canada, Anh, Úc. Nhưng nước đó dùng FN FAL. Vào cái thời của súng trường xung phong AK đạn cả vỏ nặng 16 gram, thì các nước NATO tiên tiến nhất dùng đạn súng trường đối kháng NATO 7,62x51 nặng 25 gram lắp cho súng xung phong, bằng cách cắt ngắn nòng. Mua đạn nặng rồi ném sức đạn đi xung phong để đồng loạt sỉ nhục Mỹ. FN FAL là bản sao SVT, tất nhiên SVT là súng trường phát một lên đạn tự động Tokarev, anh của AK tức là súng Liên Xô.

Những nước trên cũng chẳng hay ho gì về trình độ quân sự. Những nước hàng đầu thế giới về kỹ thuật súng cũng như lịch sử quân sự là Thụy Sỹ, Bỉ, Phần Lan, Thụy Điển, Israel, Đan Mạch thì copy nhái AK về dùng và xuất khẩu sang các nuước khác.

Các nước trên vẫn ít dân. Nước đông dân nhất thế giới là Tầu Khựa có li xăng AK không kể. Ấn Độ là nước đông dân thứ hai trên thế giới, không có li xăng AK vẫn nhái i sì đúc khẩu AK chỉ trừ trích khí thành INSAS.
https://www.youtube.com/watch?v=kXcnlie9k8w

Nước đông dân thứ ba trên thế giới là Indonexia dùng bản nhái FN FNC thành Pindad SS1, sau đó lại học được xiên ngược thành SS2, thế là có bản AK gần như giống, có khác mối cái tai quay chuyển lên chuôi khóa nòng.

Khỉ cũng biết bắn AK, Video khá nổi, ít ra nó nói lên sự thân thiện vô địch cuả AK. 26 triệu lượt xem

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 25-01-2013 thời gian gửi bài 10:00
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Polyushko Pole (27-01-2013), tolaind (25-01-2013)
  #39  
Cũ 24-01-2013, 22:51
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default

Bạn huyphuc1981_nb cho mình hỏi, mấy cải tiến của các nước (ở cuối bài viết trên của bạn) có ưu nhược điểm gì không so với thiết kế gốc?
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #40  
Cũ 25-01-2013, 01:47
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Trích:
Nina viết Xem bài viết
Bạn huyphuc1981_nb cho mình hỏi, mấy cải tiến của các nước (ở cuối bài viết trên của bạn) có ưu nhược điểm gì không so với thiết kế gốc?
Vẫn chưa ngủ, có đây. Trả lời Nina chút.

Như mình nói trên, các nước xã hội chủ nghĩa cũ có li xăng AK đồng thời dễ dàng có một số phương pháp tính toán thử nghiệm. Truy nhiên, vào đời AK 7,62mm gồm AK gốc và AKM thì cũng có môtj số thay đổi lớn. Những điều khác biệt của AKM thì mình nói sau. Còn những thay đôỉ ở các nước khác thì có Nam Tư, Đông Đức, Tiệp Khắc là thay đổi nhuêì hơn cả. Trung Quốc được viện trợ toàn bộ kỹ thuật AK gốc thành "56 thức", nhưng về sau họ cải một chút sau khi tách khỏi Liên Xô, ví như kỹ thuật mạ trong nòng và phốt phát hóa, những điều về Trung Quốc mình nói sau.

Đông Đức. Anh em Đông Đức nhà ta cay cú Liên Xô lắm, vẫn gọi AK là MP... đầy đủ là "MPi K" ="MaschinenPistole Kalaschnikow". Thế là coi trọng rồi, ZB26(t) còn bị viết thường chữ T là Tiệp Khắc. Ví như "MPi KM" là bản ngang AKM, còn "MPi KMS" là bản ngang AKMS là AKM có báng xếp.

Ở đây mở ngoặc là. Chính Liên Xô trong 10 năm đầu 1949-1959 cũng lung tung về cách gọi AK. Ban đầu, tên thiết kế của AK là "cạc bin liên thanh", cũng như MKb của Đức. Cạc bin là súng trường ngắn gọn, xuất phát từ "kỵ binh". Ban đầu Liên Xô gọi các súng như AK theo cách gọi của Fedorov, là Klashnicov Avtomat hay Avtomat Klashnicov AK. Đồng thời cũng chuyển cách gọi PPSh là Avtomat trong sách quân sự. Điều đó nói lên một phần ham muốn của Liên Xô là AK sẽ có vai trò to lớn như PPSh, nhưng như chúng ta thấy ngày nay, PPSh là muỗi so với AK. Như thế, thì nhúng ngắn liên thanh và súng trường liên thanh là cùng một loại. Tầu Khựa cũng thế, AK và PPSh đều là "xung phong thương", chữ thương Tầu cũng như chữ G Gewehr Đức là vũ khí chính của bộ binh, Tầu đã dùng chữ thương để chỉ gậy gỗ, giáo kim loại và súng. PPSh là xung phong thương "50 thức" kiểu 50 K50. Còn AK là ngũ lục thức=56 thức, nhà ta không dịch là K56 mà gọi luôn là AK (thật ra nhà ta đã tự chế được AK nhưng Tầu Khựa viện trợ ồ ạt để bóp chết công nghiệp ta). Trong bối cảnh đó thì bạn Đức đang ấm ức vì thua trận miệt thị AK là pistole cũng có lý.

AK Đức có một số đời theo sát Liên Xô, có thể kể đến các đời AKM, 69, 72, 74. Bạn Đức luôn muốn lái theo kỹ thuật truyền thống cuả bạn. Mặt khác, Đông Đức luôn luon sản xuất cả hai bản, tay kéo khóa nòng bên phải truyênf thống và bên trái kiểu Đức. Theo truyền thống Đức thì tay kéo khóa nòng bên trái để khi thay đạn luôn luôn có ngón tay giữ cò để tử thủ.

Khác biệt lớn ban đầu là bản báng xếp, bạn chuyển sang xếp bản lề ngang như AKS-74 sau này, chỉ khác là làm bằng sắt chứ không phải khung nhựa, báng này thì đúng là siêu rẻ.
http://www.warriortalk.com/showthrea...many-%28DDR%29
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bản huấn luyện 69 dùng đạn "0.22lr". Đây là cỡ đạn tiền thân cuả NATO 5,56x45. Năm 192x bị cấm xuất khẩu nhiểu loại súng, Mauser nỗ lực xuất khẩu súng bắn đạn này và cố làm cho nó khỏe giết được người, ít ra là trong quảng cáo. Mỹ dại dột luôn ngộ quảng cáo lấy làm đạn súng trường AR-15. Sau này, vào thập niên 198x thì Tây Âu muốn đổi đạn nhỏ hơn NATO 7,62x51 họ vẫn đang dùng, Mỹ mặc cả, cuối cùng nATO dùng nongf/đạn Bỉ FN SS109 làm NATO 5,56x45. Có điều hài hước là, M1A1 bắn đạn NATO 5,56x45 thì đạn quay ngang trươcs 90 mét vì không đủ xoáy. M1A2 bắn đạn M1A1 thì đạn lột vỏ, nên Mỹ cũng không bán được đạn cho châu Âu.
MPi 69 dùng lùi đơn giản
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


MPi KMS 74
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


MPi KNS 74 dùng tiết lưu
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

AK Đức như vậy không khác biệt nhiều. Một số vấn đề về sau AK Nga học theo Đức, là bản lề gập ngang của báng xếp và trích khí tiết lưu vuông góc. Trích khí kiểu Đức này có thể thấy trên một số bản AK-74 nhưng nhanh biến mất, đặc trưng của nó là gia công bằng đúc áp lực cực rẻ. Cả hai cải tiến quan trọng này của Đức đều cực rẻ, thế thôi. Chúng rẻ quá đến mức hy sinh cả tính năng súng. AKS-74 về sau cũng bản lề gập ngang, nhưng làm bằng khung nhựa chắc chắn chứ không phải là sắt uốn, bản lính dù siêu gọn nhẹ. Bản bộ binh nặng thâm hai lạng có báng nhựa đặc để táng nhau bằng báng. Ngày nay G36 Đức cũng gập ngang kiểu này, nên phải nói sáng kiến của bạn Đông Đức rất có giá.


Hungari
http://www.hungariae.com/AK55.htm giống AK nguyên thủy nhưng bạn Hung làm nặng ucj 4,85kg
http://www.hungariae.com/AKM63.htm AKM nhưng bạn Hung bỏ ốp lót trước maf thay bằng tay cầm súng lục trước (grip). Nặng nhẹ bình thường
http://www.hungariae.com/AMD65.htm AMD-65 là AKU nòng ngắn báng xếp kiểu Đông Đức
http://www.hungariae.com/AMP69.htm AMP-69 Cải tiến trích khí để bắn lưu cổ truyeèn từ nòng chính
SVD , tên ở ta là "Trường Hung" cùng dùng với Mosin M30. SVD là súng do Liên Xô thiết kế, kiểu khóa nòng trích khí AL nhưng mượn cái cần đẩy lùi rời của SVT vì đạn Mosin có gờ móc chuyển động cũng lắc lư.
SA-85M bản xuất khẩu 200x, quay về thiết kế AKM kiểu Liên Xô.
NGM-81 bản AK-74 Hung, có nòng dùng cho đạn NATO.
Hung cũng sản xuất RPK vaf PK.

nhìn chung các bản của Hung không có gì khác biệt đáng chú ý.

AKM-63
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Tiệp khắc có AK tiệp Vz.58 khóa nòng chèn nghiêng "bản sắc dân tộc", bên ngoài giống hệt AK.
http://50ae.net/VZ-vs-AK/
Chính xác là một nửa của Rudolf Henrik Kjellman, một nửa của G43. Cũng như ZB-26 là đúng một nửa của khóa nòng DP. Trong link trên so sánh giống P08 Súng ngắn Luger Đức.
Một cải tiến nữa "màu cờ sắc áo" luyến tiếc đến quốc Áo-Hung lừng lẫy về súng ống là búa thẳng. Như nói trên, vào thời súng mỳ M1841 Phổ thì búa thẳng là thời trang, nhưng đến thời AK là lỗi mốt rồi. Buá quay đơn giản áp dụng được nhiều tiến bộ, súng ngắn hơn và nhẹ, mặt khác đạn AK cũng không phải hạng đạn bắn tỉa quá cần tránh rung.

Báng gấp bản lề ngang và chắc chắn hơn Đức. Bệ khóa nòng đậy kín
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Các nước xã hội chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Nhưng khác biệt nhiều là các bản trên, thêm anh Nam Tư cũng có hiệu chỉnh trích khí để bắn lựu.

============


Về các anh Tư Bổn hồi đó thì cũng nhiều., nhưng điểm ra đây một chút

Phần Lan Valmet Rk. 62 / 76 / 95 Rk là viết tắt cuả súng trường xung phong.
Chúng ta ở đây chắc đã biết lịch sử Phần Lan. Phần Lan là cái giống dân lạ hoắc ở châu Âu như Hungari, giữa đất châu Âu có hai dân tộc nói tiếng châu Á. Của đáng tội là cả hai dân này đều rất thông minh. Có nhiều truyền thuyết, nhưng có vẻ đúng hơn họ là các quân đoàn của Mông Cổ hay của các đế quốc xa hơn nữa bị đại quân đánh rơi, hay tự rơi.... vào châu Âu. Phần Lan trước thuộc Thụy Điển cò cưa kéo xẻ rồi về Nga. Năm 1917 Phần Lan đòi tách ra, Hồng Quân bảo: "đồ bạch vệ", Phần Lan giả nhời là: "ừa, tao bạch vệ cũng được nhưng tao tách ra". Vì vấn đề Phần Lan tách ra nên thủ đô Liên Xô lại nằm ngay biên giới không an toàn, Lênin phải thiên đô lập tức sau khi chiếm được Maxcơva. Cuối 193x thì cả châu Âu đầu nóng lắm rồi, Liên Xô bảo: người anh em Phần Lan đổi cho tôi chỗ nào cũng được, để Leningrad xa biên giới một chút. Phần Lan cậy có Đức bảo: "anh đừng điên", hai bên phang nhau, Liên Xô chiếm vùng đệm Leningrad. Phần Lan đứng hẳn về bên Đức. Tuy nhiên sau chiến tranh thì Liên Xô không trừng phạt anh em một nhà như ứng xử với các nước khác.

Vì chiến tranh này mà Liên Xô tỉnh ngộ trước Suomi, vội chế PPSh, Suomi là tên dân tộc Phần Lan như nước Nam có dân Việt vậy, cũng là tên khẩu súng ngắn liên thanh tốt nhất WW2. Cái gờ cong miệng băng và cổ băng của Suomi, cũng như băng trống PPSh... còn truyền đến AK ngày nay.

Sau 1945 thì Phần Lan như cô gái lỡ thì chẳng còn gì để vênh váo, mãi gần đây họ mới chuyển sang hệ vũ khí Tây, không phải vì Tây tốt, mà các nước Âu đều tự thấy nên nỗ lực đến một hệ quân sự thống nhất, chưa thống nhất được thì cũng không nên tách nhau xa quá.

Năm 1960 Phần Lan mua li xăng đạn và súng AK Liên Xô, bản nguyên thủy, chấp nhận năm 1962 với cải tiến đôi chút. Thật ra tuy xa đất mẹ nhưng Phần Lan vẫn đều đặn copy các tiến bộ Mosin. Duy có Suomi thì tốt nhưng cũng có tốc độ bắn theo hướng Toarev đề nghị. Valmet Rk. 62 có chụp giảm chớp flash hider của Suomi, ốp lót trước nhựa tròn và báng trụ theo thế mạnh lúc ấy của Phần Lan là đồ nhựa. Đầu ruồi chuyển lên đỉnh trích khí hơi dở. Rk-62 có một số biến thể, bản xuất khẩu có dùng đạn ".223" về sau là cỡ đạn NATO 5,56x45(tuy cùng cỡ hình học nhưng đồ thị áp suất sau này của NATO rất khác phải bắn trên nòng khác, nguyên bản NATO là bộ nòng/đạn FN SS109 của Bỉ). Một biến thể khác là Valmet 78 dùng đạn to 7,62x51 NATO chỉ có bắn phát một tự động lên đạn. Những súng phát một tự động lên đạn , bắn đạn súng trường đối kháng to như 7,62x51, lại dùng máy AK... rất được ưa chuộng kể cả quân sự lẫn dân sự vì rẻ và tin cậy.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Rk-76 là phiên bản caỉ tiến theo những tiến bôj của AKM như vỏ máy súng tấm mỏng, đồng thời báng cũng quay về kiểu AK gập ngang trong khi một số súng vẫn dungf báng trụ Phần Lan. Ốp lót cũng quay về giống AK.
Valmet Rk.76W
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Rk.95 là bản hiện nay quân Phần Lan dùng, có thay đổi lớn ở đầu nòng giảm chớp flash hider. Vỏ máy súng cắt gọt như AK nguyên thủy. Báng xếp ngang khung nhựa như AK-74. Điểm quan trọng là súng này có cải tiến để dùng thuận tiện ở vùng rất lạnh, chủ yếu là bộ búa cò có các lò xo chịu lạnh và cò bằng vật liệu ấm. Ở vùng bắc cực và Siberi nhiều khi lạnh đến mức một số thép ròn như thủy tinh và da nười có thể bỏng khi chạm vào kim loại truyền lạnh.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Ngoài các bản trên, một thời gian dài châu Âu khoái phát triển súng trường dáng ngắn , AK Phần Lan có bullpup Valmet M82, dưngf ở hàng mẫu thử nghiệm. bullpup là kiểu súng trường máy thụt vào báng cho ngắn gonj, đã nhiều nước dùng, Liên Xô cũng đã cóp bản đến nay vẫn siêu đẳng Korobov TKB-022 dài 525mm nặng 2,8kg, nhưng không dùng vì không đủ các chức năng chiến đấu như tì vai bắn xa, đâm lê... còn dùng trên các binh chủng tăng phaos công binh thì AKU chung đồ với AK thuận tiện hơn.

Một thời gian dài phát triển bullpup là thời trang, Tầu Khựa có QBZ-95 bullpup , sau đó QBZ-03 quay về súng có báng thông thường. Pháp biên chế chính thức FAMAS thay một bản AK mà thật ra là FAMAS đơn giản dễ làm dễ thăn tiền. Các nước khác cũng như Phần Lan đều chỉ dừng bullpup ở mẫu thử thời trang.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.



Bên chế quân đội Phần Lan rất ngắn gọn. Phần Lan có rất ít quân đội quốc gia, chỉ toàn sỹ quan khung các binh chủng đắt tiền như không-hải quân, tăng, pháo.... đa phần lính là Dân Quân. Các đơn vị dân quân tự trang bị súng ống bằng ngân sách được chia, nên súng AK Phần Lan có rất nhiều chọn lựa option, trong đó đời đầu Rk.62 có nhiều nét của Suomi lừng lẫy một thời, bản thân Suomi cũng nhiều option. Môtj lực lái biến đổi AK Phần Lan là xuất khẩu, mình đặt Phần Lan lên đầu vì Phần Lan không thật sự mạnh về súng ống nhưng có cái đuôi xuất khẩu này, và cũng là nhái giống AK nhất, thật ra không nhái mà phát triển có li xăng.

Phần Lan có rất ít súng. Để hiểu thêm về Phần Lan thì mình nói thêm về Suomi, khẩu súng ngắn liên thanh tốt nhất WW2 làm Liên Xô sững sờ trong chiến tranh mùa đông , cấp tốc cho ra PPD-40 và liền sau đó là PPSh-41. Cửa băng của Suomi đã nói trên, khả năng cài nhanh và gờ cửa ngăn lò xo đẩy đạn ra ngoài, cách cuốn đạn trong băng trỗng đỡ kẹt... là mẫu mực cho PPD-40, PPSh và truyền đến AK ngày nay. Nhưng Suomi còn có nhiều ưu điểm khác, phần lớn trong số đó không hợp với Liên Xô và PPSh không theo.

Ưu điểm lớn nhất của Suomi Phần Lan là súng làm bằng thép không gỉ cứng, trừ cái nòng vốn nhanh hỏng cần rẻ tiền, nhiều nòng được đặt ở Anh. Suomi có khối lùi vaf vỏ máy súng làm băng hợp kim crôm rất cứng nhập từ Thụy Điển dạng khối phôi đúc, pha ra, như ống vỏ máy súng khoan từ phôi đặc. Điều này làm súng tốt, cũng như giá đó đủ để Phần Lan áp dụng nhiều điểm ưu việt khác.... không hợp với Liên Xô cần nhiều triệu súngnân tranh nguyên liệu quý hiếm. Phần Lan thì nhẩn nha mỗi năm làm vài trăm súng, chục năm tích lại đánh nhau một trận, Liên Xô thì cần nửa năm vừa bê nhà máy chạy vào Ural vừa làm triệu súng, nên cách chọn lựa khác nhau.

Đến AK Phần Lan cũng vậy. AKM có vỏ máy súng làm bằng gia công tấm mỏng. Ở đây cần hiểu rằng gia công tấm mỏng AK không phải là dập. Có hai cách gia công thường được báo chí ngớ ngẩn gọi chung là dập nhưng thực chất rất khác nhau. Dập nguội là gia công thuộc nhóm nguội. Dập nóng thực chất là rèn có tên chuyên môn là rèn khuôn. Rèn và dập đều là gia công áp lực. Rèn khuôn-hay nói ngớ ngẩn là dập nóng, là cách gia công không rẻ lắm. Còn dập nguội thuộc nhóm nguội gò hàn tôn thiếc hàng siêu rẻ. Rèn khuôn là nung đỏ phôi lên đến nhiệt độ rèn rồi mới dập trong khuôn, nên làm được những vật liệu ở nhiệt độ thường ròn, dập ở nhiệt độ thường rách vỡ. Ở AKM, vỏ máy súng được rèn khuôn rôì hàn đính, làm bằng thép phốt pho-măng gan, là một loại thép không gỉ nhưng ít dùng trong đồ gia đình vì nó xỉn không trắng bóng như thép crôm. Các AK nhái bên Tầu và Mỹ làm bằng nguội nên không có ưu điểm này. Vật liệu của AKM cũng chịu mài mòn rất tốt. Nên thực chất, vỏ máy AKM là rèn chứ không phải là dập thuộc nhóm nguội. Rèn khuôn cũng như cắt gotj cái bệ khóa nòng AK, nếu hy sinh một vài cái máy chuyên làm thì mới là rẻ, còn các máy đa năng như phey tiện và búa máy lò rèn thường thì đắt mà xâú. Vậy nên vỏ máy Rk.95 quay về cắt gọt như một số bản AK nhái khác.

Nói chung, AK là súng dễ làm, Phần Lan rất gần gũi Liên Xô, nên AK Phần Lan không chứa đựng nhiều những nhược điểm thường xuất hiện ở AK nhái do đánh giá súng không đúng. Những khác biệt của Phần Lan mang những đặc thù riêng của quân dội và khí hậu, khá thông minh như truyền thống Suomi.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 25-01-2013 thời gian gửi bài 11:39
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn huyphuc1981_nb cho bài viết trên:
Nina (25-01-2013), Polyushko Pole (27-01-2013), tolaind (26-01-2013)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 06:09.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.