|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#1
|
|||
|
|||
|
Địa ngục Treblinka
Vasiliy Semenovich Grossman Người dịch: danngoc Nguồn: www.lib.ru Những chữ in nghiêng trong bản dịch là chú thích của người dịch. Các địa danh được chú thích theo tên gọi Ba Lan. Đây là bài viết đầu tiên của nhân loại về một trại hủy diệt, tức là nơi chỉ dùng cho mục đích giết người hàng loạt, con đẻ của chủ nghĩa quốc gia và dân tộc cực đoan, điều mà ngày hôm nay đang nổi lên nhan nhản. Thay đổi nội dung bởi: danngoc, 10-08-2012 thời gian gửi bài 05:46 |
|
#2
|
|||
|
|||
|
I
Từ phía Đông tới Varsava (Warszawa), dọc bờ Tây sông Bug trải dài những bãi cát và đầm lầy, sừng sững các cánh rừng thông và tùng diệp rậm rạp. Nơi đây thật hoang vắng và buồn tẻ, làng xóm lèo tèo thưa thớt. Khách bộ hành và xe trạm lảng tránh ngả đường mòn chật hẹp cát sỏi ấy, nơi bước chân díu lại, còn bánh xe thì bật khỏi trục vì lún trong cát sâu. Tại đây, chỗ nhánh đường sắt tẽ đôi, có nhà ga Treblinka hẻo lánh cách Varsava sáu mươi cây số theo đường sắt và cách không xa nhà ga Malkinia (Małkinia), là nơi giao nhau của các tuyến đường sắt nối từ Varsava, Bielostok, Sedletsa và Lomza (Warszawa, Białystok, Siedlce, Łomża). Cần biết rằng, nhiều người trong số được chở đến Treblinka năm 1942, nếu đi qua đây vào thời bình hẳn sẽ lơ đãng nhìn phong cảnh chán ngắt – hết thông lại cát, hết cát rồi lại thông, mấy lùm thạch thảo, vài bụi cây khô, cái ga xép ảm đạm, bãi ke đường sắt mấp mô... Và, vị hành khách buồn chán kia có thể sẽ để mắt một chút đến vệt đường ray duy nhất chạy từ sân ga thẳng vào giữa khu rừng thông rậm rạp xung quanh. Nhánh đường sắt đó dẫn tới khu mỏ, nơi khai thác cát trắng cho các công trường xây dựng công nghiệp và đô thị. Khu mỏ nằm cách nhà ga khoảng bốn cây số, trên một bãi đất trống bao quanh bốn bề là rừng thông. Chất đất ở đây cằn cỗi và bạc màu nên nông dân không thể canh tác. Đất hoang mãi là đất hoang. Mặt đất lốm đốm những đám rêu, rải rác có mấy cây thông còi. Thỉnh thoảng một con ác là hay chim đầu rìu mào sặc sỡ bay ngang qua. Bãi trống khốn khổ này là nơi được bọn Gestapo chọn và được SS Reichsführer (SS Reichsführer: chức Thống lĩnh tổ chức SS. SS: Schutzstaffel, tức đội cận vệ của Đảng Quốc xã. Gestapo: Geheime Staatspolizei - Mật vụ Quốc gia, nằm dưới sự quản lý toàn diện của SS) Heinrich Himmler phê duyệt làm nơi xây dựng đài hành hình các dân tộc toàn thế giới; một thứ mà loài người chưa từng biết đến suốt từ thời nguyên thủy man rợ cho tới những ngày tháng tàn bạo hiện nay. Đây là nơi xây dựng bãi hành hình chính của bọn SS, tương tự như Osventsim (Ba Lan: Oświęcim, Đức: Auschwitz), hơn hẳn Sabibur, Maidanek, Belzits (Sobibor, Majdanek, Bełzec). |
|
#3
|
|||
|
|||
|
Ở Treblinka có hai trại: trại lao động Số 1, nơi làm việc của tù thuộc các quốc tịch khác nhau, chủ yếu là người Ba Lan, và trại của người Do Thái, trại Số 2.
Trại Số 1 – trại lao động hay đúng hơn là trại trừng giới – nằm ngay cạnh bãi khai thác cát, gần bìa rừng. Đó là một trại bình thường, như hàng trăm trại mà bọn Gestapo xây dựng ở vùng lãnh thổ bị chiếm đóng phía Đông. Khu trại ra đời năm 1941. Nó, như tách ra từ cùng một khối, hiển hiện rõ những nét tính cách Đức, bị méo mó qua chiếc gương khủng khiếp của chế độ Hitler. Như trong cơn mê sảng nóng hầm hập xấu xí, nó phản ánh méo mó những tư duy và tình cảm mà bệnh nhân trải qua trước khi bị ốm. Như một người điên, bị tác động bởi tình trạng loạn trí, có hành vi giống với hành vi và suy nghĩ của người bình thường bị bóp méo lô gích. Như tên tội phạm đang phạm tội, cú đập búa khéo léo thành thạo trúng tinh mũi nạn nhân của hắn rất giống kỹ năng ước lượng bằng mắt và sự chắc tay của người thợ chuyên quai búa, chỉ khác ở sự điềm tĩnh quá sức người thường. Tiết kiệm, ngăn nắp, rất tính toán, sạch sẽ đến cố chấp – tất cả những tính cách này đều khá tốt, sẵn có trong hầu hết người Đức. Khi được áp dụng vào nông nghiệp hay công nghiệp, chúng phát huy hiệu quả mạnh mẽ. Chế độ Hitler áp đặt các tính cách ấy lên tội ác chống lại loài người, và Đế chế SS hành xử trong các trại lao động ở Ba Lan như thể chúng đang nói về việc đi trồng súp-lơ hay khoai tây vậy. Khu trại trải trên một hình chữ nhật chia ca-rô đều đặn, các lán xây thẳng đều tăm tắp, lối đi rắc cát sạch sẽ viền hai hàng cây bạch dương. Hoa cúc và thược dược trồng trên đất tốt. Có bể nước bê tông cho lũ thú nuôi và bể nước riêng để giặt giũ với bậc tam cấp lên xuống thuận tiện, giành cho các nhân viên người Đức – một lò nướng bánh hạng tiêu chuẩn, một hiệu cắt tóc, một garage ôtô, một trụ bơm xăng có quả cầu thủy tinh phía trên, mấy dãy nhà kho. Trại Maidanek ngoại ô Lublin cũng xây với các nguyên tắc điển hình như vậy, cũng những khu vườn như vậy, vòi phun nước uống như vậy, những con đường trải bê tông như vậy, cũng như hàng chục trại lao động khác được xây dựng ở Đông Ba Lan, nơi bọn Gestapo và SS lên kế hoạch để thành lập vùng định cư lâu dài và nghiêm túc. Việc tổ chức những trại đó phản chiếu nét tính cách chỉnh tề, tính toán chi ly, ham muốn trật tự đến mức cố chấp, lòng say mê của người Đức đối với thống kê và biểu đồ, soạn thảo đến mức lặt vặt và tiểu tiết nhất. |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Mọi người bị đưa tới trại lao động theo nhiều đợt, đôi khi khá thường xuyên – 4, 5, 6 tháng một lần. Có người Ba Lan bị lùa đến vì vi phạm quy định của viên Toàn quyền Ba Lan, thường là những vi phạm công cộng, không quan trọng, lặt vặt, bởi lẽ những tội to thì không vào trại mà bị xử bắn tức khắc. Bị cáo giác, vu khống, buột miệng, lỡ nghe một lời trên phố, giao hàng không đúng định mức, từ chối cấp xe ngựa hoặc ngựa cưỡi cho người Đức, những cô gái dám hỗn xược cự tuyệt đề nghị tình yêu của bọn SS, cho dù không có hành động phá hoại công việc trong nhà máy, còn nếu dù chỉ một lần bị nghi ngờ có khả năng phá hoại – tội này đã đưa tất cả hàng trăm hàng ngàn người Ba Lan – công nhân, nông dân, trí thức, cả nam lẫn nữ, cả già lẫn trẻ, cả bà mẹ đang nuôi con – vào trại trừng giới. Tổng cộng, có khoảng năm mươi ngàn người đã đi qua trại. Người Do Thái chỉ rơi vào trại này trong trường hợp họ là thợ cả xuất sắc có tiếng – thợ làm bánh mì, thợ giày, thợ làm đồ gỗ quý, thợ xây, thợ may. Có đủ loại xưởng sản xuất trong trại, trong đó có một xưởng quan trọng cung cấp cho bộ tham mưu Quân đội Đức đồ gỗ, ghế bành, bàn làm việc, ghế dựa chế tác tinh xảo.
Trại Số 1 tồn tại từ mùa thu năm 1941 tới ngày 23 tháng Sáu 1944. Vào lúc nó bị giải tán hoàn toàn, tù đã nghe thấy được tiếng gầm xa xa của pháo binh Xô viết. Mờ sáng ngày 23 tháng Sáu, bọn cai tù Wachmänner và SS, nốc rượu mạnh schnapps để lấy tinh thần, đã bắt tay vào việc xóa sạch khu trại. Đến buổi chiều tất cả tù trại đều đã bị giết chết và vùi xuống đất. Chỉ còn sót anh thợ mộc người Varsava Max Lewit, bị thương và nằm bẹp dưới xác các đồng đội cho tới khi trời tối rồi bò vào rừng. Trong khi nằm trong hố, anh nghe thấy tiếng hát của ba mươi cậu bé, trước khi bị lôi đi bắn đã hát vang bài “Ôi bao la tổ quốc mẹ hiền”, nghe thấy một cậu bé trong nhóm hét lên: “Stalin sẽ trả thù cho chúng tao!”, nghe thấy Leib cậu bé tóc đỏ trưởng nhóm, người được cả trại yêu mến, ngã lên anh trên hố sau loạt đạn đầu tiên, đã ngẩng đầu lên xin: “Pan Wachman, tôi chưa chết. Xin pan bắn lần nữa, lại lần nữa”. |
|
#5
|
|||
|
|||
|
Bây giờ ta đã có thể kể chi tiết hơn về cái trật tự Đức trong trại lao động này, qua vô số lời khai của hàng chục nhân chứng mà tôi có, là nam nữ người Ba Lan bỏ chạy hay được thả khỏi Trại Số 1 vào những thời điểm khác nhau. Chúng ta biết về lao động ở bãi khai thác cát, tại đó những người không hoàn thành chỉ tiêu bị ném từ vách đá xuống dưới vực; biết về định mức khẩu phần hàng ngày: 170-200 gram bánh mì và một lít thứ nước lõng bõng được gọi là súp; biết về những cái chết đói, về những người phù thũng vì đói bị chất lên xe cút kít chở ra ngoài hàng rào thép gai trại rồi bắn chết; biết về những cuộc chè chén trác táng hoang dại do bọn Đức tổ chức, tại đó chúng cưỡng hiếp các cô gái trẻ rồi rút súng bắn chết tại chỗ bạn tình của mình, tại đó chúng ném người từ tháp canh cao sáu mét xuống đất, tại đó một nhóm say rượu thỉnh thoảng ban đêm tóm lấy mươi mười lăm tù nhân và khoan thai dùng họ để trình diễn những phương pháp giết người, bắn vào tim, bắn vào ót, mắt, miệng, thái dương, bắt họ cảm nhận cái chết không tránh khỏi. Chúng ta biết được tên tuổi những tên SS trong trại, biết tính tình và đặc điểm của chúng; biết về tên chỉ huy trưởng của trại Van Euppen, một gã sát nhân không hề biết chán và dâm loạn vô hạn độ, rất thích ngựa hay và cưỡi ngựa phi thật nhanh; biết về tên Stumpfe trẻ tuổi to béo phục phịch hay phá lên cười đến phát ho sặc mỗi lần hắn giết chết ai đó trong số tù nhân hay trong những cuộc hành quyết có hắn tham dự. Hắn được đặt tên là “Thần chết cười”. Người cuối cùng nghe tiếng hắn cười là Max Lewit vào ngày 23 tháng Bảy năm đó, khi nhóm Wachmänner theo lệnh của Stumpfe bắn chết những cậu bé. Lewit lúc ấy đang nằm bất động trong hố. Chúng ta biết về gã Svidersky một mắt người gốc Đức ở Odessa, được mệnh danh là “Bậc thầy quai búa”. Đấy là bởi hắn cực kỳ điêu luyện đến tuyệt đỉnh trong việc giết người bằng “vũ khí lạnh”, và bởi hắn đã chỉ mất vài phút để dùng búa giết chết mười lăm đứa trẻ từ tám đến mười ba tuổi, bị xem là không phù hợp cho lao động. Chúng ta biết về tên SS Preifi gầy quắt trông hao hao như người Digan, được đặt tên là “Lão già”, hay cau có và lầm lì ít mở miệng. Hắn giải sầu cho mình bằng cách ngồi bên hố rác của trại, rình những tù nhân mò tới đây để bươi mớ vỏ khoai tây, bắt họ mở to miệng rồi bắn vào giữa cái họng đang há của họ.
Chúng ta biết tên tuổi những tên chuyên gia giết người Schwarz và Ledeke. Đấy là bởi chúng giải trí bằng cách bắn vào tù đang trở về trại sau giờ làm việc vào lúc trời chạng vạng, giết chết hai mươi, ba mươi, bốn mươi người mỗi buổi chiều. Tất cả những sinh vật trên không còn một chút nào con người. Đầu óc, trái tim và tâm hồn, lời nói, hành động, thói quen của chúng bị méo mó, giống như một bức biếm họa kinh hoàng, nhắc nhở ta về các đặc điểm, suy nghĩ, tri giác, thói quen, hành vi của con người. Thứ trật tự trong trại, tài liệu hồ sơ về những cuộc giết người, nỗi say mê đùa cợt một cách quái đản nhắc ta nhớ đến những trò đùa cợt của đám sinh viên đại học Đức (tiếng Đức: Burschenschaften – hội sinh viên Đức, thành lập vào thế kỷ 19, khuyến khích tư tưởng tự do và dân tộc chủ nghĩa) say rượu ưa gây gổ, những bài hát đa cảm đa sầu đám lính gác đồng thanh hát giữa vũng máu, các bài diễn thuyết mà chúng liên tục thực hiện trước những nạn nhân của chúng, các lời giảng đạo, những câu kinh được in ngay ngắn trên khổ giấy đặc biệt – tất cả những thứ cá sấu rắn rết kỳ quái ấy, tiến hóa từ phôi thai của truyền thống chủ nghĩa Sô-vanh Đức, ngạo mạn, ích kỷ, tự tin thái quá vào bản thân, quan tâm quá mức tới tổ ấm của riêng mình một cách cầu kỳ lẩn thẩn nhưng lạnh lùng thản nhiên đến sắt đá với mạng sống tất thảy kẻ khác, tiến hóa từ niềm tin dữ tợn mù quáng rằng khoa học, âm nhạc, thơ ca, ngôn ngữ, thảm cỏ, hố xí, bầu trời, bia, căn nhà của Đức – đều cao quý và tuyệt vời hơn tất cả thế giới này. |
|
#6
|
|||
|
|||
|
Cuộc sống trong trại là vậy đó, na ná như một Maidanek thu nhỏ, và ta có thể nghĩ rằng không thứ gì trên thế giới này đáng kinh sợ hơn thế. Nhưng những người sống ở Trại Số 1 biết rất rõ rằng có nơi còn khủng khiếp hơn nhiều, đáng sợ gấp hàng trăm lần, so với khu trại của họ. Tháng Năm năm 1942, cách trại lao động này ba cây số bọn Đức bắt tay vào xây dựng Trại Do Thái, khu trại hành hình. Việc xây dựng được thực hiện nhanh chóng, với hơn một ngàn người tham gia lao động. Trong trại này không có thứ gì phù hợp cho cuộc sống, tất cả đều phù hợp cho cái chết. Sự tồn tại của trại này cần phải, theo dự tính của Himmler, giữ được trạng thái bí mật tột cùng, không một kẻ nào lọt vào lại được phép sống sót thoát ra. Không một ai được phép đến gần trại, dù có là thống chế chăng nữa. Lính gác bắn chết bất cứ khách qua đường nào vô tình lọt vào bán kính một cây số quanh trại không cần cảnh cáo. Máy bay Đức cả dân dụng lẫn quân sự đều bị cấm bay qua khu vực ấy. Những nạn nhân, bị chở tới đây bằng tàu hỏa đi theo tuyến đường sắt đặc biệt, tới giây phút cuối cùng cũng không hề biết số phận nào đang chờ đợi mình. Lính canh đi theo trên tàu thậm chí không được phép đến gần hàng rào trại. Khi đoàn tàu đến nơi, lính gác bàn giao cho đơn vị SS của trại. Đoàn tàu, thường gồm có sáu mươi toa, ngay từ khi còn ở trong rừng chưa vào trại được chia ra thành ba phần, và đầu tàu lần lượt đẩy từng hai mươi toa một đến sân ga của trại. Đầu tàu chỉ đẩy từ phía sau toa và dừng lại ở chỗ hàng rào thép gai, sao cho cả thợ lái lẫn thợ đốt lò đều không lọt vào phạm vi trại. Khi các toa đã dỡ hàng xong, gã SS Unteroffizier (hạ sĩ quan SS) trực nhật sẽ thổi còi gọi hai mươi toa kế tiếp đang đợi cách đó hai trăm mét. Khi tất cả sáu mươi toa đã dỡ sạch hàng, tên Kommandantur (trưởng trại) sẽ điện thoại cho nhà ga để đưa đến đoàn tàu khác, còn đoàn tàu vừa dỡ hàng sẽ rẽ nhánh về bãi khai thác cát, tại đó các toa sẽ được chất đầy cát và trở về ga Treblinka rồi Malkinia để lấy đợt hàng mới.
Đến đây ta cần nhắc tới ưu thế vốn có của Treblinka: có thể chở nạn nhân bằng tàu hỏa tới từ bốn phương đông tây nam bắc khắp đất nước. Tàu đến từ các thành phố Ba Lan Varsava, Mendzyjetsa, Chenstokhova, Sedletsa, Radom (Warszawa, Międzyrzecze, Częstochowa, Siedlce, Radom), từ Lomza, Bielostok, Grodno và nhiều thành phố Belorussia khác, từ Đức, Tiệp Khắc, Áo, Bulgaria, từ Bessarabia. (Ngày nay Łomża và Białystok thuộc Ba Lan, còn Grodno thuộc về Belorussia. Bessarabia trước năm 1940 thuộc Rumania, sau Thế Chiến thứ II thuộc Cộng hòa Moldavia trong thành phần Liên bang Xô viết.) Tàu đi tới Treblinka đều đặn suốt mười ba tháng trời, mỗi đoàn tàu có sáu mươi toa, trên mỗi toa có viết bằng phấn ghi con số 150-180-200. Đó là những con số cho biết số lượng người đi trong toa. Nhân viên đường sắt và các nông dân bí mật đếm những đoàn tàu ấy. Bác nông dân sáu mươi hai tuổi làng Vulka (làng Vulka - Ba Lan là Wólka - là điểm dân cư ở gần trại nhất) Kazimierz Skarzunski đã kể cho tôi rằng không ngày nào là không có tàu đến, rằng một số ngày chỉ tính riêng từ hướng Sedletsa thôi đã có đến sáu chuyến tàu đi ngang qua làng Vulka, và gần như không có ngày nào trong suốt mười ba tháng trời không có ít nhất một chuyến tàu đi ngang. Vậy mà tuyến từ Sedletsa chỉ là một trong bốn tuyến đường sắt đưa tới Treblinka. Nữ công nhân bảo trì đường sắt Lucjan Żukowa, được bọn Đức huy động để làm việc trên tuyến chính từ Treblinka tới Trại Số 2, đã kể rằng trong thời gian cô làm việc từ 15 tháng Sáu 1942 cho tới tháng Tám 1943, trên tuyến từ ga Treblinka tới trại mỗi ngày có từ một tới ba chuyến tàu. Mỗi chuyến tàu có sáu mươi toa, mỗi toa có không dưới một trăm năm mươi người. Chúng tôi đã tập hợp được hàng chục lời khai như vậy. Thậm chí nếu chúng ta giảm phân nửa con số do những nhân chứng này cung cấp, chúng ta vẫn nhận thấy có khoảng hai triệu rưỡi cho đến ba triệu người bị đưa tới Treblinka trong vòng mười ba tháng đó. Tuy nhiên, chúng ta sẽ quay trở lại con số này. (Theo ước tính của Trung tâm Simon Wiesenthal có khoảng 876.000 người đã bị giết tại Treblinka. Con số này bao gồm 738.000 người Do Thái từ vùng lãnh thổ Ba Lan bị Đức chiếm đóng, trước hết là từ các khu người Do Thái ở Warszawa; 107.000 người từ Białystok; 29.000 người Do Thái từ các nơi khác của châu Âu; và 2.000 người Digan. Lý do con số ước lượng của Grossman quá lớn so với thực tế rất đơn giản: ông đã đúng về số lượng toa là 60 cho mỗi đoàn tàu nhưng có vẻ đã không tính đến chuyện chiều dài nhà ga trong trại quá ngắn cho chúng. Các đoàn tàu đã phải dừng ở vài chỗ để cắt lại một số toa và mỗi lần chỉ có một phần đoàn tàu đi vào ga, tức là không phải có 5 đoàn tàu với 60 toa đến trại mỗi ngày mà mỗi đoàn tàu được chia làm 5 phần.) |
|
#7
|
|||
|
|||
|
Hỏi bác Ngoc chút, người DT ở đây, trên đất châu Âu, cớ sao họ lại đòi về Palestine, chiếm đất của người Palestine vậy?
Còn dưới này là tấm bia của cái trại tương tự, ai bình luận gì thì tùy.
Thay đổi nội dung bởi: SSX, 10-08-2012 thời gian gửi bài 01:57 |
|
#8
|
|||
|
|||
|
Bản thân khu trại này, tính cả phần ngoại vi bao gồm các dãy kho chứa vật dụng của những người bị giết hại, sân ga và các công trình phụ khác, chỉ chiếm một diện tích không lớn – 780 m x 600 m. Nếu ta có chút nghi ngờ nào về số phận của những con người bị dẫn tới đây và nếu có lúc nào đó ta cho rằng bọn Đức đã không giết họ ngay khi vừa đến nơi, nếu vậy ta sẽ phải tự hỏi tất cả bọn họ có thể ở đâu, tất cả những con người ấy, đông ngang với dân số một quốc gia nhỏ hay thủ đô một nước lớn ở Châu Âu? Diện tích trại cũng quá nhỏ đến nỗi, dù họ chỉ sống thêm vài ngày sau khi tới đây, cũng chỉ được một tuần rưỡi trước khi trong vòng rào thép gai bao quanh trại đầy chặt người đổ về từ Ba Lan, từ Belorussia, từ toàn thể Châu Âu. Mười ba tháng, tức ba trăm chín mươi sáu ngày, các chuyến tàu quay về chỉ chở theo cát hoặc rỗng không, không một ai bước vào Trại Số 2 mà còn sống trở về. Đã đến lúc phải đặt ra câu hỏi kinh khủng: “Hỡi Cain, những người mi đem tới đây, bọn họ đâu rồi?” (Cain và Abel là con trai của Adam và Eva. Cain là con người đầu tiên phạm tội sát nhân khi giết chết Abel).
Bọn phát xít đã không thành công trong việc che dấu tội ác ghê tởm nhất của chúng. Nhưng tuyệt nhiên không phải vì đã có hàng ngàn người vô tình chứng kiến tội ác ấy. Mùa hè năm 1942, Hitler, chắc mẩm rằng sẽ không bị trừng phạt, đã quyết định thủ tiêu hàng triệu người vô tội vào thời điểm quân đội phát xít đang đạt được những thắng lợi vang dội nhất. Tin rằng sẽ không bị trừng phạt, bọn phát xít đã cho thấy chúng có khả năng làm được những gì. Ôi, nếu như Adolf Hitler là người chiến thắng, hắn sẽ tìm cách xóa sạch mọi dấu vết của tội ác, hắn sẽ buộc mọi nhân chứng phải câm miệng, dẫu là họ đông đến hàng chục ngàn chứ không phải chỉ vài ngàn. Sẽ không một ai dám hé ra lời nào. Và bất giác ta cúi đầu một lần nữa để tỏ lòng biết ơn những người vào mùa thu năm 1942, khi mà cái thế giới ngày nay đang ồn ào ca ngợi chiến thắng lúc ấy im bặt, tại thành phố Stalingrad bên bờ sông Volga dốc đứng đã chiến đấu chống lại Quân đội Đức, sau lưng là dòng sông bốc khói và sôi sùng sục loang đỏ dòng máu của bao người vô tội. Chính Hồng quân đã chặn tay Himmler không cho hắn che giấu bí mật về Treblinka. Ngày nay các nhân chứng cất tiếng nói, đá và đất cũng thét lên hé lộ sự thật. Và ngày nay trước lương tri thế giới, trước sự chứng kiến của nhân loại, chúng ta đã có thể từng bước một tìm hiểu về những tầng của chốn địa ngục Treblinka, nơi mà so sánh với nó thì Địa ngục của Dante chỉ không gì hơn là một trò chơi ngây thơ vô vị của Quỷ Satan. |
|
#9
|
|||
|
|||
|
Tất cả những điều viết dưới đây đều soạn ra từ lời kể của các nhân chứng còn sống; từ lời kể của những người từng làm việc ở Treblinka kể từ ngày tồn tại đầu tiên của trại cho đến ngày 2/8/1943, khi những người tuyệt vọng nổi dậy đốt cháy trại và chạy vào rừng; từ lời khai của những tên Wachmänner bị bắt, từng chữ từng câu đều xác nhận và bổ sung rất nhiều cho câu chuyện của các nhân chứng. Tôi đã gặp những con người ấy tận mắt, đã trao đổi với họ rất lâu và chi tiết, và bản ghi lời khai của họ hiện đang nằm trên bàn làm việc trước mặt tôi. Và tất cả những lời khai với số lượng vô cùng nhiều ấy, lấy từ những nguồn chứng cứ khác nhau, đều thống nhất nhau trong mọi chi tiết, từ các mô tả về thói quen của con chó cưng Bari của tên trưởng trại cho đến câu chuyện về kỹ thuật giết chết các nạn nhân và cơ cấu băng chuyền của khối nhà hành hình.
Chúng ta hãy cùng đi qua từng tầng của Địa ngục Treblinka. Họ là ai, những con người bị chở bằng tàu hỏa tới Treblinka? Phần lớn là người Do Thái, kế đến là người Ba Lan và Digan. Đến mùa xuân năm 1942 toàn bộ cư dân Do Thái ở Ba Lan, Đức và miền Tây Belorussia đã bị gom vào sống trong các ghetto. Trong những ghetto ấy – ở Varsava, Radom, Chenstokhova, Lublin, Bielostok, Grodno và hàng chục thành phố khác nhỏ hơn – dồn chật hàng triệu người là công nhân, thợ thủ công, bác sĩ, giáo sư, kiến trúc sư, kỹ sư, giáo viên, nghệ sĩ, người làm những nghề không đăng ký, cùng toàn bộ gia đình họ gồm tất cả vợ chồng, con cái và cha mẹ. Chỉ riêng ghetto Varsava đã chứa khoảng năm trăm ngàn người. Hiển nhiên, việc giam họ vào ghetto là giai đoạn đầu tiên trong kế hoạch chuẩn bị thủ tiêu người Do Thái của Hitler. Mùa hè năm 1942 – thời điểm có những thắng lợi quân sự vang dội của bọn phát xít – được chọn là thời điểm thích hợp cho giai đoạn hai của kế hoạch – tiêu diệt thể xác. Chúng ta biết rằng Himmler đã tới Varsava vào thời kỳ này để ban ra những mệnh lệnh cần thiết. Việc xây dựng khu hành hình tập thể ở Treblinka được khẩn trương thực hiện cả ngày lẫn đêm. Đến tháng Bảy những đoàn tàu đầu tiên đã chuyển bánh từ Varsava và Chenstokhova tới Treblinka. Mọi người được cho hay rằng họ được đưa tới Ukraina để làm việc trong các nông trang. Mỗi người được phép mang theo 20 kg hành lý và lương thực. Trong nhiều trường hợp, bọn Đức bắt các nạn nhân của chúng phải mua vé tàu hỏa tới ga “Ober-Maidan”. Đó là mật danh bọn Đức dùng để gọi Treblinka. Sự thật là tin đồn về địa điểm khủng khiếp này đã mau chóng lan truyền khắp Ba Lan, và bọn SS không còn nhắc đến từ Treblinka khi lùa mọi người lên tàu nữa. Tuy nhiên, cái cách đối xử khi lùa người lên tàu khiến không còn chút nghi ngờ gì về số phận đang chờ đợi đám hành khách đó. Mỗi toa tàu loại chở hàng chen chúc tối thiểu một trăm năm mươi người, nhưng thường là một trăm tám đến hai trăm người. Trong suốt hành trình, đôi khi kéo dài suốt hai đến ba ngày trời, tù nhân không hề được phát nước uống. Mọi người khổ sở vì khát tới mức uống cả nước tiểu của mình. Lính gác đòi bán mỗi hớp nước uống với giá một trăm zloty, và tiền thì cầm nhưng thường là không đưa nước. Mọi người bị lèn chặt với nhau đến mức có khi phải đứng suốt quãng đường, và trong mỗi toa, đặc biệt vào những ngày hè nóng nực, luôn có vài người lớn tuổi hay bị bệnh tim chết trước khi hành trình kết thúc. Do cửa toa không bao giờ được mở cho tới khi hành trình kết thúc, các xác chết bắt đầu thối rữa làm không khí trong toa không thể thở nổi. Chỉ cần có ai đó quẹt diêm ban đêm là lính gác nổ súng bắn vào sườn toa tàu. Bác thợ cắt tóc Abram Kon kể rằng chỉ riêng toa của bác thôi đã có đến năm người bị thương và chết vì lính gác bắn vào thành toa. |
|
#10
|
|||
|
|||
|
Các đoàn tàu tới Treblinka từ những quốc gia Tây Âu lại khác hoàn toàn. Trên đó mọi người không biết chút gì về Treblinka và đến phút cuối cùng vẫn tin chắc rằng mình được đưa đi để làm việc, ngoài ra bọn Đức vẫn thêu dệt các câu chuyện hấp dẫn về cuộc sống mới dễ chịu thoải mái đang chờ đợi những người di dân. Một số đoàn tàu chở những người tin rằng họ đang được đưa qua biên giới để đến các quốc gia trung lập: họ đã phải trả cho chính quyền Đức một khoản tiền lớn để có được giấy thông hành và cuốn hộ chiếu nước ngoài.
Có lần tàu chở đến Treblinka toàn người Do Thái quốc tịch Anh, Canada, Mỹ, Úc, do chiến tranh đã bị kẹt lại ở Châu Âu và Ba Lan. Sau thời gian chạy chọt kéo dài, tốn nhiều khoản hối lộ lớn, họ đã có được thông hành để tới những nước trung lập. Tất cả những đoàn tàu đến từ Tây Âu đều không có lính gác, chỉ có các nhân viên phục vụ bình thường, trên tàu có cả các toa giường nằm và toa ăn. Hành khách mang theo những rương hòm lớn và vali, đựng dồi dào thức ăn. Con cái họ chạy ra các sân ga mà đoàn tàu dừng lại, hỏi xem còn bao xa nữa mới tới Ober-Maidan. Đôi khi có đoàn tàu chở đến người Digan từ Bessarabia và những vùng lân cận. Vài lần tàu chở đến những thanh niên người Ba Lan – họ là các nông dân và công nhân đã tham gia khởi nghĩa hoặc hoạt động trong những nhóm du kích. Khó nói được thế nào thì khủng khiếp hơn: bị đưa đến chỗ chết trong nỗi đau khổ kinh khủng vì biết rõ kết cục đang gần kề, hay đưa mắt nhìn qua cửa sổ toa tàu khách dễ chịu, lòng không chút nghi ngờ trong khi ga Treblinka đang gọi điện thoại tới trại để báo số liệu về chuyến tàu vừa tới và lượng người đi trên đó. Để đánh lừa được những người đến từ Tây Âu cho tới lúc chót, đoạn cuối tuyến đường sắt dẫn tới điểm đến trại tử thần chết chóc này được bố trí hệt như một ga tàu khách. Trên sân ga, đậu sẵn hai chục toa như chưa dỡ xong hàng, có cả nhà ga với phòng bán vé, quầy gửi hành lý và gian nhà hàng, có mũi tên chỉ hướng đi khắp nơi ghi: “Xuống tàu ở Bielostok”, “Đi Baranovichi” hay “Xuống tàu ở Volokovysk” v.v... (Baranovichi và Volokovysk – Ba Lan trước 1939 là Baranowicze và Wołkowice – ngày nay thuộc Belorussia) Khi tàu đến có cả ban nhạc chơi trong nhà ga, tất cả nhạc công đều ăn mặc đầy đủ lệ bộ. Một người gác ga mặc đồng phục đường sắt thu vé của hành khách và cho họ đi xuống sân ga. Ba-bốn ngàn con người, lỉnh kỉnh túi xách và vali, tay đỡ người già và người bệnh, túa ra chỗ sân. Các bà mẹ bế con nhỏ trên tay, những đứa lớn hơn ép sát vào bố mẹ, mắt tò mò quan sát cái sân. Có gì đó đầy điềm gở và rất khủng khiếp ở cái sân này, với mặt đất bị dẫm đạp in vết hàng triệu bàn chân người. Ánh mắt căng thẳng của mọi người mau chóng nhận ra những chi tiết đáng lo – được vội vã quét dọn, có lẽ chỉ vài phút trước khi đoàn người tới, trên mặt đất còn vương vãi vài thứ đồ vật bị vứt lại – một bọc quần áo, mấy chiếc vali bị mở tung, vài cái bàn chải cạo râu, đôi ba chiếc nồi tráng men. Sao chúng lại ở đây? Và tại sao tuyến đường sắt lại kết thúc tại chỗ nhà ga này, nơi chỉ thấy những lùm cỏ vàng úa và hàng rào thép gai cao ba mét trải dài. Những tuyến đường sắt dẫn đi Bielostok, đi Sedletsa, Varsava, Volokovysk đâu rồi? Và tại sao bỗng xuất hiện mấy tay lính gác mới miệng cười gằn, đưa mắt nhìn người đàn ông đang đưa tay chỉnh lại cà vạt, nhìn bà cụ già quần áo gọn gàng sạch sẽ, nhìn chú bé mặc bộ đồng phục lính thuỷ, nhìn những cô gái mảnh khảnh đã cố giữ cho quần áo phẳng phiu trong suốt cuộc hành trình dài, nhìn những bà mẹ trẻ đang âu yếm sửa lại lớp chăn bọc quanh đứa con nhỏ đang nhăn mặt. Tất cả những tên Wachmänner mặc quân phục màu đen và đám SS Unteroffizier đó đều giống như những tay lùa gia súc vào cửa lò sát sinh. Với chúng, đoàn người mới đến không phải là những con người đang sống, và chúng không thể không mở miệng cười khi nhìn thấy các biểu hiện của sự xấu hổ, tình yêu thương, nỗi sợ hãi, những lo lắng về người thân, về đồ đạc; chúng phì cười vì thấy người mẹ vẫn la mắng đứa con vừa chạy xa mình vài bước chân và vuốt phẳng áo khoác cho nó, vì đám đàn ông lấy khăn tay lau trán và châm điếu thuốc lá, vì mấy cô gái giơ tay sửa lại tóc và sợ hãi giữ lấy váy khi có cơn gió thổi qua. Chúng phì cười vì thấy đám người già cố ngồi lên mớ vali hòm xiểng, vì thấy ai đấy kẹp sách dưới nách, còn người ốm thì quấn khăn quanh cổ. |
|
#11
|
|||
|
|||
|
Trung bình có hai mươi ngàn người bước vào Treblinka mỗi ngày. Ngày nào chỉ sáu-bảy ngàn người xuống nhà ga đã bị xem là vắng vẻ. Mỗi ngày có tới bốn, năm lần bãi sân đông chật người. Và tất cả hàng ngàn, hàng chục, hàng trăm ngàn người ấy với ánh mắt khiếp sợ dò hỏi, tất cả những khuôn mặt già trẻ ấy, những người đẹp tóc đen hay tóc vàng ấy, các cụ già đầu hói lưng gù còng ấy, những cháu thiếu nhi rụt rè nhút nhát ấy – tất cả đều hòa thành một dòng chảy duy nhất, bị hút hết lý trí, hút hết tri thức tuyệt vời của nhân loại, tình yêu tuổi thanh xuân, những thắc mắc con trẻ, bệnh tật tuổi già và tình cảm con người.
Những người mới đến cũng rùng mình cảm thấy sự kỳ lạ này trong ánh mắt đắc thắng, phè phỡn, giễu cợt, ánh mắt của lũ súc sinh ưu việt nhìn xuống những con người sắp chết. Và trong khoảng khắc, khi những con người ấy bước qua sân, đã lại nảy thêm bao lặt vặt âu lo mơ hồ. Cái gì đằng sau bức tường đồ sộ cao sáu mét, bị phủ kín bởi các tấm chăn và những cành thông đã bắt đầu ngả úa vàng kia? Những cái chăn đó cũng thật đáng lo: có cái độn bông, có cái sặc sỡ, có cái làm từ lụa hay bọc vải trúc bâu, chúng giống với cái chăn trong bộ đồ trải giường mà những người mới tới cũng mang theo. Tại sao chúng lại ở đây? Ai đã mang chúng đến? Và chủ nhân những tấm chăn đó đang ở đâu? Tại sao họ lại không cần đến chúng nữa? Rồi những người đeo băng tay xanh da trời kia là ai? Họ điểm lại tất cả suy nghĩ thời gian gần đây, các mối lo lắng, những lời xì xào đồn đại. Không, không, không thể như thế! Và họ cố gắng xua đi những suy nghĩ ghê sợ. Nỗi lo sợ ở chỗ sân chỉ kéo dài trong chốc lát, có lẽ chỉ hai-ba phút, cho tới khi tất cả đã rời khỏi sân ga. Chỗ lối vào này lúc nào cũng có ùn tắc: đoàn nào cũng có người bị tàn tật, bị thọt, người già và người bệnh, những người chật vật mới lê nổi chân. Nhưng sau cùng tất cả đã vào hết chỗ sân. Một tên Scharführer (hạ sĩ quan SS cấp thấp nhất) lớn tiếng và tách bạch hướng dẫn những người mới đến bỏ lại đồ đạc ở sân và đi tới “Nhà tắm”, cầm theo mình giấy tờ tùy thân, những đồ quý giá và túi đựng nhỏ nhất chứa vật dụng vệ sinh cá nhân. Họ đứng đó với hàng chục câu hỏi nảy ra trong đầu: có nên cầm theo đồ lót không, có nên tháo nút buộc túi, liệu đồ đạc có bị lẫn lộn khi bỏ lại ở sân, liệu chúng có bị mất không? Nhưng một sức mạnh kỳ lạ nào đó đã khiến họ im lặng rảo bước, không mở miệng hỏi, không quay đầu lại nhìn cái lối đi hai bên chăng dây thép gai cao sáu mét, che ngụy trang bằng cành cây. Họ đi qua những bộ chông thép chống tăng, đi qua các dãy rào thép gai cao gấp ba lần chiều cao người bình thường, đi qua cái hào chống tăng sâu ba mét, lại đi qua những vòng dây thép gai chăng tùy tiện khiến chân kẻ chạy trốn sa vào như con ruồi vướng lưới nhện, rồi lại đi qua một hàng rào thép gai khác cao nhiều mét. Và một cảm giác khủng khiếp, cảm giác về sự tuyệt vọng và bất lực xâm chiếm lấy họ: không thể trốn thoát, không thể quay trở lại, không thể chống trả: những tháp canh gỗ thấp bè bè đang chĩa họng đại liên vào họ. Kêu gọi giúp đỡ? Nhưng khắp xung quanh họ là đám SS và Wachmänner với tiểu liên, lựu đạn và súng ngắn. Chúng nắm quyền lực. Và trong tay chúng là xe tăng và máy bay, mặt đất, thành phố, bầu trời, đường tàu hoả, luật pháp, báo chí, đài phát thanh. Cả thế giới im lặng, bị đàn áp, bị biến thành nô lệ bởi lũ cướp mặc áo nâu đang nắm quyền lực. Chỉ đâu đó cách đấy nhiều ngàn cây số, có tiếng gầm của trọng pháo Xôviết bên bờ sông Volga xa xôi, bướng bỉnh tuyên bố quyết tâm của nhân dân Nga vĩ đại sẵn sàng chiến đấu đến chết vì tự do, lớn tiếng kêu gọi nhân dân thế giới tham gia vào cuộc chiến. |
|
#12
|
|||
|
|||
|
Lúc này trên sân phía trước nhà ga, hai trăm công nhân đeo băng tay màu xanh da trời (“đội da trời”) đang lặng lẽ, nhanh nhẹn, khéo léo mở các túi bị và vali, cởi dây buộc bao gói. Đồ đạc mà nhóm người vừa bỏ lại được phân loại và đánh giá. Vương vãi trên mặt đất những bộ kim len đan được quấn buộc gọn gàng, các cuộn chỉ, đồ lót trẻ em, áo sơ-mi, khăn trải giường, áo thun chui đầu, dao ăn, bộ dao cạo râu, những gói thư từ, ảnh chụp, đê khâu, mấy chai nước hoa, gương soi, mũ trùm đi ngủ, giày păng-túp, ủng valenki may từ cái chăn độn bông dùng khi trời lạnh, dép lê phụ nữ, bít tất dài, dây đăng ten, quần áo ngủ, những gói bơ, cà phê, những lọ ca cao, khăn đội đầu khi hành lễ, giá nến, sách, bánh mì khô, đàn viôlông, đồ chơi xếp hình của trẻ con. Cần có những kỹ năng để chỉ trong vòng vài phút có thể phân loại hàng nghìn đồ vật ấy và định giá chúng – chọn ra những thứ để gửi về Đức, những thứ còn lại, đồ hạng hai, cũ hoặc đã bị sửa chữa – sẽ phải đốt đi. Vô phúc cho công nhân nào làm sai, bỏ một chiếc vali đã cũ làm bằng các-tông giả da vào đống đồ da được chọn để gửi đi Đức, hay ném vào đống bít tất cũ đã đan vá một đôi tất Paris còn nguyên tem của hãng sản xuất. Mỗi công nhân chỉ có thể mắc sai lầm được một lần. Đến lần thứ hai thì anh ta không còn cơ hội mắc thêm sai lầm nào nữa. Có bốn mươi tên SS và sáu mươi Wachmänner làm “công tác vận chuyển”, từ mà ở Treblinka dùng để gọi cái giai đoạn đầu tiên chúng ta vừa mô tả: tiếp nhận đoàn tàu, đưa đoàn người vào “nhà ga” và ra sân, giám sát các công nhân phân loại và định giá đồ đạc. (Phần lớn các báo cáo cho rằng công việc tại Treblinka được điều hành bởi khoảng 25 tên SS và 100 lính gác Wachmänner người Ukraina, tuy vậy có một số báo cáo khác giống như phóng sự của Grossman có lẽ đã tính luôn số lính gác trên tàu hỏa không thuộc biên chế trại Treblinka). Khi làm công việc này, các công nhân thường bí mật bỏ mồm những miếng bánh mì, đường hay kẹo tìm thấy trong các gói thức ăn. Điều đó là không được phép. Tuy nhiên được phép sau khi kết thúc công việc rửa tay và mặt bằng Eau de cologne và nước hoa vì nước ở Treblinka không đủ, chỉ có bọn Đức và Wachmänner được dùng nước để rửa ráy. Và khi những con người, lúc này vẫn đang còn sống, chuẩn bị bước vào “nhà tắm” thì đồ đạc của họ đã được xử lý xong – những đồ có giá trị được đưa vào kho, còn thư từ, ảnh chụp trẻ con mới sinh, anh em trai, cô dâu trước đám cưới, lễ kỷ niệm đám cưới vàng, tất tật hàng ngàn thứ quý báu, vô cùng quý giá với người sở hữu chúng nhưng chỉ là rác rưởi với những kẻ sở hữu Treblinka, sẽ được chất đống và chở đi đổ trong những cái hố khổng lồ, nơi đã có sẵn hàng trăm ngàn thư từ, bưu thiếp, danh thiếp, ảnh chụp, những mảnh giấy đầy nét vẽ trẻ con nguệch ngoạc tương tự. Bãi sân sau đó vội vã được quét dọn để lại sẵn sàng tiếp nhận một đoàn người mới đi đến cõi chết.
Nhưng mọi việc không phải bao giờ cũng diễn ra như vừa mô tả. Có những trường hợp khi tù nhân biết được mình sắp đi tới đâu, bạo loạn đã nổ ra. Bác nông dân Skrzeminski đã chứng kiến có hai chuyến tàu mọi người phá được cửa toa, thoát ra, quật ngã lính gác và chạy về phía rừng. Trong cả hai vụ tất cả bọn họ đều bị giết đến người cuối cùng bằng súng tiểu liên. Đám đàn ông cắp theo bốn đứa trẻ tuổi từ bốn đến sáu, và tất cả những đứa bé ấy đều bị bắn chết. Nữ nông dân Mariana Kobus cũng kể về nhiều vụ nổi loạn chống lính gác tương tự. Có lần, khi bà đang làm việc ngoài đồng, chính mắt bà đã thấy sáu mươi người bị giết chết sau khi đã chạy được từ tàu hỏa tới khu rừng. Nhưng giờ đoàn người đã bước đến một cái sân khác, nằm bên trong vòng rào thứ hai của trại. Trên sân có một cái lán khổng lồ, phía tay phải có ba cái lán nữa, hai cái trong số đó để chứa quần áo, cái thứ ba chứa giày dép. Cạnh đó, ở khu vực phía tây là dãy lán của bọn SS, lán của đám Wachmänner, kho lương thực, một khu trại chăn nuôi, có đậu những ôtô con, xe tải và một xe bọc thép. Ấn tượng giống như một khu trại thường, như Trại Số 1 chẳng hạn. |
|
#13
|
|||
|
|||
|
Ở góc đông nam của sân trại có một khu được rào lại bằng cành cây, phía trước khu này có một căn lều với tấm biển “Lazarett” (Bệnh xá). Tất cả người già yếu và bệnh nặng sẽ bị tách khỏi đám đông đang chờ vào “nhà tắm” và đưa bằng cáng vào lều “Lazarett”. Trong lều, các bệnh nhân được đón tiếp bởi một “bác sĩ” mặc tạp dề trắng đeo băng Chữ Thập Đỏ trên tay trái. Những gì xảy ra trong “Lazarett” sẽ được chúng tôi thuật lại ở phần dưới.
Giai đoạn hai của quá trình xử lý được đặc trưng bởi việc bẻ gãy ý chí của đoàn người mới đến bằng những mệnh lệnh ngắn gọn và cấp tốc tuôn không ngớt. Các mệnh lệnh này được ban ra với âm sắc nổi tiếng mà quân đội Đức rất tự hào, cái âm sắc được xem là một trong những bằng chứng chứng tỏ người Đức là chủng tộc thượng đẳng. Chữ “r”, phát âm vừa đơn đớt vừa cứng, nghe như tiếng roi quất. “Achtung!” (Chú ý) – quét qua đám đông, giữa sự im lặng nặng chịch vang lên câu nói được tên Scharführer thốt ra như cái máy, lặp đi lặp lại nhiều lần trong một ngày suốt tháng này qua tháng khác những từ liền một mạch: “Đàn ông ở tại chỗ, phụ nữ và trẻ con cởi quần áo ở lán bên trái”. Tại đây, theo lời những nhân chứng, thường bắt đầu một cảnh khủng khiếp. Trực giác thiêng liêng của tình mẫu tử, tình vợ chồng đã báo cho mọi người biết rằng đây là lần cuối họ nhìn thấy nhau. Những cái bắt tay, ôm hôn, cầu phúc, nước mắt, những lời vội vã vắn tắt mà trong đó người ta gói vào tất cả yêu thương, tất cả những đau đớn, tất cả sự trìu mến, tất cả nỗi tuyệt vọng của mình… Lũ bác sĩ tâm lý SS nghiên cứu về cái chết biết rõ rằng các cảm xúc ấy cần phải bị mau chóng dập tắt, cắt đứt. Lũ bác sĩ tâm lý nghiên cứu về cái chết biết rõ về những luật lệ đơn giản áp dụng trong mọi lò sát sinh trên thế giới, những luật lệ mà tại Treblinka lũ súc vật dùng để áp dụng đối với con người. Đó là một trong những thời điểm quan trọng nhất: thời điểm con gái bị tách khỏi cha, mẹ bị tách khỏi con trai, bà bị tách khỏi cháu, chồng bị tách khỏi vợ. |
|
#14
|
|||
|
|||
|
Và một lần nữa vang lên trên sân: “Achtung! Achtung!” Chính vào thời điểm đó cần lập tức làm rối trí mọi người bằng hy vọng, luật lệ của cái chết phải bị giả mạo thành luật lệ của sự sống. Cũng cái giọng đó nói xắt ra từng lời như sau:
- Phụ nữ và trẻ con cởi giày ở cửa vào lán. Bít tất nhét trong giày. Bít tất trẻ con bỏ trong xăng đan, ủng và giày trẻ con. Xếp gọn gàng. Rồi lại lập tức một lần nữa: - Đi về phía nhà tắm, mang theo người những đồ có giá trị, giấy tờ tùy thân, tiền, khăn tắm và xà phòng… Tôi nhắc lại… Bên trong lán nữ có sẵn mấy thợ cắt tóc; những phụ nữ trần truồng bị cắt trụi tóc bằng tông đơ, các cụ già phải gỡ bỏ tóc giả. Đấy là khoảng khắc tâm lý kỳ lạ: việc cắt tóc chết chóc này, theo lời các thợ cắt tóc, đối với phụ nữ là lý do thuyết phục nhất khiến họ tin rằng mình sắp vào nhà tắm. Các cô gái lấy tay xoa đầu và đôi khi còn hỏi: “Chỗ này không được đều, cắt lại hộ chút nhé!” Thường sau khi cắt tóc phụ nữ đều cảm thấy yên tâm hơn, hầu như ai bước khỏi lán cũng cầm theo xà phòng và cái khăn tắm gấp lại. Vài thiếu nữ bật khóc vì tiếc cho bím tóc đẹp của mình. Cắt tóc phụ nữ như thế để làm gì? Nhằm đánh lừa họ chăng? Không đâu, là bởi vì nước Đức có nhu cầu dùng số tóc đó. Đó là một nguyên liệu... Tôi đã hỏi nhiều người rằng người Đức dùng làm gì mớ tóc vụn cắt từ đầu đám người sống sắp đi vào cõi chết ấy. Tất cả nhân chứng đều kể rằng những đống tóc khổng lồ đen, vàng, bạch kim, quăn và tết bím đó được khử trùng, đóng bao và gửi về Đức. Tất cả nhân chứng đều xác nhận là tóc đóng vào bao có ghi địa chỉ gửi về Đức. Chúng được dùng làm gì? Không ai trả lời được câu hỏi đó. Chỉ có bản khai viết tay của một gã tên Kohn cho rằng tóc đó được dùng trong hải quân: tóc dùng để nhồi đệm hoặc bện dây cáp phù hợp về mặt kỹ thuật cho tàu ngầm. Tôi nghĩ rằng lời khai này cần được xác minh thêm, đây là trách nhiệm thuộc về lòng nhân đạo của Đại Đô đốc Raeder, đứng đầu Hải quân Đức năm 1942. |
|
#15
|
|||
|
|||
|
Đàn ông cởi quần áo ở ngoài sân. Trong nhóm người đầu tiên đến vào buổi sáng, bọn Đức chọn lấy một trăm năm mươi tới ba trăm người có sức khỏe tốt, họ dùng để chôn xác chết và thường sẽ bị giết vào ngày hôm sau. Đàn ông phải cởi quần áo thật nhanh nhưng gọn gàng, xếp gọn theo thứ tự giầy, bít tất, đồ lót, áo khoác và quần dài. Việc phân loại quần áo được thực hiện bởi nhóm thứ hai, đội “đỏ”, phân biệt với đội “công tác vận chuyển” nhờ đeo băng tay màu đỏ. Những thứ được đánh giá là có giá trị cần gửi về Đức lập tức được chuyển vào nhà kho. Mọi nhãn mác bằng kim loại hay vải sẽ phải được gỡ bỏ cẩn thận. Những thứ còn lại bị đốt hoặc chôn trong hố.
Cảm giác âu lo ngày càng tăng. Mũi họ ngửi thấy một mùi khủng khiếp rất đáng lo, mặc dù bị làm át đi bởi mùi vôi bột. Có vẻ như ở đây lũ ruồi béo múp gây phiền nhiễu đông đến mức không thể giải thích được. Chúng ở đâu ra đây, giữa đám rừng thông và mặt đất bị dày xéo này? Mọi người hít thở lo lắng và nặng nề, run rẩy, quan sát từng thứ dù là nhỏ nhất hầu có thể giải thích và vén bức màn bí mật che giấu số phận đang chờ đợi những người sắp đi vào cõi chết. Và tại sao ở phía nam kia lại có tiếng máy xúc hạng nặng gầm rú? Tiếp đó bắt đầu một thủ tục khác. Những con người trần truồng bị dẫn tới trước quầy và bị yêu cầu phải nộp hết giấy tờ tùy thân và đồ vật có giá trị. Và một lần nữa vang lên giọng nói khủng khiếp như thôi miên: “Achtung! Achtung! Che dấu tài sản sẽ phải nhận án tử! Achtung!” Trong chiếc lều đóng từ những tấm ván gỗ có một tên Scharführer đang ngồi. Đứng cạnh hắn là bọn SS và đám Wachmänner. Bên cạnh lều là những thùng gỗ ván, các đồ vật có giá trị được ném vào đó: một thùng chứa tiền giấy, thùng bên cạnh là tiền xu, thùng thứ ba chứa đồng hồ đeo tay, nhẫn, khuyên tai và đồ nữ trang có đính đá quý, vòng xuyến. Còn giấy tờ tùy thân thì vứt xuống đất, chẳng ai trên đời này cần đến chúng nữa, thứ giấy tờ của những cái xác còn sống mà trong vòng một tiếng nữa sẽ trần truồng nằm dưới hố. Nhưng vàng và các đồ có giá trị thì được phân loại cẩn thận, hàng chục thợ kim hoàn ngồi xác định tuổi của các món quý kim, giá trị của đá quý, nước trong suốt của kim cương. |
|
#16
|
|||
|
|||
|
Và điều này thật kỳ dị: lũ súc vật kia vơ vét sử dụng mọi thứ – cả đồ da, cả giấy vụn, cả mụn vải, tất cả những gì có người cần tới, tất cả những gì cần thiết và hữu ích đối với lũ súc vật, ngoại trừ thứ quý giá nhất trên cõi đời – mạng sống con người – thì chúng chà đạp. Và những trí tuệ to lớn và mạnh mẽ ấy, những tâm hồn đáng kính ấy, những đôi mắt trẻ em đáng yêu ấy, những khuôn mặt bà lão đôn hậu ấy, những mái đầu thiếu nữ kiêu hãnh ấy, được tạo hóa hình thành nên qua biết bao thế kỷ, tất cả dồn thành một dòng chảy câm lặng khủng khiếp đổ xuống vực thẳm hư vô. Chỉ cần vài giây là đủ để hủy diệt những gì mà thế giới và thiên nhiên đã từ từ tạo ra qua quá trình sáng tạo vĩ đại và trải bao đau khổ của sự sống.
Chính tại đây, ở cái “quầy” này, bắt đầu một bước ngoặt – tới đây chấm dứt sự dối trá tàn bạo giam hãm mọi người trong trạng thái mù mờ như bị thôi miên, như trong cơn mê sảng, chỉ trong vài phút đã quẳng họ từ hy vọng sang tuyệt vọng, từ ảo tưởng được sống chuyển sang nhìn thấy cái chết. Sự dối trá tàn bạo đó là một trong những đặc trưng của băng chuyền giết người này, nó hỗ trợ bọn SS thực hiện công việc của chúng. Và khi bắt đầu màn cuối của việc cướp bóc những người sống sắp chết, bọn Đức thay đổi đột ngột cách đối xử với các nạn nhân của chúng. Chúng giật lấy nhẫn làm gẫy ngón tay phụ nữ, bứt hoa tai đến rách cả dái tai. Ở giai đoạn cuối, dây chuyền giết người này đòi hỏi phải nhanh chóng vận hành theo một nguyên tắc mới. Đó là tại sao từ “Achtung!” được thay bằng một từ khác, nghe dồn dập và như rít lên: “Schneller! Schneller! Schneller!” Nhanh, nhanh, nhanh lên, chạy tới chốn hư vô! Từ thực tế tàn khốc trong những năm gần đây, chúng ta biết được rằng một người trần truồng sẽ lập tức đánh mất hoàn toàn sức chống cự, không còn đấu tranh chống lại số phận, ngay khi trở nên trần trụi anh ta liền đánh mất bản năng tự bảo tồn và im lặng chấp nhận số phận như là định mệnh của mình. Ngay cả những người vốn hết sức khao khát được sống cũng trở nên thụ động và dửng dưng. Nhưng để cho chắc chắn, bọn SS còn áp dụng thêm vào giai đoạn cuối của dây chuyền giết người này một phương pháp gây choáng váng quái gở để đẩy mọi người vào tình trạng hoàn toàn tê liệt về mặt tinh thần. Chúng đã làm việc đó như thế nào? Bằng cách sử dụng đột ngột và dữ dội những hành động tàn bạo vô nghĩa và phi lý. Những con người trần truồng đã bị tước mất hết mọi thứ nhưng tiếp tục bướng bỉnh tồn tại vẫn còn hàng ngàn lần đông hơn lũ súc vật mặc đồng phục quân đội Đức đang vây quanh họ, tất cả bọn họ vẫn còn hít thở, quan sát, suy nghĩ, tim họ vẫn còn đập. Những bánh xà phòng và khăn tắm bị quật rơi khỏi tay họ. Họ bị dồn lại thành đoàn mỗi hàng năm người. - Händer hoch! Marsch! Schneller! Schneller! (Tay giơ cao! Bước đều! Nhanh! Nhanh!) |
|
#17
|
|||
|
|||
|
Họ bước tới một con đường thẳng tắp, hai bên trồng hoa và thông, dài một trăm hai mươi mét, rộng hai mét và dẫn tới nơi hành hình. Hai bên đường chăng kín dây thép gai, với đám lính gác Wachmänner quân phục đen và bọn SS mặc áo xám tro đứng sát vai kề vai. Nền đường rải cát trắng và những người đi hàng đầu với hai tay giơ cao có thể nhìn thấy các dấu chân trần còn mới hằn trên mặt cát xốp: dấu chân nhỏ nhắn của phụ nữ, những dấu nhỏ hơn nữa của trẻ em, các vết hằn nặng nề là của bàn chân những cụ già. Các dấu vết mờ nhạt trên cát – là tất cả những gì còn lại của hàng ngàn người mới vừa bước đi trên con đường này, cũng giống như của đoàn bốn ngàn con người hiện thời đang bước đi trên nó, giống như hai tiếng nữa sau bốn ngàn người này sẽ có hàng ngàn người khác đứng xếp hàng chờ ở chỗ ngã rẽ đường sắt trong rừng. Cũng giống như của những người đã tới hôm qua và mười ngày trước, giống như của những người sẽ đến ngày mai và năm mươi ngày sau, giống như của tất cả những người đã đi trong suốt mười ba tháng tồn tại của địa ngục Treblinka.
Con đường này được bọn Đức gọi là “Bất hồi lộ”. Có đi không có về. Một sinh vật õng ẹo đội lốt người, có họ là Suchomel, thường nhăn nhở hét lên những từ tiếng tiếng Đức và Do Thái bị cố tình nói trại: - Này nhóc, nhóc, schneller, schneller, để lâu nước nhà tắm lạnh đấy! Schneller, nhóc, schneller! – và cười vang, rồi ngồi xổm xuống mà nhảy nhót. Mọi người, hai tay vẫn phải giơ lên, im lặng bước giữa hai hàng lính gác, dưới những cú quất báng súng và dùi cui cao su. Trẻ con phải chạy mới chật vật theo kịp được người lớn. Trong chặng hành trình đau đớn cuối cùng này mọi nhân chứng đều nhắc tới sự tàn bạo của một quái vật đội lốt người, tên SS Zepf. Hắn là chuyên gia giết trẻ con. Với sức mạnh kinh hồn, con quái vật này thường đột ngột túm lấy một đứa bé khỏi hàng người rồi hoặc đập đầu nó xuống đất như đập một cây gậy hoặc xé đứa bé ra làm đôi. Khi tôi nghe về con quái vật này, có lẽ cũng được sinh ra bởi một người phụ nữ, tôi cảm thấy những điều được kể về hắn là không thể hình dung nổi và khó tin là có thật. Nhưng khi đích thân tôi nghe các nhân chứng lặp đi lặp lại những câu chuyện trên, tôi nhận thấy rằng họ nói về chúng chỉ như các tiểu tiết, không chút gì khác thường trong cái hệ thống chung của địa ngục Treblinka. Cuối cùng tôi đi đến chỗ tin rằng những chuyện ấy là có thể xảy ra. Các hành động của Zepf là cần thiết, chúng góp phần giữ mọi người trong trạng thái choáng váng tinh thần không còn né tránh cái chết, chúng là biểu hiện của sự tàn bạo phi lý, đàn áp ý chí và tinh thần của họ. Hắn là cái đinh vít hữu ích, cần thiết trong cỗ máy đồ sộ của đất nước phát xít. |
|
#18
|
|||
|
|||
|
Chúng ta thấy khiếp đảm không phải vì tạo hóa đã sản sinh những quái thai thế này: ít nhất cũng từng có một số quái thai như vậy trong thế giới hữu sinh – ví dụ như lũ khổng lồ một mắt Cyclop, hay như đám quái vật hai đầu, hay những giống quái gở và biến dị linh hồn khủng khiếp tương tự. Điều kinh khủng nằm ở chỗ khác: thay vì cách ly và nghiên cứu chúng như những hiện tượng tâm thần học, các con quái vật ấy lại được sống như những công dân tích cực và hữu ích ở một quốc gia cụ thể.
Tư tưởng điên rồ của chúng, tâm thần bệnh hoạn của chúng, các tội ác dị thường của chúng là yếu tố cần thiết đối với nhà nước phát xít. Hàng ngàn, hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn con quái vật như vậy trở thành trụ cột của nước Đức phát xít, chống đỡ, làm nền tảng cho nước Đức Hitler. Mình vận quân phục, tay cầm vũ khí, ngực đeo các huân chương của Đế chế, lũ quái vật ấy suốt nhiều năm ròng làm chủ hoàn toàn mạng sống các dân tộc ở Châu Âu. Chúng ta không cần khiếp sợ đám quái vật ấy, mà khiếp sợ cái quốc gia đã lôi chúng ra khỏi các hang hốc, khỏi bóng tối bí ẩn ở Varsava, ở Maidanek ngoại ô Lublin, ở Belzits, ở Sabibur, ở Osventsim, ở Babi Yar, ở Domanevka và Bogdanovka ngoại ô Odessa, ở Trostyanets ngoại ô Minsk, ở Ponary tại Litva, và tại hàng chục hàng trăm nhà tù, trại lao động, trại trừng giới, trại diệt chủng và biến chúng thành thứ cần thiết, hữu ích và không thể thay thế được tại địa ngục Treblinka. Kiểu quốc gia như vậy không phải rơi từ trên trời xuống, những mối liên hệ vật chất và ý thức giữa các công dân của nó đã sản sinh ra cấu trúc quốc gia. Đó là điều chúng ta cần nghiêm túc suy ngẫm và nghiêm túc khiếp sợ... Từ chỗ “quầy” cho đến nơi hành hình chỉ mất một vài phút. Bị quất bằng gậy, bị quát mắng đến mất hồn, mọi người bước đến cái sân thứ ba và trong giây lát họ đứng sững người lại. |
|
#19
|
|||
|
|||
|
Trước mặt họ là một căn nhà đẹp xây bằng đá viền trang trí khung gỗ, bài thiết như một thánh đường cổ. Năm bậc thềm rộng bằng bê tông dẫn tới những cái cửa thấp nhưng rất rộng, đồ sộ và được trang trí đẹp. Bên lối vào có trồng cả hoa trong chậu. Xung quanh mọi thứ còn lại đều hỗn độn: có thể thấy hàng núi đất mới đào, một cái máy xúc khổng lồ đang ken két thả bộ hàm thép ngoạm lấy hàng tấn đất cát vàng, làm bốc lên một đám mây bụi giữa mặt đất và quầng sáng mặt trời. Tiếng gầm của cỗ máy đồ sộ, miệt mài đào suốt từ sáng đến tối để tạo nên những hố chôn tập thể khổng lồ, hòa lẫn với tiếng sủa dữ tợn của hàng chục con bẹc-giê Đức.
Chạy dọc hai bên hông tòa nhà chết chóc đó, có các tuyến đường ray khổ hẹp mà trên đó những người đàn ông mặc bộ áo lao động liền quần rộng thùng thình đang đẩy mấy cái xe goòng loại tự đổ. Những cái cửa rộng của tòa nhà chết chóc từ từ mở ra, và hai phụ tá của Schmidt, xếp quản lý dây chuyền, xuất hiện trên lối vào. Chúng đều là những kẻ ác dâm và cuồng loạn – một tên cao, ba mươi tuổi, vai rộng, có gương mặt ngăm đen, hay cười, dễ hưng phấn vui vẻ và tóc đen; tên kia trẻ hơn, thấp hơn, tóc nâu, đôi gò má vàng vọt như thể vừa bồi một liều acrichine (hay quinarcine, dùng để chữa viêm ruột ký sinh, bệnh lupus ban đỏ). Chúng ta đã biết về tên họ, quốc tịch và lời thề trung thành của những kẻ phản bội nhân loại đó. Tên cao cầm một đoạn ống dẫn gas to tướng dài độ một mét và cái roi da, tên kia vũ trang một thanh gươm. Ngay lúc đó, bọn SS thả lũ chó đã được huấn luyện ra, chúng xông thẳng vào đám đông và cắn xé họ bằng hàm răng sắc nhọn đáng sợ. Bọn SS thì nện báng súng tiểu liên, lùa những phụ nữ đang sợ điếng người và hét lớn: “Schneller! Schneller!”. Bên trong tòa nhà là những tên phụ tá khác của Schmidt; chúng xua mọi người bước qua các cánh cửa mở sẵn để vào phòng hơi ngạt. |
|
#20
|
|||
|
|||
|
Vào lúc đó, một trong những sĩ quan chỉ huy Treblinka là Kurt Franz xuất hiện bên tòa nhà, tay cầm sợi xích dắt theo con chó Barry của hắn. Hắn đã đặc biệt huấn luyện con chó này thói quen lao vào các nạn nhân, cắn đứt bộ phận sinh dục của họ. Kurt Franz rất hợp với công việc ở trại này, khởi đầu từ cấp hạ sĩ quan Waffen SS, hắn đã ngoi dần lên đến cấp bậc khá cao là Untersturmführer (Untersturmführer là cấp sĩ quan SS tương đương trung úy trong quân đội. Kurt thực tế là trại phó). Gã SS ba mươi lăm tuổi cao và gầy này không chỉ có năng khiếu tổ chức, hắn không chỉ mê thích công việc của mình và không thể tưởng tượng nổi bản thân nếu thiếu Treblinka, nơi mọi chuyện đều diễn ra dưới sự theo dõi không biết mệt mỏi của hắn – ở mức độ nào đó hắn là một lý thuyết gia và rất thích biện giải về ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác của mình. Cần phải thấy trong những thời điểm khủng khiếp ấy khi phòng “hơi ngạt” ra đời thì dĩ nhiên cũng xuất hiện những kẻ nhân từ bênh vực cho chủ nghĩa Hitler trong số đám khán giả tai to mặt lớn như Đức Giáo hoàng và Mr. Brailsford (nhà báo cánh tả người Anh). Họ nên làm phong phú các thuyết giảng, sách vở và bài viết nhân từ của mình bằng những luận chứng mới. Và mỗi lần đề cập về chuyện này, Giáo hoàng, người đã cung kính im lặng quá mức trong khi Himmler thanh toán nợ nần với loài người, đáng ra nên biết số nhân viên của ngài có thể dồn được thành bao nhiêu chuyến tàu, và mất bao lâu để đưa đến Treblinka giải quyết toàn bộ người của ngài ở Vatican.
Vĩ đại thay sức mạnh của tính người! Tính người mãi tồn tại cho tới lúc nào loài người còn sống. Và mỗi khi xuất hiện một thời kỳ ngắn ngủi nhưng khủng khiếp, thời kỳ mà lũ thú vật leo lên cai trị con người, con người, bị bầy thú vật giết hại, vẫn giữ được đến hơi thở cuối cùng sức mạnh tinh thần, tư duy trong sáng và hơi nóng tình yêu. Còn lũ súc vật đã giết người, dù đang chiến thắng hân hoan cũng vẫn chỉ là con vật. Trong sức mạnh tinh thần bất diệt của con người ấy có sự tuẫn tiết u buồn, thể hiện chiến thắng khải hoàn của con người sắp chết trước lũ súc vật sống. Chính vào những ngày tháng nặng nề của năm 1942 đó, xuất hiện ánh bình minh chiến thắng tất yếu đập tan cơn điên loạn của bầy thú vật, chiến thắng của cái thiện trước cái ác, của ánh sáng xua tan bóng đêm, của những lực lượng tiến bộ trước các thế lực phản động. Một bình minh kinh hoàng chiếu qua bao cánh đồng máu và nước mắt, qua vực thẳm khổ đau, một bình minh vươn lên từ tiếng thét khi chết của bao bà mẹ và trẻ em, từ tiếng khò khè hấp hối của các cụ già. |
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Địa ngục Treblinka - bút ký của Vasili Grossman | danngoc | Hồ sơ chiến tranh thế giới | 27 | 02-05-2008 09:53 |