|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
||||
|
||||
|
QUY HOẠCH, SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI HỢP LÝ –
VẤN ĐỀ CÓ Ý NGHĨA TRỌNG ĐẠI VÀ LÂU DÀI “Tấc đất tấc vàng” - câu ngạn ngữ từ ngàn xưa càng ngẫm càng thấy đúng. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu giá trị đích thực của từng loại đất. Mà khi đã không hiểu ngọn ngành về điều này, dễ đi đến những quyết sách sai lạc về quản lý và sử dụng dạng tài nguyên đặc biệt thuộc sở hữu của Nhà nước này. Xét về ý nghĩa chính trị, về chủ quyền lãnh thổ, thì mọi mảnh đất của Tổ quốc đều có ý nghĩa như nhau, phải tốn bao xương máu nhân dân ta mới khai khẩn và bảo vệ được. Nhưng xét về giá trị thực dụng thì mỗi loại đất lại có ý nghĩa khác nhau. Câu ngạn ngữ “Tấc đất tấc vàng” càng đúng đối với những nơi đất đai khan hiếm như vùng cao nguyên đá Đồng Văn chẳng hạn. Nhưng chính cao nguyên đó lại hàm chứa những giá trị to lớn, đáng khao khát của bao quốc gia trên thế giới. Đó là nơi có địa hình đá vôi (karst) trùng điệp, muôn hình vạn trạng, có thung lũng sông Nho Quế đẹp như mộng với những hẻm vực hoành tráng nhất Đông Dương, có những tượng đài địa cảnh đáng giá cho du khách vượt muôn dặm đường xa đến ngắm nhìn, thưởng lãm… Xét về tiềm năng du lịch, nếu ở đó xây dựng được một Công viên Địa cảnh (Geopark) đẳng cấp quốc tế thì giá trị của nó sẽ được nâng lên nhiều lần. Vấn đề là ở chỗ phải biết đánh thức tiềm lực đất đai... Vậy mà cho tới nay đất nước Việt Nam tươi đẹp chưa hề có một di sản địa chất nào được công nhận - một sự chậm chân đáng tiếc so với khu vực và quốc tế. Xét riêng về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nước ta có hai vựa lúa lớn là đồng bằng châu thổ sông Hồng (1.486.241 ha) và đồng bằng châu thổ sông Mê Kông (4.060.478 ha). Trước nay đoạn sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ Việt Nam vẫn được gọi là sông Cửu Long do sông này có 9 cửa đổ ra Biển Đông. Tuy nhiên, hiện nay tên gọi đó dường như không còn thích hợp nữa: 1 cửa sông đã bị bồi lấp kín hẳn (cửa Bát Sắt), một cửa sông khác đã bị ngăn lại bởi một con đập (cửa Ba lai). Như vậy, trong thực tế sông Mê Kông chỉ còn 7 cửa đổ ra biển một cách tự nhiên. Các đồng bằng kể trên với đất đai phì nhiêu, thuận tiện cho việc trồng lúa nước, là những tài nguyên thiên nhiên có giá trị bậc nhất của nước ta. So với chúng, những mỏ dầu ngoài thềm lục địa phía Nam và những mỏ than antraxit quý giá của bể than Quảng Ninh dường như không đáng kể. Theo những đánh giá lạc quan nhất thì trong vòng 100 năm nữa loài người sẽ rút lên từ lòng đất những giọt dầu mỏ cuối cùng… Còn bể than Quảng Ninh được đánh giá có trữ lượng 3,3 tỉ tấn (tính đến độ sâu 300m, trong đó trữ lượng kinh tế chỉ đạt 1,2 tỉ tấn), được khai thác từ ngót 100 năm nay, với sản lượng chiếm tỉ lệ khoảng 90% tổng sản lượng than toàn quốc. Tuy nhiên hiện nay những mỏ than lộ thiên lớn đều sắp cạn kiệt, dù có thời kỳ sản lượng than của chúng lên đến 80% tổng sản lượng. Điều kiện khai thác than tầng sâu ngày càng khó khăn, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ngày càng cao. Dự đoán, sau năm 2020 chúng ta sẽ phải xem xét đến khả năng khai thác than ở tầm sâu 150-300m. So với hai loại tài nguyên khoáng sản giá trị kể trên thì các đất đai của các đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Mê Kông là những giá trị trường tồn nếu chúng ta biết bảo vệ và khai thác một cách hợp lý. Đất sản xuất nông nghiệp thực tế của đồng bằng Sông Hồng chỉ có 764.024 ha, còn ở đồng bằng sông Mê Kông là 2.579.463 ha (số liệu thống kê 2005, đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt). Đó là những tài nguyên thiên nhiên quý giá bậc nhất mà thiên nhiên ban tặng cho chúng ta, là nơi người dân quê mộc mạc cần cù từ bao đời nay đã sống và làm ra hạt lúa nuôi cả cộng đồng. Cũng chính trên các đồng bằng châu thổ đó, nền văn minh lúa nước đã được nhen nhóm từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc. Có học giả còn khẳng định nền văn minh lúa nước Đông Nam Á đã xuất hiện sớm nhất trên hành tinh. Nếu tìm hiểu ngọn ngành, chúng ta sẽ biết rằng để có một tấc đất trồng lúa nước ở đồng bằng ngày nay, thiên nhiên đã phải tốn đến hàng triệu năm. Sau đây, chúng ta hãy thử cùng đi ngược thời gian, xem đồng bằng Sông Hồng đã được hình thành ra sao?. Trước hết, lùi lại mốc thời gian cách đây 59 triệu năm, vào cuối kỳ Paleocen của kỷ Đệ Tam, khi mảng lục địa Ấn Độ đã xô húc vào mảng Tây Tạng của lục địa Âu – Á. Từ đó, bắt đầu quá trình nâng lên của dải đất mà ngày nay đã trở thành mái nhà thế giới – dãy núi Hymalaya với đỉnh Everes cao 8.848m. Cũng chính quá trình tạo núi Hymalaya đó đã khiến lớp vỏ Trái Đất bị tổn thương, tạo nên nhiều vết nứt vỡ kèm theo sự dịch trượt của đất đá ở 2 bên vết nứt, được gọi là các đứt gẫy địa chất. Một đứt gẫy lớn kéo dài từ Tây Tạng, qua Mianmar, Vân Nam (Trung Quốc) rồi xuyên cắt vào lãnh thổ nước ta.. Nương theo đới đứt gẫy sung yếu ấy của vỏ Trái Đất, một dòng sông đã được hình thành, kéo theo đất đỏ terra-rossa của những vùng nó đi qua làm cho nước sông được nhuốm màu hồng đặc trưng. Đó chính là sông Hồng – con sông gần như chia đôi lãnh thổ Bắc Bộ. Vào kỷ Neogen, cách nay 23,5 đến 1,75 triệu năm, sông Hồng còn trẻ, mới để lại trầm tích lòng sông tuổi Neogen mà ngày nay đã chìm sâu dưới những tầng trầm tích mới. Nhưng sang kỷ Đệ Tứ, từ mốc 1,75 triệu năm trước đây, con sông đã bước vào thời kỳ già. Những tầng bồi tích đầu tiên hình thành đã khai sinh ra đồng bằng châu thổ Sông Hồng. Từ đó, cùng với các chi lưu của mình, từng chút một, sông Hồng cần mẫn chở phù sa, vun đắp đồng bằng châu thổ. Quá trình hình thành đồng bằng châu thổ Sông Hồng có sự tương tác giữa sông và biển. Sông gom góp từng chút phù sa bồi đắp đồng bằng và lấn dần ra biển. Ngày nay, nhìn từ ảnh vệ tinh tại vùng cửa Ba Lạt của sông Hồng, chúng ta vẫn có thể quan sát quá trình “lấn biển” đó. Mà không phải con sông nào cũng có khả năng này. Ví dụ sông Bạch Đằng ở Bắc Bộ, sông Hàn ở Hàn Quốc, vì có cửa sông dạng phễu (estuary) nên chúng không tạo ra được đồng bằng châu thổ của mình. Vào thời Minh Mạng, quan Dinh điền Nguyễn Công Trứ có công lớn khai khẩn hai vùng đất ven biển, lập làng và bố trí hệ thống thủy lợi hợp lý, thau chua rửa mặn v.v.. để vùng đất hoang ven biển có thể sử dụng trồng lúa nước. Những vùng đất đó đã được triều đình cho lập thành hai huyện Tiền Hải (18280) và Kim Sơn (1829). Những tên gọi đó có nghĩa “Biển Bạc” và “Núi Vàng”. Công mở đất của Nguyễn Công Trứ được người đời ghi tạc. Hiện nay đền thờ ông vẫn còn trên những miền đất mà ông đã có công khai khẩn. Như vậy, sự hình thành một mảnh đất thích hợp với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa nước, là cả một quá trình dài lâu, gian khổ của thiên nhiên và con người. Quá trình phong hóa và tạo đất trồng trọt từ các loại đá thường gặp ở vùng đồi núi còn khó hơn nhiều. Ai đã từng nhìn thấy cảnh một người dân tộc H’Mông gùi đất lên bỏ vào từng hốc đá vôi trên cao nguyên Đồng Văn, rồi tra vào đó mấy hạt ngô, mới thấy hết giá trị của đất trồng đối với con người. Nguy cơ khủng hoảng lương thực thế giới trong dịp tháng tư vừa qua đã cảnh tỉnh loài người, cũng là điều buộc chúng ta phải dừng lại và suy ngẫm. Từ chỗ thiếu, rồi tự túc đủ lương thực vào những thập niên cuối của thế kỷ trước, Việt Nam từng vươn lên trở thành quốc gia đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo. Nhiều dự báo cho thấy vào những thập niên tiếp theo, sự khan hiếm lương thực sẽ trở thành nỗi lo âu của loài người. Chính vì thế, đất đai nông nghiệp, đặc biệt là những diện tích trồng lúa nước đã và sẽ luôn là tài sản vô giá, cần được bảo vệ và phát huy tốt nhất hiệu quả sử dụng. Trên thế giới, nhiều nước đã quy hoạch phát triển đô thị lên những vùng đồi thoải, hạn chế sử dụng đất nông nghiệp cho các dự án phi nông nghiệp. Nên nhớ rằng, miền đồi núi của Việt Nam chiếm đến ¾ diên tích đất nước. Diện tích đồng bằng thực tế không được bao nhiêu. Do vậy, khi quy hoạch tổng thể cần quan tâm bảo vệ những diện tích vốn là vựa lúa. Điều đó dường như chưa được chú trọng khi xem xét trong thực tiễn quy hoạch lãnh thổ thời gian qua ở nhiều địa phương. Chính cách quản lý, điều hành lỏng lẻo của các cơ quan chức năng đã tạo nhiều kẽ hở cho những kẻ đầu cơ trục lợi. Tình trạng sử dụng đất không trúng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến khả năng chủ động về an ninh lương thực quốc gia. Không cần đi đâu xa, chỉ trên quốc lộ 5, dài khoảng 100 km nối hai thành phố lớn là Hà Nội và Hải Phòng, nhiều người đã thấy đau lòng khi không biết bao nhiêu diện tích trồng lúa nước hai bên đường đã phải nhường chỗ cho những dự án đủ loại: công nghiêp, dịch vụ, giải trí, đô thị. Có cả những “dự án ma” nằm “đắp chiếu” nhiều năm trời. Sắt thép, bê tông găm vào, phủ lên không thương tiếc những mảnh đất phì nhiêu mà thiên nhiên đã tốn cả triệu năm tạo ra, và thích hợp cho việc trồng lúa nước. Đất đai nông nghiệp bị thu hẹp nhanh đến chóng mặt. Theo số liệu của bộ Tài nguyên - Môi trường, trong 7 năm qua, tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chuyển sang đất phi nông nghiệp đã vượt qua ngưỡng 500.000ha (chiếm hơn 5% đất nông nghiệp đang sử dụng). Riêng trong năm 2007, diện tích đất trồng lúa cả nước đã giảm 125.000 ha. Điều đáng lưu ý là có đến 50% đất nông nghiệp bị thu hồi nằm trong những vùng canh tác trọng điểm và 80% trong số đó thuộc loại đất màu mỡ. Vì những dự án ấy, biết bao gia đình nông dân đã trắng tay. Số tiền đền bù tuy không nhiều, nhưng cũng quá lớn đối với người dân vốn chỉ biết cày sâu cuốc bẫm. Họ có thể xây nhà, mua xe từ số tiền đền bù đó, nhưng rồi bỗng trở thành thành đội quân thất nghiệp. Một bộ phận nông dân không tránh khỏi sa vào những tệ nạn xã hội, bị tha hóa. Vì đã có mấy địa phương, mấy doanh nghiệp thực sự quan tâm đào tạo ngành nghề mới phù hợp cho những người dân vốn chỉ quen chân lấm tay bùn? Họ bị coi là đối tượng được đền bù, chứ không phải là đối tượng cần quan tâm, phát triển trong đà phát triển chung của xã hội. Những điều “đau đớn lòng” kể trên đã và đang diễn ra, trong bối cảnh nước ta có đủ diện tích trung du, đồi núi phù hợp để triển khai các dự án công nghiệp, đô thị v.v.. Nếu đầu từ cơ sở hạ tầng, đường xá, cầu cống và các công trình phúc lợi công cộng song hành với các dự án vào những vùng đất cằn khô, nghèo khó đó sẽ vừa giúp cho những vùng đất đó hồi sinh, vừa cứu thoát những cánh đồng phù sa màu mỡ khỏi bị chôn vùi dưới bê tông, sắt thép. Bài toán ở tầm vỹ mô ấy hẳn không ít người nhìn ra, nhưng có vẻ tất cả đều bất lực. Vì họ không phải là những người có quyền quyết định. Mà những người có đủ thẩm quyền thì hoặc không nhận ra, hoặc cố tình làm ra vẻ như thế. Đã đến lúc bài toán vĩ mô ấy cần được giải quyết triệt để và kiên quyết. Dù biết rằng phá ruộng để phát triển công nghiệp và các lĩnh vực phi nông nghiệp khác là “tiện” nhất và “phất” nhất. Nhưng đó là cách làm “ăn sổi ở thì”, là có tội với các thế hệ tương lai của đất nước. Một số doanh nghiệp, một số cá nhân có quyền, có chức có thể được hưởng lợi lớn vì điều đó, nhưng xã hội nói chung và người nông dân nói riêng phải chịu thiệt thòi. Có những sai lầm sửa chữa được, nhưng những sai lầm kiểu đó là vô phương cứu chữa. Không ai nghĩ rằng trong tương lai một khu công nghiệp đồ sộ nào đó có thể bị “nhổ đi” để trả lại diện tích cho lúa nước. Đất nông nghiệp của những đồng bằng châu thổ phì nhiêu bị chuyển đổi cho những mục đích sử dụng khác không hợp lý là một mất mát có thể nói không gì bù đắp được. Thiết nghĩ vấn đề trọng đại này cần được nghiên cứu, kiểm tra và xử lý nghiêm minh. Có thế chúng ta mới không để tình trạng chảy máu “đất xám” ngay trước mắt mình, trên lãnh thổ của mình. Chẳng lẽ tấm gương sáng khai khẩn và mở mang đất nông nghiệp của Nguyễn Công Trứ từ gần một thế kỷ trước còn treo đó mà lớp con cháu chúng ta hôm nay có thể lãng quên? Sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là điều cần thiết, không phải bàn cãi. Song từ trong sâu thẳm tâm hồn, người Việt ta vẫn tự hào là cư dân trong cái nôi lúa nước của nhân loại. Việc bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, việc giữ vững là một trong những cường quốc của lúa gạo thế giới hẳn là điều chúng ta cần nghĩ tới. Đó cũng là tâm nguyện chung của hầu hết chúng ta, hôm nay và mai sau. GEOBIC
__________________
Sông núi đẹp đâu cũng là Tổ Quốc Thay đổi nội dung bởi: Geobic, 25-05-2008 thời gian gửi bài 14:23 Lý do: cho hoàn thiện thêm |
| Có 9 thành viên gửi lời cảm ơn Geobic cho bài viết trên: | ||
admin (25-05-2008), BelayaZima (25-05-2008), Cartograph (25-05-2008), fresco (25-05-2008), hungmgmi (25-05-2008), rung_bach_duong (25-05-2008), Thao vietnam (25-05-2008), USY (25-05-2008), weekdaysman (25-05-2008) | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
Nỗi đau của bác Geo chắc sẽ...đau thêm khi Hà nội mở rộng. Về "cơ bản" đất canh tác Hà nội đã được "công nghiệp hóa" hết rồi, bây giờ sẽ là các vùng lân cận. Cái "nôi" của nền văn minh lúa nước vốn đã cũ kỹ, chả mấy mà được thanh lý "cổ phần hóa" hết. Con cháu sau này nối nghề bác, lại khoanh vùng, khai quật, soi từng hòn đất, đá(mới lấp xuống ngày nay) để tìm ...lúa và ruộng...hóa thạch, bác ơi !!!
__________________
Tình yêu Vĩnh hằng. |
|
#3
|
||||
|
||||
|
Nếu muốn HN có nhiều muối thì mở rộng về Nam định (Hải hậu), còn nếu muốn HN có nhiều gạo thì mở rộng về Thái bình các bác nhỉ
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
Thao vietnam (25-05-2008) | ||
|
#4
|
||||
|
||||
|
Trên báo Thể thao văn hóa hôm nọ bác nhà văn Nguyễn Quang Thân mới "bình lựng": Tại sao cứ phải vội vàng mà mở rộng HN, cứ làm như không mở rộng ngay thì chết đến nơi.
Nhưng phù, xin lỗi nhé, không dám động đến chủ đề nhạy cảm này đâu
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
![]() |
| Bookmarks |
|
|