Trở về   Nước Nga trong tôi > Văn hóa Xô viết và Nga > Văn học

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #21  
Cũ 11-02-2011, 23:11
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 4. Người thợ núi

4. Người thợ núi
Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Rốt cuộc là Kachia - vợ chưa cưới của Đa-ni-lô ấy mà - vẫn là gái chưa chồng. Hai hay ba năm đã trôi qua kể từ khi Đa-ni-lô mất tích, thế là cô ấy đã không còn ở độ tuổi kén chồng nữa. Ở làng thợ của chúng tôi, ngòai hai mươi tuổi đã bị coi là gái già, gái ế rồi. Các chàng trai chẳng mấy khi còn hỏi cưới những cô như vậy, thường chỉ có những người góa vợ mà thôi. Nhưng có lẽ vì Kachia là một cô gái nết na xinh đẹp nên các chàng trai tơ cứ quấy rầy, còn cô ấy thì chỉ nói:

- Tôi đã hứa hôn với Đa-ni-lô rồi.

Họ thuyết phục:

- Làm thế nào được! Cô đã lỡ hứa, nhưng chưa lấy. Mà bây giờ thì nhắc đến chuyện đó làm gì. Anh ấy đã mất lâu rồi.

Kachia không chịu:

- Tôi đã hứa với Đa-ni-lô rồi. Chắc chắn là anh ấy sẽ về.

Họ nói với cô:

- Anh ấy đâu còn trên thế gian này nữa. Chắc chắn là như vậy.

Cô vẫn trước sau như một:

- Không ai nhìn thấy xác anh ấy cả và tôi chắc anh ấy còn sống.

Thấy cô gái không thể lay chuyển được, họ đành chịu. Có kẻ còn mang cô ấy ra làm trò cười nữa chứ, chúng gọi cô ấy là Vợ chưa cưới của ma. Cái biệt hiệu ấy dính chặt lấy cô. Cứ Kachia - vợ chưa cưới của ma, Kachia - vợ chưa cưới của ma, làm như đã hết tên để gọi không bằng.

Rồi một lần, nạn dịch xảy ra. Cả cha lẫn mẹ Kachia đều không còn. Gia đình cô có khá đông anh chị em, ba anh trai đã có vợ, và cũng chừng ấy chị gái đã có chồng.Thế là xảy ra chuyện cãi cọ xem ai được sống trong nhà của cha mẹ . Kachia liền nói:

- Tôi sẽ sang nhà Đa-ni-lô ở. Bác Prô-cô-pích đã già yếu lắm rồi. Tôi sẽ chăm nom bác ấy.

Tất nhiên là các anh chị cô ngăn lại:

- Làm thế không coi được đâu Kachia. Bác Prô-cô-pích tuy già yếu thật, nhưng thiếu gì điều thiên hạ có thể bịa đặt cho cô.

Kachia trả lời:

- Tôi chẳng sợ gì cả. Miễn tôi không làm điều gì không phải là được. Hơn nữa bác Prô-cô-pích với tôi đâu phải người ngòai. Chẳng gì bác ấy cũng là cha nuôi Đa-ni-lô của tôi. Tôi sẽ kêu bác ấy là cha.

Thế rồi cô bỏ đi. Mà cũng phải thôi, anh chị em nhà ấy không mấy gắn bó với nhau. Họ vốn nghĩ thầm trong bụng, bớt được người nào thì đỡ ầm ĩ được chừng ấy. Còn bác Prô-cô-pích thì thích là đằng khác. Bác ấy nói:

- Cám ơn con đã nghĩ đến cha.

Vậy là họ bắt đầu chung sống. Bác Prô-cô-pích ngồi làm đá, còn Kachia lo việc nội trợ - chăm nom vườn tược, nấu nướng giặt giũ và những việc lặt vặt khác. Nhà chỉ còn có hai người nên công việc cũng chẳng còn là mấy. Kachia lại là cô gái nhanh nhẹn, thành ra thoáng cái là cô đã xong. Hết việc, cô đâu có chịu ngồi không, lại quay sang đan lát, thêu thùa, may vá. Thời gian đầu, cuộc sống của hai người khá là êm ả, chỉ có điều sức khỏe của bác Prô-cô-pích ngày càng xấu hơn. Ngồi được một ngày thì nằm hai ngày. Già cả rồi, sức lực đâu có còn lại bao nhiêu. Kachia bắt đầu phải suy nghĩ xem họ sẽ sống tiếp bằng cách gì.

"May vá và thêu thùa thì sống không nổi, mà mình lại không biết nghề nào khác cả"

Một hôm, cô nói với bác Prô-cô-pích:

- Cha ơi! Dạy con làm đá đi. Việc đơn giản nhất thôi cũng được.

Bác Prô-cô-pích thậm chí phải phì cười:

- Con nói gì vậy! Làm đồ ngọc thạch đâu phải việc đàn bà con gái. Xưa nay chưa có chuyện ấy bao giờ.

Tuy thế, cô gái cũng vẫn để ý quan sát công việc của người cha nuôi. Đỡ đần việc này, việc khác, cắt đá, đánh bóng. Bác Prô-cô-pích cũng bắt đầu dạy cô làm cái nọ, cái kia. Tất nhiên không phải là những món đồ thực thụ. Mài mấy cái mặt đá dẹt làm cán dao, cán dĩa và vài ba thứ mà khách hàng thường đặt. Nói chung là những thứ lặt vặt, rẻ tiền ấy mà cũng thỉnh thoảng thôi.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên:
BelayaZima (09-04-2011), Bien (02-07-2011), Siren (08-03-2011)
  #22  
Cũ 23-02-2011, 09:55
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 4. Người thợ núi (tt)

Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Chẳng bao lâu, bác Prô-cô-pích qua đời. Mấy người anh chị lại ép Kachia:

- Giờ thì cô nhất thiết phải lấy chồng. Làm sao cô sống một mình được.

Kachia gạt phắt đi :

- Đó không phải là việc của các anh chị. Tôi không cần ai khác cả. Đa-ni-lu-scô sẽ về. Anh ấy học xong ở trong núi và sẽ về.

Các anh chị cô nhao nhao cả lên :

- Cô có điên không đấy hả Kachia. Sao lại nói những điều như vậy. Người chết đã lâu rồi thế mà cô còn chờ. Liệu đấy, không khéo lại bị ma ám cho mà xem.

- Tôi chẳng sợ - Cô gái đáp

Khi đó, các anh chị cô bèn hỏi :

- Thế nhưng cô lấy gì mà sống?

- Điều này - cô gái trả lời - các anh chị cũng khỏi phải quan tâm. Một mình tôi cũng sống được.

Tưởng là bác Prô-cô-pích còn để tiền lại, các anh chị cô lại thuyết phục:

- Thật ngu đến thế là cùng. Nếu có tiền thì trong nhà nhất thiết phải có đàn ông. Nhỡ không may gặp bọn tham tiền thì làm sao. Chúng sẽ vặt cổ cô như một con gà và thế là hết đời.

Cô gái đáp:

- Việc gì phải lo trước. Đời tôi được bao lâu thì tôi sẽ sống bấy lâu.

Mấy anh chị cô còn làm ầm ĩ hồi lâu. Người thì quát mắng, người thì khuyên giải, người thì khóc lóc, còn Kachia trước sau vẫn như một nói:

- Một mình tôi cũng sống được. Tôi chẳng cần chàng rể nào của các anh chị cả. Tôi có người của tôi từ lâu rồi.

Khuyên răn mãi không được, các anh chị cô bực mình nói:

- Có chuyện gì thì đừng có vác mặt đến nhà chúng tao nữa.

Cô gái vừa cười vừa trả lời:

- Cám ơn các anh chị đã có lòng thương. Tôi sẽ ghi nhớ. Còn các anh chị đừng quên thỉnh thoảng ghé qua nhà tôi nhé.

Mấy người anh chị tức giận sập cửa đánh rầm một tiếng và bỏ về.

Kachia còn lại một mình côi cút trong căn nhà trống trải. Đầu tiên cô nức nở khóc, nhưng sau đó cứng cỏi thốt lên:

- Đừng hòng, tôi không chịu đâu.

Lau sạch nước mắt, cô quay ra dọn dẹp trong nhà. Lau chùi cọ rửa mọi thứ sạch sẽ. Xong xuôi, cô ngồi vào bàn làm đá. Ở đó cô cũng sắp xếp mọi việc theo ý mình. Cái gì không cần, cô cất sang một bên, còn những thứ thường xuyên phải dùng đến, cô để ngay bên cạnh. Thu vén xong đâu vào đấy, cô bỗng thấy muốn làm việc.

"Mình thử tự làm một cái mặt đá dẹt xem sao"

Cô định bắt tay vào làm việc nhưng lại chẳng có miếng đá nào thích hợp cả. Mảnh chiếc chiến hình hoa cà độc dược của Đa-ni-lô vẫn còn, nhưng Kachia giữ gìn không động tới. Chúng được gói riêng cẩn thận trong một tấm vải. Đá của bác Prô-cô-pích tất nhiên là còn nhiều. Chỉ có cái là cho đến lúc chết bác ấy chuyên làm đồ lớn, nên đá cũng toàn phiến to cả. Những mảnh vụn và những miếng bé đều nhặt nhạnh làm đồ nhỏ hết rồi. Kachia nghĩ bụng:

"Có lẽ phải ra mỏ đá kiếm vậy. May ra thì có hòn như mình cần"

Nhớ là Đa-ni-lô và bác Prô-cô-pích nói rằng họ thường lấy đá trên núi Rắn, cô bèn đi tới đó.

Ở phía Gu-me-scơ bao giờ cũng đông đúc: người lấy đá, người chuyên chở. Thấy Kachia xách giỏ qua, họ ngó xem cô đi đâu. Kachia không thích bị nhìn như vậy. Cô bỏ ý định kiếm đá ở mỏ đá và vòng ra phía sau núi. Phía bên ấy là một khu rừng rậm rạp. Kachia đi qua rừng, lần lên đỉnh núi Rắn và ngồi xuống nghỉ chân. Cô chợt nhớ tới Đa-ni-lô và buồn rầu bất giác lại trào lên. Cô ngồi trên tảng đá, nước mắt chảy ròng ròng. Xung quanh chỉ có rừng, không một bóng người nào nên cô không sợ bị ai nhìn thấy. Những giọt nước mắt rơi lã chã trên mặt đất. Khóc một hồi, cô bỗng nhìn thấy một tảng đá khổng tước nằm ngập trong đất ngay bên cạnh chân. Làm sao đào được khi cả cuốc chim lẫn xà beng đều không có? Dù vậy, Kachia vẫn dùng tay lắc thử và cảm thấy hòn đá khẽ lung lay. Thế là cô vội dùng cành cây bới đất xung quanh. Khi hòn đá lộ hẳn ra cô bèn lay thật mạnh. Nó xiêu đi và phía dưới bỗng vang lên tiếng rắc nhỏ như tiếng cành khô gãy. Miếng đá không lớn lắm, trông khá vuông vắn. Bề dày độ ba ngón tay, rộng bằng lòng bàn tay và dài gần nửa ác-sin. Kachia thậm chí sửng sốt:

- Thật đúng với ý mình. Xẻ ra sẽ được vô số khối mặt đá dẹt. Mà hầu như chẳng phải bỏ đi tí nào cả.

Cô mang miếng đá về nhà và lập tức đem ra xẻ. Đó là một công việc tốn khá nhiều thời gian, mà Kachia còn phải lo làm việc nhà. Cứ thế, cả ngày trôi qua trong sự bận rộn và chẳng có lúc nào để buồn chán. Hễ cứ ngồi vào bàn làm đá là cô lại nghĩ đến Đa-ni-lô:

- Giá mà anh ấy nhìn được cô thợ mới này nhỉ. Lại còn ngồi ngay ở chỗ anh ấy và bác Prô-cô-pích nữa chứ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên:
BelayaZima (09-04-2011), Siren (08-03-2011)
  #23  
Cũ 08-03-2011, 10:51
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 4. Người thợ núi (tt)

Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh

Tuy nhiên, những kẻ ong bướm đâu có chịu ngồi yên. Làm sao mà chúng bỏ qua cô cho được… Vào một buổi tối ngày lễ, khi Kachia say sưa ngồi làm việc tới tận khuya, có ba tên trai làng leo qua hàng rào vào nhà cô. Chúng muốn dọa cô hay còn định làm gì nữa thì chỉ chúng mới biết được, có điều là cả ba đều đã chếnh choáng hơi men. Mải mê với lưỡi cưa, Kachia không còn hay biết là trong buồng chứa cỏ có người lạ. Đến khi nghe tiếng đập cửa ầm ầm cô mới ngửng mặt lên.

- Mở cửa ra, vợ chưa cưới của ma. Đón khách trần gian đi nào

Đầu tiên Kachia nhỏ nhẹ:

- Thôi, về đi các anh!

Nhưng chúng nào đâu có chịu. Cánh cửa rung lên bần bật và xem chừng sắp bung ra đến nơi. Thấy vậy Kachia bật then cài, mở toang cửa và quát lên:

- Nào, vào đi! Đứa nào muốn vỡ đầu trước ?

Mấy tên trai làng ngước nhìn và thấy trong tay cô lăm lăm chiếc rìu.

- Này, đừng có đùa thế cô em. - Chúng nói

- Đùa cái gì! - Cô đáp - Đứa nào bước qua ngưỡng cửa là thủng trán.

Dù đang say, ba tên trai làng cũng phải hiểu rằng đó không phải là lời nói đùa. Cô gái đứng sừng sững, điềm tĩnh, đôi vai căng tròn lực lưỡng, ánh mắt gan lỳ và chiếc rìu rõ ràng đang nằm trong một bàn tay thành thục. Rốt cuộc là chẳng tên nào dám bước vào. Chúng lè nhè vài ba câu rồi chuồn thẳng. Đã thế lại còn đem chuyện ấy ra kể nữa chứ và bị mọi người nhạo báng, tiếng rằng ba đấng mày râu lại để một cô gái dọa cho phải bỏ chạy. Hiển nhiên điều đó làm cả lũ bẽ mặt, và chúng lại bịa thêm, rằng Kachia không phải chỉ có một mình, mà đứng sau lưng cô còn có cả một con ma.

- Trời ơi, trông nó khủng khiếp đến nỗi ai mà dám đứng lại

Mọi người nửa tin nửa ngờ, nhưng từ đó dân làng thì thầm với nhau:

- Đúng là nhà ấy có ma. Đâu phải ngẫu nhiên mà con bé sống cô độc một mình.

Những lời đồn đại lan đến tai Kachia, nhưng cô chẳng lấy thế làm buồn rầu. Cô nghĩ bụng: "Kệ cho họ bịa đặt. Nếu họ sợ thì càng tốt cho mình, lần sau chẳng đứa nào dám trèo qua rào nữa."

Hàng xóm rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy Kachia ngồi ngồi bên bàn làm đá. Họ giễu cô:

- Chà, lại còn tập tành theo đòi nghề của đàn ông nữa chứ. Cô ta mà làm nổi cái gì!

Nhận xét này làm Kachia nản lòng hơn. Bản thân cô cũng đã từng nghĩ: "Chẳng biết một mình mình có làm được cái gì không?" Nhưng rồi cô tự nhủ: "Hàng chợ ấy mà! Đâu có gì khó! Chỉ cần nhẵn nhụi là được. Không lẽ cái đó chính mình cũng không làm nổi sao?"

Rồi Kachia cũng xẻ xong hòn đá. Trước mắt cô, vân đá hiện lên thật tuyệt vời, đúng ngang theo chiều cưa. Rõ là cầu được ước thấy. Chính cô cũng phải kinh ngạc trước sự may mắn ấy. Tính toán xong xuôi, Kachia bắt đầu mài bóng. Công việc không khó lắm, nhưng chưa quen tay thì cũng chẳng dễ gì làm được. Đầu tiên Kachia loay hoay mãi, sau đó thành thạo dần. Đầu tiên Kachia loay hoay mãi, sau đó thành thạo dần. Những chiếc mặt đá dẹt tuyệt đẹp thành hình mà mất mát thì hầu như không đáng kể, trừ những phần phải mài bỏ. Nhìn chỗ mặt đá làm xong, Kachia ngỡ ngàng, không ngờ từ một miếng đá có thể được nhiều như vậy. Cô bắt đầu suy nghĩ xem nên đem bán ở đâu. Trước kia, đôi khi bác Prô-cô-pích mang những món đồ lặt vặt thuộc loại này ra thành phố và giao cho một cửa hiệu. Kachia đã nhiều lần được nghe về cửa hiệu này, và thế là cô quyết định ra thành phố.

Kachia khóa nhà và lên dường đi ra thành phố. Cả làng Pê-lê-va-ja chẳng ai để ý đến chuyến đi của cô. Hỏi thăm được nhà ông chủ vẫn thường mua hàng của bác Prô-cô-pích, Kachia đển thẳng cửa hiệu. Cô bước vào và thấy trong tủ kính không biết cơ man nào là đồ ngọc thạch, riêng các mặt đá dẹt bằng đá khổng tước đã xếp đầy cả một ngăn tủ. Cửa hiệu khá đông, người mua, người bán tấp nập. Chủ hiệu trông hết sức nghiêm trang và bệ vệ.

Lúc đầu, Kachia thậm chí không dám bước lại gần y, nhưng sau đó, cô lấy hết can đảm và hỏi:

- Ông có cần các mặt đá dẹt bằng đá khổng tước không?

Chủ cửa hiệu chỉ tay vào cửa kính:

- Thứ đó ta đã có bao nhiêu rồi, cô không thấy sao?

Những người thợ đến bán hàng nói với y:

- Chà, dạo này ở đâu ra mà lắm thợ làm mặt đá dẹt đến thế. Chỉ uổng đá đi thôi. Họ chẳng thèm hiểu, để làm mặt dẹt thì đá phải có vân rất đẹp.

Trong số thợ ấy có một người cũng ở làng Pô-le-va-ja. Hắn thì thầm với cửa hiệu:

- Con bé ấy hơi mát. Hàng xóm thấy nó làm đá hẳn hoi. Chắc là đã kỳ cạch được một mớ đây.

Nghe vậy chủ hiệu bèn nói:

- Nào, cho xem cô mang gì tới đây nào?

Kachia đưa cho y một chiếc mặt đá dẹt. Chủ hiệu ngắm nghía một hồi rồi trợn mắt nhìn cô và nói:

- Cô ăn trộm của ai vật này?

Kachia giận sôi lên và quát thẳng vào mặt chủ hiệu:

- Ông có quyền gì mà nói với người chưa quen biết những điều như vậy. Nếu mắt ông còn sáng thì hãy nhìn đây. Liệu ăn trộm được của ai được chừng này chiếc mặt dẹt cùng một kiểu vân đá hả? Sao? - Cô ném lên mặt quầy số mặt đá mình làm được.

Chủ hiệu và mấy người thợ thấy đây đúng là mặt đá cùng một kiểu vân thật, và đường vân thuộc loại cực kỳ hiếm có. Ở giữa trông giống như một cây cổ thụ với đôi chim, một con đậu trên cành và một con ở dưới gốc. Đường vân hiện lên rõ mồn một và mặt đá làm rất khéo.

Nghe thấy câu chuyện khách mua hàng xúm lại xem nhưng chủ hiệu đã gom ngay chỗ mặt đá lại. Y thoái thác:

- Để một đống thế này thì xem làm sao được. Chờ một chút, tôi xếp xuống dưới mặt kính rồi ai thich gì thì tha hồ chọn - Quay về phía Kachia y nói - Cô vào buồng kia đi. Ta sẽ tính tiền liền.

Kachia bước đi, viên chủ hiệu đi theo sau. Khép cửa lại, y hỏi:

- Cô tính bao nhiêu đây?

Đã từng nghe bác Prô-cô-pích nói giá, Kachia cứ thế nhắc lại. Chủ hiệu lăn ra cười:

- Trời ơi! Cô nói gì ghê vậy! Giá ấy ta chỉ trả cho mỗi mình ông thợ Prô-cô-pích ở làng Prô-cô-pích với Đa-ni-lô - con nuôi của ông ta thôi. Thợ như họ mới là thợ chứ.

Cô gái trả lời:

- Tôi cũng thuộc gia đình ấy đấy và giá cũng theo đó mà tính.

- Vậy hả! - Chủ hiệu ngạc nhiên thốt lên - Thế ra đây là đồ của Đa-ni-lô còn lại ư?

- Không - Kachia trả lời - đây là đồ tôi làm.

- Hay là đá do cậu ấy để lại?

- Cả đá cũng tự tôi kiếm.

Chủ hiệu rõ ràng không tin, nhưng chắc chẳng muốn nói đi nói lại lôi thôi. Y thanh toán mọi thứ sòng phẳng và còn nói thêm:

- Lần sau mà cô còn làm được những thứ như thế này thì cứ mang tới nhé. Ta sẽ mua hết, còn giá cả thì cứ yên tâm.

Kachia về, lòng rộn ràng vui sướng - Chà được nhiều tiền quá! Trong khi ấy chủ hiệu bày các mặt đá vào tủ kính. Người mua quay lại:

- Bao nhiêu?

Tất nhiên là y không chịu hớ rồi, chẳng những nói giá cao gấp mười giá mua vào mà lại còn gióng:

- Đường vân như thế này chưa bao giờ có đâu. Đồ của Đa-ni-lô - thợ ở làng Pô-lê-va-ja đấy. Đố ai làm đẹp hơn anh ta được.

Kachia về đến nhà mà vẫn chưa hết ngạc nhiên:

- Hay thật, hóa ra mặt dẹt của mình đẹp hơn hết thảy! Nhờ được hòn đá tốt. Chắc mình gặp vận may. - Vừa nghĩ tới đây, cô bỗng sững người: - Hay là Đa-ni-lu-scô nhắn tin cho mình. Chẳng do dự thêm, cô vòng lại và chạy thẳng lên núi Rắn.

Tên thợ đá từng định bêu xấu Kachia trước người thương gia ở thành phố cũng đã trở về nhà. Hắn ghen tức với Kachia vì những viên đá đẹp hiếm thấy. Hắn nghĩ bụng:

“Phải xem con bé ấy lấy đá ở đâu mới được. Hay là Prô-cô-Pích hoặc Đa-ni-lô đã chỉ cho nó chỗ lấy mới không biết?”

Thoáng thấy Kachia chạy đi đâu đó, hắn liền theo sau và bắt gặp cô vòng qua Gu-me-scơ rồi đi lên núi Rắn. Tên thợ bám riết, trong bụng thầm nghĩ: “Phía ấy toàn là rừng, mà trong rừng thì mình sẽ lần đến tận nơi cho nó biết”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên:
BelayaZima (09-04-2011), Siren (08-03-2011)
  #24  
Cũ 04-04-2011, 16:51
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default



Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Họ vào rừng, Kachia đi cách tên thợ không xa và chẳng hề nghĩ ngợi, không nhìn lại mà cũng chẳng dừng chân nghe ngóng. Tên thợ mừng thầm là hắn biết được mỏ đá mới quá dễ dàng. Đột nhiên có tiếng gì đó, vang lên bên cạnh hắn. Tiếng động lạ lùng đến mức làm cho tên thợ hốt hoảng. Hắn dừng lại xem đó là cái gì. Trong khi hắn ngó nghiêng, nghe ngóng, Kachia đã biến mất từ hồi nào. Chạy dọc chạy ngang trong rừng, tìm kiếm hồi lâu, cuối cùng hắn mệt mỏi lê ra ở gần ao Bắc, quá Gu-me-scơ có lẽ đến hai dặm.

Ngay trong mơ Kachia cũng không tưởng tượng nổi là có người theo dõi. Cô leo lên núi, tìm tới chỗ lấy được miếng đá đầu tiên. Cái hố cũ dường như rộng thêm ra và bên cạnh lại thấy một tảng đá y như vậy. Kachia lắc thử và tảng đá lung lay và gãy đánh rắc như một cành cây khô. Cầm miếng đá trong tay, Kachia bật lên nức nở. Cô kể lể như các bá các cô khóc người chếr.

- Anh yêu ơi, anh bỏ đi để em lại cho ai…

Khóc lóc hồi lâu, Kachia thấy nỗi đau khổ dường như đã vơi bớt. Cô thẫn thờ đứng nhìn mỏ đá của mình. Nơi ấy là một khoảng rừng thưa. Xung quanh toàn là rừng rậm cao lớn, còn gần mỏ đá thì cây cối thưa và nhỏ hơn. Đột nhiên, ánh nắng rọi thẳng vào mỏ đá và nó chợt như bốc lửa, những tảng đá bắt lên muôn vàn tia sáng lóng lánh.

Kachia lấy làm ngạc nhiên và tò mò muốn lại gần để xem. Cô tiến lên một bước và dưới chân bỗng vang lên tiếng răng rắc. Cô vội rụt chân lại và nhìn xuống thì… Trời ơi, dưới chân cô đâu có phải là mặt đất. Cô đang đứng trên ngọn một cây gì đó cao ngất, xung quanh cũng nhấp nhô những ngọn cây như vậy. Qua kẽ lá, cô nhìn thấy bãi cỏ và những bông hoa mọc ở phía dưới, nhưng sao chúng không giống như hoa cỏ quen thuộc.

Ở vào chỗ ấy, các cô khác hẳn đã hoảng hốt và kêu cứu ầm ĩ, còn cô thì lại nghĩ:

“Đúng núi mở cửa ra đây rồi! Giá mà thấy được Đa-ni-lu-scô nhỉ!”

Cô vừa thoáng nghĩ, bỗng thấy trên bãi trống phía dưới có người trông giống hệt Đa-ni-lô đang đi, hai tay giơ lên như muốn nói điều gì đó. Quên hết mọi chuyện, kể cả việc đang ở trên ngọn cây, Kachia nhào thẳng xuống và… ngã lăn ra trên mặt đất, ngay chỗ cô vừa đứng. Khi đã tỉnh trí lại, cô tự nhỉ:

“Đúng là mình bị ma ám rồi. Phải mau mau về nhà thôi”.

Đang nghĩ như vậy, nhưng cô vẫn tiếp tục ngồi yên, chờ đợi xem cửa núi có mở ra lại không, xem Đa-ni-lô có xuất hiện nữa không. Cứ như vậy cô ngồi cho đến khi tối mịt và chỉ khi đó mới chịu ra về. Cô vừa đi vừa nghĩ: “Dù sao mình cũng đã gặp Đa-ni-lu-scô”.

Tên thợ đá theo dõi Kachia lúc ấy cũng đã về đến làng. Chạy lại nhà Kachia và thấy cửa vẫn còn đóng im ỉm, hắn bèn nấp vào một chỗ để rình xem cô gái mang gì về nhà. Lát sau, khi Kachia xuất hiện, hắn liền nhảy ra chặn ngang đường và hỏi:

- Cô đi đâu về thế?

- Tôi lên núi Rắn, - cô gái trả lời.

- Tối mịt thế này mà lên trên đó làm gì?

- Để gặp Đa-ni-lô…

Nghe đến đây, tên thợ hoảng hốt quay mình chạy mất và ngày hôm sau, người trong làng thì thầm với nhau:

- Này, con bé vợ chưa cưới của ma điên thật rồi. Đêm đêm, nó lên núi Rắn chờ chồng. Không khéo lên cơn nó sẽ đốt cả làng nữa cho mà xem.

Các anh chị nghe thấy và lại chạy đến nhà Kachia để canh chừng và khuyên giải cô. Không để cho họ kịp nói, Kachia giơ tiền cho họ xem và hỏi:

- Thế cái này các anh các chị nghĩ là ở đâu ra? Hàng của thợ giỏi người ta còn chưa nhận, vậy mà tôi thì ngay món đồ đầu tiên đã được trả bao nhiêu đây này! Các anh các chị có biết tại sao không?

Đã được nghe đồn về sự may mắn của cô, họ đáp:

- Cô đã gặp may đấy thôi. Có gì đâu.

- Xưa nay, - cô gái nói, - chưa bao giờ có chuyện đó. Đây chính là Đa-ni-lu-scô đã gửi cho tôi miếng đá và khiến cho đường vân đẹp như vậy đấy.

Các anh trai phá ra cười nhạo báng, còn các chị gái thì đưa tay lên trời tuyệt vọng:

- Đúng là nó điên thật rồi! Phải báo cho ông quản lý biết thôi. Không có nó đốt làng thật mất!

Nói thế thôi chứ tất nhiên là họ không đi đâyu cả. Ai nỡ làm như vậy với em gái. Ra khỏi nhà ka, họ thống nhất với nhau:

- Phải canh chừng Ca-tê-ri-na mới được. Hễ nó đi đâu là phải theo ngay.

Còn Kachia sau khi tiễn các anh chị ra về, cô khoá cửa và bắt tay vào xẻ miếng đá mới. Cô vừa cưa vừa nguyện:

- Nếu đường vân giống như trước thì có nghĩa là không phải mình bị ma ám mà đúng là đã gặp Đa-ni-lu-scô.

Cô vội đến cuống cả tay, chỉ muốn mau mau nhìn thấy đường vân trên đá. Đêm đã khuya mà Kachia vẫn ngồi mải miết làm việc. Một người chị lúc đó tỉnh giấc, thấy trong nhà vẫn còn ánh lửa liền chạy sang, ngó qua khe cửa và sững sờ:

- Đến ngủ nó cũng không chịu nữa! Thật khổ sở với nó!

Rồi miếng đá cũng đã cưa xong. Đường vân hiện lên rõ mồn một và còn đẹp hơn cả lần trước. Con chim đậu trên cây giờ đây xoè cánh bay xuống, còn con ở dưới đang bay lên đó. Năm nhát cưa và cả năm lần trên mặt đá hiện lên đường vân như nhau, không xê xích một ly. Chẳng kịp nghĩ ngợi gì nữa, Kachia mở cửa lao ra ngoài. Người chị gái cũng chạy theo và dọc đường đập cửa báo cho mấy người anh biết. Mấy người anh chạy ra ngay và một số người làng cũng theo họ. Trời lúc đó đã tờ mờ sáng, mọi người nhìn thấy Kachia chạy ngang qua Gu-me-scơ và lao cả đến đó. Cô gái xem chừng vẫn chưa biết có người theo sau. Cô chạy ngang qua mỏ; chậm bước khi vòng ra sau núi Rắn. Mọi người cũng ghìm chân, họ muốn xem cô làm gì ở đó.

Kachia tiến thẳng lên núi theo con đường quen thuộc. Cô nhìn quanh và bỗng nhận ra mình đang ở trong một khu rừng lạ. Cầm tay vào cành cây, cô thấy nó lạnh giá và nhẵn nhụi như bằng đá đánh bóng, cỏ ở dưới chân cũng là đá nốt. Cả khu rừng vẫn còn chìm trong màn đêm. Kachia thầm nghĩ: “Chắc là mình lọt vào núi rồi”.

Trong lúc đó, họ hàng của cô và dân làng nhớn nhác tìm kiếm:

- Cô ta biến đâu rồi? Rõ ràng vừa mới ở ngay trước mặt thế mà thoáng cái đã không thấy!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên:
BelayaZima (09-04-2011), Bien (02-07-2011), Siren (10-04-2011)
  #25  
Cũ 09-04-2011, 18:11
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 4. Người thợ núi (tt và hết)

Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh



Họ chạy nháo nhác, người lên đỉnh, người vòng quanh núi, họ gọi nhau í ới: “Có thấy không?”

Kachia vừa đi trong khu rừng đá vừa nghĩ cách tìm Đa-ni-lô. Cô đi quanh một hồi rồi cất tiếng gọi lớn:

- Đa-ni-lô, anh ở đâu?

Tiếng gọi vang xa trong rừng, nhưng chỉ có tiếng cây cối trả lời: “Không có! Không có!” Kachia không chịu ngừng: “Đa-ni-lô, anh ở đâu?”

Vẫn chỉ có tiếng rừng vọng lại: “Không có! Không có!”

Kachia kiên trì gọi tiếp:

- Đa-ni-lô, anh ở đâu?

Đột nhiên, Bà Chủ Núi hiện lên trước mặt Kachia và hỏi:

- Sao cô dám vào rừng của ta? Cô cần gì? Muốn tìm một hòn đá đẹp ư? Nếu vậy, cứ lấy bất kỳ hòn nào cũng được rồi phải đi khỏi nơi đây ngay lập tức!

Kachia chẳng nghĩ ngợi đáp luôn:

- Tôi không cần những hòn đá vô trí vô giác của bà! Trả Đa-ni-lô bằng xương bằng thịt cho tôi. Bà giấu anh ấy ở đâu? Bà không có quyền đi dụ chồng chưa cưới của người khác!

Cô gái gan lỳ đến thế là cùng. Ngay cả Bà Chủ Núi cũng không chút nể vì. Tuy thế, bà ta vẫn thản nhiên đứng yên:

- Cô còn nói gì nữa không?

- Còn, trả Đa-ni-lô lại chô tôi! Ở chỗ bà anh ấy…

Bà Chủ Núi cười khanh khách và nói:

- Cô thật là một cô bé ngốc nghếch. Cô có biết cô đang nói chuyện với ai không?

- Tôi không mù – cô gái hét lên – biết quá đi chứ. Nhưng tôi không sợ bà đâu, đồ chia uyên rẽ thuý! Tôi không sợ đâu! Dù bà có khéo léo đến đâu thì Đa-ni-lô vẫn thương nhớ tôi. Chính bà cũng thấy đấy. Chẳng lẽ tôi nói sai?

Bà Chủ Núi đáp:

- Được rồi, hãy xem chính anh ấy nói gì!

Trước đó, khu rừng chỉ lờ mờ ánh sáng, nhưng lúc này nó đột nhiên sống dậy. Khắp nơi chan hoà ánh sáng. Thảm cỏ dưới chân lung linh như những ngọn lửa với ngàn vạn sắc màu, cây cối đẹp tươi muôn hình muôn vẻ. Trước mặt Kachia, sau mấy hàng cây là một khoảng rừng thưa, nơi có những bông hoa đá và bầy ong vàng trông tựa những đốm lửa rực rỡ lượn lờ chung quanh đám hoa. Thật là một quang cảnh diệu kỳ, nhìn cả đời cũng không chán mắt. Trên khoảng rừng thưa ấy, Kachia chợt thấy Đa-ni-lô đang hối hả chạy thẳng tới chỗ cô. “Đa-ni-lu-scớ!” – Kachia thảng thốt kêu lên và lao đến với anh.

- Khoan đã - Bà Chủ Núi lên tiếng và hỏi: - Nào, Đa-ni-lô tài hoa, hãy lựa chọn đi. Về với cô ấy thì anh sẽ quên hết mọi thứ của ta, còn nếu ở lại đây thì phải quên cô ấy và mọi người.

Đa-ni-lô trả lời:

- Tôi không thể quên mọi người được, còn hình bóng cô ấy thì lúc nào cũng ở trước mắt tôi.

Nghe thấy thế, Bà Chủ Núi dịu dàng mỉm cười và nói:

- Cô thắng rồi, Ca-tê-ri-na ạ! Hãy giữ lấy anh thợ tài hoa của mình. Còn đây là phần thường cho sự can đảm và kiên cường của cô. Đa-ni-lô sẽ không phải quên đi mọi thứ của ta. Chỉ có cái này là không được nhớ! - Bà Chủ Núi vừa lời, khoảng rừng thưa với những bông hoa kỳ dị vụt nhoà đi. – Còn bây giờ thì cứ đi về đằng kia kìa, - Bà Chủ Núi đưa tay lên chỉ đường và căn dặn thêm: - Này, Đa-ni-lô, chớ có kể lại với mọi người rằng đá ở trong núi nhé. Cứ nói là đi học nghề của một người thợ ở xa. Còn cô, Ca-tê-ri-na, đừng nghĩ là ta dụ dỗ chồng chưa cưới của cô, Anh ta tự đến để tìm cái mà bây giờ đã quên mất rồi.

Kachia cúi rạp mình:

- Xin Người thứ lỗi cho lời đường đột!

- Thôi được rồi, - Bà Chủ Núi đáp, - ta là đá chứ đâu có phải là người. Ta nói vậy cho cô biết, để hai người khỏi sinh chuyện với nhau thôi.

Kachia và Đa-ni-lô sánh vai bước đi trong khu rừng, mỗi lúc một tối dần. Mặt đất trở nên mấp mô, hết hố sâu lại gò đống. Ngoảnh đi ngoảnh lại, họ thấy mình đã đang đứng giữa khu mỏ ở Gu-me-scơ. Trời hãy còn sớm và khu mỏ không một bóng người. Cả hai lặng thinh lần về nhà. Trong khi ấy, những người chạy theo Kachia vẫn còn đang lang thang trong rừng và hú gọi nhau: “Có thấy không?”

Tìm mãi không được, cuối cùng, họ phải trở về làng, và đã thấy Đa-ni-lô ngồi bên cửa sổ.

Tất cả được một phen hoảng hồn. Hết lời thần chú này đến câu xua tà khác được hiện lên. Vậy mà Đa-ni-lô chẳng những không biến đi mà lại còn lấy tẩu ra nhồithuốc hút. “Ma quỷ đâu có biết hút thuốc”, mọi người nghĩ bụng và lui ra xa. Khi họ theo nhau mon men đến gần ngôi nhà lần nữa thì thấy Kachia cũng ở trong nhà. Cô gái đang loay hoay bên bếp lò, nét mặt hân hoan rạng rỡ. Đã lâu không ai thấy cô vui như vậy, mọi người bạo dạn hẳn lên, họ bước vào nhà và hỏi:

- Anh đi đâu lâu thế, Đa-ni-lô?

- Tôi sang bên Cô-lư-van. Nghe nói ở đó có người thợ đá không ai bì kịp thành ra muốn đến học thêm, Cha tôi cản lại, nhưng tôi không nghe, bèn bỏ đi và chỉ nói cho mỗi mình Kachia biết.

- Thế sao anh lại đập cái chén của mình đi?

- Chậc, có trời mới biết… Đi ăn tiệc về… Có lẽ uống hơi nhiều… thấy không vừa mắt là đập thôi. Chuyện ấy người thợ nào mà không gặp. Có gì đâu.

Mấy người anh chị quay ra trách Kachia không kể về việc Đa-ni-lô đi Cô-lư-van. Tuy nhiên, họ cũng chẳng biết được gì thêm. Cô lập tức cắt ngang:

- Dù bò nhà ai có rống thì bò nhà tôi vẫn im. Tôi chẳng nói với các anh các chị là Đa-ni-lô vẫn còn sống là gì. Còn các anh các chị thì sao? Hết dụ lấy người nọ, lại dỗ lấy người kia! Thôi, tốt nhất là ngồi vào bàn đi, món trứng rán của tôi được rồi đấy.

Chuyện thế là xong. Họ hàng ngồi kề cà ăn uống, nói chuyện nọ chuyện kia rồi ra về. Chiều hôm ấy, Đa-ni-lô đến gặp viên quản lý. Tất nhiên là y ta làm ầm ĩ một hồi, nhưng rồi cũng thu xếp đâu vào đấy.

Từ đó Đa-ni-lô và Kachia nên vợ nên chồng. Người ta kể lại là họ sống rất hoà thuận. bạn trong nghề đều gọi Đa-ni-lô là thợ núi. Không ai bì được với anh cả. Hai người sống mỗi ngày một sung túc, nhưng thỉnh thoảng Đa-ni-lô lại ngồi thẫn thờ suy tư, Kachia hiểu chồng mình nghĩ gì, nhưng cô chỉ làm thinh./.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên:
BelayaZima (09-04-2011), Siren (10-04-2011)
  #26  
Cũ 09-04-2011, 18:14
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 5. Nhành quả mỏng mảnh

5. Nhành quả mỏng mảnh

Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Đa-ni-lô và Kachia – cái cô gái đã giành lại được chồng chưa cưới của mình từ tay Bà Chủ Núi Đồng ấy mà – có khá đông con cái. Tám đứa cả thảy mà lại toàn là con trai. Biết bao lần bà mẹ than thở, giá mình có một đứa con gái để nâng niu cho thỏa lòng. Còn người cha chỉ cười ha hả:

- Chắc số mình như vậy.

Các chú bé lớn khẻo mạnh, chỉ có một đứa không may. Chẳng hiểu vì ngã trên thềm nhà hay từ đâu xuống mà thành ra mang tật, ở lưng mọc ra một cái bướu. Các thầy lang đã chạy chữa nhưng không khỏi, thành thử chú bé phải chịu gù cả đời.

Gặp cảnh như vậy, các đứa trẻ khác thường trở nên độc ác, nhưng chú bé này thì không. Chẳng những tính tình vui vẻ mà lại còn luôn luôn là đầu trò trong mọi chuyện, chú là con thứ ba trong nhà vậy mà các anh em rất chịu hỏi và nghe chú:

- Mi-chi-a! Em nghĩ sao? Anh Mi-chi-a, thế này là thế nào?

Cả cha mẹ cũng thường gọi:

- Mi-chi-un-ca! Xem này! Con thấy được chưa?

- Mi-chi-ai-cô, có thấy mẹ xếp cái guồng đánh sợi vào đâu không?

Mi-chi-un-ca còn có tài thổi tù và y như cha hồi còn trẻ. Chú làm lấy một chiếc kèn và dường như nó tự ca hát khi nằm trong tay chú.

Đa-ni-lô kiếm được kha nhiều tiền bằng nghề đánh đá, Kachia cũng chẳng chịu ngồi không, cho nên gia đình ngày càng khấm khá, không đến nỗi phải vay mượn hàng xóm. Quần áo của các con cũng được Kachia lo lắng chu đáo, đứa nào cũng tươn tất, đủ cả giầy, mũ lông, áo ấm. Mùa hè thì tất nhiên là đi tất cũng xong, da chân của mình mà, đâu có mất tiền mua. Riêng Mi-chi-un-ca là đứa bị thiệt thòi nhiều nhất nên được thêm đôi ủng da. Các anh trai của chú không lấy thế làm ghen tức, còn mấy đứa em thì nhắc mẹ:

- Mẹ ơi, có lẽ phải sắm cho anh Mi-chi-a đôi ủng mới thôi. Xem kìa, anh ấy xỏ không được nữa rồi, còn chân con thì vừa như in.

Mấy đứa trẻ láu lỉnh chỉ mong làm sao được thừa hưởng đôi ủng của anh. Cứ như vậy, cuộc sống trong gia đình trôi đi êm ả, hoà thuận. Hàng xóm cũng phải ngạc nhiên.

- Mấy đứa trẻ nhà Ca-tê-ri-na lạ thật! Chẳng thấy chúng nó cãi lộn nhau bao giờ.

Sở dĩ như vậy là nhờ ở Mi-chi-un-ca. Trong gia đình, chú bé giống như đốm lửa nhỏ trong rừng. Đùa rỡn với người này, an ủi người kia, khuyên giải người nọ.

Đa-ni-lô không chịu cho các con sớm theo nghề của mình. Bác nói:

- Cứ để chúng nó lớn hẳn lên đã. Gì chứ hít bụi đá thì còn kịp chán.

Kachia hoàn toàn đồng ý với chồng – theo học nghề làm đá còn quá sớm đối với lũ trẻ. Hơn thế nữa, bác còn lo đưa chúng đi học cho biết số biết chữ. Khi đó, trường học còn chưa có và mấy đứa lớn được sẫn tới nhà bà giáo làng. Mi-chi-un-ca cũng đi theo. Mấy đứa trẻ nhà Đa-ni-lô đều sáng dạ và được bà giáo khen. Riêng Mi-chi-un-ca thì thật là xuất chúng. Thời ấy, cách dạy dỗ đâu có dễ hiểu như bây giờ, vậy mà chú bé vẫn học rất nhanh. Bà giáo mới vừa nói xong thì chú đã nghĩ ra. Các anh còn đang ghép vần thì chú đã bắt đầu đọc. Bà giáo nhiều lần nói với mọi người:

- Tôi chưa bao giờ có đứa học trò thông minh như vậy.

Nghe thấy thế, cha mẹ Mi-chi-un-ca rất lấy làm hãnh diện và sắm cho chú đôi ủng da mới đẹp hơn. Nhưng chính vì đôi ủng da đó mà cuộc sống gia đình hoàn toàn bị đảo lộn.

Trong năm ấy, tên Chúa đất quay về sống ở làng. Hẳn là hắn đã tiêu xài hết sạch tiền ở Xanh Pê téc bua nên tìm về làng xem có vơ vét thêm được chút nào không. Với nghề nghiệp của dân làng có khó gì đâu mà chẳng tìm ra tiền, chỉ cần khôn khéo một chút là được. Riêng phần bọn quản lý và cai ăn cắp đã bao nhiêu rồi. Nhưng Chúa đất nào có biết chuyện đó.

Một lần, đang đi xe qua đường làng, hắn nhình thấy ba đứa trẻ chơi đùa cạnh một ngôi nhà và cả ba đứa đều đi ủng. Chúa đất vẫy tay gọi chúng lại.

Trước đó, Mi-chi-un-ca chưa bao giờ gặp Chúa đất nhưng chú đoán ra ngay được khi thấy chiếc xe láng bóng với cặp ngựa nòi, người đánh xe mặc đồng phục, còn ngồi trên xe là một người to lớn, mập đến mức không muốn cựa quậy, tay cầm chiếc ba-toong cán bịt vàng gác ngang trên cái bụng đầy mỡ.

Mi-chi-un-ca thấy sờ sợ nhưng vẫn nắm tay hai em trai và dẫn lại gần xe. Tên Chúa đất rít lên bằng giọng khàn khàn:

- Chúng mày con cái nhà ai?

Mi-chi-un-ca bình tĩnh trả lời:

- Chúng cháu là con của bác Đa-ni-lô thợ đá. Cháu là Mi-tơ-ri, còn đây là hai em cháu.

Nghe thấy vậy, mặc Chúa đất sạm hẳn lại, hắn tức giận đến nõi suýt nữa thì nghẹt thở, miệng rên rỉ:

- Ối chao ơi! Thê này thì còn trời đất nào nữa! Ối chao ơi!

Sau đó, lấy lại hơi thở, hắn gầm lên như một con gấu:

- Cái gì đây, hả?

Cây gậy trong tay hắn chỉ thẳng vào chân ba đứa trẻ. Hai đứa bé sợ quá chạy thẳng vào nhà, còn Mi-chi-un-ca đứng ngây ra, không sao hiểu nổi Chúa đất muốn hỏi chú điều gì.

Tên Chúa đất vẫn tiếp tục gào thét như một thằng khùng:

- Cái gì đây?

Mi-chi-un-ca sợ hãi, không biết nghĩ sao, đành nói:

- Đất.

Chúa đất rên lên như bị bóp cổ:

- Ôi … ôi… ôi… Thật đến thế này là cùng! Thật đến thế này là cùng! Ôi…ôi… ôi…

Lúc đó, bác Đa-ni-lô từ trong nhà chạy ra, nhưng Chúa đất không thèm nói nửa lời với bác. Hắn gõ cán ba-toong vào cổ người đánh xe ra lệnh đi về.

Tên Chúa đất vốn là kẻ không bình thường. Từ khi còn trẻ, hắn đã vậy và đến lúc về già lại càng ngớ ngẩn thêm. Hắn có thể làm tình làm tội người ta mà sau đó không giải thích được là hắn muốn gì. Đa-ni-lô và Kachia cũng nghĩ rằng mọi chuyện rồi sẽ qua, có thể hắn sẽ quên ngay mấy đứa trẻ trước khi về tới nhà. Nhưng sự việc đâu có diễn ra như họ mong ước, tên Chúa đất đã không quên mấy đôi ủng của lũ trẻ. Vừa về đến nhà, hắn lập tức cho gọi viên quản lý.

- Mắt mày để đâu, hả? Ông chủ không biết lấy gì để mua guốc đi, còn bọn nông nô thì sắm ủng da cho con cái. Mày để như vậy thì làm quản lý gì?

Viên quản lý phân trần:

- Đội ơn ngài, Đa-ni-lô được làm thợ tự do và mức tô của hắn cũng được ngài cho phép. Hắn nộp rất đầy đủ nên tôi nghĩ là…

- Vậy thì mày đừng nghĩ nữa mà phải giương mắt lên xem bây giờ nó thế nào! Có đời thuở nhà ai lại như vậy không? Tăng tô của nó lên bốn lần.

Sau đó, tên Chúa đất gọi Đa-ni-lô lên và đích thân hắn tuyên bố với bác về mức tô mới. Thấy chuyện vô lý, Đa-ni-lô nói:

- Tôi không thể làm trái lời ông chủ, nhưng cũng không đóng nổi số tô như thế. Thôi thì tôi đành trở lại làm việc theo lệnh ông chủ như mọi người vậy.

Đây là điều tên Chúa đất hoàn toàn không muốn. Làm thêm đồ bằng đá làm gì khi hắn đang thiếu tiền đến mức sẵn sàng bán cả những thứ còn lại trong nhà từ những năm trước. Bắt người thợ đá làm việc khác thì cũng không lợi. Hắn bèn ra sức quát tháo. Đa-ni-lô đã xin hết lời nhưng tên Chúa đất vẫn bắt bác nộp tô gấp đôi, nếu không chịu thì phải xuống mỏ đào đá. Ác đến thế là cùng.

Từ ngày đó, cuộc sống của gia đình bác Đa-ni-lô và Kachia cực nhọc hẳn lên. Ai cũng vất vả, nhưng thương nhất là mấy đứa trẻ còn bé mà đã phải lao động, việc học hành đành bỏ dở dang. Tự cho là mình có lỗi nặng nhất, Mi-chi-un-ca lăn ra làm việc giúp đỡ cha mẹ. Vợ chồng bác Đa-ni-lô và Kachia rất đỗi băn khoăn:

“Thằng bé vốn đã yếu ớt, giờ mà để cho làm đá thì chắc nó không sống nổi mất. Việc nào cũng hại cả. Nếu keo dán thì phải hít bụi nhựa thông, đập đá dăm thì coi chừng mù mắt, hoà thiếc bằng axít để đánh bóng thì chết sặc vì hơi độc”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên:
BelayaZima (09-04-2011), phuongdung118 (14-04-2011), Siren (10-04-2011), Vania (11-04-2011)
  #27  
Cũ 19-04-2011, 19:53
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 5. Nhành quả mỏng mảnh (tt)

5. Nhành quả mỏng mảnh (tt)

Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Nghĩ đi nghĩ lại mãi, cuối cùng hai bác quyết định cho Mi-chi-un-ca đi học nghề làm đồ trang sức. Vốn có bàn tay khéo léo và đôi mắt tinh nhanh, lại không cần dùng nhiều sức khoẻ, đó sẽ là nghề thích hợp nhất đối với chú bé.

Bác thợ làm đồ trang sức là người trong họ và rất mừng khi có cậu học trò như Mi-chi-un-ca, bởi bác biết chú bé rất sáng dạ và chăm chỉ. Tuy bác ta là người thợ loại trung bình và chỉ làm được những món đồ loại hai hay loại ba, nhưng Mi-chi-un-ca cũng học được hết tất cả những gì mà bác ta biết làm. Một hôm, bác thợ nói với Đa-ni-lô:

- Phải đưa thằng bé nhà anh ra thành phố cho nó học nghề đến nơi đến chốn đi. Nó có đôi tay khéo léo quá chừng.

Bác Đa-ni-lô đồng ý ngay. Người quen trong nghề đá của bác ở thành phố thì biết bao nhiêu mà kể. Và thế là Mi-chi-un-ca được gởi đến học nghề với một ông thợ già, chuyên làm nhành quả bằng đá. Thôi thì đủ loại: nho, phúc bồn tử, mâm xôi v.v… Mỗi loại quả lại có cách thức riêng. Chẳng hạn như phúc bồn tử đỏ làm từ mã não, phúc bồn tử trắnglàm bạch ngọc, dâu đất làm bằng đá hổ phách, đũm hương thì lấy những loại đá đen nhỏ đính thành chùm…. Tóm lại là quả nào đá ấy. Cành và lá cũng vậy, có cái làm từ ngọc xanh, cái thì từ đá khổng tước, đá vân hoặc những loại đá khác.

Mi-chi-un-ca chẳng những nhanh chóng học hết mọi cách thức mà còn hay sáng chế ra các kiểu mới. Thoạt đầu, ông thầy càu nhàu nhưng sau đó mới bắt đầu khen:

- Ờ, đúng là thế thì cành quả trông tươi hơn.

Một hôm, ông nói thẳng với Mi-chi-un-ca:

- Này, cháu đúng là có khiếu với nghề này, ông già này sắp sửa phải học cháu mất thôi. Cháu thành thợ rồi đấy mà lại còn có cái đầu biết sáng chế nữa.

Ngừng một chút, ông căn dặn:

- Chỉ có cái là đừng để nó đi xa quá! Cái đầu biết sáng chế ấy! Không có lại bị đánh què tay cho mà xem. Có những trường hợp như vậy rồiđấy.

Mi-chi-un-ca còn quá trẻ nên đâu có để tâm tới chuyện đó. Thậm chí còn cười cợt.

- Miễn cái mình sáng chế ra đẹp là được. Ai lại đánh què tay người khác vì cái đẹp bao giờ.

Thế là Mi-chi-un-ca thành thợ, một ông thợ trẻ măng với bộ ria chỉ mọc lún phún. Cậu khỏi phải lo ngồi rỗi vì hàng đặt rất nhiều. Chủ các hiệu bán đồ đá nhanh chóng hiểu rằng cậu là miếng mồi béo bở. Họ thi nhau đặt cậu làm hàng. Thấy vậy Mi-chi-un-ca nghĩ bụng:

“Mình về nhà làm có lẽ hay hơn. Ai cần đến mình thì dù ở nhà họ cũng tìm thấy, đường sá nào có xa xôi gì, mà cũng chẳng phải mang nặng bao nhiêu, đưa nguyên liệu đến rồi đem hàng về là xong”.

Nghĩ sao, làm vậy. Cậu về làng. Mọi người trong nhà tất nhiên đều mừng rỡ. Mi-chi-un-ca ngoài mặt cười đùa cho cả nhà vui nhưng trong lòng buồn rầu khôn tả. Nhà cậu gần như đã biến thành xưởng làm đá. Cha cậu cùng hai anh ngồi bàn máy trong căn buồng nhỏ, mấy đứa em cũng làm việc ngay ở đó, đứa cưa đá, đứa đánh bóng. Trên tay mẹ là đứa em gái vừa đầy năm mà mọi người mong đợi đã lâu, vậy mà không khí trong nhà thật ảm đạm. Trông cha giống như một ông già, hai anh trai bắt đầu húng hắng ho, mấy đứa em cũng chẳng khá hơn. Mọi người làm việc không ngơi tay nhưng chỉ đủ để nộp tô cho Chúa đất.

Nhìn cảnh ấy, Mi-chi-un-ca lại tự trách mình rằng chỉ vì cậu không khéo với mấy đôi ủng khi trước mà giờ đây nên nông nỗi này. Nhưng tự dằn vặt mãi cũng chẳng được gì, cậu quay sang sắp xếp công việc. Ở ngoài, nhìn vào tưởng chừng đơn giản, vậy mà cũng cần không ít dụng cụ. Toàn là những thứ lặt vặt nhưng cũng phải thu xếp chỗ cho chúng.

Cậu lựa cho mình chỗ ngồi sau cửa sổ và lao vào làm việc nhưng đầu không ngừng nghĩ ngợi:

“Làm sao dùng được đá ở ngay đây để làm các cành quả nhỉ? Khi đó hẳn có thể đưa mấy đứa nhỏ sang làm nghề này được".

Cậu suy nghĩ rất lâu nhưng không tìm ra cách nào cả. Ở Pô-lê-ja-va thường chí có đá khổng tước và đá ô liu. Đá ô liu cũng không phải dễ kiếm, hơn nữa lại không hợp. Dùng đá khổng tước thì chỉ làm được lá, mà đâu phải xong ngay, còn cần phải bọc thêm vành hoặc dán.

Một hôm, cậu ngồi làm việc bên bàn máy. Lúc ấy là mùa hè nên cửa sổ trước mặt mở toang. Ngoài cậu, trong phòng chẳng có một ai. Mẹ có việc phải đi đâu đó, mấy đứa nhỏ chạy chơi hết, còn cha và hai anh ngồi trong buồng lặng lẽ làm việc. Ai mà chẳng biết, là khi ngồi mài đá khổng tước thì chẳng những nói chuyện cũng không muốn chứ đừng nói đến ca hát.

Ngồi mài các trái quả của mình bằng nguyên liệu do lái buôn đem tới, Mi-chi-un-ca lại trở về với ý nghĩ hôm trước.

“Dùng thứ gì trong số các loại đá dễ kiếm ở đây để làm được những vật như thế này bây giờ?”.

Đột nhiên một bàn tay, không hiểu tay đàn bà hay con gái – có đeo nhẫn và đi găng – thò qua cửa sổ và đặt thẳng lên bàn máy của Mi-chi-un-ca một tấm đá da rắn khá lớn và nằm trên nó, hệt như trên chiếc khay, là một miếng xỉ từ các lò luyện đồng trong vùng mà mọi người thường dùng đề trải đường.

Thò đầu qua cửa sổ Mi-chi-un-ca không thấy một ai. Đường làng vắng tanh, chẳng có gì chứng tỏ có người vừa đi qua. Thế này là thế nào? Ai đó muốn đùa cợt hay là cậu mê ngủ. Ngoảnh nhìn tấm đá da rắn với miếng xỉ đồng, Mi-chi-un-ca suýt nữa nhảy dựng lên vì vui sướng. Thứ nguyên liệu này có đem xe mà chở cũng không hết, nhưng nếu khéo chọn và chịu tốn công thì có thể làm các cành quả được. Có điều là làm loại nào?

Cậu bắt đầu nghĩ xem thứ quả nào thích hợp hơn cả và bất giác đưa mắt về chỗ bàn tay khi nãy. Bàn tay ấy lại đột ngột xuất hiện, đặt lên bàn một chiếc lá ngưu bàng lớn, bên trên là ba nhành quả: Dã anh, anh đào và nhành lý gai chín mọng.

Không nén được nữa, Mi-chi-un-ca chạy vọt ra đường làng xem ai đùa giỡn cậu như vậy. Cậu nhìn quanh nhưng chẳng hề nhìn thấy một ai, không gian vắng lặng tưởng chừng như mọi vật đều ngừng thở. Trời đang trưa, giữa lúc nóng nhất, ai dại gì mà ra đường vào bây giờ.

Đứng một hồi, cậu tiến lại cửa sổ, cầm chiếc lá với mấy nhành quả lên ngắm nghía. Quả thật hẳn hoi, vẫn còn tươi, nhưng đáng ngạc nhiên nhất là nhành anh đào. Dã anh thì hiểu rồi, lý gai mọc khá nhiều trong vườn nhà Chúa đất, nhưng còn anh đào thì ở đâu ra? Trong vùng đâu có thứ anh đào này, vậy mà nhành quả trông như vừa mới hái trên cây xuống.

Mi-chi-un-ca ngắm nhành anh đào hồi lâu, nhưng cậu vẫn thích chùm lý gai, hơn nữa, nó lại rất thích hợp với nguyên liệu. Cậu vừa mới nghĩ tới đây thì bàn tay nọ lại vuốt nhẹ lên vai cậu và bên tai có tiếng thì thầm:

“Giỏi lắm! Cậu hiểu nghề đấy!”

Giờ thì người mù cũng rõ dó là tay ai. Lớn lên ở làng Pô-lê-va-ja, biết bao lần Mi-chi-un-ca nghe kể về Bà Chủ Núi. Cậu thầm mong bà hiện lên, nhưng chẳng thấy ai cả. Có lẽ vì thương hại chàng gù, không muốn làm cậu mất hồn vì sắc đẹp cùa mình nên Bà Chủ Núi đã không hiện lên.

Mi-chi-un-ca lật đi lật lại tấm đá da rắn và miếng xỉ đồng. Cậu chọn rất kỹ và bắt tay vào làm. Mồ hôi ướt đẫm trán. Đầu tiên cậu mài riêng từng nửa quả một, rồi mới khoét ruột ở giữa. Chỗ thì cậu mài xước thành rãnh, chỗ thì để lại một đường gờ nho nhỏ, cậu dán hai mảnh lại với nhau và mài nhẵn. Trái lý gai chín mọng bóng loáng trông như thật. Cậu dùng đá da rắn mài thật mỏng làm lá. Trên cuống lá lại còn đính thêm mấy cái gai nhỏ xíu. Nhành quả mới đẹp làm sao. Bên trong mỗi trái như có cả hột, cành lá trông cũng rất sống động, thậm chí có cả những khuyết tật nho nhỏ: một lá có lỗ thủng hệt như bị sâu ăn, lá kia có những vết màu vàng úa ngay sát cuống. Thật không khác nhành quả tươi một chút nào.

Cha cậu và các anh tuy làm đồ bằng loại đá khác nhưng cũng hiểu được cái khó của nghề mỹ nghệ. Mẹ cậu cũng đã từng làm đá. Cả nhà nhìn ngắm không chán mắt tác phẩm cảu Mi-chi-un-ca và không ngớt ngạc nhiên, rằng từ thứ đá da rắn tầm thường và xỉ đồng lại có thể làm ra một vật như vậy. Bản thân Mi-chi-un-ca cũng vui sướng khôn tả. Đúng là nghệ thuật. Tất nhiên, phải người sành nghề mới đánh giá hết được.

Từ đó, Mi-chi-un-ca bắt đầu làm đồ từ xỉ đồng và đá da rắn. Cả nhà cũng giúp được cậu khá nhiều. Cánh lái buôn cũng không chê loại hàng mới, họ trả tiền cậu ngang với đồ làm bằng đá quý, còn người mua bao giờ cũng chọn hàng của Mi-chi-un-ca trước vì biết đó là thứ tinh xảo nhất. Mi-chi-un-ca làm không ngơi tay. Cậu làm cả các nhành dã anh, anh đào, cả những chùm lý gai chín mọng. Riêng nhành quả đầu tiên cậu giữ lại không bán. Đã mấy lần cậu tính tặng cho một cô gái nhưng còn do dự.

Các cô gái cũng không quay lưng lại giá cửa sổ nhà Mi-chi-un-ca. Cậu tuy bị gù nhưng lại là một chàng trai vui tính, nghề nghiệp tinh thông, tính tình lại không keo kiệt, cậu sẵn lòng cho các cô từng nắm hột đá để xâu chuỗi hạt. Các cô rất thích đến chỗ cậu. Còn cô gái nọ thường hay kiếm cớ đi ngang qua cửa sổ nơi cậu ngồi làm việc hơn cả, lúc khẽ cười phô hàm răng trắng muốt, lúc vung vẩy bím tóc nặng trĩu. Mi-chi-un-ca muốn tặng nhành quả của mình cho cô nhưng vẫn còn sợ.

“Ngộ nhỡ các cô khác cười cô ấy thì sao, không khéo cô ấy lại giận mình nữa”.

Còn tên Chúa đất, kẻ đã làm cho cả nhà Mi-chi-un-ca điêu đứng, vẫn còn sống trên trái đất để hành hạ mọi người bằng tính điên khùng của hắn. Năm ấy, hắn tính gả con gái cho một vị quận công hay nhà buôn nào đó và ra lệnh chuẩn bị của hồi môn. Nhân dịp đó, tên quản lý ở Pô-lê-va-ja quyết chí tâng công với chủ. Hắn đã được thấy nhành quả của Mi-chi-un-ca và chắc cũng hiểu rằng đó là một vật quý. Hắn sai bọn tay chân đến lấy và dặn:

- Nếu mà nó kh6ong chịu đưa thì cứ việc cướp về đây.

Với bọ đầu trâu mặt ngựa ấy thì việc cướp bóc đâu có gì mới lạ. Chúng mang nhành quả của Mi-chi-un-ca về và tên quản lý đem bỏ vào trong một chiếc hộp lót nhung. Chúa đất vừa về tới Pô-lê-va-ja, tên quản lý liền có mặt lập tức:

- Xin ngài làm ơn nhận cho cô dâu món quà nhỏ này. Đây là vật rất hợp với tiểu thư.

Tên Chúa đất ngắm nghía cành quả. Đầu tiên hắn cũng khen đẹp, sau đó hỏi:

- Nhành quả làm bằng đá gì đây, giá bao nhiêu?

Tên quản lý trả lời:

- Thật đáng ngạc nhiên, nhưng đúng là nó làm bằng thứ vật liệu đơn giản nhất: đá da rắn và xỉ đồng.

Chúa đất suýt nữa thì nghẹt thở:

- Sao? Cái gì? Bằng xỉ à? Để cho con gái ta đeo ư?

Xem chừng không ổn, tên quản lý đổ hết cho người thợ:

- Thật đúng là một thằng đểu, nó dúi của ấy cho tôi và lại còn đòi trừ một phần tiền tô hằng tuần nữa, chứ tự mình thì tôi đâu dám.

Tên Chúa đất rít lên:

- Đem nó lại đây! Đem nó lại đây!

Mi-chi-un-ca bị lôi tới và tên Chúa đất càng điên hơn khi nhận ra cậu.

“À… cái thằng đi ủng đây mà…”.

- Sao mày dám? – Tên Chúa đất hét lên và vác ba-toong xấn lại đánh Mi-chi-un-ca

Thoạt tiên, Mi-chi-un-ca ngỡ ngàng, nhưng rồi cậu hiểu ra ngay và nói thẳng vào mặt tên Chúa đất.

- Đây là tên quản lý cướp giật của tôi. Hắn làm thì cứ để hắn trả lời.

Nhưng Chúa đất đâu có thèm nghe, hắn khăng khăng lặp đi lặp lại:

- Tao sẽ cho mày biết tay… tao sẽ cho mày biết tay…

Thế rồi hắn chụp lấy nhành quả trên bàn, ném mạnh xuống sàn và ra sức dẫm đạp. Nhành quả vụn nát ra thành từng mảnh.

Thấy thế, Mi-chi-un-ca không còn nhớ gì nữa, người cậu thậm chí phát run. Mà cũng phải thôi, ai mà chịu nổi khi thấy vật kỷ niệm quý giá của mình bị dẫm nát một cách điên dại như vậy.

Giật lấy chiếc batoong trong tay Chúa đất, Mi-chi-un-ca phang thẳng cánh cái cán bọc vàng vào trán hắn. Tên Chúa đất từ từ ngã ngồi xuống sàn, mắt trợn ngược chỉ còn thấy lòng trắng.

Quá bất ngờ, tên quản lý và bọn người hầu đứng đầy trong phòng như thể bị hoá đá. Mi-chi-un-ca bước ra khỏi dinh Chúa đất và bỏ đi mất tích. Không ai biết cậu đâu cả, nhưng đồ của cậu thì sau đó vẫn xuất hiện. Ai hiểu nghề mới nhận ra được.

Còn một chi tiết, là cô gái vẫn thường cười với Mi-chi-un-ca trước cửa sổ cũng mất tích luôn. Bọn người của Chúa đất tìm kiếm cô khá lâu. Chắc chúng nghĩ rằng tìm cô sẽ dễ hơn, vì phụ nữ thường không muốn xa quê hương thân thuộc. Chúng ép cha mẹ cô gái chỉ chỗ cô trốn, nhưng chẳng biết thêm gì được mới cả.

Đa-ni-lô và các con tất nhiên cũng bị vạ lây, nhưng chắc chắn Chúa đất không muốn mất khoản tô lớn nên rồi cũng phải để cho bác yên. Chúa đất còn hoành hành được một thời gian nhưng chẳng bao lâu sau cũng chết ngộp vì béo./.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #28  
Cũ 04-05-2011, 21:15
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 6. Chuyện kể về Pô-lô-dơ vĩ đại

6. Chuyện kể về Pô-lô-dơ vĩ đại

Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Trong xóm thợ có một bác mu-gíc. Mọi người gọi bác ta là Lê-vôn-ti. Đó là một con người chuyên cần ít nói. Bác ta làm ở trong mỏ, ở Gumescơ ấy mà, từ khi còn trẻ. Thời trai tráng đã trôi qua dưới lòng đất, cực nhọc chẳng khác một con giun. Thiếu ánh sáng mặt trời, trông bác nhợt nhạt. Ai mà chẳng biết mỏ là như vậy, ẩm ướt, tối tăm, hôi hám. Chàng thanh niên xưa kia, giờ đây chỉ còn da bọc xương. Tên quản lý thấy bác ta chẳng còn có ích gì, bèn làm ra vẻ nhân hậu và chuyển Lê-vôn-ti sang công việc khác, sang Pô-ska-cu-kha, mỏ vàng của Chúa đất. Thế là Lê-vôn-ti trở thành thợ đãi vàng. Nhưng cũng chẳng khá hơn, bác ta đã quá ốm yếu. Ít lâu sau, viên quản lý gọi bác lên và bảo:

- Này, Lê-vôn-ti. Anh là con người cần mẫn, tôi đã nói về anh với ông chủ. Ông ấy đã nghĩ ra cách thưởng công anh. Ông ấy nói: Hãy để cho Lê-vôn-ti được làm viêc tự do, không phải nộp tô, được bao nhiêu cho hết.

Thời ấy, thường là như vậy. Khi anh đã kiệt sức, không còn thiết gì nữa thì người ta để anh được làm công việc tự do.

Vậy là Lê-vôn-ti được tự do làm việc. Riêng phần bác thì chẳng đáng lo mấy, nhưng còn gia đình, phải làm sao kiếm được miếng bánh cho lũ trẻ. Thế nhưng kiếm ở đâu ra khi anh chỉ có hai bàn tay trắng. Lê-vôn-ti nghĩ đi nghĩ lại rồi quyết định đi đãi vàng. Dù sao, đào đất cũng là công việc quen thuộc, dụng cụ cũng chẳng cần bao nhiêu. Chạy vạy ngược xuôi, Lê-vôn-ti cũng kiếm đủ và gọi mấy đứa bé:

- Nào, các con! Đi đãi vàng với cha thôi. Có thể nhờ hạnh phúc của các con mà ta sẽ gặp may và khỏi phải sống bằng của bố thí.

Hai đứa con của Lê-vôn-ti hãy còn nhỏ, chúng mới hơn mười tuổi. Vậy là đoàn người đi tìm vàng lên đường. Người cha chậm chạp lê bước, hai đứa bé líu ríu theo sau.

Hồi đó có tin đồn rằng ở vùng Ri-a-bi-nốp-ca có khá nhiều vàng, và Lê-vôn-ti cũng xin đến đó. Ở văn phòng hồi ấy vấn đề này giải quyết khá đơn giản. Chỉ cần thông báo và nộp vàng là được. Tất nhiên là cũng có chuyện gian lận. Làm sao mà tránh được. Mấy người ở văn phòng để ý xem đám thợ đó đi đâu và theo dõi số vàng nộp về. Hễ thấy ngon ăn là lập tức giành ngay lấy. Họ tuyên bố sẽ khai thác ở đó, và buộc mọi người phải đi chỗ khác rồi giao khu đất ấy cho người quen. Những người thợ tìm vàng cũng chẳng chịu lép, họ chỉ nộp về văn phòng vừa đủ để giữ chỗ, còn phần lớn bán lại cho đám buôn lậu. Lũ người ấy đến đây biết bao nhiêu mà kể. Chúng khôn khéo đến mức không ai phát hiện nổi. Vậy là tất cả đều lao vào vòng lừa đảo. Đám văn phòng muốn lừa thợ, còn thợ thì lừa lại văn phòng. Thế đấy. Còn muốn biết ở đâu có vàng thì phải tự mình dò la lấy.

Tuy nhiên không ai nỡ dấu Lê-vôn-ti cả, ông ấy thì tìm kiếm gì cơ chứ. Thôi thì cứ để ông ta thoả chí trước khi chết.

Lê-vôn-ti đến Ri-a-bi-nốp-ka, chọn một chỗ và bắt tay vào việc. Bụng thì muốn mà sức thì không đủ. Vừa mới đào được mấy nhát đã thở không ra hơi, phải ngồi nghỉ. Hai đứa trẻ cũng hăng hái giúp cha nhưng chúng thì làm được bao nhiêu. Ba cha con ở trong rừng đã hơn một tuần, Lê-vôn-ti thấy rõ là chẳng được mấy, mua bánh mì cũng không đủ. Làm sao bây giờ? Sức khoẻ của bác mỗi ngày mỗi kém, chân tay cất nhắc không nổi nữa, nhưng bác vẫn không muốn bỏ việc để rồi phải đeo bị lên cổ lũ trẻ. Vào thứ bảy, khi quay về văn phòng để nộp chỗ vàng đã đãi được, bác dặn lại hai đứa trẻ:

- Các con ở lại đây giữ đồ nhé, không có lại phải vác đi vác về.

Vậy là hai đứa trẻ ở lại trong chiếc lều cỏ giữa rừng. Một đứa ở lại canh, còn đứa kia chạy ra sông Chu-xô-va cách đó không xa kiếm cá. Nó câu được mấy con cá măng, cá quả đem về. Hai anh em bắt đầu nấu xúp. Trời chập choạng tối, bên đống lửa bập bùng trong khu rừng vắng vẻ, nỗi sợ hãi len dần vào lòng lũ trẻ.

Đột nhiên, chúng thấy một ông già tiến lại. Ông ta cũng là người trong làng và mọi người gọi ông ta là Xê-mi-ô-nứt, còn họ thì không ai nhớ cả. Xê-mi-ô-nứt đã từng đi lính. Người ta kể rằng trước kia ông là người thợ rèn giỏi nhất và nổi tiếng là khoẻ, nhưng do có lần dám cãi lại viên quản lý nên bị hắn sai tay chân đè ra đánh. Xê-mi-ô-nứt đâu có chịu, ông ta đánh ngã được mấy đứa nhưng rồi không địch nổi cả bọn, toàn những đứa chỉ có ăn với đánh người. Chúng quần cho Xê-mi-ô-nứt một trận, rồi đem xung vào lính vì tội làm loạn. Hai mươi lăm năm sau, Xê-mi-ô-nứt quay lại xóm thợ khi đã thành một ông già. Trong thời gian ấy, người thân của ông đã qua đời cả, ngôi nhà bỏ hoang đã mấy năm và làng xóm vừa tính dỡ làm củi thì ông xuất hện. Xê-mi-ô-nứt sửa sang qua loa ngôi nhà và sống ở đó một mình, hầu như không giao thiệp với ai, tối tối mang sách ra đọc. Hàng xóm bắt đầu để ý đến nếp sống lạ lùng của ông. Đầu tiên tưởng ông biết chữa bệnh, họ chạy tới. Xê-mi-ô-nứt từ chối: “Tôi không biết chữa bệnh, mà chữa sao được cơ chứ, nếu như nghề nghiệp của các anh như vậy”. Rồi họ nghĩ rằng ông nghiên cứu đạo, nhưng cũng không phải. Xê-mi-ô-nứt chỉ đến nhà thờ vào ngày Lễ Phục sinh và Giáng sinh như những người khác, còn ngoài ra không có gì sùng kính hơn người.

Hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác – ông ta không làm việc mà cũng sống được. Tất nhiên, ông ta có một mảnh vườn nhỏ, một khẩu súng thô sơ và một tấm lưới đánh cá. Nhưng chỉ với chừng ấy thứ thì làm sao sống nổi? Mà tiền thì rõ ràng là ông ta có, đôi khi đưa cho người nọ người kia. Đến kiểu cho vay cũng lạ đời, có người van xin hứa trả lãi cao, nhưng một khi ông ta đã nói không cho là không cho. Còn với người khác thì ông ta tự tìm đến và bảo:

- Này, cầm lấy, I-van (hoặc Mi-kha-lô) mà mua con bò nữa, lũ trẻ nhà anh còn nhỏ, mà anh thì rõ là kham không nổi.

Tóm lại, ông là một con người kỳ dị. Mọi người cho là ông ta có đi lại với ma quỷ. Sở dĩ như vậy chủ yếu là vì mấy cuốn sách.

Vậy là Xê-mi-ô-nứt tiến đến, bắt chuyện với hai đứa bé. Chúng mừng rỡ gọi:

- Ông ơi ngồi xuống đây, ăn xúp cá với chúng cháu đi.

Chẳng đợi phải mời lâu, Xê-mi-ô-nứt ngồi xuống, nếm thử món xúp và khen hết lời. Lấy từ trong túi ra một khúc bánh mì còn mềm, ông bẻ thành miếng và để trước mặt lũ trẻ. Hai đứa bé thấy ông già thích món xúp nên cầm bánh ăn chẳng chút ngại ngần, còm Xê-mi-ô-nứt luôn miệng khen rằng lâu lắm chưa được ăn món xúp cá ngon. Chuyện qua chuyện lại, hai đứa bé ăn gần hết chỗ bánh mì của ông già. Còn Xê-mi-ô-nứt vẫn cứ tiếp tục:

- Lâu lắm ta chưa được ăn món xúp ngon như thế này.

Thấy hai đứa trẻ đã no nê, ông già bắt đầu hỏi về công việc của chúng. Hai đứa thi nhau kể chuyện cha chúng bị mất việc ở mỏ như thế nào, làm thợ tự do ra sao và về công việc của ba cha con ở đây. Nghe chuyện, Xê-mi-ô-nứt chỉ lắc đầu và thở dài. Cuối cùng ông hỏi:

- Tất cả đãi được bao nhiêu?

Hai đứa trẻ trả lời:

- Mỗi một muỗng, mà cũng có thể là hơn một chút – cha chúng cháu nói vậy.

Ông già đứng dậy và nói:

- Thôi được rồi, rõ ràng là phải giúp đỡ các cháu. Có điều phải kín miệng đấy. Không một ai được biết cả, nếu không… - Xê-mi-ô-nứt vừa nói vừa nhìn một cách khác thường làm lũ trẻ phát sợ, dường như trước mặt chúng là một người khác hoàn toàn. Sau đó, ông già cười nhạt và nói thêm:

- Hai đứa đợi ông ở bên đống lửa này nhé, ông đi gọi một người, có thể ông ta sẽ giúp đỡ các cháu. Có điều là đừng sợ, nếu không sẽ hỏng hết đấy. Đừng quên nhé.

Nói rồi, ông già bỏ đi vào rừng để hai đứa bé ở lại một mình. Chúng nhìn nhau, không nói được câu nào. Lát sau, thu hết can đảm, thằng anh khẽ nói:

- Này em, để ý nhé, đừng quên là không được sợ đấy. – Nói vậy, nhưng chính nó thì môi xám ngắt và răng va vào nhau lộp cộp.

Mặt trắng bệch, đứa em trả lời:

- Em không sợ đâu.

Hai đứa trẻ ngồi yên chờ đợi. Trời đã tối hẳn và rừng trở nên im ắng, nghe được cả tiếng nước chảy róc rách trên sông Ri-a-bi-nốp-ca. Chúng chờ đã khá lâu mà vẫn không thấy ai và nỗi sợ hãi dần dần tan đi. Hai anh em ném thêm cành khô vào đống lửa. Nhìn những lưỡi lửa vàng reo vui, chúng thấy hết sợ hẳn. Đột nhiên có tiếng người nói chuyện. “Không hiểu ai đi đâu vào giờ này trong rừng”? Mấy đứa trẻ nghĩ bụng và lại co dúm người lại.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #29  
Cũ 18-05-2011, 17:59
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default

6. Chuyện kể về Pô-lô-dơ vĩ đại (tt)

Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Dưới ánh lửa hiện lên hai người. Đi cùng với Xê-mi-ô-nứt là một người lạ mặt ăn mặc rất lạ lùng. Áo khoác ngoài và quần của ông ta đều cùng một màu vàng, giống như màu áo gấm của cha cố, ngang lưng là chiếc đai bằng gấm thêu khá rộng có tua rủ màu xanh. Chiếc mũ trên đầu màu vàng có sọc đỏ ở hai bên, đôi ủng cũng màu đỏ. Mặt ông ta vàng khè, bộ râu quai nón rậm rì xoắn thành những khuyên tròn chặt đến mức có cảm tưởng là không thể tách rời các sợi râu ra khỏi nhau. Mắt ông ta xanh lè như mắt mèo, tuy nhiên, ánh mắt lại rất đôn hậu và dịu dàng. Dù chỉ cao như Xê-mi-ô-nứt và không mập lắm, nhưng ông ta hẳn rất nặng, bởi bàn chân dẫm ở đâu là đất lún thành vết ở đó. Hai đứa bé lấy làm ngạc nhiên, chúng há hốc miệng ra nhìn, quên cả sợ hãi, còn người đàn ông tiếp tục nói với Xê-mi-ô-nứt như người nói đùa:

- Mấy ông thợ đãi vàng tự do đây hả? Tìm được bao nhiêu là lấy bấy nhiêu, khỏi phải nộp cho ai phải không?

Sau đó, ông ta cau mày, quay về phía Xê-mi-ô-nứt như thể muốn bàn bạc:

- Liệu ta có làm hỏng hai đứa trẻ này không?

Xê-mi-ô-nứt phản đối, rằng đây là những đứa trẻ tốt, không phải loại con nhà được nuông chiều, nhưng người kia vẫn khăng khăng:

- Loài người ai mà chẳng như nhau. Khi đang nghèo đói và thiếu thốn thì còn khá, vậy mà hễ cứ nắm được chót đuôi của ta là không hiểu mọi tính tồi tệ ở đâu lập tức hiện ra.

Đứng yên lặng hồi lâu, cuối cùng, ông ta chặt lưỡi:

- Thôi được, ta cứ thử xem. Có thể hai đứa nhỏ sẽ khá hơn. Trông chúng cũng được đấy. Thật đáng tiếc, nếu ta làm hỏng chúng. Phải cái là thằng em môi hơi dày, không khéo lại thành đứa tham lam. Anh phải để ý đến nó mới được, Xê-mi-ô-nứt ạ. Cha chúng thì tôi biết rồi, ông ta không còn sống được bao lâu nữa đâu. Một chân dưới mồ rồi mà vẫn cố gắng tự mình kiếm lấy miếng bánh ăn. Thật là một con người cương trực. Thế nhưng cứ thử làm cho ông ta trở thành giàu có đi – nhất định là hỏng cho mà xem.

Người lạ mặt nói chuyện thản nhiên với Xê-mi-ô-nứt như thể không có hai đứa bé ở bên cạnh. Sau đó, ông ta quay về phía chúng và nói:

- Này các cháu, giờ hãy nhìn cho kỹ nhé. Phải để ý xem dấu chân ta dẫn đi đâu. Cứ đi theo dấu đó mà đào, ở phía trên thôi, chứ đừng đào sâu vô ích.

Nói xong, người lạ mặt thay đổi hình dạng ngay trước mắt hai đứa trẻ. Phần từ đai lưng trở lên biến thành đầu, còn từ đai lưng trở xuống thành cổ. Cái đầu vẫn giống y như trước, nhưng đã trở nên rất to, hai mắt như hai quả trứng ngỗng, còn cái cổ thì trông như cổ rắn. Thế rồi từ dưới đất nhô lên thân hình của một con rắn khổng lồ. Đầu con rắn từ từ vươn lên cao quá ngọn cây rừng, sau đó, thân rắn uốn vồng lên, lướt trên mặt đất thẳng vào đống lửa. Con vật kỳ dị ấy bò về phía sông Ri-a-bi-nốp-ca, và từ dưới đất bắt đầu hiện lên hết khuyên tròn này đến khuyên tròn khác, tưởng như không bao giờ hết. Điều lạ lùng là tuy đống lửa đã tắt, nhưng khoảng rừng trở nên còn sáng hơn. Có cái là ánh sáng ấy không ấm như ánh mặt trời mà dường như nó mang theo hơi lạnh. Con rắn bò đến sông Ri-a-bi-nốp-ca, trườn xuống dưới nước và nước ở cả hai bên bờ lập tức đóng thành bằng. Con rắn bò qua bên kia sông, dừng lại ở cây bạch dương cổ thụ mọc sát bờ và kêu lớn:

- Thấy rõ chưa? Cứ đây mà đào. Đủ cho cả cuộc đời côi cút của hai đứa. Mà đừng có tham đấy.

Tiếng nói còn vang trong không gian mà người thì đã biến mất tự bao giờ. Nước sông Ri-a-bi-nốp-ca lại chảy rì rào, đống lửa lụi lúc nãy lại cháy sáng trở lại, chỉ có đám cỏ vẫn còn nằm ẹp xuống như thể gặp cái lạnh đầu đông. Xê-mi-ô-nứt giải thích cho hai đứa trẻ:

- Đó là Pô-lô-dơ vĩ đại đấy. Tất cả vàng trong lòng đất đều thuộc về ông ta. Ông ta đi đến đâu là vàng chạy đến đó. Ông ta có thể đi trên mặt đất cũng như dưới lòng đất, cần thế nào thì đi như thế, và muốn vây vùng đất rộng bao nhiêu cũng được. Vì vậy, nên có trường hợp, khi người ta tìm thấy một mạch vàng mà lại xảy ra vụ lừa đảo, đánh nhau hay thậm chí giết nhau để tranh giành thì mạch vàng ấy sẽ biến mất. Như thế là Pô-lô-dơ đã đến đó và đưa vàng đi chỗ khác. Hay còn có trường hợp như thế này: Những người đi đãi vàng tìm được một khu đất tốt, thả sức mà đãi vàng cát. Nhưng khi văn phòng tuyên bố đuổi mọi người đi để tự khai thác, đưa máy và thợ tới thì lại chẳng thấy vàng đâu cả. Đào rộng mấy, sâu mấy cũng không có, như thể xưa nay ở đó chưa từng có vàng. Sở dĩ như thế là vì Pô-lô-dơ đã vây cả vùng đất lại, một đêm bào đó ông ta tới nằm ở đấy và thu hết vàng vào những khuyên tròn trong bộ râu của mình. Cứ việc đi mà tìm xem ông ta đã nằm ở đâu.

Ông ấy không thích để vì vàng mà xảy ra chuyện lừa đảo, gian dối, nhất là khi người này tranh với người khác. Còn nếu để kiếm sống thì không sao, có khi ông ta còn giúp cho nữa, như các cháu đây chẳng hạn, nhưng nhớ không được nói với ai về chuyện này đấy, không có là hỏng hết… Mà cũng đừng có lấy nhiều vàng quá. Pô-lô-dơ chỉ chỗ có vàng không phải để cho những kẻ tham lam đâu. Có nhớ ông ấy nói gì không? Đây là điều dứt khoát không được quên. Còn bây giờ thì đi ngủ đi, ông ngồi canh lửa cho.

Hai anh em vâng lời đi vào trong lều và lập tức ngủ say như chết. Sáng hôm sau chúng thức dậy khá muộn, nhữngngười đãi vàng khác đã đi làm từ bao giờ rồi. Hai đứa nhìn nhau, rồi một đứa hỏi:

- Hôm qua em có thấy gì không?

Đứa kia hỏi lại:

- Thế còn anh?

Cuối cùng, chúng cũng thoả thuận được với nhau. Hai đứa thề nguyền đủ điều, rằng sẽ không nói và kể với ai, rằng sẽ không tham lam và bắt đầu lựa chỗ đào đất. Ở đây, ý kiến của hai đứa lại bất đồng. Thằng anh nói:

- Phải bắt đầu ở cây bạch dương ở bên kia sông Ri-a-bi-nốp-ca kia, chỗ mà Pô-lô-dơ nói câu cuối cùng ấy chứ.

Đứa em thuyết phục:

- Thế không được anh ạ. Sẽ lộ bí mật ngay mất, bởi vì những người khác sẽ chạy lại xem cát ở bên kia sông Ri-a-bi-nốp-ca ra sao. Mà như thế thì vở lở hết.

Hai đứa tranh cãi hồi lâu và cùng tiếc không có ông già Xê-mi-ô-nứt để hỏi ý kiến. Đột nhiên chúng thấy một cành bạch dương cắm ngay giữa đống lửa hôm trước. “Chắc đây là ông Xê-mi-ô-nứt để dấu cho mình”, - hai đứa nghĩ bụng và bắt tay vào đào ngay ở đó.

Xẻng đất đầu tiên vừa lật lên đã thấy ngay hai cục vàng lóng lánh, cát cũng khác hẳn mấy hôm trước. Công việc của hai đứa mở đầu thuận lợi như vậy đấy. Tất nhiên, sau đó còn có nhiều việc nữa xảy ra, nhưng đấy lại sẽ là một câu chuyện khác rồi./.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #30  
Cũ 13-06-2011, 19:02
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 7. Nàng tiên lửa nhảy múa

7. Nàng tiên lửa nhảy múa

Người dịch: Nguyễn Kiên Trung
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Có một lần, những người thợ mỏ ngồi quanh đống lửa trong rừng. Trong số họ có bốn người lớn. Người thứ năm là một cậu bé tám tuổi tên là Phê-đi-a. Đến lúc đi ngủ đã lâu mà cuộc nói chuyện vẫn chưa kết thúc. Trong nhóm có một ông lão tên là E-phim. Hồi trẻ lão đã đào được một hột lúa vàng dưới đất. Lão đã từng trải mọi chuyện. Bây giờ lão ngồi kể chuyện còn những người khác ngồi nghe.

Không biết đã mấy lần, người cha nói với Phê-đi-a:

- Này Phê-đi-ska, đi ngủ đi!

Phê-đi-a còn muốn nghe nữa:

- Cho con ngồi thêm một tí nữa, cha!

Rồi cuối cùng lão E-phim cũng hết chuyện. Trên đống lửa chỉ còn than hồng. Mọi người còn mỗi một việc là nhìn vào đống than.

Bỗng nhiên từ giữa đống than có một cô gái bé xuất hiện, nhìn giống con búp bê biết cử động. Mái tóc màu hung, áo xanh lơ, trong tay cầm một cái khăn cũng màu xanh lơ. Cô gái ngước cặp mắt vui vẻ, hàm răng óng ánh, vẫy khăn tay và bắt đầu nhảy múa. Cô múa đẹp đến mê hồn. Mấy lão già ngồi chết lặng, như sợ bị cô gái thu hết cả hồn vía.

Lúc đầu cô gái nhảy vòng trên đống than, sau đó hình như thấy chật, cô tiến dần ra, các lão cũng lùi ra nhường chỗ cho cô gái. Cứ mỗi vòng nhảy thì hình như cô gái lại lớn thêm một ít. Các lão lùi ra mãi, còn cô gái thì càng nhảy càng lớn. Khi mọi người đã lùi ra rất xa, cô gái bắt đầu nhảy theo đường chữ chi bao lấy họ tạo thành những đường vòng, sau đó cô vượt ra ngoài vòng người và đã lớn khoảng bằng Phê-đi-a. Cô dừng lại bên một cây thông già vừa dậm chân vừa tươi cười vung khăn và huýt sáo.

- Phít….i…. u

Ngay lúc đó một con cú cất tiếng kêu và cô gái biến mất.

Nếu chỉ có mấy lão thợ mỏ ngồi thì chẳng có chuyện gì xảy ra. Chắc ai cũng nghĩ rằng nhìn mãi vào than hồng loá mắt mới thấy những điều đó. Chỉ có một mình Phê-đi-a không nghĩ thế, nó hỏi cha:

- Cha ơi, ai đấy?

Người cha trả lời:

- Con cú chứ còn ai nữa. Con không nghe thấy nó vừa kêu à?

- Con không nói con cú! Cú con còn lạ gì, con không sợ. Cha nói về cô gái vừa rồi ấy.

- Cô gái nào?

- Cái cô gái nhảy trên than ấy. Cha và các bác vừa lùi ra để cho cô ấy nhảy đấy!

Đến đây người cha và mấy lão thợ bắt đầu tra hỏi xem Phê-đi-a thấy những gì. Thằng bé kể hết. Một lão thợ còn hỏi thêm:

- Nào, thế cháu thấy cô ta cao bao nhiêu?

- Lúc đầu chỉ lọt thỏm trong bàn tay cháu, nhưng sau cùng thì gần bằng cháu.

Lúc đó một lão thợ nói:

- Này cháu Phê-đi-a, chính bác cũng trông thấy hệt như thế.

Cha Phê-đi-a và một lão thợ nữa cũng nói như vậy. Một mình lão E-phim vừa ngậm tẩu thuốc, vừa im lặng, lúc đó mọi người xán đến lão và hỏi:

- Còn lão, lão E-phim, lão nhìn thấy cái gì?

- Lão cũng nhìn thấy y như thế, nhưng cứ nghĩ là bị hoa mắt. Thế hoá ra là nàng tiên lửa có thật.

- Nàng tiên lửa nào?

Lúc đó lão E-phim mới bắt đầu giải thích:

- Theo người già kể lại thì cô gái bé nhỏ nhảy là dấu hiệu có vàng, nó nhảy ở đâu thì có vàng ở đó. Tuy không nhiều, nhưng mà tốt và không thành từng vỉa mà giống như củ cải vùi trong đất. Lúc đầu nó nhảy thành vòng hẹp, sau rộng dần và biến mất. Đào chỗ đó lên thì có vàng, nhưng mà lão quên không biết đào ở đâu. Ở chỗ nó hiện lên hay chỗ nó biến mất?

Các lão thợ mỏ đều đồng thanh nói:

- Thế thì ăn rồi. Sáng mai sẽ đào ở chỗ đống lửa trước. Sau đó sẽ đào ở chỗ cây thông. Lúc đó sẽ biết ngay chuyện bịa hay có vàng thật.

Tối đó mọi người ngủ bình thường, riêng Phê-đi-a nằm quay ra một bên và nghĩ: “Không biết tại sao con cú lại cười?”. Nó muốn hỏi ông E-phim, nhưng ông lão đã ngáy khò khò.

Sáng hôm sau, Phê-đi-a dậy muộn và nó thấy chỗ đống lửa hôm qua là một đống lửa lớn. Còn bốn ông lão thì đứng cạnh bốn cây thông, ông nào cũng nói là cô bé đó biến mất đúng ở chỗ này. Phê-đi-a hét lên:

- Này các bạn, các bạn quên rồi hay sao? Nàng tiên múa dừng lại ở chỗ cây thông này. Cô ấy giậm chân ở đây này.

Các ông lão bắt đầu nghi ngờ.

- Thằng thứ năm dậy lại chỉ đến chỗ thứ năm. Nếu có mười thằng chắc chỉ đến mười chỗ. Chắc là chuyện phiếm thôi, chẳng được gì đâu.

Nhưng cuối cùng họ cũng đào cả năm chỗ. Đúng là không được gì thật.

Lúc đó lão E-phim nói với Phê-đi-a:

- Điềm may mắn của cháu chỉ là ảo ảnh thôi.

Phê-đi-a không tin như thế và nó nói:

- Ông ạ, chắc là do con cú nó phá đấy. Nó thổi cái may mắn của chúng ta lên rồi nó lại dẹp đi.

Lão E-phim vẫn khăng khăng:

- Con cú thì dính dáng gì đến chuyện này!

- Thế mà là nó đấy! Đúng là nó đấy!

Cứ thế, họ đôi co mãi. Còn các lão khác vừa nhìn họ vừa cười:

- Cả ông già lẫn thằng bé đều không biết gì. Chúng mình ngu đi nghe họ. Mất cả thì giờ.

Từ đó người ta gọi ông già là ông “E-phim – Củ cải vàng”, còn thằng bé là “Phê-đi-a – Nàng tiên lửa nhảy múa”. Bọn trẻ ở nhà máy biết chuyện, không cho thằng bé được yên. Cứ nhìn thấy nó ngoài đường là chúng lại la lên:

- Phê-đi-a – Nàng tiên lửa nhảy múa! Phê-đi-a – Nàng tiên lửa nhảy múa! Phê-đi-a – Nàng tiên lửa nhảy múa! Hãy kể chuyện cô gái đi! Hãy kể chuyện cô gái đi!

Ông lão thì chẳng sợ gì cái biệt hiệu đó, gọi ông là cái chậu sành cũng được, miễn đừng bỏ ông vào lò thôi. Còn thằng bé thì bực tức lắm. Nó vừa đánh nhau, vừa chửi rủa, vừa tức giận, nhưng bọn trẻ càng trêu chọc nhiều hơn. Thà đừng đi về nhà còn hơn. Ở nhà còn lắm chuyện nữa. Cha Phê-đi-a lấy vợ hai, mà dì ghẻ lại dữ như gấu, làm thằng bé chẳng thích thú gì ở nhà. Còn lão E-phim thì thường ở lại mỏ và ít khi về nhà. Tuổi già sức yếu, hơn nữa không còn ai để mà về, ông lão sống một mình.

May có một lần, vào ngày thứ bảy, các lão thợ mỏ về hết, chỉ còn lão E-phim và thằng bé Phê-đi-a ở lại mỏ. Làm gì cho hết thì giờ? Họ nói hết chuyện này đến chuyện khác. Lão E-phim kể những gì lão từng nghe, từng thấy, dạy cho Phê-đi-a cách tìm vàng và cũng có lúc nhắc lại chuyện nàng tiên lửa nhảy múa. Họ nói chuyện rất vui vẻ. Chỉ có một điểm bất đồng là Phê-đi-a thì nói con cú là cái điềm không may cho lần đó còn lão E-phim thì nói hoàn toàn không phải vậy. Và thế là cãi nhau. Họi đôi co cho đến khi mặt trời sắp lặn. Cạnh lều có đống lửa để đuổi muỗi, lửa ít mà khói thì nhiều. Họ nhìn vào đó và thấy trong khói một cô gái giống như lần trước. Chỉ có cái áo và khăn quàng màu thẫm hơn. Cô gái mắt long lanh, hai hàm răng óng ánh, vẫy khăn, giậm chân và bắt đầu nhảy. Lúc đầu nhảy vòng nhỏ, sau vòng càng lớn và cô gái càng lớn dần lên. Cái lều nằm đó, nhưng không cản bước chân cô. Cô quay vòng coi như không có cái lều ở đó. Cô gái nhảy đến khi lớn bằng Phê-đi-a thì dừng lại ở cây thông lớn. Cô cười, giậm chân, vẫy tay và huýt sáo:

- Phít-i-u.

Ngay lúc đó có tiếng cú kêu lên. Lão E-phim hết sức ngạc nhiên:

- Cú ở đâu ra nhỉ? Mặt trời còn chưa lặn kia mà?

- Ông thấy chưa! Con cú lại phá sự may mắn của mình rồi. Cô gái biến mất có khi là vì sợ con cú đấy!

- Thế cháu vừa nhìn thấy cô gái đó hả?

- Vậy ông không nhìn thấy cô ấy sao?

Họ lại bắt đầu truy nhau xem ai nhìn thấy cái gì. Mọi chi tiết đều khớp, chỉ trừ chỗ cô gái biến mất thì mỗi người chỉ một nơi. Cũng giống như lần trước, lão E-phim thở dài ngao ngán:

- Hà hà! Chẳng có quái gì, toàn chuyện mình tưởng tượng ra cả!

Vừa nói xong thì từ đám cỏ trong lều, khói bốc ra mù mịt. Các dây sao bắt đầu bén lửa. Nhưng may là nước ở gần. Họ vội tưới và cứu được tất cả. Chỉ có đôi găng tay của ông lão bị cháy. Phê-đi-a giật lấy đôi găng tay và thấy những lỗ cháy trên đó, giống hệt như những bước chân nhỏ.

Nó đưa ông lão xem và nói:

- Thế theo ông cái này cũng là tưởng tượng à?

Ông lão không cãi được nữa, đành phải công nhận:

- Cháu nói phải đấy, Phê-đi-a ạ. Đúng là có nàng tiên lửa thật. Ngày mai chắc mình phải đào bới để tìm hạnh phúc thôi.

Chủ nhật, họ bắt đầu đào từ sáng sớm. Đào ba hố mà chưa tìm thấy gì, lão E-phim bắt đầu chán:

- Người ta cười vào việc làm của mình đấy.

Phê-đi-a thì lại đổ tội cho con cú:

- Chắc lại do nó thôi. Nó phá cái may mắn của mình. Nếu có gậy thì nhất định cháu sẽ phang cho nó một cái.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #31  
Cũ 19-06-2011, 08:17
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default

7. Nàng tiên lửa nhảy múa (tt)

Người dịch: Nguyễn Kiên Trung
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Sáng thứ hai, các lão thợ mỏ trở lại thấy bên lều vết đào bới còn mới nguyên. Họ đoán ngay ra việc gì đã xảy ra. Họ cười ông lão và nói:

- Củ cải lại đi tìm củ cải…

Sau đó thấy trong lều bị cháy, họ bắt đầu trách mắng cả hai người. Cha Phê-đi-a tức giận, định đánh cậu bé, nhưng lão E-phim đã bảo vệ nó:

- Ông không biết ngượng khi đánh trẻ con à? Chả cần đánh nó cũng sợ không dám về nhà rồi. Làm thằng bé khiếp vía kinh hồn mà nó có lỗi gì đâu? Tôi ở lại đây thì có gì phải hỏi tôi, nếu ông thấy có gì thua thiệt. Chắc tro từ tẩu thuốc rơi ra bén lửa, rồi cháy, thế thôi. Tôi làm tôi chịu…

Nói với cha Phê-đi-a xong, ông lão quay sang nói với cậu bé như không có ai bên cạnh:

- Ôi, Phê-đi-a, Phê-đi-a! Con bé nó chọc mình đấy. Lần sau mà thấy thì phải nhổ nước bọt vào mặt nó. Cho chừa cái thói trêu chọc mọi gnười.

Phê-đi-a vẫn khăng khăng:

- Không phải đâu ông ạ. Cô ta không muốn điều ác, chỉ tại con cú thôi.

- Tuỳ cháu, nhưng lần sau thì ông không đào bới nữa đâu. Đùa thế là đủ rồi. Chẳng còn trẻ trung gì mà đi theo nàng tiên lửa.

Ông già thất vọng, còn Phê-đi-a thì vẫn thương nàng tiên lửa nhảy múa.

- Ông ạ, đừng giận cô ấy làm gì. Ông không thấy cô ấy xinh đẹp và vui thế nào à? Nếu không có con cú chắc cô ấy đã đem lại may mắn cho mình rồi.

Lão E-phim không muốn nói về con cú, còn nàng tiên lửa thì ông chưa thể quên được.

- Cô ta đem lại cho cháu may mắn thế đấy. Thà đừng đi về nhà còn hơn.

Ông già nói sao thì nói, Phê-đi-a vẫn bướng bỉnh:

- Ông thấy cô ta múa mới đẹp làm sao chứ.

- Đẹp thật đấy, nhưng mình thì được gì nào? Thà chẳng nhìn lại hơn.

- Cháu thì vẫn muốn nhìn. Thế nếu cô gái nhảy thì ông quay đi à?

- Sao lại quay đi? – Ông lão thì thào và lại bắt đầu nhiếc Phê-đi-a:

- Ôi, sao mà cháu bướng bỉnh thế! Biết cái gì là tin riệt lấy. Cháu có thấy ông không? Cả đời tìm kiếm, săn đuổi may mắn mà có thấy gì đâu?

- Không thấy là thế nào? Mình chẳng vừa mới thấy rành rành ra đấy là gì?

- Cháu muốn sao thì muốn, ông không theo được đâu. Chạy nhiều mỏi chân rồi.

Tuy tranh cãi nhưng tình cảm của hai ông cháu vẫn mặn mà. Khi làm việc lão E-phim vẫn theo dõi, chỉ bảo Phê-đi-a. Khi rảnh rỗi, lão vẫn kể đủ thứ chuyện. Nghĩa là lão dạy Phê-đi-a cách sống thế nào cho phải. Những ngày hạnh phúc nhất là những ngày chỉ có hai ông cháu ở lại mỏ.

Mùa đông đã đuổi các thợ mỏ về nhà. Họ đi kiếm việc khắp nơi, chỉ trừ Phê-đi-a vì nhỏ tuổi nên phải ở nhà. Nhưng nó không muốn ở nhà. Ở nhà còn cực hơn vì bố nó bị tai nạn lao động, phải đưa vào viện, nửa sống nửa chết. Dì ghẻ thì ngày càng ác. Phê-đi-a chịu mãi không được nên đã phản ứng:

- Thôi được, con đến sống với ông E-phim!

Sống với ai, dì ghẻ có cần gì biết. Bà ta nói:

- Đi đâu thì đi! Đi với nàng tiên lửa của mày cũng được!

Phê-đi-a mặc quần, áo lông vào. Nó muốn lấy cái mũ của bố mà dì ghẻ không cho nên nó phải đội cái mũ đã quá chật của mình và đi. Ra tới ngoài đường, bọn trẻ xúm ngay lại và chọc nó:

- Phê-đi-a - Nàng tiên lửa! Phê-đi-a - Nàng tiên lửa! Hãy kể về cô ta đi!

Phê-đi-a vẫn lầm lũi đi, nó cằn nhằn:

- Thật đúng là tụi mày không biết nghĩ gì!

Bọn trẻ đã thấy ngượng, chúng bắt đầu hỏi Phê-đi-a một cách đứng đắn:

- Cậu đi đâu đấy?

- Đến ông E-phim.

- Chỗ củ cải vàng ấy à?

- Ai muốn củ cải thì tới đó. Tao đến chỗ ông E-phim!

- Xa lắm, có khi bị lạc đường đấy!

- Xê ra, tao biết đường!

- Không khéo thì cậu bị chết cóng mất. Trời lạnh thế mà cậu thì không có găng tay.

- Không có găng nhưng có tay áo. Cho tay vào tay áo là xong. Thế mà cũng không nghĩ ra.

Bọn trẻ thấy Phê-đi-a nói đàng hoàng nên cũng hỏi đứng đắn:

- Phê-đi-a này, có đúng cậu thấy cô gái trong lửa không?

- Cả trong lửa, cả trong khói, có khi thấy ở chỗ khác nữa. Nhưng thôi, kể làm gì! – Nó nói và bước nhanh hơn.

Lão E-phim sống ở Kosom Brod hoặc ga gì đó. Người ta nói ông lão ở cái nhà nhỏ ngay đầu đường, trước cửa sổ có một cây thông. Còn xa quá, mà trời thì lạnh, lại đang giữa mùa đông. Cuối cùng rồi cũng tới. Chỉ còn việc gõ cửa nữa thì Phê-đi-a bỗng nghe: “Phít..i..u… Phít..i..u!”

Phê-đi-a quay lại, thấy trên đường tuyết, một gót giày giống như giày của nàng tiên lửa. Nó chạy lại gần để xem thì gót giày lại chạy xa hơn. Phê-đi-a chạy theo mãi, cuối cùng nó tới một nơi xa lạ, xung quanh toàn là rừng rậm. Ở một khoảng trống, có cây bạch dương già như đã chết. Xung quanh nó tuyết dồn thành núi. Góit giày chạy tới đó thì dừng lại và bắt đầu vòng quanh cây bạch dương.

Vì quá ham mê nên Phê-đi-a không để ý tới đường, cứ theo gót giày vào chỗ toàn tuyết. “Chẳng sao, cứ chạy, chẳng lún đâu mà sợ”. – Nó nghĩ thế.

Gót giày chạy, bụi tuyết tung lên, bay cả vào mắt Phê-đi-a. Phê-đi-a giận điên lên. Nhưng đó nó hấy ngay dưới chân có một lỗ tuyết tan đến tận đất và nàng tiên lửa đang đứng ngay dưới đáy lỗ đó, Cô gái nhìn hóm hỉnh và vui cười. Cô vẫy khăn và bắt đầu nhảy. Tuyết từ chân giày cô bay lên. Chỗ nào cô đặt chân xuống là chỗ đó nảy nở cỏ và hoa.

Cô gái nhảy một vòng, Phê-đi-a thấy ấm hơn. Cô càng nới rộng vòng nhảy. Trên cây bạch dương lá rung xào xạc.

Cô gái càng nhảy nhanh hơn và bắt đầu hát:

Tôi thấy ấm hơn

Tôi thấy sáng hơn…

Cô nhảy như gió cuốn, cái khăn căng phồng lên. Khi cô gái đã cao bằng Phê-đi-a thì chỗ truyết tan đã lớn hơn, trên cây bạch dương chim đã hót. Trời bỗng ấm như một ngày hè, mũi Phê-đi-a lấm tấm mồ hôi. Nó bỏ mũ từ lâu và giờ đây muốn cởi luôn cả áo. Lúc đó cô gái nói:

- Cày cậu bạn, hãy giữ lấy hơi ấm. Tốt hơn hết là nghĩ xem cậu sẽ về thế nào.

Phê-đi-a trả lời:

- Tự mời đến thì tự đưa về.

Cô gái cười lớn:

- Khôn gớm! Nếu tôi không muốn thì sao?

- Sẽ đến lúc muốn, tôi sẽ đợi!

Lúc đó cô gái mới nói:

- Thế thì cầm lấy cái xẻng. Nó sẽ sưởi ấm cậu trong tuyết và đưa cậu về nhà.

Phê-đi-a quay lại, thấy bên cạnh cây bạch dương một cái xẻng cũ. Cái xẻng đã rỉ hết và cán đã long ra. Phê-đi-a cầm lấy xẻng và cô gái dặn thêm:

- Này, đừng để rơi đấy, cầm chặt vào. Phải nhìn đường nữa. Cái xẻng không đưa ngược đường đâu. Mùa xuân cậu có đến không?

- Sao lại không? Thế nào mình cũng tới cùng ông E-phim. Mùa xuân là chúng tôi tới ngay. Cậu cũng lại đây nhảy nhé.

- Khi ấy không phải lúc của tôi. Cậu tự nhảy lấy, Còn ông E-phim thì đánh nhịp.

- Việc của cậu là gì? – Phê-đi-a hỏi.

- Không thấy à? Mùa đông thì mua vui cho những người công nhân như cậu, câu tưởng nhẹ nhàng à?

Cô gái quay lại vẫy khăn và huýt sáo:

- Phit..i.u… Phít..i..u…

Cô gái biến mất và chỗ trống cũng không còn. Cây bạch dương thì như chết, Trên ngọn cây có một con cú. Kêu thì nó không kêu, nhưng lúc lắc cái đầu. Bỗng nhiên xung quanh cây bạch dương tuyết dồn thành núi, ngập đến cổ Phê-đi-a. Nó vội hất cái xẻng về phía con cú. Cái cấm áp lúc này có lẽ chỉ còn lại ở cái xẻng. Nó làm ấm tay Phê-đi-a và cả người cũng ấm theo.

Cái xẻng kéo Phê-đi-a và tuyết cũng dạt ra. Lúc đầu Phê-đi-a suýt nữa để tuột cái xẻng, sau đó nó quen dần và mọi việc đều tốt đẹp. Có khi Phê-đi-a đi theo cái xẻng, có khi bị nó kéo đi. Phê-đi-a rất khoan khoái nhưng cũng không quên ngắm đường cho khỏi lạc.

Cái xẻng đưa Phê-đi-a về đến nàh lão E-phim lúc trời gần tối. Sau khi Phê-đi-a kể, ông lão không tin. Lúc đó Phê-đi-a nói:

- Thế thì ông nhìn cái xẻng mà xem, trong xe trượt ấy.

Ông lão E-phim mang cái xẻng vào và thấy bên chỗ rỉ có những cái mầm vàng, tất cả sáu cái.

Lúc đó ông lão mới tin và hỏi:

- Cháu còn nhớ chỗ không?

- Sao lại không? Vì cháu đánh dấu đường rồi!

Ngày hôm sau, ông mượn gậy trượt tuyết của ông bạn thợ săn. Ông đi mãi và rồi cũng đến đúng chỗ. Ông lão rất vui vẻ. Ông bán mấy cái mầm vàng cho một người buôn lạ và cả mùa đông hai ông cháu sống rất đàng hoàng.

Mùa xuân tới, cả hai ông cháu cùng đến chỗ cây bạch dương. Họ đã thấy gì? Ngay từ xẻng đầu tiên đã dính toàn một lớp cát vàng. Ông lão E-phim nhảy lên vì vui sướng.

Họ không giấu nổi của cải. Phê-đi-a thì còn dại mà ông lão thì cũng thật thà.

Dân từ khắp nơi kéo đến. Sau đó tất nhiên là họ bị đuổi hết. Một viên quan nọ tuyên bố đó là khu đất của mình. Không phải ngẫu nhiên mà con cú lại gào thét.

Dù sao thì ông lão E-phim và Phê-đi-a cũng lấy được một ít từ cái lần đầu tiên ấy. Năm năm liền họ sống phong lưu.

Họ lại nhớ Nàng tiên lửa.

- Nếu mà cô ấy lại hiện ra một lần nữa nhỉ!

Nhưng cái đó không bao giờ xảy ra nữa. Còn cái mỏ đó thì bây giờ người ta vẫn gọi là mỏ Nàng tiên./.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Bien (02-07-2011)
  #32  
Cũ 21-07-2011, 12:29
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default

8. Cái Giếng Của Bà Si-Nhiu-Ska

Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Uploaded with ImageShack.us

Hồi đó ở xóm thợ có chàng trai tên là I-li-a. Cậu sống một mình bởi người nhà cậu đều đã qua đời hết. Mỗi người để lại cho cậu một thứ. Cha để lại cho cánh tay rắn chắc và đôi tay vạm vỡ, mẹ cho hàm răng trắng đẹp và cái miệng ăn nói dễ thương, ông nội I-gnát để cho cái xẻng và chiếc búa chim, còn bà nội Lu-kê-ri-a cho cậu một vật kỷ niệm đặc biệt. Đấy chính là vật cần phải kể trước hết.

Bà Lu-kê-ri-a là một con người khôn ngoan. Bà lượm lông chim trên đường làng, tính để dành làm gối cho cháu nội nhưng không kịp. Khi cảm thấy cái chết đã gần kề, bà gọi cháu đến và bảo:

- Này I-liu-sen-ka, cháu nhìn xem, bà nội đã gom góp được bao nhiêu là lông chim đây! Gần một rổ nhé! Mà lông cũng đẹp làm sao, trăm cái như một, đủ mọi màu sắc, chỉ nhìn đã thích rồi! Giữ lấy mà làm kỷ niệm, chúng sẽ có ích cho cháu! Khi nào cháu cưới vợ và cô ấy đem gối về nhà, cháu sẽ không phải ngượng: Gối lông chim đâu có gì lạ đối với tôi, tôi cũng có, mà là của bà nội cho kia. Nhưng cháu đừng có đuổi theo nó làm gì, cái gối lông chim ấy mà! Nếu vợ cháu có gối lông chim mang về thì tốt, mà không có thì cũng đừng buồn. Hãy sống vui vẻ, và làm việc chuyên cần cháu nhé. Nếu có phải ngủ trên đệm rơm cũng chẳng sao, cháu sẽ gặp được những giấc mơ đẹp. Hễ trong đầu không có những ý nghĩ xấu xa thì mọi công việc của cháu sẽ trôi chảy, thuận buồm xuôi gió ngay thôi. Ngày sẽ mang đến cho cháu niềm vui, đêm sẽ vuốt ve âu yếm và mặt trời đỏ sẽ cười với cháu. Còn nếu cháu có ý nghĩ xấu xa thì dù có đập đầu vào gốc cây cũng không sao tìm được hạnh phúc.

- Bà nói về những ý nghĩ xấu xa nào thế, hả bà? – I-li-a hỏi.

- À, đó là về tiền bạc và của cải đấy cháu ạ, - người bà đáp - Không có gì xấu xa hơn chúng đâu. Chúng chỉ làm người ta đau khổ và nhọc công vô ích mà thôi. Sống trong sạch và có lương tâm thì gom góp lông chim làm gối còn khó, chứ đừng nói gì đến chuyện làm giàu.

- Vậy thế còn các kho báu dưới đất thì sao hả bà? Không lẽ bà không tin có người tìm được…

- Tìm được thì tìm được cháu ạ, chỉ có cái là không bền đâu. Tiền của đến rồi lại đi và chỉ làm người ta buồn chán mà thôi. Cháu đừng nghĩ đến điều ấy làm gì cho mệt người! Các cụ nói rằng, trong các kho báu dưới đất thì chỉ có một cái là trong sạch và bền thôi, đó là khi bà Si-nhiu-ska biến thành cô gái đẹp và tự tay tặng báu vật. Mà bà Si-nhiu-ska thì chỉ tặng cho người khôn ngoan, can đảm và thật thà thôi, ngoài ra không cho ai khác. Cháu hãy nhớ lấy, I-liu-sen-ka nhé, đấy là lời dặn cuối cùng của bà.

I-li-a cúi đầu:

- Cám ơn bà đã tặng cho cháu lông chim và những lời khuyên quý giá. Cháu sẽ không bao giờ quên.

Chẳng bao lâu, bà nội Lu-kê-ri-a qua đời… I-li-a chỉ còn lại mỗi một mình, vừa là người lớn, vừa là trẻ con. Các bà già khóc mướn lập tức mò đến, họ tắm rửa, tẩm liệm cho người đã khuất, đưa quan tài ra nghĩa địa. Thật ra, các bà già ấy đi giúp các nhà có đám ma cũng không phải vì quá no đủ nhàn rỗi. Họ xin vật này, ngắm nghía thứ khác trong nhà và chỉ thoáng một cái là đồ đạc của bà nội đã biến hết. Trong lúc I-li-a quanh quẩn với mấy người phu đào huyệt thì nhà cậu đã trống trơn, chỉ có chiếc áo ấm và cái mũ lông trên người là còn. Ai đó đã tham cả lông chim mà bà nội cóp nhặt được. Chiếc rổ đựng lông sạch trơn, chỉ còn dính lại có ba cái, một màu trắng, một màu đen và một màu nâu.

I-li-a tiếc ngẩn ngơ vì đã không giữ được đồ kỷ niệm của bà nội. Cậu nghĩ: “Dù sao cũng phải giữ mấy chiếc lông chim này, không có thì chẳng ra sao cả. Bà đã hết lòng gắng sức mà mình thì lại cứ như người dửng dưng”.

Cậu nhặt sợi chỉ màu lam rơi dưới sàn, buộc chặt ba chiếc lông chim lại và đính lên mụ. Hài lòng, cậu nghĩ:

“Đây đúng là chỗ cho chúng rồi. Hễ đội mũ lên hay bỏ xuống là chúng lại nhắc mình lời dặn của bà. Chắc đó là lời khuyên có ích trong đời, lúc nào cũng phải nhớ mới được”.

Sau đó, I-li-a khoác áo, đội mũ và đi đến mỏ vàng. Cậu chẳng buồn khoá cửa nữa, bởi vì trong nhà đâu còn gì, ngoài chiếc rổ trống rỗng mà có vứt ngoài đường cũng không ai thèm nhặt.

I-li-a lúc đó đã đến tuổi lấy vợ từ lâu và làm ở mở được sáu, bảy năm rồi. Hồi đó còn là thời nông nô nên trẻ em cũng bị bắt làm việc. Có người trước khi lấy vợ đã phải quần quật cho chúa đất hơn cả chục năm. Cả I-li-a cũng có thể nói là lớn lên tại mỏ vàng.

Từ nhà đến mỏ khá xa. Khi đó ở Gre-mi-kha, người ta khai thác mãi tận Hòn Đá Trắng. Đường sá trong vùng, I-li-a thhuộc như lòng bàn tay. Vì thế cậu nghĩ bụng:

“Mình đi tắt qua đầm lầy Diu-đen cho xong. Nắng thế này chắc đất khô và đi qua được. Vậy sẽ đỡ được ba mà có khi là bốn dặm…”.

Nói là làm và I-li-a đi tắt ngang rừng theo lối mà mùa thu, khi đầm lầy đã đông cừng, cận vẫn đi từ mỏ về nhà và từ nhà lên mỏ. Đoạn đầu, cậu đi khá nhanh nhưng sau đó, dần dần nhận thấy thấm mệt và hiểu rằng đã bị lạc đường. Nhảy từ mô đất khô này sang mô đất khô kia thì sao mà giữ đường thẳng được. Anh cần đi một hướng thì mô đất lại chạy theo hướng khác. I-li-a nhảy nhót một hồi, cả người mồ hôi vã ra như tắm và cuối cùng, cậu đến một khu đất trũng. Ở đấy cỏ mọc um tùm, toàn là cỏ vô thương và bạch giới. Hai bên khu đất trũng là những gò nhỏ với mấy cây thông xanh um. Như vậy là đã tới chỗ đất khô, chỉ khổ một nỗi là I-li-a không biết phải đi tiếp về hướng nào. Cậu đã đến đây không biết bao lần mà chưa hề nhìn thấy khu đấttrũng này bao giờ.

I-li-a đánh liều đi theo khe trũng chạy giữa dãy gò đất. Đi được một lát, bỗng cậu bắt gặp một vũng tròn như ô cửa sổ, nước trong vắt như nước mạch, có điều là không thấy đáy đâu cả. Vũng nước trông khá sạch, tuy có màng nhện màu lam giăng bên trên và ở giữa là một con nhện cũng màu lam.

Đang khát, I-li-a mừng rỡ tiến lại gạt bỏ màng nhện và cúi xuống định uống thì bỗng cảm thấy đầu óc chao đảo, suýt nữa ngã nhào xuốngnước và tự nhiên cậu thấy buồn ngủ ghê gớm.

“Đầm lầy làm mình mệt mỏi quá rồi – cậu nghĩ – phải nghỉ một lát thôi”.

Cậu muốn đứng dậy nhưng không nổi, tuy thế vẫn cố bò được một đoạn về phía gò đất rồi bỏ mũ xuống gối đầu và duỗi thẳng người trên mặt đất. Nhìn lại, cậu thấy một bà già bé nhỏ bước ra từ cái cửa sổ nước ấy, bà ta chỉ cao bằng ba phần tư người thường, trên mình mặc chiếc áo màu lam, chiếc khăn đội trên đầu màu lam và cả da mặt cũng màu lam. Trông bà ta gầy còm đến mức tưởng như gió thổi cũng bay. Tuy vậy, cặp mắt màu lam của bà ta trông rất trẻ và to đến mức khó tin là chúng có thể ở trên một gương mặt như vậy được.

Bà già nhìn chằm chằm vào I-li-a rồi giơ tay về phía chàng. Kìa, sao tay bà ta cứ dài dần ra thế kia, chẳng mấy chốc nữa nó sẽ đụng đến đầu I-li-a mất. Cánh tay màu lam của bà già trông mờ ảo như sương mù và không có chút khí lực nào cả, móng tay cũng không có, vậy mà nó làm I-li-a ghê sợ đến bủn rủn. Cậu muốn bò xa thêm chút nữa nhưng không hiểu sức lực đã biến đi đâu mất hết. Cậu nghĩ:

“Có lẽ nên quay mặt đi thì hơn, dù sao cũng bớt khủng khiếp”.

Cậu quay đầu và tình cờ chạm mũi vào mấy chiếc lông chim; thế là cơn hắt hơi ở đâu kéo đến. I-li-a hắt hơi lia lịa, hắt hơi đến bật cả máu mũi ra mà không ngừng lại được. Đột nhiên, cậu cảm thấy đầu đỡ nặng và sức lực quay trở lại. I-li-a nhanh chóng cầm lấy chiếc mũ và đứng phắt lên. Trước mặt cậu, mụ già vẫn đứng nguyên ở chỗ cũ, người run lên vì giận dữ. Hai tay mụ đã thò gần đến chân I-li-a nhưng mụ không sao nhấc chúng lên được. I-li-a hiểu ngay rằng mụ già tức giận vì đã tính nhầm và ma lực của mụ đã hết tác dụng. Cậu bình tĩnh hắt hơi nốt, lau mũi đàng hoàng và nói:

- Sao không vồ nữa đi, mụ già? Hẳn là miếng thịt không vừa miệng mụ rồi!

Cậu nhổ một bãi nước bọt vào tay mụ và quay người bỏ đi. Thấy vậy, mụ già cất giọng lanh lảnh như con gái:

- Hãy đợi đấy, đừng vội vui mừng! Lần sau mà mày tới đây, thì sẽ không mang được đầu về đâu.

- Nhưng ta đâu có định tới! – I-li-a trả lời.

- À! Sợ rồi! – Mụ già đắc thắng reo lên.

I-li-a tức quá. Cậu dừng chân và thốt lên:

- Được rồi, nếu vậy, nhất định ta sẽ đến và lấy được nước trong giếng cho mụ xem.

Mụ già phá lên cười và tiếptục khích chàng trai:

- Mày chỉ là đồ khoác lác! Đáng lẽ phải cảm ơn bà nội Lu-kê-ri-a rằng đã thoát được tay ta thì nó lại còn huênh hoang nữa chứ! Người lấy được nước từ giếng này còn chưa sinh ra đời đâu.

- Cứ để xem, rồi sẽ biết người ấy sinh ra hay chưa, - I-li-a đáp lại.

Mụ già vẫn không chịu thôi:

- Mày chỉ là đồ nói dóc! Làm sao màylấy được nước giếng, nếu thậm chí đến gần còn không dám. Lời nói của mày rỗng tuếch! Có chăng là gọi người khác tới, người nào can đảm hơn mày ấy!

I-li-a quát lên:

- Mụ đừng hòng chờ được ta đưa người khác đến đây. Ta cũng biết mụ ác hại thế nào và lừa người ta bằng cái gì rồi.

Mụ già cứ lặp đi lặp lại:

- Mày không dám đến đâu! Cỡ mày ấy à, cònlâu!

Khi đó, I-li-a bèn nói:

- Được rồi. Hễ hôm nào chủ nhật, lại có gió lớn thì mụ cứ việc chuẩn bị mà đón khách.

- Gió thì giúp gì được mày? – mụ già hỏi.

- Rồi khắc biết – I-li-a trả lời – Mà này, mụ đừng quên rửa bãi nước bọt trên tay đi nhé.

- Mày lo bàn tay kéo mày xuống đáy giếng bị bẩn à? – Mụ già hét lên – Dù mày có khôn ngoan thì cũng sẽ thuộc về tao thôi. Đừng có hy vọng vào gió và mấy cái lông chim của bà nội mày! Không ích gì đâu!

Lời qua tiếng lại một hồi, I-li-a bỏ đi. Cậu vừa để ý nhớ đường, vừa nghĩ thầm:

“Hoá ra mụ Si-nhiu-ska là như vậyđấy. Trông như người sắp chết mà cặp mắt thì đẹp mê hồn, còn giọng thì lanh lảnh như giọng con gái. Giá mà được thấy mụ biến thành cô gái đẹp như thế nào nhỉ”.

I-li-a đã được nghe kể nhiều về mụ Si-nhiu-ska. Thợ ở mỏ rừng kể rằng người ta hay gặp mụ ở những vùng hoang vu hoặc các mỏ cũ. Mụ ta ngồi đâu là ở đó có của cải. Nếu đuổi được mụ đi thì cái giếng đầy vàng ngọc sẽ mở ra. Khi đó tha hồ mà lấy. Dường như khá nhiều người đã bỏ công đi tìm, nhưng hoặc tay không quay về, hoặc bỏ xác ở đâu đó.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Siren (24-09-2011)
  #33  
Cũ 16-09-2011, 02:17
ZARG ZARG is offline
Bánh bliny nóng - Горячие блины
 
Tham gia: Jul 2008
Bài viết: 4
Cảm ơn: 1
Được cảm ơn 1 lần cho 1 bài đăng
Default

Thật là tuyệt, truyện này mình đọc suốt thời thơ ấu, giờ đọc lại vẫn thấy thích lắm.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Siren (24-09-2011)
  #34  
Cũ 16-09-2011, 11:54
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 8. Cái Giếng Của Bà Si-Nhiu-Ska (tt)

8. Cái Giếng Của Bà Si-Nhiu-Ska (tt)

Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh



I-li-a về tới mỏ khi mặt trời đã tối. Tên cai mỏ tất nhiên trợn mắt lên với cậu:

- Đi đâu mà lâu thế?

I-li-a giải thích ngọn ngành, rằng cậu vừa mới chôn bà nội Lu-kê-ri-a. Tên cai cảm thấy ngường ngượng nhưng vẫn chưa chịu thôi:

- Thế còn mấy cái lông trên mũ mày là thế nào? Vui sướng quá hay sao mà đính lên đó?

I-li-a trả lời:

- Đấy là của thừa tự của bà nội Lu-kê-ri-a. Tôi đính nó lên đấy để làm kỷ niệm.

Tên cai và tất cả những người đứng ở gần đó đều phá lên cười món đồ thừa tự, riêng I-li-a vẫn thản nhiên. Cậu nói:

- Thế mà nếu có mang toàn bộ mỏ vàng của ông chủ ra đổi tôi cũng không chịu đâu. Đây không phải lông chim thường mà là lông chim thần. Cái lông trắng này là để cho ngày vui, cái đen là để cho đêm yên tĩnh, còn cái nâu là cho mặt trời rực rỡ.

Tất nhiên là I-li-a đùa cho vui. Thế nhưng trong số đứng đó tình cờ lại có Ku-zka Hai Mặt. Tuy nó cùng tuổi với I-li-a, thậm chí sinh cùng tháng, nhưng về mọi mặt thì khác hẳn với I-li-a. Hai Mặt là con một gia đình khá giả. Đúng ra thì một đứa như nó chẳng cần đặt chân đến mỏ làm gì, ở nhà cũng kiếm được việc nhẹ nhàng hơn, Nhưng Ku-zka nghĩ khác. Nó quanh quẩn ở những nơi có vàng từ lâu, chỉ chờ dịp may, còn mang đi thì nó thừa sức. Mà quả thế thật, về phần cuỗm đồ của người khác, Hai Mặt rất tài. Đồ của ai để hớ hênh là lập tức vào tay nó ngay và sau đó thì khỏi tìm. Tóm lại, đó là một thằng ăn cắp và nghề nghiệp ấy đã lưu lại dấu vết cho nó. Một người thợ đãi vàng đã cho nó nếm mùi xẻng, tuy chỉ sượt qua nhưng cũng lưu dấu làm kỷ niệm – môi và mũi Ku-zka bị xẻ làm đôi. Chính vì thế mà mọi người gọi nó là thằng Hai Mặt.

Ku-zka vô cùng ghen ghét I-li-a vì cậu là một chàng trai to khoẻ, tài ba và vui tính. Mọi việc vào tay cậu cứ răm rắp đâu và đấy. Hết việc, cậu chén no bụng rồi vui vẻ ca hát, có khi hăng lên còn nhảy múa nữa, nhất là khi đến làm giúp ao việc gì đó. Làm sao mà Hai Mặt so được với chàng trai như vậy, nếu như nó chẳng những không có sức, không say mê mà ngay cả trong đầu cũng là những suy nghĩ hoàn toàn khác. Thế nhưng, Ku-zka lại đánh giá sự thua kém ấy theo kiểu của nó:

“Chắc hẳn I-liu-ska có bùa gì đấy. Chẳng thế mà nó luôn thành công và làm việc không biết mệt”.

Nghe I-li-a kể về mấy chiếc lông chim, Ku-zka reo thầm trong bụng: “Đây rồi, bùa của I-liuska đây rồi”. Tất nhiên là đêm đó nó mò đến đánh cắp ngay mấychiếc lông chim.

Hôm sau, I-li-a giật mình khi không thấy ba cái lông chim. Cậu cho là mình đánh rơi và đi tìm ở khắp nơi trong mỏ. Mọi người chế giễu:

- Này, cậu có điên không đấy! bao nhiêu chân đi qua đilại mà cậu mong kiếm mấy cái lông nhỏ xíu! Chắc mọi người dẫm ta chúng thành bụi rồi. Mà tìm chúng làm gì cơ chứ?

- Sao lại làm gì? – I-li-a trả lời – Đấy là vật kỷ niệm của bà nội tôi mà!

Một người nói:

- Nếu là vật kỷ niệmt hì phải cất cẩn thận, hoặc giữngay trong đầu chứ không phải là đeo trên mũ.

“Có lẽ mọi người nói đúng”, - I-li-a nghĩ và thôi không tìm nữa. Cậu không hề ngờ là mấy chiếc lông chim đã rơi vào một bàn tay bẩn thỉu.

Tâm trí của Ku-zka bấy giờ hoàn toàn tập trung vào việc theo dõi I-li-a, xem mất bùa của bà nội thì công việc của cậu sẽ ra sao. Khi thấy I-li-a lấy chiếc gáo đãi vàng đem vào rừng, nó bám theo, trong bụng nghĩ rằng chắc I-li-a tìm được một chỗ đãi vàng mới. Nhưng kìa, sao I-li-a lại buộc gáo vào một chiếc sào dài đến hơn hai thước. Vậy làm sao mà đãi vàng được? Thế thì để làm gì nhỉ? Ku-zka càng ngờ vực hơn.

Trời chuyển dần sang thu, gió ngày một mạnh. Vào thứ bảy, khi thợ mỏ được phép về nhà, I-li-a cũng xin về. Tên cai lúc đầu chế nhạo cậu rằng mới về xong thì về làm gì, hơn nữa gia đình không có, cả gia tài gồm ba chiếc lông chim thì để mất rồi, nhưng cuối cùng cũng để cho cậu đi. Ku-zka đâu có chịu để mất một dịp như vậy, nó đến nơi I-li-a giấu chiếc gáo có cán rất sớm và ngồi chờ. Nó phải chờ rất lâu nhưng không nản. Ai mà chả biết cái tài đó của bọn trộm cắp, chúng sẵn sàng chờ thi với cả chó chứ đừng nói là người. Mãi sang chủ nhật, I-li-a mới xuất hiện. Cậu lấy chiếc gáo ra, miệng lẩm bẩm:

- Chà, sao mình lại để mất mấy chiếc lông chim cơ chứ. Còn gió thì thuận đây, mới sáng mà đã rít lên thế này thì đến trưa phải biết là mạnh.

Mà đúng là gió mạnh thật, cả khu rừng rên rỉ vặn mình răng rắc. I-li-a đi theo dấu cũ, còn Hai Mặt vừa lần mò theo cậu vừa mừng thầm : “Công dụng của ba chiếc lông chim đây rồi. Hoá ra chúng chỉ chỗ có của báu”.

I-li-a phải đi khá lâu, còn gió mỗi lúc một yếu. Khi cậu đến khu đất trũng thì hầu như đứng gió, cây cỏ lặng thinh không hề lay động. Ngước mắt, I-li-a thấy mụ già đang đứng chờ bên giếng. Mụ kêu lên lanh lảnh:

- À, dũng sĩ đến đó à! Lông chim của bà nội thì để mất, còn gió cũng đón trượt rồi. Giờ làm sao đây? Mau chạy về nhà mà chờ gió đi, may ra chờ được đấy!

Mụ đứng yên chẳng hề vươn tay về phía I-li-a, còn trên miệng giếng là một đám sương mù màu lam bốc lên dày đặc trông như chiếc mũ, I-li-a lấy đà và từ trên gò đất chọc thẳng cái gáo vào chiếc mũ sương mù màu lam ấy, miệng hét:

- Cẩn thận đấy, mụ phù thuỷ kia! Không khéo ta nhỡ tay đè chết mụ đấy!

Cậu múc nước trpng giếng và cảm thấy chiếc gáo trở nên nặng trĩu, kéo mãi mới nhúc nhích. Mụ già cười khanh khách để lộ hàm trăng trắng và đều như răng con gái. Mụ khích:

- Để xem cậu kéo chiếc gáo về như thế nào, để xem cậu sẽ uống được bao nhiêu nước của ta đây!

I-li-a đã thấy quả là nặng thật, cậu nổi khùng hét lên:

- Vậy thì mụ hãy uống đi!

Vừa nói, cậu vừa lấy hết sức nâng chiếc gáo lên mợt chút và chực đổ ụp vào người mụ già. Mụ tránh sang một bên, I-li-a đưa tay theo, mụ lại né ra xa hơn. Đúng lúc ấy, chiếc sào gẫy đôi và nước đổ tung toé. Mụ già lại phá lên cười khanh khách:

- Sao cậu không buộc cái gáo vào cây cột gỗ có phải chắc hơn không?

I-li-a đáp lại bằng một giọng đe doạ:

- Hãy đợi đấy, mụ phù thuỷ kia. Ta sẽ còn tắm bằng nước của mụ.

Đến đây, bà già bỗng đổi giọng và nói:

- Thôi, đùa thế là đủ rồi. Ta thấy cậu là một chàng trai khôn ngoan và can đảm. Lúc nào muốn cứ trở lại đây vào đêm có trăng, ta sẽ cho cậu thấy đủ mọi thứ báu vật, muốn lấy bao nhiêu thì lấy. Nếu không thấy ta ở trên thì cứ nói: “Không có gáo đã đến: - và cậu sẽ có mọi thứ.

I-li-a trả lời:

- Tôi còn muốn thấy bà biến thành cô gái đẹp như thế nào nữa.

- Lúc đó hẵng hay – bà già cười nhạt và lại để lộ hàm răng con gái.

Hai Mặt nhìn thấy mọi chuyện và nghe rõ từng lời. Nó nghĩ: “ Phải chạy ngay về nhà và chuẩn bị túi mới được, không có I-liu-ska sẽ đến trước mình mất”.

Hai Mặt bỏ chạy đi, còn I-li-a theo lối gò đất về làng. Cậu vượt qu a đầm lầy theo các mô đất khô về đến nhà và ngẩn người khi không thấy chiếc rổ của bà nội. Cậu hết sức ngạc nhiên: “Ai cần cái rổ nát ấy làm gì nhỉ?”. Quanh quẩn ở nhà một lát, I-li-a tìm đến chuyện trò với mấy người bạn trong làng rồi trở lại mỏ. Lần này cậu không đi tắt qua đầm lầy mà đi theo đường làng cùng với mọi người.

Năm ngày đã trôi qua kể từ chủ nhật ấy, vậy mà câu chuyện trên đầm lầy vẫn in đậm nét trong đầu I-li-a, lúc làm việc cậu cũng nghĩ đến nó, đêm nằm, cậu mất ngủ vì nó. Đôi mắt màu lam luôn lởn vởn trước mắt cậu, còn giọng nói lanh lảnh lúc nào cũng như ở bên tai:

“Lúc nào muốn, cứ trở lại đây vào đêm có trăng”.

Đúng dịp ấy, trăng non bắt đầu mọc và đêm trở nên sáng hơn. Đột nhiên ở mỏ có tin – Hai Mặt mất tích. Cử người về làng tìm không có, tên cai sai người vào rừng cũng không thấy. Mà cũng phải nói rằng mọi người chỉ tìm chiếu lệ, trong bụng ai cũng nghĩ: “Thằng ăn cắp mất tích thì có thiệt hại gì đâu”, chuyện chỉ đến đó là dừng.

Chờ đúng đêm trăng tròn, I-li-a lên đường. Đến nơi cậu chẳng thấy một ai. Mặc dù vậy, I-li-a vẫn đứng nguyên trên gò đất và chỉ khẽ thốt:

- Không có gáo đã đến!

Cậu vừa dứt lời, bà già lập tức hiện lên và dịu dàng nói:

- Mời khách quí lại đây! Ta chờ đã lâu. Cứ lại và lấy được bao nhiêu thì lấy.

Bà già giơ tay như người giở nắp giếng và ở đó bỗng hiện lên cơ man nào là báu vật, đầy đến tận miệng. I-li-a tò mò muốn xem kho báu ấy, nhưng vẫn không chịu rời gò đất. Bà già giục:

- Cậu còn đứng gì nữa? Ta đã bảo túi đựng được bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu mà!

I-li-a trả lời:

- Tôi không mang túi theo, mà bà nội Lu-kê-ri-a dặn tôi khác kia. Bà tôi nói sự giàu có chỉ trong sạch và bền vững khi bà tự tay tặng cho người.

- Ái chà, cậu này tệ thật đấy! Còn bắt người ta mang đến cho mình nữa! Nhưng thôi, cậu muốn vậy cũng được!

Bà già nói xong, ở dưới giếng bỗng bốc lên một cột khói lam. Từ đó bước ra một cô gái đẹp tuyệt trần, ăn mặc như công chúa, nhưng sao quá to lớn. Cô ta phải cao bằng tới lưng chừng cây thông già là ít. Trong tay cô gái là một chiếc khay vàng, trên có đủ mọi thứ báu vật, vàng cát, ngọc, vàng khối to bằng cả chiếc gáo múc nước. Cô gái bước lại gần I-li-a, cúi đầu chào và đưa chiếc khay cho cậu:

- Xin người trai trẻ hãy nhận lấy!

I-li-a lớn lên ngay tại mỏ, cậu đã từng cân vàng và biết nó nặng đến mức nào. Cậu nhìn chiếc khay và quay lại nói với bà già:

- Đây chỉ là trò đùa chơi thôi. Không ai đủ sức mang chừng ấy vàng cả.

- Cậu không lấy phải không? – Bà già hỏi.

- Dứt khoát là không! – I-li-a trả lời.

- Thôi thì đành chiều cậu vậy! Ta sẽ tặng cậu món quà khác, - Bà già nói.

Lập tức cô gái bê chiếc khay vàng biến mất và từ dưới giếng lại bốc lên cột khói màu lam. Một cô gái khác bước ra, vóc người nhỏ hơn cô trước một chút. Cô này cũng cực kỳ xinh đẹp, ăm mặc theo kiểu con nhà thương gia. Trong tay cô ta là chiếc khay bạc xếp đầy báu vật. I-li-a lần này cũng vẫn từ chối và nói với bà già:

- Sức người không thể mang nổi chừng ấy, hơn nữa, không phải tự tay bà đưa cho.

Nghe thấy thế, bà già cất tiếng cười khanh khách không khác gì tiếng con gái:

- Thôi thì đành chiều cậu vậy! Ta sẽ mua vui cho cậu và cả ta nữa. Chỉ có sau này đừng có hối hận nhé. Hãy chờ đấy.

Nói dứt lời, cả bà già lẫn cô gái mang chiếc khay bạc đều biến mất. I-li-a đứng đợi đã lâu mà vẫn chưa thấy một ai. Nhưng khi cậu chán nản định bỏ đi thì ở bên cạnh bỗng có tiếng cỏ khua loạt soạt. I-li-a quay lại và thấy một cô gái vóc người tầm thước, tuổi chừng mười tám đang bước tới. Cô ăn mặc rất giản dị, chiếc áo liền váy màu lam, đầu đội tấm khăn màu lam và chân xỏ trong đôi giày cũng màu lam. Đôi mắt cô long lanh như hai vì sao, e thẹn ẩn dưới hàng lông mày cong dài thanh thú. Môi cô đỏ mọng như trái mâm xôi, mái tóc dài kết thành bím vắt qua vai và được buộc bằng dây băng màu lam.

Cô gái tiến lại gần I-li-a và cất giọng thánh thót:

- Xin bạn I-liu-sen-ka quý mến hãy nhận lấy món quà tặng với cả tấm lòng!

Bàn tay trắng muốt của cô nâng niu trao cho I-li-a chiếc rổ cũ của bà nội Lu-kê-ri-a, bên trong đựng đầy ắp hoa quả. Thôi thì đủ thứ, cả dâu đất lẫn lý gai, cả dã anh vàng tươi lẫn phúc bồn tử tím đen chín mọng. Để trên cùng là ba chiếc lông chim được buộc chặt bằng sợi chỉ lam, một màu trắng, một màu đen và một màu nâu.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Siren (24-09-2011)
  #35  
Cũ 28-03-2012, 19:04
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 8. Cái Giếng Của Bà Si-Nhiu-Ska (tt và hết)

8. Cái Giếng Của Bà Si-Nhiu-Ska (tt và hết)

I-li-a đưa tay nhận chiếc rổ. Cậu đứng đờ người ra như một thằng ngốc, không hiểu cô gái hiện ra từ đâu và làm sao cô kiếm được chừng ấy thứ quả vào mùa thu này. Khó khăn lắm, cậu mới thốt ra được:

- Cô ở đâu vậy? Gọi cô thế nào đây?

Cô gái cười nhạt và nói:

- Người ta gọi tôi là mụ Si-nhiu-ska, còn với người khôn ngoan, can đảm và chất phác thì tôi thrế này đây. Chỉ có điều là ít khi được như vậy lắm.

Giờ thì I-li-a đã hiểu mình đang nói chuyện với ai. Cậu hỏi:

- Cô tìm đâu ra những chiếc lông chim vậy?

- À, đó là thằng Hai Mặt tới kiếm kho báu đấy mà, - cô gái trả lời, - nó tự đâm đầu xuống giếng và chìm nghỉm cùng với chiếc túi rồi, còn mấy cái lông chim thì nổi lên. Anh thật đúng là chàng trai quá chất phác.

I-li-a không biết nói gì hơn nữa, còn cô gái cũng đứng yên lặng, mân mê dây băng buộc tóc. Hồi lâu, cô khẽ nói:

- Vậy đấy, anh bạn I-liu-sen-ka thân mến ạ! Tôi là Si-nhiu-ska, lúc nào cũng già, lúc nào cũng trẻ và bị cột chặt muôn thuở vào kho báu vật ở đây.

Im lặng một lát, cô hỏi:

- Sao, nhìn chán chưa? Thôi đủ rồi đấy, không có lại nằm mê thấy tôi mất.

Vừa nói, cô vừa khẽ thở dài và I-li-a cảm thấy tim mình nhói lên như vừa bị một nhát dao đâm trúng. Cậu sẵn sàng đánh đổi mọi thứ trên đời, chỉ cần Si-nhiu-ska biến thành một cô gái bằng xương bằng thịt thật sự, nhưng ngay cả bóng cô giờ đây cũng đã tan biến đi rồi.

I-li-a đứng lặng ở đó rất lâu. Chỉ khi làn sương mù màu lam từ giếng bốc lên lan rộng trên khu đất trũng cậu mới chịu ra về. Đến nhà thì trời đã hửng sáng. Cậu vừa bước qua ngưỡng cửa thì rổ trái cây bỗng trở nên nặng trĩu, đáy rổ bung ra những viên ngọc quý cùng các hạt vàng rơi tung toé khắp sàn nhà.

Được chỗ báu vật ấy, I-li-a lập tức chuộc mình khỏi tay chúa đất, trở thành người tự do. Cậu dựng cho mình một ngôi nhà xinh xắn và chắc chắn, sắm cả ngựa cưỡi, vậy mà không sao lấy vợ được. Hình ảnh cô gái nọ luôn luôn hiện lên rõ mồn một trong ký ức. Cậi ăn không biết ngon, ngủ không biết yên. Ba chiếc lông chim của bà nội Lu-kê-ri-a cũng chẳng giúp gì được. Không biết cậu đã than thở bao nhiêu lần:

- Bà nội Lu-kê-ri-a ơi! DSao bà chỉ cho cháu cách tìm kiếm báu vật của Si-nhiu-ska mà không dạy cho cháu cách xua đuổi phiền muộn. Có lẽ chính bà cũng không biết điềuđó.

Dằn vặt, tương tư mãi, cuối cùng cậu nghĩ bụng:

“Thà nhảy xuống chiếc giếng nọ còn hơn là phải chịu đựng sự đau khổ như thế này”.

I-li-a tìm đến đầm lầy Diu-đen, nhưng vẫn không quên đem theo ba chiếc lông chim của bà nội. Lúc đó đang mùa quả chín và dâu đất bắt đầu rộ.

I-li-a vừa vào tới bìa rừng thì bắt gặp một toán gần chục cô gái đi hái dâu về. Cô nào cô ấy đều mang một giỏ nặng trĩu. Trong nhóm có một cô gái đi tách riêng ra một bên.

Vóc người thanh mảnh ẩn dưới chiếc áo liền váy màu lam, cùng màu với chiếc khăn chít trên đầu. Cô gái tuổi chừng mười tám và có một sắc đẹp lạ thường. Hàng lông mày thanh mảnh vút dài ôm lấy đôi mắt sang long lanh như hai vì sao, môi cô đỏ mọng như trái mâm xôi. Mái tóc dài bện thành bím và buộc bằng một dải băng màu lam. Thật không khác gì cô gái thuở nào. Chỉ có điểm khác nhau duy nhất là cô kia đi giày màu lam, còn cô gái này đi chân đất.

I-li-a đứng ngây người ra nhìn, còn cô gái bạo dạn nhìn thẳng vào cậu bằng đôi mắt màu lam và mỉm cười chế giễu, để lộ hàm răng trắng muốt.

Sững sờ giây lát, I-li-a mới thốt được:

- Tại sao tôi chưa bao giờ nhìn thấy cô nhỉ?

- Vậy thì nhìn đi, - cô gái đáp, - nếu anh muốn về chuyện này thì tôi dễ tính lắm, không lấy xu nào đâu.

- Cô sống ở đâu vậy? – I-li-a hỏi.

- Anh cứ đi thẳng nhé, - cô gái trả lời, - rồi rẽ sang bên phải, ở đó có một gồi cây rất to. Anh hãy lấy đà cho xa rồi lao thẳng đầu vào đó, phải làm sao cho mắt nổ đom đóm ra ấy. Lúc đó anh sẽ thấy tôi…

Cô gái còn trêu chọc I-li-a một hồi theo kiểu mà các cô gái thường dùng để đối đáp với các chàng trai, nhưng rồi cũng nói cho cậu biết tên tuổi và nhà ở của mình. Nhìn đôi mắt của cô, cậu có cảm tưởng chúng đã chiếm trọn tâm hồn cậu.

Thế là I-li-a đã tìm được hạnh phúc của mình bên cô gái ấy!

Nhưng nào có được lâu. Sở dĩ I-liu-kha trước kia không nhìn thấy cô là vì cô sinh trưởng trong một gia đình làm nghề mài đá hoa cương. Mà về họ thì rõ quá rồi. Trong vùng này, không đâu có con gái đẹp như ở đó, nhưng cưới các cô ấy thì rất dễ thành người goá vợ. Do phải mài đá từ nhỏ nên họ thường mắc bệnh lao.

Bản thân I-li-a cũng không sống được lâu. Có thể là vì thương vợ mà cũng có thể là vì không quên được cô gái nọ. Ít lâu sau, người ta mở mỏ mới ở đầm lầy Diu-đen. Hẳn là I-li-a đã không giấu diếm nơi cậu tìm thấy kho báu.

Thế rồi người ta bắt đầu đào bới và tìm được khá nhiều vàng. Đến thời tôi, mỏ ở Diu-đen vẫn còn khai thác được nhiều, nhưng không ai tìm thấy cái giếng kia cả. Còn làn sương mù màu lam thì ngay bây giờ vẫn đang dăng trên vùng đó như để chỉ đường đến kho báu.

Thật ra, khai thác thì khai thác, nhưng cũng chỉ mới đào sơ sơ ở trên chứ đâu đã xuống sâu… Còn như các cụ kể lại thì cái giếng của bà Si-nhiu-ska sâu lắm. Sâu không thể tưởng tượng nổi. Và nó đang còn chờ người đến.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên:
hungmgmi (29-03-2012), Siren (28-03-2012)
  #36  
Cũ 04-04-2012, 18:37
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 9. Con dê móng bạc

9. Con dê móng bạc

Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Hồi đó, trong xóm thợ có một ông già, biệt hiệu là Kô-kô-va-nhi-a. Gia đình ông chẳng còn ai nên muốn tìm một đứa trẻ mồ côi về nuôi. Ông đem ý định đó ra hỏi hàng xóm láng giềng và mọi người bảo:

- Mới rồi có hai vợ chồng nhà Gri-gô-ri Pô-tôi-pa-ép cùng qua đời. Viên quản lý sai đưa mấy đứa con gái lớn vào xưởng thêu may của ông chủ, còn con bé nhỏ nhất mới lên sáu thì không ai nhận cả, ông đến mà đem về.

- Con gái thì ở với tôi sao được. Giá là đứa con trai thì tốt hơn. Tôi sẽ truyền nghề cho nó và nó sẽ là người trợ lực của tôi. Còn với đứa con gái thì làm thế nào. Tôi biết dạy nó cái gì?

Ngẫm nghĩ một hồi, ông nói:

- Tôi có biết Gri-gô-ri và cả vợ anh ấy nữa. Hai người đều vui tính và nhanh nhẹn nữa. Nếu con bé giống bố mẹ thì nó sẽ làm nhà cửa thêm vui. Được, tôi sẽ xin nó. Nhưng liệu nó có chịu về không?

Hàng xóm láng giềng giải thích:

- Nó khổ lắm. Viên quản lý đem nhà của Gri-gô-ri cho người khác và dặn phải nuôi con bé cho đến khi nó lớn thêm chút nữa. Nhưng bản thân gia đình người ấy cũng đã hơn chục miệng, ăn không đủ no thì lấy đâu của thừa. Vì thế, người vợ rất nghiệt ngã với con bé mồ côi, lấy miếng ăn ra để xỉ vả nó. Con bé mới tí tuổi đầu mà nhiểu hết. Nó oán họ lắm nên làm gì mà không về. Với lại ông phải dỗ nó nữa chứ.

- Phải đấy – ông già Kô-kô-va-nhi-a nói – tôi sẽ tìm cách dỗ nó.

Chờ đến ngày lễ, ông tìm đến nhà đứa trẻ mồ côi. Bước qua ngưỡng cửa, ông nhìn thấy đầy một nhà người, lớn nhỏ đủ cả. Ngồi một mình bên bếp lò là một đứa bé gái, cạnh nó là một con mèo hung. Con bé bé tí xiu, con mèo cũng bé tí xíu và trông nó gầy còm, xơ xác đến mức ít ai muốn cho vào nhà. Đứa bé đang âu yếm vuốt ve con mèo và nó khoái chí kêu gừ gừ vang cả nhà.

Ông già Kô-kô-va-nhi-a nhìn đứa bé và hỏi:

- Pô-đa-re-nu-ska của Gri-gô-ri đấy phải không?

Bà chủ nhà trả lời:

- Nó đấy. Mình nó chưa đủ, lại còn nhặt đâu được con mèo ghẻ nữa. Chúng tôi không sao đuổi nó đi được. Mấy đứa trẻ nhà tôi bị nó cào không thiếu đứa nào. Đã vậy lại còn phải nuôi nó nữa.

- Chắc tại mấy đứa nhà chị ghét nó thôi, chứ với con bé thì nó hiền lành thế cơ mà.

Sau đó ông quay lại và hỏi cô bé mồ côi:

- Thế nào, Pô-đa-re-nu-ska, cháu có về sống với ông không?

Cô bé ngạc nhiên:

- Sao ông biết tên cháu là Đa-ren-ka?

- Tự nhiên thôi. Ông chẳng đoán, cũng chẳng hỏi, vậy mà lại đúng mới hay chứ.

Cô bé hỏi tiếp:

- Thế ông là ai?

- Gọi ông là thợ săn cũng được, - ông già trả lời, - mùa hè ông đi đãi cát tìm vàng, còn mùa đông ông đi vào rừng tìm một con dê, nhưng đến bây giờ vẫn chưa thấy nó.

- Ông sẽ bắn nó à?

- Không. Ông chỉ bắn những con dê thường thôi, còn con này thì không. Ông muốn xem nó dậm chân trước bên phải xuống đâu.

- Thế để làm gì?

- Để làm gì thì cháu cứ về nhà ông đi, rồi ông sẽ kể hết cho mà nghe, - ông già Kô-kô-va-nhi-a trả lời.

Cô bé lấy làm tò mò muốn biết chuyện về con dê, đồng thời cũng thấy mến ông già vui vẻ và hiền hậu. Cô bé bèn nói:

- Cháu sẽ về. Nhưng ông cho cả con Mu-ren-ka về với nhé. Ông xem này, nó ngoan lắm.

- Ồ, nhất định là thế rồi, - ông già Kô-kô-va-nhi-a trả lời. – Không lấy con mèo có tiếng kêu hay như vậy thì thật là ngốc. Trong nhà chúng ta, nó sẽ thay cho chiếc đàn ba-la-lai-ca.

Chủ nhà đã nghe thấy hết câu chuyện của hai người. Bà ta rất mừng vì ông già Kô-kô-va-nhi-a gọi cô bé mồ côi về với mình. Bà ta bèn vội vàng gói ghém quần áo đưa cho Đa-ren-ka, sợ rằng ông già đổi ý.

Con mèo dường như cũng hiểu câu chuyện, nó cọ mình vào chân ông già, miệng gừ gừ như muốn nói:

- Đúng đấy, đúng đấy!

Thế là ông già Kô-kô-va-nhi-a đưa cô bé mồ côi về nhà mình. Hai người dắt tay nhau đi trên đường làng, Ông già cao lớn với bộ râu xồm, còn Đa-ren-ka bé tí tẹo với chiếc mũi hếch trông như cái cúc áo lon ton bên cạnh. Chú mèo Mu-ren-ka chạy dằng sau.

Họ bắt đầu chung sống với nhau, ông già Kô-kô-va-nhi-a, cô bé mồ côi Đa-ren-ka và con mèo Mu-ren-ka. Tháng ngày qua nhanh, cuộc sống của họ trôi đi êm ả, chẳng giàu cũng chẳng nghèo, ai có việc người nấy. Ông Kô-kô-va-nhi-a đi làm từ sáng sớm, Đa-ren-ka thu dọn nhà cửa và nấu nướng, còn chú mèo Mu-ren-ka đi săn chuột. Chiều tối, họ mới gặp nhau và tất cả đều vui vẻ.

Ông già Kô-kô-va-nhi-a có tài kể chuyện và Đa-ren-ka rất thích nghe các câu chuyện cổ tích của ông. Những lúc ấy chú mèo Mu-ren-ka thường nằm trong lòng cô bé và khẽ gừ gừ như muốn nói:

- Đúng đấy, đúng đấy.

Tuy đã được nghe nhiều chuyện, nhưng sau mỗi lần Đa-ren-ka đều nhắc:

- Ông kể chuyện con dê đi ông. Trông nó như thế nào?

Hồi đầu ông Kô-kô-va-nhi-a còn khất, nhưng rồi ông cũng kể:

- Con dê ấy là một con dê đặc biệt. Ở chân trước bên phải của nó có cái móng bạc. Hễ nó gõ cái móng đó xuống đâu là ở đó hiện lên một viên ngọc. Gõ một lần – một viên, gõ hai lần – hai viên, còn nếu nó dậm liên tục thì ở đó sẽ có cả một đống ngọc.

Ông già kể xong và lập tức lấy làm hối hận. Từ hôm đó, Đa-ren-ka cứ mở miệng là lại hỏi về con dê.

- Ông ơi, thế nó có to không?

Ông Kô-kô-va-nhi-a kể cho cô bé rằng con dê chỉ cao bằng cái bàn, bốn chân của nó trông rất mảnh khảnh còn cái đầu rất thon.

Đa-ren-ka lại hỏi:

- Ông ơi, thế nó có sừng không?

- Sừng của nó ấy à, - ông già đáp, - đẹp tuyệt. Sừng dê thường chỉ có hai nhánh, còn con này có tới năm nhánh.

- Ông ơi, thế nó ăn thịt gì?

- Nó chẳng ăn thịt gì cả, chỉ ăn cỏ và lá cây thôi. Mùa đông thì nó ăn cỏ khô ở các đống ngoài rừng.

- Ông ơi, thế lông nó màu gì?

- Mùa hè thì màu hung, giống như của con Mu-ren-ka ta đây này, - ông già đáp, - nhưng đến mùa đông thì lông nó màu xám.

- Ông ơi, thế nó có hôi không?

Ông già bực bội thốt lên:

- Hôi là thế nào! Chỉ có dê nhà mới hôi thôi, còn đây là dê rừng nên mùi của nó cũng giống mùi rừng.

Trời đã sang thu và Kô-kô-va-nhi-a bắt đầu chuẩn bị vào rừng. Ông già muốn xem lũ dê về ăn cỏ ở đâu nhiều hơn. Thấy thế, Đa-ren-ka liền xin theo:

- Ông ơi, cho cháu đi với. Cháu muốn xem con dê ấy quá, dù từ xa cũng được.

Ông Kô-kô-va-nhi-a giải thích:

- Từ xa thì không thể thấy nó được. Vào mùa thu, con dê nào cũng có sừng cả, sao mà đếm được là bao nhiêu nhánh. Còn mùa đông thì khác, dê thường sẽ rụng sừng, còn con Móng Bạc này thì không, hè hay đông đối với nó cũng vậy. Khi đó sẽ nhận ra được nó từ xa.

Vậy là Đa-ren-ka ở lại nhà còn ông già Kô-kô-va-nhi-a vào rừng. Năm ngày sau, ông Kô-kô-va-nhi-a quay trở về và kể cho Đa-ren-ka:

- Năm nay, dê về ăn cỏ ở phía Pô-nép-xkai-a nhiều lắm. Mùa đông ông sẽ tới đó.

Đa-ren-ka hỏi:

- Thế mùa đông làm sao ông ngủ trong rừng được?

Ông già trả lời:

- Ở đó, ông có một căn nhà làm trên sườn đồi. Nó còn khá tốt, có cả bếp và cửa sổ. Sống ở đó rất thích.

Đa-ren-ka hỏi tiếp:

- Thế con Móng Bạc có ăn cỏ ở đấy không?

- Ai mà biết được. Có thể là có.

Đa-ren-ka lại xin:

- Ông ơi, ông cho cháu đi với. Cháu sẽ ngồi yên ở trong nhà. Có thể con Móng Bạc lại gần và cháu sẽ được thấy nó.

Ông già giang rộng hai tay:

- Không, không được đâu! Cháu còn bé quá, mùa đông không vào rừng được! Cháu đâu đã biết truợt tuyết, chết cóng thì ông biết làm thế nào.

Đa-ren-ka vẫn cứ khẩn khoản:

- Cho cháu đi với ông ơi! Cháu hơi biết trượt tuyết rồi mà.

Đầu tiên, ông già Kô-kô-va-nhi-a hết lời ngăn cản, nhưng sau đó ông nghĩ bụng:

“Hay là cứ cho nó đi? Biết một lần là sau sợ thôi mà”.

Ông nói:

- Thôi được, ông sẽ cho cháu đi. Nhưng ở trong rừng nhất định không được khóc và không được đòi về nhà sớm đâu đấy.



______
(còn tiếp)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Siren (04-04-2012)
  #37  
Cũ 10-04-2012, 14:12
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 9. Con dê móng bạc (tt và hết)

9. Con dê móng bạc (tt và hết)

Người dịch: Nguyễn Mạnh Chí
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh



Đợi cho trời sang đông thật sự, hai ông cháu bắt đầu chuẩn bị vào rừng. Ông Kô-kô-va-nhi-a chất lên chiếc xe trượt tuyết kéo tay hai bao bánh mì khô, đồ dùng đi săn và mọi thứ cần thiết ckhác. Đa-ren-ka cũng sửa soạn cái túi riêng của mình. Cô bé mang theo mấy mảnh vải vụn để may áo cho búp bê, một cây kim, một cuộn chỉ và thêm sợi dây. Cô bé thầm nghĩ: “Không biết có bắt được con Móng Bạc bằng sợi dây này không nhỉ?”.

Đa-ren-ka rất thương con mèo của mình và không muốn để nó ở lại. Nhưng làm thế nào được. Cô bé vuốt ve từ biệt con mèo và nói với nó:

- Mu-ren-ka, tao với ông vào rừng đây, còn mày ở nhà bắt chuột nhé. Hễ nhìn thấy con Móng Bạc là tao về ngay và sẽ kể cho mày nghe hết mọi chuyện.

Chú mèo ranh mãnh nhìn Đa-ren-ka, miệng kêu gừ gừ như muốn nói:

- Đúng đấy, đúng đấy!

Ông Kô-kô-va-nhi-a cùng Đa-ren-ka ra đi. Hàng xóm láng giềng kinh ngạc nìn theo:

- Ông già này điên rồi! Ai lại đưa con bé bé như thế vào rừng vào mùa đông bao giờ!

Hai ông cháu vừa ra khỏi xóm thợ bỗng nghe có tiếng chó sủa ăng ẳng. Chúng sửa dữ dội đến mức tưởng chừng có con thú rừng chạy qua làng. Họ quay lại và thấy Mu-ren-ka đang ở giữa làng, nó vừa chạy vừa chống chọi với lũ chó. Mu-ren-ka bây giờ đã khác xưa rồi, nó lớn và khoẻ hơn nhiều. Mấy con chó chỉ sủa chứ không dám lại gần. Đa-ren-ka muốn bắt con mèo đưa về nhà, nhưng nào có được. Mu-ren-ka đã chạy tới bià rừng và tót ngay lên cây thông. Giờ thì có trời mới bắt được nó.

Đa-ren-ka kêu khan cả cổ mà không dỗ được con mèo. Không biết làm sao, hai người tiếp tục đi. Khi họ ngoảnh lại thì đã thấy Mu-ren-ka chạy phía sau.

Thế là cả bộ ba lại có mặt đầy đủ ở ngôi nhà trong rừng. Đa-ren-ka nói:

- Thế này vui hơn ông nhỉ?

Ông Kô-kô-va-nhi-a đồng ý:

- Tất nhiên là vui hơn rồi.

Còn chú mèo Mu-ren-ka đã kịp khoanh tròn bên bếp lò và kêu gừ gừ vang cả nhà như muốn nói:

- Đúng đấy, đúng đấy!

Mùa đông năm ấy dê về nhiều. Dê thường ấy mà. Mỗi ngày ông Kô-kô-va-nhi-a lại lôi về nhà khi thì một, khi thì hai con. Da và thịt dê muối nhiều đến nỗi không thể dùng xe trượt tuyết kéo tay chở về nhà được. Phải quay về làng mượn ngựa, nhưng còn Đa-ren-ka và con mèo thì làm thế nào. Nhưng Đa-ren-ka đã quen dần với rừng, cô bé tự nói:

- Ông ơi, phải về làng lấy ngựa thôi, không thì làm sao chở hết thịt muối về được.

Ông Kô-kô-va-nhi-a cũng phải ngạc nhiên:

- Cháu ông thông minh quá! Suy nghĩ như người lớn ấy. Nhưng ở lại đây một mình cháu không sợ ư?

- Sợ cái gì. Nhà chắc chắn lắm, chó sói đâu có vào được. Với lại con Mu-ren-ka nữa. Cháu không sợ đâu. Nhưng ông cũng về nhanh lên nhé.

Thế là ông già Kô-kô-va-nhi-a về làng, còn Đa-ren-ka ở lại với chú mèo Mu-ren-ka. Ban ngày, cô bé đã quen ở nhà một mình khi ông Kô-kô-va-nhi-a đi săn dê, nhưng khi đêm xuống thì đúng là hơi sợ. Nhìn chú mèo Mu-ren-ka bình thản nằm yên, Đa-ren-ka thấy vui hơn. Cô bé đến ngồi trước cửa sổ, nhìn về phía sườn đồi và thấy một vật đen thấp thoáng giữa rừng cây. Khi nó lại gần, cô bé nhận ra đó là một con dê. Bốn chân nó thật mảnh khảnh, cái đầu thon thon, còn sừng thì có năm nhánh.

Đa-ren-ka chạy vội ra ngoài để xem thì không thấy gì cả. Cô bé quay vào nhà, vừa đi vừa lẩm bẩm:

- Chắc là mình ngủ mê đấy thôi.

Chú mèo Mu-ren-ka lại gừ gừ như muốn nói:

- Đúng đấy, đúng đấy!

Đa-ren-ka nằm xuống cạnh nó và ngủ yên tới sáng.

Ngày thứ hai trôi qua, ông Kô-kô-va-nhi-a vẫn chưa về. Đa-ren-ka buồn lắm nhưng nhất định không khóc. Cô bé vuốt ve Mu-ren-ka và thì thầm với nó:

- Đừng buồn nhé, Mu-ren-ka! Ngày mai là nhất định ông về.

Chú mèo Mu-ren-ka lại hát bài ca của mình:

- Đúng đấy, đúng đấy!

Đa-ren-ka lại đến bên cửa sổ ngắm các vì sao trên trời. Cô bé đã định đi ngủ thì bỗng giật mình nghe thấy tiếng lộc cộc từ đâu đó vọng vào. Tiếng lộc cộc vang lên ở sau nhà, sau chuyển ra phía cửa sổ rồi dừng lại ở ngay ngoài cửa ra vào. Tiếng lộc cộc ấy không to lắm, nó nhè nhẹ như tiếng chân vội vã. Thấy thế, Đa-ren-ka nghĩ bụng:

“Hay con dê hôm qua lại đến nhỉ?”

Lòng ham muốn được nhìn thấy con dê Móng Bạc đã thắng cả sự sợ hãi. Cô bé mở cửa nhìn ra và thấy con dê ở ngay trước mắt. Nó giơ cao chân trước bên phải như chuẩn bị dậm xuống. Dưới ánh trăng, chiếc móng bạc lấp lánh, còn cái sừng thì rõ ràng có năm nhánh. Đa-ren-ka không biết phải làm gì nữa, cô bé lên tiếng gọi nó như gọi dê nhà:

- Be…e…e…

Con dê nhe răng như muốn cười rồi quay mình bỏ chạy.

Đa-ren-ka quay vào nhà và kể lại cho Mu-ren-ka:

- Tao đã nhìn thấy con Móng Bạc rồi đấy. Thấy sừng năm nhánh này, thấy cả móng bạc này, chỉ chưa được thấy nó dậm chân làm nảy ra ngọc quý thôi. Chắc lần sau nó mới cho xem.

Mu-ren-ka vẫn không đổi câu trả lời:

- Đúng đấy, đúng đấy!

Ngày thứ ba lại qua đi mà ông Kô-kô-va-nhi-a vẫn bặt tăm hơi. Đa-ren-ka ngồi ỉu xìu một chỗ, nước mắt đã chực tràn ra. Cô bé muốn nói chuyện với Mu-ren-ka thì cả nó cũng không thấy đâu hết. Hoảng hốt, Đa-ren-ka chạy vội ra khỏi nhà tìm kiếm. Đêm sáng trăng, tròn lại trong nên mọi vật đều hiện lên rõ mồn một. Đa-ren-ka ngó quanh và nhìn thấy Mu-ren-ka đang ngồi trên sườn đồi dốc, trước mặt nó con dê đang giơ cao chân, chiếc móng bạc lấp lánh. Đầu Mu-ren-ka lắc lư và con dê cũng vậy, dường như chúng nói chuyện với nhau. Sau đó chúng bắt đầu chạy quanh trên sườn đồi. Con dê chạy trước rồi dừng lại, gõ móng cồm cộp. Khi Mu-ren-ka nhảy tới, nó bỏ chạy, rồi lại gõ móng cồm cộp. Chúng đùa với nhau khá lâu trên sườn đồi, có lúc bỏ tít ra xa rồi lại quay về bên ngôi nhà.

Bất thình lình, con dê nhảy lên bậc thềm và ra sức dậm chiếc móng bạc xuống đất. Những viên ngọc đủ mọi màu sắc văng ra tung toé từ dưới chân nó như những tia lửa.

Vừa lúc đó ông Kô-kô-va-nhi-a về đến nơi. Ông không nhận ra ngôi nhà của mình nữa, nó như đã biến thành một đống ngọc quý, hắt ra vô vàn tia sáng lấp lánh. Trên ngọn đống ngọc, con dê vẫn không ngừng dậm chiếc móng bạc và ngọc cứ tiếp tục văng ra. Bất ngờ Mu-ren-ka nhảy tót lên đó đứng cạnh con dê. Nó kêu meo meo rất to rồi đột nhiên cả hai con cùng biến mất.

Ông Kô-kô-va-nhi-a xúc ngay nửa mũ ngọc. Ông còn định lấy nữa thì Đa-ren-ka lên tiếng:

- Đừng lấy nữa ông ơi! Để đấy ngày mai ta còn xem nữa.

Ông Kô-kô-va-nhi-a nghe lời. Nhưng đến sáng hôm sau, một cơn mưa tuyết lớn đổ xuống phủ kín cả đống ngọc. Sau đó, lúc hai ông cháu bới tuyết để tìm thì không còn thấy gì cả. Tuy nhiên chỗ ngọc mà ông Kô-kô-va-nhi-a đựng trong mũ cũng thừa đủ cho hai người.

Thế là mọi chuyện đều tốt đẹp, chỉ tiếc là mất con Mu-ren-ka. Sau đó, không ai thấy nó ở đâu hết và cả Móng Bạc cũng không xuất hiện nữa. Vui một lần, thế là đủ lắm rồi. Trên sườn đồi dốc, nơi con dê Móng Bạc đùa chạy tối hôm đó, thỉnh thoảng mọi người lại nhặt được những viên ngọc màu xanh ánh vàng. Ngọc ô-liu ấy mà. Bạn đã thấy chưa?
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Siren (10-04-2012)
  #38  
Cũ 18-04-2012, 15:09
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default 10. Sợi Tóc Vàng

10. Sợi Tóc Vàng

Người dịch: Nguyễn Kiên Trung
Đánh máy: Lam Anh và A Thanh


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Vào những năm xa xưa, ở nơi đây hoàn toàn không có người Nga cư trú. Những người Ba-ski-a cũng không sống gần nhau. Họ thấy rằng đối với đàn súc vật cần phải có môt khoảng trống bao la, ở đó có những cánh đồng cỏ, những thảo nguyên. Ở đấy, thảo nguyên, rừng chạy dọc theo thung lũng sông Na-si và thung lũng lòng chảo sông U-rai-na. Bây giờ là rừng, có kẽ hở nhìn thấy trời, chứ lúc bấy giờ hầu như không thể đi bộ hoặc đi xe qua đươc. Chỉ những ai săn bắn thú mới đi vào rừng.

Và người ta kể lại rằng, trong những người Ba-ski-a có một người thợ săn tên là Ai-lứp. Không ai dũng mãnh bằng anh. Bắn gấu với một mũi tên, nắm sừng nai quẳng qua người thế là xong. Còn sói thì khỏi nói, không một con nào thoát khi Ai-lứp đã nhìn thấy.

Một lần, Ai-lứp cưỡi ngựa chạy qua khoảng trống và thấy một con cáo đang chạy. Đối với người thợ săn như anh thì con cáo là một mồi nhỏ. Nhưng anh nghĩ : “Nào, ta hãy vui đùa, quất roi chơi”.

Ai-lứp xuống ngựa, nhưng không thể đuổi được cáo. Anh giơ cung lên bắn thì con cáo biến mất. “Thôi được, chạy mất thì cho chạy luôn – may cho nó”, - vừa nghĩ thế xong thì con cáo lại xuất hiện, nó chép chép miệng như cười : “Anh làm gì được tôi nào?”. Ai-lứp giơ cung lên bắn, con cáo lại biến mất. Anh vừa hạ cung tên xuống thì ngay trước mặt, con cáo lại chép chép miệng : “Anh làm gì được tôi nào?”. Ai-lứp hăng lên đuổi : “Liệu hồn đấy, con cáo vàng kia!”. Cánh đồng cỏ đã khuất, Ai-lứp bắt đầu đến khu rừng rậm. Ai-lứp dừng lại, xuống ngựa và chạy bổ đuổi cáo. Nhưng không ăn thua gì. Có lúc nó ở rất gần nhưng không thể bắn được. Bỏ cuộc thì Ai-lứp không muốn. Ôi! Một thợ săn như mình mà không thể bắn được một con cáo! Và cứ thế, Ai-lứp đi đến một nơi rất huyền bí. Không thấy con cáo đâu. Anh tìm mãi cũng không thấy. “Nào – anh nghĩ – ta sẽ tìm một chỗ quan sát trước đã”.

Anh chọn một cành cây hơi cao và trèo lên. Anh đưa mắt nhìn, cách không xa là một con sông có núi bao bọc. Con sông không lớn đang rì rầm trò chuyện với đá và ở một chỗ bỗng sáng chói lên đến nỗi mắt không chịu đựng được. “Cái gì thế?” – anh nghĩ. Anh đưa mắt nhìn, sau lùm cây, trên một phiến đá trắng, một cô gái đẹp chưa từng thấy đang nâng bím tóc qua vai và thả đuôi tóc xuống nước. Bím tóc của cô gái bằng vàng và dài tới mười xa-gien (1). Dòng sông ở chỗ bím tóc chiếu sáng lên làm loá mắt. Ai-lứp ngắm nhìn cô gái đẹp. Cô bỗng ngẩng đầu lên và nói:

- Chào Ai-lứp! Em được nghe nhũ mẫu cáo của em nói về anh đã lâu. Hình như anh là nhà đi săn vô địch? Anh có nhận em làm vợ không?

- Vậy có phải nộp tiền dẫn cưới không? – Ai-lứp hỏi lại.

- Tiền dẫn cưới? – Cô gái hỏi lại – Cha em là chủ kho vàng của cả vùng này. Ông ta sẽ không chịu gả em đâu. Chúng ta cần phải trốn thôi, nếu có đủ cam đảm và nghị lực.

Ai-lứp sung sướng, tụt xuống khỏi cành cây và chạy đến chỗ cô gái, nói:

- Nếu em muốn thế thì anh còn biết nói gì hơn nữa? Anh sẽ bế em trên tay và không cho ai cướp em đâu.

Trong lúc đó, con cáo cũng đứng trên phiến đá kêu chép chép, dúi mũi xuống đất. Sau đó nó ngẩng đầu và nói một cách ranh mãnh:

- Ôi! Ai-lứp! Anh nói trời nói biển gì thế? Anh cho mình là vô địch, thế mà không thể bắn được tôi!

- Đúng rồi! – Ai-lứp trả lời – Đây là lần đầu tiên trong đời tôi để cho con mồi trốn thoát.

- Cứ cho là như thế. Còn bây giờ công việc sẽ khó hơn nhiều đấy. Cô gái đẹp này tên là Tóc Vàng, con gái của Pô-lô-ốp. Tóc của cô ta là vàng đấy. Chính vì mái tóc ấy mà cô ta bị chôn chân ở đây, ngồi rũ tóc ra, thế mà vẫn không nhẹ được chút nào. Đó, anh thử nâng bím tóc của cô ta lên xem và liệu có thể mang cô ta đi được không?

Ai-lứp là một con người tài giỏi, anh kéo bím tóc và quấn nó quanh người. Cuốn xong mấy vòng, anh nói với cô gái đẹp:

- Nào, em Tóc Vàng yêu quý của anh, bây giờ chúng ta được quấn chặt bằng bím tóc của em. Không ai có thể chia cắt chúng ta được.

Vừa nói, Ai-lứp vừa bế cô gái lên tay và bước đi. Nhũ mẫu cáo dúi chiếc kéo vào tay Ai-lứp:

- Nếu khôn hồn, hãy cầm lấy cái này đi!

- Cần gì cái đó? Tôi đã có dao rồi.

Ai-lứp đã định không cầm, nhưng Tóc Vàng nói:

- Hãy cầm lấy, nó sẽ có ích : nếu không cho anh thì cho em.

Và thế là Ai-lứp đi vào rừng.

Theo cành lá Ai-lứp biết là đi hướng nào. Lúc đầu anh bước đi xăm xăm, nhưng càng về sau, càng nặng nhọc. Người yêu nhận thấy anh mệt lả, nói:

- Thôi, để em tự đi lấy, còn anh nâng bím tóc giúp em. Như vậy sẽ nhẹ hơn và chúng ta sẽ đi được xa hơn. Nếu không, cha em bắt được thì nguy.

- Nguy thế nào? – Ai-lứp hói.

- Cha em được trời phú cho sức mạnh ghê gớm – cô gái trả lời. – Nếu muốn, cha em sẽ kéo hết vàng về với mình. Vì muốn giữ mái tóc của em nên cha em sẽ không tha cho bất cứ ai chống lại mình.

- Để rồi xem! – Ai-lứp trả lời. Còn người yêu Tóc Vàng của anh chỉ cười mát.

Họ vừa nói chuyện vừa đi một cách nhẩn nha. Tóc Vàng vẫn luôn giục:

- Chúng ta cố đi nhanh và xa hơn nữa. Có như thế thì cha em mới không thể bắt lại được.

Họ đi, đi mãi cho đến khi mệt rã rời.

- Ta hãy nghỉ một chút – Ai-lứp nói.

Và vừa ngồi xuống cỏ, lập tức họ bị hút chặt xuống đất. Tóc Vàng chỉ kịp lấy chiếc kéo cắt mái tóc mà Ai-lứp quấn quanh mình. Chính vì thế Ai-lứp mới thoát chết. Cô gái đẹp cùng mái tóc đã chui xuống đất, còn lại một mình anh.

Ai-lứp chỉ bị kéo chúi xuống một cái hố nhỏ, còn người yêu của anh bị biến mất, cứ như là hoàn toàn không có chuyện gì xảy ra.

Ai-lứp nhảy lên khỏi cái hố nhỏ và nghĩ:

“ Cái gì thế nhỉ? Họ cướp người yêu của mình khỏi tay mình. Ai đã làm việc đó? Thật là xấu hổ. Không thể thế được. Thà chết đi cho xong nếu không tìm được cô ấy. Nào, hãy đào đất ở chỗ mà cô ấy đã ngồi”.

Một ngày đào, hai ngày đào, vẫn không tìm thấy gì. Sức mạnh thì Ai-lứp có thừa, nhưng dụng cụ thì chỉ có con dao và cái mũ. Thế thì làm sao được! “Cần phải đánh dấu và về nhà lấy xẻng”. – Ai-lứp nghĩ.

Ai-lứp vửa nghĩ thế thì con cáo xuất hiện và gọi anh, cứ như là nó đã đứng ở đó từ lâu. Con cáo dúi mũi xuống đất rồi ranh mãnh ngẩng lên, nói:

- A, anh khôn nhỉ! Anh tìm vàng hay tìm cái gì đấy?

- Không, tôi muốn tìm người yêu của tôi – Ai-lứp trả lời.

- Người yêu của anh à? Cô ta đang ngồi ở chỗ cũ đã lâu, đang ngâm bím tóc xuống dòng sông và khóc. Bím tóc của cô đã dài tới hai mươi xa-gien. Bây giờ thì chắc gì anh đã đủ sức nâng nổi bím tóc.

- Thế thì phải làm thế nào hả nhũ mẫu? – Ai-lứp hỏi cáo.

- Nếu ngay từ đầu anh hỏi tôi thì đâu đến nỗi! Nhưng thôi, bây giờ thế này: Hãy về nhà và sống bình thường như lâu nay đã sống. Nếu trong ba năm anh không quên người yêu Tóc Vàng của anh thì tôi sẽ lại đến với anh. Bây giờ một mình anh chạy đi tìm khắp nơi cũng không sao thấy lại cô gái nữa đâu.

Ai-lứp không quen chờ đợi. Anh muốn tìm gặp người yêu ngay, nhưng biết làm sao được! Anh đành buồn rầu đi về nhà.

Ôi, ba năm mới dài làm sao! Mùa xuân đã đến, không thấy vui vẻ gì. Hãy mau lên để ta được gặp người yêu. Mọi người xung quanh bắt đầu chú ý: Chuyện gì đã xảy ra với Ai-lứp của họ? Anh ta cứ như người mất hồn. Những người thân thì hỏi thẳng:

- Anh có khoẻ không đấy?

Ai-lứp túm được năm người giữ chặt trong một tay, nhấc lên cao, quay một vòng và nói:

- Nếu còn hỏi sức khoẻ của tôi nữa thì tôi sẽ ném tất cả các người lên ngọn núi kia!

Hình ảnh người yêu lại hiện lên trong đầu Ai-lứp như là cô ta đang ngồi trước mặt anh. Anh lại muốn ra đi. Chỉ cần nhìn cô từ xa cũng được. Nhưng nhớ đến lời căn dặn của nhũ mẫu cáo, Ai-lứp lại đành chờ đợi.

Chỉ mới qua năm thứ ba, một hôm Ai-lứp nhìn thấy một cô gái trẻ, nhí nhảnh như con chim vành khuyên. Cô gái này đã cắt đứt dòng suy nghĩ về người yêu của Ai-lứp. Anh nghĩ : “những người trạc tuổi mình đều đã có gia đình, còn mình thì vừa mới tìm được người yêu thì đã lại để tuột mất khỏi tay. May mà không ai biết chuyện này, nếu không, họ đến cười cho bể mặt. Chẳng lẽ mình không thể cưới cô gái nhí nhảnh này được sao. Chắc gì tìm lại được người yêu của mình? Còn ở đây chỉ cần có tiền dẫn cưới là lấy được vợ. Bố mẹ cô ta sẽ rất vui lòng gả cô ta cho mình. Cô ta trông cũng được và chắc sẽ không từ chối đâu”.

Nghĩ như vậy, nhưng liền ngay đó Ai-lứp lại thấy nhớ người yêu Tóc Vàng của mình, nhưng cũng không còn da diết như trước. Anh cũng không thấy tiếc cô ta lắm, chỉ thấy bực mình vì đã để mất cô ta một cách quá dễ dàng. Năm thứ ba vừa bết, Ai-lứp nhìn thấy con cáo nọ, anh không giơ cung bắn vào nó, mà đi theo cáo. Cáo dẫn đâu anh đi đến đấy. Anh chỉ bắt đầu chú ý đường và đánh dấu bằng cành cây, cào lên đá và làm những dấu hiện khác.

Họ đi tới đúng con sông lần trước. Cô gái đẹp vẫn ngồi đó, còn bím tóc của cô thì đã dài gấp đôi. Ai-lứp tiến đến và quỳ xuống:

- Chào người vợ chưa cưới Tóc Vàng yêu dấu của anh!

- Chào anh Ai-lứp! đừng băn khoăn vì tóc em dài hơn. Nhưng gần đây em bỗng cảm thấy hình như có chuyện gì đó khác lạ. Anh không quên em chứ? Hay là có ai đó đã làm anh phải nghĩ ngợi?

Hỏi như vậy rồi cô gái mỉm cười một cách khó hiểu, làm như cô đã biết hết mọi chuyện. Lúc đầu Ai-lứp xấu hổ, nhưng rồi sau anh quyết định nói hết sự thật rằng đã ngắm nhìn cô gái nhí nhảnh kia, đã nghĩ đến chuyện cưới cô ta về làm vợ. Đến đây, Tóc Vàng nói:

- Thế là tốt, anh đã thành thật nói hết. Em tin anh. Chúng ta hãy đi nhanh lên. Có thể lần này chúng mình chạy được đến một nơi nào đó mà cha em không thể bắt được.

Ai-lứp kéo bím tóc từ dưới sông lên, cuốn quanh mình, cầm lấy kéo của nhũ mẫu đưa và họ đi về nhà. Họ đi theo con đường mà Ai-lứp đã đánh dấu. Khi trời đã tối đen, Ai-lứp nói:

- Chúng ta hãy trèo lên cây, có thể cha em không bắt được chúng ta từ trên cây đâu.

- Đúng đấy! – Tóc Vàng trả lời.

Nhưng làm sao cả hai trèo lên cây, khi mà bím tóc đã buộc họ lại với nhau. Tóc Vàng nói:

- Cần phải cắt bớt tóc đi. Chỉ giữ đến gót chân là đủ rồi.

Nhưng Ai-lứp tiếc:

- Không, phải giữ lấy trọn vẹn. Ôi, tóc em mềm mại làm sao! Anh chỉ muốn đưa tay vuốt thôi.

Ai-lứp tháo bím tóc quấn quanh người. Tóc Vàng trèo lên trước nhưng không quen nên không thể nào trèo được. Ai-lứp đẩy cô lên, giúp cô nắm những cành cây trèo lên. Ai-lứp vui vẻ trèo theo và kéo theo bím tóc khỏi mặt đất.

- Chúng ta sẽ chờ đến sáng – Ai-lứp nói, và anh quấn tóc của người yêu vào cành cây - Phải buộc chặt tóc vào cành cây, nếu không khi ngủ sẽ bị té.

Ai-lứp buộc thật chặt và nói:

- Bậy giờ hãy ngủ một giấc, anh canh cho. Khi nào sáng anh sẽ đánh thức.

Tóc Vàng tin tưởng vào người yêu, nhanh chóng thiếp đi. Chính Ai-lứp cũng thiu thiu. Cơn buồn ngủ ập đến không thể cưỡng lại được. Đầu Ai-lứp gục xuống. Trên cành cây có một con cú. Nó kêu lên lo ngại : "Phu-bu, phu-bu! Hãy cẩn thận!”.

Ai-lứp vẫn ngủ và nằm mơ thấy mình trở về lều của mình và từ trong lều đó người vợ Tóc Vàng của anh bước ra đón. Cô dễ thương hơn, bím tóc của cô như con rắn vàng uốn lượn trên thảm cỏ. Đến đúng nửa đêm, bỗng nhiên những cành cây rung lên và bốc cháy, Ai-lứp bị bỏng, rơi xuống đất. Anh vừa nhìn thấy từ dưới đất một vòng lửa to sáng rực lên và người yêu Tóc Vàng của anh trở thành một đám mây từ những mảnh vàng nhỏ vụn rồi phụt tắt. Ai-lứp chạy đến nhưng không thấy gì. Trời tối như bưng. Anh quờ tay xuống, chỉ thấy đá và lá rừng. Ở một chỗ anh quờ thấy đuôi tóc dài tới hai mươi xa-gien của người yêu. Ai-lứp hơi vui : “Cô ấy để dấu lại đây, chắc chắn là cha cô ấy không thể lấy được tóc của con gái”.

Ai-lứp vừa nghĩ vậy, thì đã thấy dưới chân, con cáo chép chép miệng. Nó dúi mũi xuống đất rồi ngẩng lên, ranh mãnh nói:

- Ôi! Ai-lứp khôn nhỉ! Anh cần gì: bím tóc vàng hay người yêu?

- Cháu cần người yêu của cháu với bím tóc hai mươi xa-gien chĩu nặng của nàng.

- Muộn rồi, bím tóc bây giờ dài tới ba muơi xa-gien. – Con cáo nói.

- Mái tóc chỉ là thứ yếu. Cháu muốn lấy được người yêu mến của cháu.

- Thà nói thế còn hơn! Nào, bây giờ tôi nói lần cuối cùng: hãy đi về nhà và chờ đợi thêm ba năm nữa. Tôi sẽ không đến mà anh phải tự tìm đường mà đi. Đừng đi sớm quá, cũng đừng đi muộn quá. Chớ có quên cúi chào bác Cú.

Nói rồi cáo biến mất. Trời sáng Ai-lứp đi về nhà và suy nghĩ : “Sao nhũ mẫu Cáo lại nói đến con cú? Thiếu gì cú ở trong rừng! Tại sao phải cúi chào nó?”. Nghĩ mãi và Ai-lứp sực nhớ : khi anh ngồi trên cây, có một con cú bay trước mặt và kêu : “Phu-bu, phu-bu! Hãy cẩn thận!”. Đúng là cáo nói về con cú đó rồi. – Ai-lứp nghĩ và quay trở lại chỗ đó, ngồi đến chiều và kêu:

- Bác Cú ơi! Hãy dạy cháu trí khôn! Hãy chỉ đường cho cháu.

Ai-lứp kêu mãi, không ai đáp lại. Anh vẫn kiên trì chờ thêm một ngày. Ai-lứp lại kêu, cả lần này nữa không ai đáp lại. Anh chờ đến ngày thứ ba. Chỉ đến chiều, Ai-lứp mới gọi:

- Bác Cú ơi!

Từ trên cây có tiếng vọng xuống:

- Phu-bu! Tôi đây. Ai cần đến tôi đấy?

Ai-lứp kể hết sự không may của mình và nhờ bác Cú giúp cho. Bác Cú nói:

- Phu-bu! Khó lắm con trai à, khó lắm!

Ai-lứp trả lời:

- Khó mấy cũng không đáng sợ, cháu chỉ cần tìm được người yêu của cháu thôi. Dù có thiệt thân cháu cũng chả tiếc.

- Thế thì nghe đây! – Bác Cú thương trình nói: - Thằng cha Pô-lô-ốp ở vùng này có quyền lực lắm, hắn là chủ tất cả vàng ở đây, muốn lấy của ai cũng được. Mỗi khi ở thấy đâu có vàng là hắn chiếm lấy thành lãnh địa của mình. Đất của hắn phi ngựa ba ngày cũng chẳng hết. Nhưng ở vùng này còn một chỗ mà hắn chịu bó tay chưa cai quản được. Nếu khôn khéo có thể lấy vàng ở đó được. Nhưng chẳng phải dễ đâu. Đã định tới thì phải ttheo đến cùng, nếu bỏ dở thì chết.

Ai-lứp nói ngay:

- Bác làm ơn chỉ cho cháu chỗ đó.

Bác Cú trả lời:

- Chỉ thì không chỉ được và bác cháu ta có những cái khác nhau: Ban ngày bác không nhìn thấy đường, còn ban đêm bác đi đâu thì cháu lại chịu. Thôi được, bác sẽ chỉ cho cháu mấy cái mốc. Cứ đi và chú ý tới các hồ nước, khi thấy hồ nào có thảng đá lớn như núi ở giữa, một bên có mấy cây thông còn ba bên phẳng như tường xây thì đó chính là chỗ cần tìm. Nếu ai mang vàng đến được tảng đá đó thì người ấy sẽ mở được đường xuống dưới hồ và Pô-lô-ốp sẽ không bắt được nữa.

Ai-lứp ghi nhớ hết và đầu và nghĩ chắc đó là hồ I-xức-xun. Anh mừng quá la lên:

- Thế thì cháu biết chỗ đó rồi!

Bác Cú vẫn dặn đi dặn lại:

- Nhưng cháu cần xem kỹ để khỏi nhầm.

- Được rồi, cháu sẽ đi xem.

Cuối cùng bác Cú còn nói thêm:

- Phu-bu! Đừng quên là đã trốn được Pô-lô-ốp thì không trở lại được nữa đâu.

Ai-lứp cám ơn bác Cú và đi về nhà. Sau đó anh tìm được ngay cái hồ có tảng đá ở giữa và nhận thấy đi một ngày sẽ không thể kịp, dứt khoát phải mở đường cho ngựa.

Và thế là Ai-lứp bắt đầu mở đường. Chẳng nhẹ nhàng một tí nào. Rừng thì rậm mà lại phải phá hơn một trăm dặm. Mỗi khi kiệt sức, Ai-lứp lại lấy đuôi tóc ngắm nghía vuốt ve và như lấy lại được sức. Rồi lại bắt đầu công viêc. Cứ như thế ba năm trôi qua và cuối cùng anh đã chuẩn bị xong tất cả.

Ai-lứp vừa kịp đến đón người yêu. Anh kéo bím tóc từ dưới sông lên, cuốn vào mình và hai người cùng chạy vào rừng. Chạy đến đoạn đường Ai-lứp đã phát quang thì đã có sáu con ngựa đợi sẵn. Ai-lứp cưỡi lên một con, đặt người yêu lên một con, còn bốn con kia thì kéo theo. Khi cặp ngựa này mệt, họ đổi cặp ngựa khác và cứ thế tiếp tục chạy. Nhũ mẫu cáo thì chạy đằng trước. Chắc không ai có thể đuổi được họ. Đến chiều thì họ kịp đến hồ. Ai-lứp nhảy ngay lên thuyền và đưa người yêu cùng nhũ mẫu cáo ra tảng đá giữa hồ. Vừa đến nơi, tảng đá lập tức tách ra cho họ đi vào đó, khi mặt trời vừa lặn.

Ngay lúc đó, ôi, cái gì đã xảy ra?

Khi mặt trời vừa lặn thì Pô-lô-ốp bao vây hồ bằng ba vòng lửa. Khắp mặt nước, những tia lửa vàng rực lên, nhưng dù vậy, hắn cũng không lấy lại được con gái. Bác Cú đã cản hắn. Bác ngồi trên tảng đá và cứ hú từng hồi : “Phu-bu! Phu-bu! Phu-bu!”. Bác kêu lên ba lần như vậy thì lửa tắt. Khi Pô-lô-ốp đốt lên thì bác lại kêu tiếp.

Pô-lô-ốp làm nhiều đêm như vậy, nhưng không đạt được gì. Hắn đã kiệt sức.

Từ ngày đó, trên hồ xuất hiện vàng. Vàng ở đâu ra. Người ta nói rằng vàng chảy từ tóc của con gái Pô-lô-ốp. Vàng nhiều lắm. Sau đó tôi còn nhớ xung quanh chuyện này người Ba-ski-a và người ở nhà máy cãi nhau, không biết bao nhiêu lần.

Còn Ai-lứp và người vợ Tóc Vàng của mình thì ở lại dưới hồ. Họ có đồng cỏ, bầy ngựa. Tóm lại là họ sống tự do và hạnh phúc.

Người ta nói rằng đã có lần người ta thấy cô gái Tóc Vàng ngồi trên tảng đá. Hình như vào lúc hoàng hôn cô ta lên và ngồi đó, còn bím tóc như con rắn cuốn xung quanh mới đẹp làm sao.

Còn tôi thì chưa thấy cảnh tượng đó bao giờ. Chưa trông thấy nên tôi không muốn…

-----------------


(1) Một xa-gien bằng 2,134m.




Đến đây là trang cuối cùng của tập truyện. Xin chân thành cám ơn bạn Lam Anh (tức Tiêu Tương) và A Thanh ở diễn đàn Vietkiem đã đánh máy, cám ơn bạn Lam Anh đã chia sẻ file, và đã đồng ý cho phép mình sử dụng bản đánh máy đó. Xin cám ơn những bạn đã đọc chủ đề này. Xin chào tạm biệt chiếc tráp bằng đá khổng tước.

Nhân tiện mình cũng quảng cáo là Nga có làm phim hoạt hình cùng tên! Nếu bạn nào có quan tâm, hãy tìm xem, và hay là chúng ta làm phụ đề cho nó các bạn nhỉ? Vì phần tiếng Việt đã có sẵn rồi, chỉ cần biên tập thôi?
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên:
Мужик (18-04-2012), Siren (22-04-2012)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Về sự tham gia chiến đấu của Liên Xô ở Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ Gấu Misa Hồ sơ chiến tranh thế giới 206 18-11-2014 06:58
Blitzkrieg – Game chiến thuật hay nhất về Chiến tranh thế giới lần thứ 2 phuongnn Các chủ đề khác 98 18-02-2012 12:55


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 02:53.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.