Trở về   Nước Nga trong tôi > Nước Nga ngày nay > Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 13-06-2013, 00:05
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Anhxtanh - Hoang đường của thế kỷ!

Khoa học đang thối nát bởi vì đâu?

Suốt thời kỳ Xô Viết, hầu hết giới học thuật Nga đều chấp nhận Anhxtanh như những gì tạp chí Time viết: Person of Century! Không bàn cãi.

Nhưng cũng có rất nhiều nhà khoa học chưa bào giờ nghĩ như vậy. Ngược lại là khác. Bởi cấm bàn cãi nên ý kiến của họ ít được biết đến. Nếu có dịp chúng ta sẽ đề cập đến những con người đó.

Cho đến thời 90, thông tin được thông thoáng hơn, Nga lại là nơi bác bỏ Anhxtanh nhiều nhất. Thậm chí các nhà nghiên cứu tên tuổi còn viết thư cho ông bộ trưởng giáo dục, chỉ trích tại sao ông lại dạy dỗ học sinh thằng ăn cắp là thiên tài?

Thiên tài Anhxtanh mang bộ quần áo trong suốt, giống câu chuyện cổ tích Andersen. Tất cả là ăn cắp, không có bất cứ cái gì là của mình!

Chúng ta bắt đầu.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên:
alexan (01-07-2013), chipvn (19-06-2013), doi_bung_wa (02-11-2013)
  #2  
Cũ 13-06-2013, 01:54
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20

Nguyên văn: The Eclipse Data From 1919: The Greatest Hoax in 20th Century Science; By Richard Moody Jr. Các bạn có thể tìm thấy bản gốc trên mạng;

Lời tựa
Chiến tranh vùng Vịnh đã được khẳng định dựa trên khái niệm về ưu thế áp đảo. Nói cách khác, các nước đồng minh đã không viện đến số lượng tối thiểu quân đội và nhân viên hỗ trợ để thực hiện chiến tranh. Họ vượt quá nhiều mức tối thiểu. Khoa học là chiến tranh. Bài viết này khẳng định nguyên tắc ưu thế áp đảo khoa học. Một cách tiếp cận tương tự được sử dụng bởi
Woodward và Bernstein khi họ vào Nhà Trắng thời Nixon. Họ không chỉ nhận được đầy đủ thông tin để công việc được thực hiện, họ đã đi xa hơn điều đó. Người ta tin rằng sự cần thiết phải có ưu thế áp đảo người đọc là tình cảnh bắt buộc đáng buồn gây ra bởi sự thối nát và xâm phạm khoa học đã xảy ra từ thế kỷ trước.

Tóm tắt
Trước năm 1919, thuyết tương đối rộng là lý thuyết mơ hồ của một ngôi sao đang lên trong vật lý, Albert Anhxtanh. Dựa trên nhu cầu nhận thức để kiểm nghiệm khái niệm phức tạp và hấp dẫn này, người ta đã dựng lên chân lý rằng ánh sáng đi ngang qua mặt trời sẽ bị uốn cong bởi sức hấp dẫn của mặt trời, một cái gì đó được biết đến bởi Isaac Newton và sửa đổi bởi Anhxtanh. Theo hiểu biết hiện tại, điều này sẽ được quan sát thấy trong thời gian nhật thực toàn phần khi che chắn ánh sáng mặt trời sẽ cho phép quan sát ánh sáng từ những ngôi sao xa xôi bị bẻ "cong" quanh mặt trời.

Trong một nỗ lực đóng vai trò hòa giải và làm vua, Arthur Eddington đã đến Principe ở châu Phi với mục đích chứng minh Anhxtanh đúng. Trước đó, ông ta là một người ủng hộ Anhxtanh, do, một phần, thực tế là cả 2 có cùng quan điểm chính trị như nhau, nghĩa là chủ nghĩa cuồng nhiệt. Trong sự nhiệt tình ông ta có cả 2, hòa giải và làm vua, (ông ta muốn được người ta biết đến như là người phát hiện ra Anhxtanh), Eddington đã tham gia vào trò xâm phạm và sửa đổi dữ liệu khoa học, phương pháp khoa học, và nhiều hơn là cộng đồng khoa học. Cho đến ngày nay, dữ liệu chế tác này được trích dẫn bởi các nhà khoa học nổi danh và các nhà xuất bản. Nó đã vượt qua trò gian lận Piltdown để trở thành trò bịp bợm lớn nhất của khoa học thế kỷ 20 và 21.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên:
chipvn (19-06-2013), doi_bung_wa (02-11-2013)
  #3  
Cũ 13-06-2013, 02:17
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20

Giới thiệu

Tôn kính người hùng hay sùng bái cá nhân có thể có vẻ vô hại với một số, nhưng trong trường hợp của Anhxtanh, nó đã gây ra hậu quả tai họa cho cộng đồng khoa học. Chúng ta hãy bắt đầu với có lẽ là bê bối khoa học tồi tệ nhất ấp ủ và giấu diếm trong thế kỷ 20 và 21, mà đã bị phát hiện. Tôi đang đề cập đến trò lừa bịp của năm 1919, còn được gọi là dữ liệu nhật thực năm 1919, sau đây gọi là "nhật thực - Eclipse". Thứ khoa học đáng ngờ của Anhxtanh đã dẫn các nhà khoa học khác đến chỗ ô nhục vì đã vội vàng cho mục đích chứng minh Anhxtanh đúng về thuyết tương đối rộng. Gần như không thể tưởng tượng được khi nghĩ các nhà khoa học “danh giá” lại tồi tệ như thế nào khi người ta biết đến sự hạn chế của các thiết bị khoa học, các giới hạn của điều kiện vật lý mà theo đó dữ liệu được thu thập và hoàn toàn không hiểu biết gì về logic đằng sau những dự đoán khác nhau về độ lệch của ánh sáng. Các nhà khoa học này dường như không hiểu phương pháp khoa học là cái gì hay làm thế nào để áp dụng nó.

Theo Graf, mô hình mạnh giống như một bộ lọc thô thiển, sẵn sàng thừa nhận dữ liệu phù hợp với lý thuyết và chối bỏ có hệ thống dữ liệu không phù hợp với lý thuyết. Điều này dẫn đến vòng phản hồi giữa các dữ liệu bị xâm hại và bị sửa đổi và trong mô hình mạnh, chúng củng cố lẫn nhau. Điều này là trường hợp của thuyết tương đối rộng. Nó đã đi từ một khái niệm mơ hồ ở một nhà khoa học gọi là tối nghĩa, đến hệ biến hóa quyền uy một sớm một chiều, thống trị tư tưởng trong vật lý lý thuyết hơn nửa thế kỷ qua. "Mô hình mạnh” làm thối nát những người đàn ông và phụ nữ yếu đuối. [1] " Lòng thèm muốn thuần phục, cũng mạnh như lòng khát khao sáng tạo. " [1] Mô hình mạnh làm nản lòng những tư tưởng tự do độc lập. Nơi mà sự giàu có, quyền lực và uy tín trở thành có vai trò, chúng có tác dụng như một cây gậy, đánh bại mọi giải pháp thay thế sáng sủa. Thuyết tương đối chỉ là một mô hình như vậy.

Tôi cũng đã bị chú ý bởi sự tương đồng giữa mô hình mạnh và hội chứng ong chúa.[1]

Hành động chính thức đầu tiên của bất kỳ con ong chúa nào khi nó nhận ra mình là ai, là ngay lập tức giết chết bất kỳ đối thủ tiềm năng nào. Đây là cách làm sao để mô hình mạnh hoạt động. Xem xét quan sát này từ Ian McCausland, "Mặc dù thực tế là các bằng chứng thực nghiệm ủng hộ thuyết tương đối dường như là rất mỏng manh trong năm 1919, thì danh tiếng rất lớn của Anhxtanh vẫn còn nguyên vẹn, và lý thuyết của ông ta đã bao giờ được coi là thành tựu lớn nhất của tư tưởng loài người. Hậu quả của sự thần thánh hóa Anhxtanh đã có một số hiệu ứng không mong muốn: người phê phán lý thuyết của ông ta thường bị loại bỏ như kẻ lập dị, và cuộc tìm kiếm các lý thuyết khác tốt hơn đã bị ngăn cấm. Có ý kiến cho rằng công bố quan sát nhật thực toàn phần năm 1919 không phải là một thắng lợi của khoa học khi nó thường được mô tả, đúng hơn là trở ngại cho việc xem xét mục tiêu. [2] “Tiếng tăm lớn và kiên gan của Anhxtanh đưa trực tiếp đến công bố kết quả nhật thực, mặc dù kết quả đặc biệt không chính xác." [2] Cảm nghĩ cuối cùng này được chia sẻ bởi John Maddox, biên tập viên danh dự của tạp chí Nature.[3]

"Bởi sự tôn kính đầy phấn khích của Anhxtanh và thuyết tương đối vào tháng 10 năm 1919, sự khách quan mà với nó khoa học được cho là song hành đã bị ngăn chặn. Phong thần, phong thánh, và tuyên bố cá nhân truyền đạt từ Nature, đã không có chỗ trong khoa học. Nếu kết quả của cuộc thám hiểm nhật thực được công bố như là không thể có kết luận cuối cùng thay vì một quyết định trong năm 1919, thì tương đối rộng đã phải cạnh tranh với các lý thuyết khả dĩ khác ... "[2]

"Đây cũng là hợp lý để hỏi xem sự cố thủ nhanh chóng và mạnh mẽ của lý thuyết tổng quát đã xảy ra như một kết quả thông báo nhật thực có thể dẫn các nhà thí nghiệm đến chỗ có được câu trả lời "đúng" từ những quan sát của họ, như đề xuất trích dẫn trên đây từ Sciama."[2] Mô hình mạnh làm thối nát dữ liệu.

Thất bại nhìn nhận và thúc đẩy thay thế cho mô hình hiện có này trong vật lý thiên văn là rất nghiêm trọng mà 33 nhà khoa học nổi tiếng đã thấy cần thiết phải công khai chỉ trích nhà nước tài trợ ở đây. [4] Muốn tiền? Chỉ cần đưa ra một số phương pháp mới để "kiểm tra" thuyết tương đối rộng. Còn muốn kiểm tra các giả thuyết khác? Quên nó đi, bạn sẽ không nhận được tài trợ. Mô hình hiện tại lái tài trợ ở đất nước này bởi đội quân cũ có lợi ích theo nghĩa giàu có, quyền lực và uy tín bằng cách cổ súy nguyên trạng. Có quán tính khoa học to lớn ngày hôm nay, và, như hết quả là, nhận dạng tiến bộ càng khó khăn hơn để phá vỡ mối quan hệ với quá khứ dễ chịu.

1.Moody Jr. R. 2007. “Beyond Plate Tectonics: Plate Dynamics,” Infinite Energy, 13, 74,
12-24.

2.McCausland, I. 1999. “Anomalies in the History of Relativity,” J. Scientific
Exploration, 13-2, 271-290.

3.Maddox, J. 1995. “More Precise Solar-Limb Light-bending,” Nature, 37, 11.

4.2004. “The Big Bang Theory Busted by 33 Top Scientists,” http//www.rense.com.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên:
chipvn (19-06-2013), doi_bung_wa (02-11-2013)
  #4  
Cũ 13-06-2013, 02:30
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Dữ liệu nhật thực năm 1919: Cú lừa khoa học lớn nhất thế kỷ 20

Chúng ta hãy đặt mọi thứ trong bối cảnh lịch sử: Tính đến năm 1919, Thuyết tương đối là lý thuyết mơ hồ của ngôi sao đang lên Anhxtanh. Một tín đồ giáo phái, Eddington, đã tán đồng khuynh hướng chính trị của Anhxtanh tức là cả hai đều cuồng nhiệt và Eddington nghĩ Anhxtanh là một thiên tài. Ông ta được cho là đã nói: "Chỉ có ba người hiểu thuyết tương đối rộng, và đối với cuộc đời tôi, tôi không biết người thứ ba là ai." Như là hậu quả của nhật thực, Anhxtanh thức dậy ở Berlin sáng ngày 07-11-1919, và bỗng thấy tự mình nổi tiếng." [5]

Vì vậy Eddington trưng bày Principe ở châu Phi vào năm 1919, với mục đích chứng minh Anhxtanh đúng. Không có kẻ ủng hộ Anhxtanh nào tỏ ra bị bối rối bởi thực tế Eddington là một kẻ ủng hộ Anhxtanh, và không phải là một nhà khoa học khách quan. Eddington đóng vai trò của mình như là người hòa giải tuyệt vời và kẻ làm vua rất nghiêm túc. Ông ta đã cố gắng làm dịu ác cảm của các nhà khoa học Anh và Đức khi chia sẻ: "Nó không phải là không có ý nghĩa quốc tế, cho nó một cơ hội để chấm dứt cuộc tranh cãi lộn xộn tẩy chay khoa học Đức." [5]

Sau đó Eddington nói, "Bằng cách đứng hàng đầu trong thử nghiệm, và cuối cùng là xác minh lý thuyết của 'kẻ thù', đài quan sát quốc gia của chúng ta giữ truyền thống vẫn đang còn sống và tốt đẹp nhất của khoa học; và bài học có lẽ vẫn còn là cần thiết ngày nay." [5].

Nói cách khác, nếu anh có thể làm cho kẻ khác chấp nhận được thứ khoa học tồi tệ, có nghĩa là, tin vào trong "... trong truyền thống tốt đẹp nhất của khoa học". Eddington tham gia vào việc sửa đổi sai lạc và xâm phạm khoa học, điều mà vẫn dai dẳng cho đến tận ngày nay, và ông ta kiêu ngạo nói với người khác rằng đây là, "trong truyền thống tốt đẹp nhất của khoa học." Theo nhà thiên văn Ấn Độ vĩ đại Chandrasekhar, "Nếu không có gì để lại cho mình, ông ta (Eddington) đã không lập kế hoạch cuộc thám hiểm ngay cả khi hoàn toàn tin tưởng vào sự thật của thuyết tương đối tổng quát!" [6]

Paul Marmet đã làm được một công việc tuyệt vời cho thấy căn bản đạo đức giả của con người Eddington. Phẩm chất rõ ràng của Eddington là một trong những nhà khoa học tồi tệ nhất trong tất cả các nhà khoa học thế kỷ 20 bởi vì ông ta làm ô nhiễm chính dòng của khoa học trong gần một thế kỷ, và, giống như Pied Piper của Hamlin, dẫn các con chuột ra biển. "Mặc dù tư liệu là rất ít ỏi so với những gì chúng tôi đã hy vọng, tác giả (người phải tự nhận là hoàn toàn không thiên vị) tin rằng nó là thuyết phục." [7]

"Chúng tôi cũng sẽ xem các ngôi sao phân bố như thế nào là không đủ tốt cho các phép đo có sức thuyết phục. Cuối cùng, chúng tôi sẽ thảo luận về ảnh hưởng của Eddington như thế nào để Anhxtanh chiến chỗ hoàn toàn và chống lại bất kỳ kết quả nào khác." [7]

Cũng trong bài viết của Marmet: "Eddington đã bị trì hoãn với quy định rõ ràng là nếu chiến tranh kết thúc vào tháng 5-1919, thì ông ta chắc chắn sẽ dẫn dắt cuộc thám hiểm với mục đích xác minh dự đoán của Anhxtanh!" [7] Bạn sẽ thấy rằng, ông ta nói, "xác minh", không phải kiểm tra.

Điều này đặt ra câu hỏi: khoa học là gì? Theo Sakharov [8], "Chúng tôi coi 'Khoa học' như một phương pháp dựa trên phân tích sâu về các sự kiện, lý thuyết và quan điểm, giả định khách quan, không e ngại thảo luận cởi mở và kết luận. "Điều này thích đáng như thế nào với nhật thực? Có chút tuân thủ nào những nguyên tắc này? Anhxtanh đã hoàn toàn dông dài cho đến khi thế nào đó để mình có được các giá trị có mục đích với sự bẻ cong ánh sáng, Eddington gợi ý xào nấu dữ liệu, và những kẻ ủng hộ Anhxtanh đã nỗ lực để miêu tả những người bất đồng chính kiến với bất kỳ một tý gì lý thuyết của Anhxtanh như là mất trí và lập dị.

Số lượng các nhà khoa học "có uy tín", những người đã tham gia vào toàn bộ trò hề này trông giống hội các nhà khoa học xuất chúng Who’s Who, (một trò lừa nộp tiền ghi tên vào sách để được nổi danh). Ví dụ, Eddington đã hoàn toàn lừa bịp Hội Hoàng gia và Hội Thiên văn học Hoàng gia tại buổi nói chuyện hoan hỉ của mình, ông ta đã tự tuyên cho họ. "Sir Joseph Thomson, Chủ tịch Hội Hoàng gia và chủ tịch hội nghị, ủng hộ mạnh mẽ các kết quả." [5] Không có vẻ mọi nhà khoa học đều thực sự nhìn vào tấm ảnh, và toàn bộ hội nghị trông giống như một lễ đăng quang hơn là một trình bày khoa học, ví dụ ông Pais cho biết: đó là "... ngày mà Anhxtanh được phong thánh." [9]

5.Clark, R.W. 1984. Anhxtanh The Life and Times, Avon Books, New York, 284.

6.Chandrasekhar, S. 1987. Truth and Beauty: Aesthetic and Motivations in Science. Univ. of Chicago Press. Chicago.

7.Marmet. P. Appendix II “The Deflection of Light by the Sun’s Gravitational Field: An Analysis of the 1919 Solar Eclipse Expeditions. http//www.newtonphysics.on.ca/ANHXTANH/Appendix2.html.

8.Sakharov, A. 1974. “Progress, Coexistence and Intellectual Freedom, in Sakharov
Speaks, ed. Knoph, Harrison Salisbury, 56.


9.Pais, A.1982. ‘’Subtle is the Lord...’ The Science and Life of Albert Anhxtanh, Oxford
University Press, Oxford. 551p.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên:
chipvn (19-06-2013), doi_bung_wa (02-11-2013)
  #5  
Cũ 13-06-2013, 02:44
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default

Khoa học bệnh lý

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Những tấm ảnh Eclipse được cho là thấy ánh sáng sao bị uốn cong mặt trời khi ánh sáng đi qua nó trong thời gian nhật thực toàn phần. Dự đoán của Newton về độ lệch được cho là 0,87 giây cung và độ lệch Anhxtanh, hoàn toàn là quảng cáo, được cho là 1,73 giây cung. Thật không may, hiệu ứng quá nhỏ và không thể nào phát hiện chính xác ngay cả với những kính thiên văn hiện đại mạnh nhất trong điều kiện lý tưởng. Đây là ý nghĩa thực sự của "khoa học bệnh lý" như định nghĩa của Langmuir. [10] Không giống như nhiệt hạch lạnh đã được trình diễn để sản xuất nhiệt, ổn định, thời gian ngắn thời gian và các hạt năng lượng cao [11], không thể nói cùng như thế về dữ liệu nhật thực.

Cromer nói là tốt nhất đối với khoa học bệnh lý, "những khám phá thực của hiện tượng trái với tất cả sự tồn tại của khoa học trước nay rất hiếm, trong khi gian lận, giả mạo, ngu xuẩn, và lỗi lầm do quá nhiệt tình và ảo tưởng trên tất cả lại là quá phổ biến." [12] Đó không phải là một mô tả tuyệt vời của dữ liệu nhật thực! Các nhà vật lý đã gắn mác nhiệt hạch lạnh như khoa học bệnh lý. Hãy xem cách họ muốn có dữ liệu nhật thực như định nghĩa khoa học bệnh lý!

Các nhà nghiên cứu nhật thực đã làm cái gì? Trong một nỗ lực vô ích chứng minh rằng Anhxtanh đã đúng, họ "đo đạc" các thay đổi nhỏ hơn cả khả năng của thiết bị của họ, các điều kiện vật lý mà họ gặp phải hoặc thiết bị thu của họ, các tấm ảnh của họ. Đây thực sự là một ví dụ của dạng khoa học bệnh lý. "Đây không phải là một vấn đề, như chúng ta sẽ thấy rằng độ lệch chắc chắn là không thể đo được." [7]

Những gì rõ ràng là hiển nhiên cuộc thám hiểm đến Principe ở châu Phi đã cam chịu thất bại ngay cả trước khi Eddington đặt chân đến đó, bởi cả các thiết bị cũng như các điều kiện cho phép có độ chính xác cần thiết để phân biệt giữa độ lệch Newton và Anhxtanh. "Lỗi gây ra bởi những biến động khí quyển là đủ lớn để bác bỏ bất cứ phép đo nào của cái gọi là hiệu ứng Anhxtanh." [7]

"Sự ủng hộ quá nhiệt tình của Eddington có lẽ có thể giải thích được bởi trước tiên niềm tin của ông ta rằng học thuyết này là đúng đắn và bởi lợi ích của ông ta trong việc tiết kiệm được cái gì đó từ công việc to lớn của cuộc thám hiểm Principe." "Nhưng vẫn có một mối nghi ngờ nữa là bên cạnh những lý do này, đã có, đặc biệt là đối với Eddington, một điều: hy vọng rằng sự xác minh của Anh về lý thuyết Anhxtanh sẽ buộc các nhà khoa học Anh phải có thái độ cởi mở và rộng lượng đối với các đồng nghiệp người Đức của họ." [13]

7.Marmet. P. Appendix II “The Deflection of Light by the Sun’s Gravitational Field: An Analysis of the 1919 Solar Eclipse Expeditions. http//www.newtonphysics.on.ca/ANHXTANH/Appendix2.html.

10.Langmuir, I. 1968. “Pathological Science,” Technical Information Series General
Electric Research and Development Center Transcribed and Ed. by R.N. Hall, April.

11.Moisier-Boss, P.A., Szpak, S., and Gordon, F.E. 2007. “Production of High Energy Particles Using the Pd/D Co-Deposition Process, American Physical Society Meeting Session A31: Cold Fusion 1.

12.Cromer, A. “Pathological Science: An Update,” Skeptical Inquirer, Summer 1993 7,4.

13.Earman, J. and Glymour, C. 1980. “Relativity and Eclipses: The British Eclipse Expeditions of 1919 and Their Predecessors,” in Historical Studies in the Physical Sciences, 11, 49-85.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên:
chipvn (19-06-2013), doi_bung_wa (02-11-2013)
  #6  
Cũ 13-06-2013, 03:06
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default

Người thẩm tra hoài nghi - The Skeptical Inquirer

Tuy nhiên, khi nói đến gian lận, giả mạo, hăng hái thái quá, và lừa gạt, Cromer sẽ phải bắt đầu từ tờ tạp chí của chính mình, The Skeptical Inquirer. Chúng vẫn còn nguyên ở đó, "Tạp chí khoa học và lý trí". Trong một bản đặc biệt, họ so sánh Anhxtanh với Chúa Giêsu Kitô và Môi-se! [14] Trên trang bìa, họ biến hình ảnh Anhxtanh ở bên trái thành một người có vầng hào quang trên bên phải, rõ ràng là như Chúa Giêsu Kitô. Vì vậy, pháo đài tuyệt vời của "lý trí" đã nuốt phải móc câu, cả chì lẫn chài lố bịch bẻ ngoặt Vật lý lớn mà không có bất kỳ nghi ngờ nào. Họ là tuyệt vời khi vạch trần những kẻ khác. Tại sao họ không bắt đầu bằng việc vạch trần bản thân?

Họ thậm chí còn miêu tả Anhxtanh như Môi-se trong hoạt họa trên trang 34 với ngón tay chìa ra khỏi đám mây viết lên trên một tấm bia đá mà đọc là, "Và Thiên Chúa phán để có được ánh sáng" . [14] Cũng giống như Môi-se, Anhxtanh có một hòn đá bảng. Anhxtanh được xem như đã viết phương trình E = mc2 lên bảng đen. [14] Hàm ý rõ ràng là Anhxtanh đã lấy cảm hứng từ Thiên Chúa khi ông ta đưa ra phương trình. Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói Poincare được mô tả là Đức Chúa Trời!

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Cái mà các nhà biên tập Skeptical Inquirer dường như không thấy đó là: Anhxtanh đã không khởi đầu phương trình. [15] Ông ta không chuyển hóa nó. [16] Ông ta không khởi đầu từ ý tưởng chuyển đổi vật chất thành ánh sáng. [17] Ít nhất 7 nhà khoa học đã đi đến ý tưởng chuyển đổi vật chất thành năng lượng hay ánh sáng trước Anhxtanh. [18], [19] Ông ta không bắt nguồn từ chuyển đổi tham số c2. Phương trình như viết là sai. [20] E tỷ lệ thuận với mc2, chứ không bằng mc2. [20] Anhxtanh đã vi phạm luật bảo toàn năng lượng khi một ngọn nến phát ra ánh sáng có bước sóng và đạt được khối lượng ở cùng thời điểm. [20] Bên cạnh đó, các biên tập viên của Skeptical Inquirer hoàn toàn đúng trong tuyên bố Anhxtanh có cảm hứng từ Thiên Chúa.

Tập san Mensa

Mensa xuất bản bài viết ủng hộ Anhxtanh về E = mc2 [21] gọi là "Câu chuyện con người Đằng sau E = mc2. Cuốn sách được gọi là "E = mc2 tiểu sử của phương trình nổi tiếng nhất thế giới." [22] cuốn sách được cho là "nghiên cứu tuyệt vời" của tờ Dallas Morning News. [22] Cuốn sách này là một cuốn tiểu thuyết nghiên cứu rất tốt. Tất nhiên, quí ông Bodanis đã bỏ qua tất cả các thông tin bị bỏ qua bởi Inquirer Inquirer.

Một hành động điển hình của trò tâng bốc, lời giới thiệu của bài viết Bodanis cho biết: "... ông vẽ một loạt các hình ảnh đầy màu sắc của những vị anh hùng khoa học đã mở đường cho bước nhảy vọt kinh ngạc của Anhxtanh về trí tuệ." [21] Chính xác những vị "anh hùng" của khoa học này đã làm điều gì để là anh hùng? Bắt một mẩu phấn trước khi nó rơi xuống đất và vỡ tan ra hay cứu một phương trình ngôi nhà đang cháy? Bây giờ đến, "... bước nhảy vọt kinh ngạc về trí tuệ". Ông ta đọc và hiểu các bài báo của Poincare và Newton. Các biên tập viên của Mensa ở đâu khi Bodanis viết những lời bậy bạ nhảm nhí này?

Tại sao quí ông Bodanis có rất nhiều sai lầm về E = mc2? Lời tuyên sau đây từ cuốn sách của ông ta cung cấp một đầu mối rất biết nói, "Anhxtanh và vợ ông ta đã cho đi đứa con đầu lòng, một đứa con gái sinh ra trước khi họ cưới nhau ..." [22] Điều đó rõ ràng không phải là vô tội? Không phải tất cả các bậc cha mẹ cho đi con cái của họ đi khi họ rơi vào khó khăn tài chính? Đây là một cách khác để mô tả các thực tế, "Anhxtanh là cha của một đứa con hoang, mà ông ta bỏ rơi." Cùng tập các sự kiện, xoắn khác nhau. Bodanis đã chọn lối cũ là một dấu hiệu cho thấy đây sẽ là một cuốn sách nhã.

14.Special Issue “Science and Religion Conflict or Conciliation,” Skeptical Inquirer
(Cover), 34.

15.Leveugle, J. 1994 La Relativite, Poincare et Anhxtanh, Planck, Hilbert Histoire de la
Theorie de la Relativite L’Harmattan, Paris, L’Harmattan, Hargita, L’Harmattan, Torino
17.

16.Ives, H.E. 1952 “Derivation of the Mass-Energy Relation,” J . Op. Soc. Amer. 42,8,
540-543.

17.Newton, Sir I. 1704 Opticks Dover Publications, New York, cxv.

18.Moody Jr., R. 2004. “Albert Anhxtanh: Plagiarist of the Century,” Nexus, 1, 47-50, 82-
83.

19.Moody, Jr. R. 2005. “Albert Anhxtanh: Plagiarist of the Century, “Infinite Energy
Magazine, 10, 59, 34-38.

20.Sharma, A. 2007 Anhxtanh’s E=mc2Generalized Raider Publishing International 300p.

21.Bodanis, D. “The Human Story Behind E=mc2,”Mensa Magazine, March 2001, 8-11.

22.Bodanis, D. E=mc2A Biography of the World’s Most Famous Equation Berkley
Publishing Group, New York 337p.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên:
chipvn (19-06-2013), doi_bung_wa (02-11-2013)
  #7  
Cũ 16-06-2013, 02:10
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default VŨ TRỤ CHẲNG CẦN PHẢI KHỞI ĐẦU

Hồi ở 4rum Pravda.ru có rất nhiều anh tài. Có tên người Serbia và 1 nick tên là Babu tạo ra cái topic "NASA - The hoax of the century" vô cùng nhiều dữ liệu, phân tích tỷ mỷ, đọc thỏa thích. Mình cũng sủa góp được ít bài.

Sau 4rum bị đóng cửa mất, tiếc quá chẳng lưu giữ được gì. Nó liên tục bị tấn công, ngay cả khi không có gì thì google cũng vẫn cảnh báo virus đỏ lòm khiến ngươi ta chẳng dám truy cập. Sau nữa Babu đăng một số bài trên pravda.ru trong mục Science » Planet Earth - "Science and Religion", mình giữ được 1 số bài của Babu ở đó. Sau nữa có trang http://www.religionscience.com/ và blog Babu ở http://bgrnathan.blogspot.com


Bài của Babu đăng trên 4rum pravda.ru tên là "VŨ TRỤ CHẲNG CẦN PHẢI KHỞI ĐẦU", về sau ông post bài trên trên trang chính pravda.ru và blog lấy tên là "God Didn't Need A Beginning" và cũng đã sửa khác bài cũ.

Chúng ta thắc mắc từ năm lên 2 tuổi. Tại sao vũ trụ có một khởi đầu nhưng Thượng đế thì không? Nếu Thượng đế đã không phải khởi đầu thì tại sao vũ trụ lại phải khởi đầu. Có thể hay là không, vũ trụ chỉ đơn giản là luôn luôn tồn tại? Cái gì là ý muốn của Thượng đế?

Còn khi chúng ta trưởng thành, ngắm nhìn các cô ả õng ẹo trên sàn diễn thời trang. Hôm qua các cô mặc áo đỏ, hôm nay mặc quần xanh, còn ngày mai có thể là mốt... chẳng mặc gì cả.

Thế giới thiên văn và khoa học cũng vậy. Trái đất là trung tâm vũ trụ rồi không phải. Mặt trời là trung tâm vũ trụ rồi vũ trụ không có tâm. Vũ trụ hữu hạn rồi vô hạn, rồi hữu hạn nhưng lại vô biên. 3 chiều, 4 chiều, n chiều rồi lý thuyết dây nhợ lằng nhằng, siêu hình học rồi vô hình học, rồi thuyết thống nhất. Bigbang rồi không bigbang, lỗ đen rồi chẳng lỗ đen. Vũ trụ tĩnh rồi lại động, giãn rồi lại co. Thậm chí đa vũ trụ rồi đa vũ trụ lồng vào nhau khiến cho loài người chúng ta đang sống cùng Alien nhưng ở chiều khác. Một thời rồ dại với siêu hình Anhxtanh rồi người ta thấy tương đối giả mạo, thủng lỗ chỗ. Suy cho cùng đó cũng là sàn diễn thời trang-thiên văn học.

Câu trả lời vũ trụ có khởi đầu hay không được tìm thấy trong sự hiểu biết tại sao vũ trụ phải có một khởi đầu. Fan Anxtanh tuyên bố vũ trụ của họ là một hệ thống khép kín. Điều đó có nghĩa là năng lượng của nó là hữu hạn. Mặc dù năng lượng không thể được sinh ra hay hủy đi (bởi bất kỳ quá trình tự nhiên nào), qua thời gian năng lượng hữu ích trong vũ trụ càng trở nên kém hữu ích và đến chỗ vô dụng. Điều này được biết đến trong khoa học là Định Luật nhiệt động thứ 2. Nếu vũ trụ là vĩnh viễn thì toàn bộ năng lượng đã có thể trở nên hoàn toàn vô ích và giờ đây chúng ta không thể ngồi viết bài cũng như chẳng còn ai có thể đọc! Đó là fan Anhxtanh cố tình lờ đi cái định luật nhiệt động 2 vô cùng "vĩ đại" chẳng thua kém Anhxtanh tẹo nào.

Không phải là định luật nhiệt động thứ 2 chỉ đơn thuần là một biểu thức xác xuất đấy chứ? Có, nhưng xác suất là rất cao và nhất định là sự chênh lệch dù chỉ 1 calori năng lượng tự cũng không thể vượt qua định luật 2 với xác xuất hàng tỉ của hàng tỉ lần gần đến 1, và vũ trụ thì tạo thành bởi hơn quá nhiều là năng lượng 1 calori! Bất cứ mô hình vũ trụ hữu hạn nào cũng sẽ bị xử chết bởi định luật nhiệt động 2. Và kẻ đưa ra mô hình vũ trụ kín, hữu hạn và tĩnh tại, đã bị định luật nhiệt động 2 xử tử trên ghế điện. Vậy mà các thần dân trong ngồi đền ma quái Anhxtanh vẫn tôn sùng cái thây ma chết đã lâu lắm rồi.

Chúng ta biết từ định luật nhiệt động 1, năng lượng/vật chất không thể nào sinh ra từ chân không trong bất cứ quá trình tự nhiên nào. Trong khi định luật 2 dạy chúng ta rằng vũ trụ không có khả năng duy trì chính nó vĩnh cửu. Định luật 1 cũng có nghĩa là vũ trụ cũng không thể tự nó sinh ra và tồn tại từ không có gì. Chỉ có một logic là quyền lực siêu nhiên đã khai sinh ra vũ trụ. Hơn nữa, sự phức tạp và trật tự trong vũ trụ nói một cách có lý là ý muốn của đấng siêu nhiên. Sự hỗn loạn vũ trụ là bởi may rủi nhưng mức độ trật tự cao chỉ có thể được giải thích hợp lý là bởi ý muốn và trí thông tuệ của ngài.

Các qui luật tự nhiên có thể giải thích trật tự vũ trụ được sắp đặt như thế nào, nhưng chỉ có các qui luật định trước là không đủ để giải thích nguồn gốc của trật tự đó. Ngay cả trong cuộc sống, khi một tế bào sống hình thành và tồn tại thì các đoạn gene mã hoá và cơ chế tồn tại để chỉ dẫn sao chép hình thành tế bào mới như thế nào có vẻ chúng ta đã biết. Nhưng vấn đề là sự sống đi đến đâu khi không có các đoạn gene và cơ chế nhân đôi gene trong tự nhiên.

Và những ngôi sao thì sao? Ồ vâng, hấp dẫn có thể giải thích một cách chính xác tiến trình hàng tỷ ngôi sao tồn tại như thế nào, nhưng hấp dẫn không thể giải thích nguồn gốc của cái trật tự ấy!

Thế còn chọn lọc tự nhiên? Chọn lọc tự nhiên là một quá trình thụ động trong tự nhiên và đảm bảo rằng chỉ những sinh vật sống phù hợp tồn tại. Lựa chọn tự nhiên, không tạo ra bất cứ cái gì. Nó chỉ có thể "chọn" từ những cái gì đã có sẵn. Chọn lọc tự nhiên, không phải là quá trình chuyển đổi năng lượng mà là cỗ máy định hướng, và chọn lọc tự nhiên chỉ có tác dụng một khi đã có sự sống và sinh sản mà trước đó không có.

Thế giới tự nhiên của Thượng đế không đòi hỏi rằng ngài phải có một sự khởi đầu. Thượng đế tự tồn tại còn vũ trụ thì không. Và bởi vì vũ trụ rốt cục không thể tự tồn tại, thì đòi hỏi phải có ai đó tạo ra nó (một sự khởi đầu) cũng như một đấng tối cao để thiết kế ra nó. Nói cách khác, vũ trụ cần một đấng thượng đế tối cao.

Cuối cùng, tuy nhiên, các nhà khoa học thừa nhận rằng định luật nhiệt động thứ 2 sẽ chế ngự toàn bộ vũ trụ và vũ trụ tự nó, sẽ đi đến chỗ kết thúc như cái mà các nhà khoa học dự đoán là một cái chết nhiệt bởi tất cả năng lượng của vũ trụ sẽ đạt đến một trạng thái cân bằng mà ở trạng thái đó sẽ không còn gì có thể hoạt động được. Ngay cả vũ trụ dãn nở hay co lại cũng sẽ không còn nữa trong trạng thái ấy. Điều này chứng tỏ, như đã đề cập trước đó, rằng vũ trụ không phải là vĩnh viễn, hay nói cách khác, nó đã đạt đến trạng thái cân bằng nhiệt động từ lâu trước kia và phân huỷ.

Tất cả điều này chỉ đơn giản là củng cố cho niềm tin rằng có một quyền lực thông minh, siêu nhiên đứng bên ngoài thế giới tự nhiên và vũ trụ chịu trách nhiệm về nguồn gốc và trật tự của vũ trụ.

Khoa học có lẽ đã không thể chứng minh rằng chúng ta sinh ra là nhờ tạo hoá hay bằng một quá trình biến đổi, nhưng các nhà giáo dục và học sinh phải được tự do để nghiên cứu và hình thành tâm trí họ những quan điểm hiện thực được củng cố bởi nhiều bằng chứng khoa học nhất.

Niềm tin giả tạo mang danh khoa học hay khoa học thời trang trình diễn không phải là căn bản và cũng không tạo ra cơ sở cần thiết cho học tập và nghiên cứu khoa học thực sự. Ai có thể hiểu được cơ thể con người và trở thành bác sĩ phẫu thuật hạng nhất bất kể người đó tin rằng cơ thể con người ta là kết quả của sức mạnh biến đổi tự nhiên hay của một đấng tối cao. Ai có thể hiểu biết về vũ trụ và trở thành nhà vật lý thiên văn vĩ đại nếu cứ giữ niềm tin vào những lý thuyết không hoàn thiện hay đã bị rách nát tơi tả.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #8  
Cũ 16-06-2013, 02:43
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Biên niên giám sai lầm - thất bại Einstein

TG: Hans C. Ohanian “Einstein's mistakes the human failings of genius”

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

1. 1905 Sai lầm trong phép đồng bộ hoá thời gian mà thuyết tương đối hẹp dựa trên đó, tạo ra nghịch lý đồng hồ, twin (triple) clock, twin paradox

2. 1905 Thất bại trong việc xem xét thử nghiệm Michelson-Morley

3. 1905 Thất bại trong việc chuyển đổi khối lượng hạt có tốc độ cao

4. 1905 Thất bại kép trong việc sử dụng toán học và vật lý học tính toán độ nhớt chất lỏng mà từ đó Anhxtanh suy luận ra kích thước phân tử

5. 1905 Thất bại trong việc tìm các mối liên hệ giữa bức xạ nhiệt và lượng tử ánh sáng

6. 1905 Thất bại lần 1 chứng minh E = mc2

7. 1906 Thất bại lần 2, 3, 4 chứng minh E = mc2


8. 1907 Thất bại trong việc đồng bộ hoá đồng hồ có gia tốc

9. 1907 Thất bại trong nguyên lý cân bằng hấp dẫn và gia tốc

10. 1911 Thất bại trong việc tính toán lần 1 sự bẻ cong ánh sáng bởi hấp dẫn

11. 1913 Thất bại trong nỗ lực giới thiệu thuyết tương đối tổng quát

12. 1914 Thất bại lần thứ 5 chứng minh E = mc2

13. 1915 Thất bại trong thử nghiệm Einstein-de Haas (còn gọi là hiệu ứng Richardson)

14. 1915 Thất bại trong việc vài lần giới thiệu thuyết tương đối

15. 1916 Thất bại trong việc giải thích nguyên lý Mach

16. 1917 Thất bại trong việc giới thiệu hằng số vũ trụ học (“biggest blunder” nói ở bài #19)

17. 1919 Thất bại trong 2 nỗ lực thay đổi/sửa chữa thuyết tương đối rộng

18. 1925 Thất bại và càng sai lầm trong nỗ lực đề ra thuyết thống nhất (unified theory)

19. 1927 Thất bại trong việc bàn cãi với Bohr về tính mất/không ổn định lượng tử

20. 1933 Thất bại trong việc giải thích nguyên lý cơ học lượng tử (chúa chơi trò may rủi?)

21. 1934 Thất bại lần thứ 6 chứng minh E = mc2

22. 1939 Thất bại trong việc giải thích kỳ dị Schwarzschild và sự sụp đổ hấp dẫn (lỗ đen)

23. 1946 Thất bại lần thứ 7 chứng minh E = mc2

Cuối cùng, E=mc2 vì tôi nói thế!
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #9  
Cũ 16-06-2013, 02:44
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Biên niên sử cuộc đời trộm cắp Anhxtanh

TG: Marcus Coleman

1700: Newton tiên đoán ánh sáng bị mặt trời bẻ cong, Anhxtanh đã mượn một số thứ trong dự đoán năm 1911 mà quên không trích dẫn Newton. Một dạng cầm nhầm còn hơn bỏ xót, khá thịnh hành ở các xứ cạc cạc và swine.

1801: Johann Soldner, nhà thiên văn người Đức công bố các dự đoán và tính toán của ông về việc ánh sáng bị bẻ cong bởi hấp dẫn khi đi gần các thiên thể lớn. 114 năm sau, Anhxtanh thuổng phát biểu của ông viết thành phát kiến vĩ đại của ông ta, công bố năm 1915. Cũng quên không đề tên Johann Soldner.

1827: 78 năm trước khi Anhxtanh được vinh danh nhờ “giời ơi đất hỡi” chuyển động Brown trong chất lỏng. Robert Brown người Scotland đã giải thích thế nào là chuyển động Brown.

1878: James Maxwell ở Scotland công bố thuyết tương đối đặc biệt (còn gọi là thuyết tương đối hẹp/chật) trên Encyclopedia Britannica và Anhxtanh thuổng năm 1905 và viết như đúng rồi của ông ta mà không hề nhắc đến Maxwell.

1879: Ngày 14-3, có một ngôi sao Hô-li-út sáng loè trên bầu trời rồi sà xuống máng cỏ. Anhxtanh ra đời tại Württemberg Đức.

1887: Michelson-Morley, các nhà vật lý thực nghiệm đưa ra giả thiết rằng không hề có ether, Anhxtanh lại ăn cắp ý kiến này viết tên mình vào như người phát kiến đầu tiên và giấu tiệt tên 2 ông Michelson-Morley đi.

1988: Heinrich Hertz xuất bản bài viết về hiệu ứng quang điện. Sau đó nhiều năm bị Anhxtanh ăn cắp và thật hài hước, giải Nobel quang điện được trao cho tên ăn cắp.

1889: George Fitzgerald viết bài từ Ireland công bố ý tưởng thuyết tương đối. Sau này, tự nhiên tất cả những gì tương đối là của Anhxtanh tất.

1890: Ludwig Boltzmann người Áo và Josiah Gibbs Mỹ phát triển hằng số Boltzmann.

1892: Hendrik Lorentz công bố phép biến đổi Lorentz.

1895: Tuổi 16, Anhxtanh thi trượt vào trường kỹ thuật ở Zurich.

1896: Tuổi 17, Anhxtanh rời trung học, vào trường Polytechnic ở Zurich.

1898: Paul Gerber công bố phương trình chính xác chuyển động của sao Thuỷ trên tờ Annalen der Physik Đức(tương tự Science of Mechanics),tờ này Anhxtanh đã đọc và học. 17 năm sau, năm 1915 Anhxtanh ăn trộm phương trình và viết thành “chuyển động cực cận của sao Thuỷ” trên cùng một tạp chí mà không hề nêu tên Gerber, khi bị phát hiện, ông ta thỏ thẻ bảo không hay biết gì Gerber và chỉ chịu thú nhận ăn cắp dưới áp lực buộc tội năm 1920.

1898: Poincare-Pháp viết về thuyết tương đối và không hề dính dáng gì đến Anhxtanh. Anhxtanh sau đó cóp nhặt thành của ông ta và công bố lại năm 1905 và lờ Poincare đi.

1900: Max Planck và Wilhelm Wien Đức phát triển thuyết lượng tử. Anhxtanh ăn cắp viết lại thành “lượng tử ánh sáng” năm 1905 chẳng hề đề cập đến Planck hay Wien.

1901: Tuổi 22, sau 5 năm ở trường Polytechnic, Anhxtanh tốt nghiệp với điểm số thấp nhất lớp, trở thành công dân Thuỵ sĩ và làm thủ thư tại văn phòng đăng ký phát minh sáng chế Bern.

1902: Anhxtanh loạn luân với cháu gái 13 tuổi và sinh con Lieserl. Người con này bị mắc chứng down.

1903: Olinto de Pretto nước Ý công bố phương trình E=mc^2 trên tờ Atte,một tạp chí khoa học mà Anhxtanh đọc. 1904, tạp chí Royal Science Institute of Veneto đăng lại bài của de Pretto. Sau đó Anhxtanh tuyên bố phương trình là của ông ta. Không hề đề cập đến Pretto cũng chẳng biết chứng minh phương trình “của mình” thế nào.

1904: Anhxtanh sinh con Hans Albert, người chủ yếu được cho là giữ tiền quyên góp cho tạp chí Mechanics Reviews trong 20 năm.

1904: Friedrich Hasenohrl-Đức, cùng nêu tên J.J. Thomson-Anh và W. Kaufmann-Thuỵ điển, công bố phương trình E=mc^2 trên cùng một tạp chí mà sau đó Anhxtanh cũng viết E=mc^2 vào năm sau như là của ông ta năm 1905, và không hề đề cập đến bất cứ ai trong 3 người đã công bố phương trình năm 1904.

1905: Philipp Eduard Anton von Lenard, người dạy vợ Anhxtanh nhận giải Nobel về khám phá hiệu ứng quang điện. Anhxtanh thuổng nguyên công trình của von Lenard công bố cùng năm. Tất nhiên kẻ cắp chẳng hề nhắc đến tên Lenard.

1905: Tuổi 26 và vẫn làm ở văn phòng cấp bằng phát minh sáng chế. Anhxtanh công bố nghiên cứu về lý thuyết vật lý,cơ chế lượng tử trên tờ Annalen der Physik. Tất cả là sao chép-ăn cắp-cóp nhặt. Được phong là đốc tờ vật lý của trường ĐH Zurich. Bắt đầu lộ rõ là người của tổ chức Zionist rất chi là yêu hoà bình. Trong các thư từ trao đổi với các giới có đề tên vợ đứng đầu làm người ta nghi ngờ vợ đã làm toán cho ông ta.

1907: J. Precht nói Anhxtanh lố bịch bóp méo logic “có lẽ sẽ chứng minh khả năng thử nghiệm thuyết này bằng cách sử dụng cơ thể mà năng lượng của nó chứa ở dạng biến đổi mức độ cao (như muối của radium), thử nghiệm như thế “nằm ở phía bên kia của lĩnh vực có khả năng thử nghiệm.”

1909: Tuổi 30, 4 năm sau khi nhận học vị đốc tờ, bậc kỳ tài này vẫn làm thủ thư ở văn phòng cấp bằng sáng chế. Thế giới DT đang thu xếp để đôn lên hàng giáo sư ĐH Zurich.

1910: Đẻ đứa con tâm thần thứ 2, đứa con này chết ở viện điều dưỡng năm 1965.

1915: Ngày 20-11, David Hilbert trình bày tài liệu ở Berlincùng Marcel
Grossmann, phương trình chính xác như những gì Anhxtanh ăn cắp và công bố 5 ngày sau đó. 2 tuần sau người ta biết Anhxtanh đã copy phương trình của Hilbert chứ Hilbert không hề copy “của Anhxtanh” như media tung tin đồn. Herbert Dingle bác bỏ thuyết tương đối hẹp năm 1972.

1915: Ngày 25-11, Anhxtanh công bố thuyết tương đối tổng quát dựa trên toán học của Marcel Grossmann và Berhard Riemann, đầu tiên như là dựa trên hình học phi Euclide, đó là cơ sở của toàn bộ toán học dùng để mô tả thuyết tương đối.

1919: Ngày 7-11, bắt đầu chiến dịch đánh lạc hướng của dân Zionist DT ở tờ London Times, bơm thổi tâng bốc Anhxtanh thành bậc “thiên tài”.

1921: Lần đầu đến Mỹ theo sự bảo trợ của Zionist.

1922: Nhận giải Nobel Prize về hiệu ứng quang điện.

1932: Ngày 9-12, Anhxtanh bị từ chối cấp thị thực vào Mỹ vì “liên hệ với CS”.

1955: Ngày 18-4, gã dơ dáy DT chết.

1972: Herbert Dingle bác bỏ thuyết tương đối hẹp.

1993: Peter Beckman viết rằng thuyết tương đối hẹp sẽ bị trảm.

1995: Hệ thống định vị toàn cầu “làm việc tốt” khi bỏ qua “thuyết” Anhxtanh.

1998: Ngày 21-12, Tom Van Flandern công bố trên “Lá thư Vật lý” vận tốc lan truyền sóng hấp dẫn (nếu có) phải lớn hơn sóng ánh sáng 20 tỷ lần, điều đó bác bỏ thuyết Anhxtanh.

1999: Time Magazine đặt tên ăp cắp Anhxtanh lên trang bìa với dòng tít “nhân vật của thế kỷ”. Anhxtanh không phải người Mỹ và người Mỹ cũng chả xem Anhxtanh là 1 trong 100 nhân vật kiệt suất của TK20.

2000: Anedio Ranfagni chứng minh "thuyết Anhxtanh" về vận tốc ánh sáng không thay đổi SAI!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #10  
Cũ 16-06-2013, 03:00
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Thuyết Anhxtanh được kiểm chứng trong vũ trụ!

tham khảo Poor Magazine; Science New; Naeye, Robert-Astronomy "Was Einstein Wrong?";

Từ ngày nọ đến giờ, các fan Anhxtanh thường vênh mặt lên phán rằng: Tiên đoán Anhxtanh về cực cận sao Thuỷ theo thuyết tương đối là minh chứng hùng hồn về sự "đúng dồi" của thuyết tương đối. Vạn tuế vạn vạn tuế!!! Chỉ có thuyết siêu phàm như tương đối mới có thể tính chính xác quĩ đạo sao Thuỷ như vậy. Vạn tuế vạn vạn tuế!!!

Năm 1989, Paul Gerber công bố phương trình chính xác chuyển động của sao Thuỷ trên tờ Annalen der Physik Đức (tương tự Science of Mechanics). 17 năm sau, năm 1915 Anhxtanh ăn cắp phương trình và viết thành “chuyển động cực cận của sao Thuỷ” trên cùng một tạp chí mà không hề nêu tên Gerber, khi bị phát hiện, ông ta thỏ thẻ bảo không hay biết gì Gerber và chỉ chịu thú nhận ăn cắp dưới áp lực buộc tội năm 1920.

Bây giờ chúng ta bỏ chút thì giờ xem cái sự "Đúng dồi" này thế nào và cách các fan Anhxtanh hô Vạn Tuế! thế nào.

Có thể khẳng định, phương trình quĩ đạo sao Thuỷ không dính dáng gì đến "Tương đối Anhxxtanh". Điều này không phải chứng minh, những ai học sâu về toán cao cấp phần phương trình dao dộng đều có thể hiểu, nếu đủ dữ liệu đầu vào họ có thể tính toán quĩ đạo vệ tinh hay sao Thuỷ như thế nào. Tính luôn phương trình quĩ đạo chứ không tính cực cận cực viễn gì cả. Tất nhiên, để đạt độ chính xác, cần tính đến ảnh hưởng của các thiên thể khác, đến khí quyển, thậm chí là lực đẩy photon... Còn Anhxtanh và các fan nổ tung giời rằng: thuyết tương đối giải quyết những vấn đề mà cơ học cổ điển vô dụng.

Ai có hứng thú với phương trình quĩ đạo, có thể tham khảo cách tính cho quĩ đạo sao kép DI Herculis ở đây: Anhxxtanh bị báo ứng: http://www.wbabin.net/physics/nahhas.pdf

Trước tiên là sao Thuỷ có quĩ đạo phức, có điểm cực cận, qua quan sát, người ta biết điều này cuối thế kỷ XIX. Trong đó có độ lệch tâm sao Thuỷ và quĩ đạo giao điểm của sao Kim (có liên quan đến mặt phẳng quĩ đạo trái đất).

Tương đối vô dụng. Tương đối không thể nào giải thích nổi thậm chí là thuật ngữ toán học sự méo và lệch tâm quĩ đạo của sao Thuỷ và giao điểm sao Kim. Các thông số được tính bằng giây cung/một thế kỷ như bảng dưới.

Đương nhiên tương đối vô dụng cũng không thể nào chỉ ra sự xáo trộn quĩ đạo của các hành tinh khác. Cũng đương nhiên fan Anhxtanh tuyên rằng thuyết tương đối có qui mô vũ trụ. Đương nhiên tính toán theo tương đối của Anhxtanh với sao Thuỷ là gần đúng nhất. Gần đúng bởi phương trình ăn cắp của Paul Gerber năm 1989.

Lý thuyết của Gerber có thể đúng hay không thật chính xác nhưng 2 phương trình là 1. Chúng ta có thể thấy ở đây: http://en.wikipedia.org/wiki/Paul_Gerber

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Phương trình toàn tài qui mô vũ trụ Anhxtanh khi áp dụng sang các hành tinh khác, dĩ nhiên là thiếu Gerber nên.... Sai bét nhè. Lấy trường hợp sao Kim, tương đối Anhxtanh tính ra độ xoay quĩ đạo là +8,6"/thế kỷ với qũi đạo tiến, trong khi đó máy tính tính là -7,3" với quĩ đạo lùi. Thiên tài Toàn tài Qui mô vũ trụ là như vậy đấy. Trường hợp khác là sao kép DI Hercules sẽ đề cập sau. Và thế là các fan Anhxtanh lấy 1 trường hợp đúng trong vô số cái sai bét nhè để tung hô Vạn Tuế! Vạn Vạn Tuế!

Anhxtanh công bố 43" và tuyên nó không khác phần nhỏ nào so với quan sát của Leverrier (38") và Newcombe các năm 1859 và 1882. Newcombe tính lại năm 1895 là 41,6". Dù thế nào thì tính theo tương đối Anhxtanh cũng có sai lệch so với quan sát. Đó là chưa có ai, trình bày 1 cách tường tận, làm thế nào từ phương trình tương đối, suy ra phương trình cực cận sao thủy Gerber.

Poor: Chuyển động có cực cận khác không chỉ là nguỵ biện duy nhất thấy ở lý thuyết tương đối Anhxtanh...

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Ảnh động mô phỏng một hành tinh có quĩ đạo dịch chuyển kiểu sao Thuỷ.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Anhxtanh bị bắt quả tang ăn cắp. Ông ta đã thú nhận hành vi ăn cắp. Nhưng sau đó bào chữa: tôi sử dụng chúng theo một cách khác, mang ý nghĩa khác hẳn và mới mẻ!

Điều này cũng tương tự tên trộm ăn cắp 1 con gà, khi bị bắt thì hắn bảo tôi có cách sử dụng con gà theo kiểu hoàn toàn khác và mới mẻ!

DI Herculis là sao kép cách trái đất 2000 năm ánh sáng, 2 ngôi sao khá gần nhau, có quĩ đạo xoay quanh tâm chung với chu kỳ 10,55 ngày.

Vấn đề hóc búa là 2 ngôi sao quay quanh nhau và trục quĩ đạo của chúng xoay chậm. Tương đối Anhxtanh tính ra chúng xoay 4,27 độ/thế kỷ. Nhưng thực ra chỉ có 1,05 độ/thế kỷ. Như thế là ít nhất 3 lần lớn hơn quan sát được.

Guinan và Maloney tính toán theo Newton là 1,93 độ/thế kỷ, còn chính xác hơn cả Anhxtanh.

Các tính toán này đã được đăng trên tạp chí Thiên văn. Các nhà thiên văn rất lo lắng.

Edward F. Guinan và Frank P. Maloney: Vũ trụ bây giờ lộ ra, "rõ ràng là ngược với thuyết tương đối rộng".

D. Popper tại UCLA: Quan sát là rất rõ ràng, Tôi không nghĩ có bất kỳ câu hỏi nào là trái ngược ở đây, và nói một cách ngay thẳng, đó là điều quan trọng và chưa được giải quyết.

Còn thách đố hơn nữa với thuyết tương đối khi phát hiện ra, quĩ đạo e-líp sao thứ 2, AC Camelopardalis, cũng chẳng đúng mà lại vi phạm nghiêm trọng thuyết tương đối theo cùng một cách. Cho dù là 2 sao gần nhau, hấp dẫn mạnh không-thời gian siêu cong, siêu vặn xoắn bóp méo, thì tương đối rộng càng hỏng nặng.

Thật mỉa mai, điều này tương tự như một số quan sát thiên văn đã được Anhxtanh lấy làm cột trụ để xây nên ngôi đền ma quái tương đối đầu thế kỷ XX. Quĩ đạo sao Thuỷ tính bị xoay nhanh hơn một chút theo tính toán hấp dẫn Newton. Anhxtanh nhờ "nhặt được" phương trình, tuyên bố tương đối chính xác hoá nó, nó là bằng chứng chứng minh tương đối vô cùng vĩ đại. Đó là sau khi đã có đầy đủ dữ liệu quan sát chứ không như Gerber, đưa ra tính toán từ khi chưa có gì nhiều.

Còn bây giờ người ta, cần đi tìm một lý thuyết mới, để thay cái vĩ đại ấy. It nhất là ở những chỗ không-thời gian bị bẻ vặn xoắn cực mạnh, như ở chỗ sao kép DI Herculis. Thuyết Anhxtanh được kiểm chứng ở qui mô vũ trụ cơ mà. À chỗ này không phải là vũ trụ. Cực cận sao Thuỷ, trong tương quan với tính toán Anhxtanh với các hành tinh khác, không gì hơn trở thành căn cứ khó bác bỏ, cũng như chính ông ta đã thú nhận về hành vi ăn cắp thành quả của người khác. Đổi lại, những tính toán tương đối sai bét nhè kia, cũng không gì khác là bộ mặt thật của cái lý thuyết thiên tài vĩ đại được tung hô vạn tuế suốt gần một thế kỷ.

Goebbel, trùm tuyên truyền phát xít nhận thấy rằng, dối trá lừa đảo thì cuối cùng cũng bị phát hiện, nên ông ta phát minh ra một phương pháp gọi là nói láo lớn. Nói rất láo, nói láo liên tục thì cuối cùng người ta cũng phải tin là thật.

Cỗ máy tuyên truyền nhồi sọ quốc xã không còn, đạo hữu Do Thái Goebbel của Anhxtanh đã chết, nhưng phương pháp của ông ta ngày nay được sử dụng vô cùng rộng rãi, cám bã vung vãi khắp nơi, càng những người tài càng xơi lắm cám. Goebbel mới là đại tài, siêu thiên tài vĩ đại.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #11  
Cũ 16-06-2013, 03:27
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Sùng kính Anhxtanh

Ông A. Pays viết cuốn sách mang tên: The Science and the Life of Albert Einstein, xuất bản tại New York năm 1989. Trang 298 có đoạn: Trong trường hợp Anhxtanh hóa ra điều lớn nhất, trái lại, không có cống hiến thực sự của một nhà khoa học cho khoa học, gọi là cá nhân, mà nếu muốn, là sùng kính cá nhân này, được tạo ra bởi phương tiện truyền thông khắp thế giới.

Phương tây luôn luôn chỉ trích Liên Xô tệ sùng bái cá nhân! Dĩ nhiên người ta vẫn nhớ. Nhưng Sùng kính Anhxtanh thì không.

Đã có một danh sách dài những nạn nhân, đổ máu, và thiệt mạng cũng y như những người đã chết bí hiểm vì phản đối hay dám nêu ý kiến trái chiều vụ 911. Và đã có quá nhiều hậu quả.

Chúng ta cùng xem tiếp theo!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #12  
Cũ 16-06-2013, 11:34
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh

Như đã nói những nạn nhân của Einsteinism có rất nhiều. Hều hết đều có số phận bi thảm!

Mileva Maric (1875-1948) là vợ đầu của Anhxtanh, cô là người Serbia từ Nova Garden di cư sang Áo. Cô học cùng trường polytechnic và cùng khóa với Anhxtanh, họ lấy nhau. Năm 1914, Einstein cùng gia đình chuyển đến Berlin nhưng vì một số lý do Mileva và con phải quay lại Zurich [22]. Ai đó đã không thích gốc Serbia của cô, đang có chiến tranh và căng thẳng giữa Đức và Serbia.

Cho đến tận năm 1917, Anhxtanh vẫn đánh vật với thuyết tương đối mà chẳng nhận được mấy chú ý, ông ta ốm nặng và phải chuyển đến căn hộ của người cháu gái Elza để có người chăm sóc. Nhanh chóng, ông ta sống với cháu gái Elza như vợ chồng và năm 1919 thì chính thức cưới người cháu này làm vợ, còn Mileva thì được hứa sẽ cho tiền giải Nobel nếu nhận được. Mặc dù ở châu Âu từ lâu đời, việc lấy bà con họ hàng, chị em hay con chú con bác, bị phản đối và kỳ thị kịch liệt, bởi thoái hóa nòi giống, nhưng đối với người DT, quan hệ họ hàng cận huyết thống lại không bị ngăn cấm bới Talmud.

Có đồn đại rằng con của Einstein với Mileva là Edward, khi đã lớn (20 tuổi) tuyên bố rằng chính mẹ Mileva của mình mới là người viết bài về tương đối năm 1905. Thực sự, trong tiểu sử Anhxtanh ở LX [36] có đoạn viết rằng, Edward là chàng trai trẻ thực sự có tài năng, một người biểu diễn piano tuyệt vời, và chuẩn bị trở thành bác sĩ thần kinh, đã viết thư cho cha với những lời lẽ “kết tội điên khùng”. Anhxtanh ngay lập tức chạy đến Zurich. Kể từ đó cho đến hết cuộc đời, Edward là bệnh nhân trong bệnh viện tâm thần Zurich và chết ở đó năm 1965 [22]. Ông A. Pays đề cập rằng Anhxtanh khi sống ở Thụy Sĩ, có bạn thân là lãnh đạo bệnh viện tâm thần Zurich, ông ta cũng là 1 DT…

Sẽ là không thừa khi đọc lại Rơi xuống lỗ ký ức ở đây!

Edward sinh năm 1910. Do đó có thể cho rằng, khi đã lớn và lúc đó Anhxtanh đã nổi tiếng, được mẹ kể cho về bí mật khủng khiếp của gia đình. Chàng trai trẻ yêu kính cha rõ ràng đã bị sốc rất nặng và viết bức thư kể trên mà không hề nghĩ về sự an toàn của mình. Nghi vấn chính Mileva là người đã viết những tờ giấy tương đối năm 1905 cũng có cơ sở, khi mọi thư từ trao đổi học thuật với các đồng nghiệp thường được ký tên là Ms. Einstein!

Tạp chí “Cận vệ trẻ” Guard (Молодая гвардия) [15] viết rằng năm 1917, Friedrich Adler (1879-1960) trước kia cũng đã từng cùng Anhxtanh ở Zurich polytechnic, và cũng là người bị buộc phải khám nghiệm tâm thần sau khi xuât bản các bài viết công khai phản đối thuyết tương đối.

Một số phận khác cũng kết thúc tương tự trong trại tâm thần Zurich là Marseille Grossman (1878-1936), cũng như ông Pays [22] là người đã từng giúp đỡ rất nhiều cho Einstein. Trong thời kỳ WW-I, Grossman tận tụy với các hoạt động hòa bình, tổ chức các đoàn tàu cứu thương, y tế, trao đổi tù binh chiến tranh giữa các bên. Sau chiến tranh, ông không còn quan tâm đến thuyết tương đối, và năm 1931, ông công bố bài viết [37] chỉ trích cái gọi là khái niệm di chuyển tức thì (tiếng Anh thường là teleport), một thứ được được bơm thổi ngất trời khi đó và sử dụng để cổ súy cho thuyết tương đối rộng Anhxtanh. Nhưng hầu hết các bài viết của ông bị cấm xuất bản. Bọn chúng cho ông có vấn đề về thần kinh và tống vào trại tâm thần Zurich. Năm năm sau, 1936 thì Grossman chết ở đó, trại tâm thần Zurich.

Vì thế mà khi các tín đồ Anhxtanh hiện tại vu cho người ta là hoang tưởng khi chỉ trích thuyết tương đối, là chuyện chẳng có gì mới. Cũng trên tờ “Cận vệ trẻ” cho biết về A.Bronstein và cuốn sách “Trò chuyện về vũ trụ và các giả thuyết” (Conversations about Space and Hypotheses), rằng “chỉ trong năm 1966 Khoa vật lý ứng dụng và tổng quát thuộc Viện khoa học USSR đã ‘giúp đỡ” cho 24 nhà vật lý tỏ ra hoang tưởng”…

Cho đến nay, 1 thế kỷ sau thuyết tương đối vĩ đại, đã có ai di chuyển tức thời trong không thời gian cong Anhxtanh chưa nhể???!!!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #13  
Cũ 16-06-2013, 16:05
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh

"Trừng phạt y học", đã đến USSR trong thập kỷ 70, nhưng nó bắt đầu ở phương Tây từ năm 1917 và thậm chí còn sớm hơn. Không có gì ngạc nhiên khi nhà biên soạn nổi tiếng Thụy Sĩ A.Dyurenmatt, người viết các tác phẩm hầu hết trong thập kỷ 50, về các nhà khoa học-vật lý bị nhốt kỹ trong các nhà thương điên. Như thấy đó, ông chẳng cần đi đâu xa để tìm hình mẫu cho nhân vật của mình.

Max Abragam (1875-1922) là người chế nhạo Anhxtanh dữ nhất, nhưng ông là nhà vật lý lý thuyết rất có tài. Thậm chí Anhxtanh đã từng đề nghị Abragam làm người kế nhiệm mình ở Zurich khi chuyển đến Berlin. Abragam lúc đó đang ở đại học Goettingen và nổi tiếng vì đã tạo ra mô hình electron cổ điển mô tả và giải thích kết quả thử nghiệm Kauffman. Nhưng Abragam không định làm kẻ kế nghiệm Anhxtanh mà thành kẻ thù khoa học của Anhxtanh. Than ôi! Ông đã bị đánh bại trong trận chiến với Anhxtanh.

Vào năm 1911, khi mà Anhxtanh chết đứng trong lúng túng vì thực tế vận tốc ánh sáng hay thay đổi trong trường hấp dẫn, Abragam đã không chỉ cười nhạo Anhxtanh, mà còn mở rộng kết luận trong thuyết tương đối hẹp (TĐH). Ông Pays viết: ông ấy cố gắng để giành được điều không thể - đưa ý tưởng vận tốc ánh sánh thay đổi vào TĐH. Abragam từ đó rút ra kết luận chính xác: Các phép biến đổi Lorent tồn tại hiển nhiên trong vô hạn nhỏ”.

Anhxtanh ngay lập tức chống lại tuyên bố này. Ông Pays viết rằng: “điều này xảy ra trên tạp chí " Annalen der Physik", cuộc tranh luận mà trong đó Abragam đã cho thấy đối thủ (Anhxtanh) thiếu xử trí và nghèo nàn hiểu biết về bản chất vấn đề. Ban đầu, Abragam tuyên bố là TĐH đe dọa sự phát triển lành mạnh của vật lý bởi những người quan sát rõ ràng thiếu tỉnh táo, và lý thuyết này sẽ không bao giờ dẫn đến mô tả bức tranh thế giới một cách đầy đủ. Nếu như nó không thành công… đưa hấp dẫn vào” [22].

Khi đó Abragam đã đề nghị một lý thuyết khác thay thế: "Tôi sẽ đề nghị phát triển lý thuyết hấp dẫn mới, mà không cần đề cập đến vấn đề không thời gian.” Và hoàn toàn loại bỏ biến đổi Lorent, quay lại với hệ thống tính toán tuyệt đối [38, 39].

Kết quả cuộc luận chiến giữa Anhxtanh và Abragam trên các trang tạp chí khoa học đã kích động một lực mạnh hơn. Nhưng Anhxtanh vội vàng đến Berlin, ông ta không có thì giờ để tranh luận thêm với đối thủ. Tất cả đều hiểu chuyện ông ta đề nghị Abragam ứng cử vào vị trí giáo sư ở trường polytechnic chỉ là khôi hài. Điều thực sự là ý đồ với Abragam, có thể xem trong đoạn sau của sách ông Pays:

"Abragam đã tỏ ra là có tài năng đáng ghen tỵ làm phức tạp ra cuộc sống của mình, thực sự là ở những chế nhạo vô cùng tai hại của ông. Giữa thực tế và quan niệm của ông thường xuyên đụng vào “linh hồn ác quỉ” – Anhxtanh. Abragam hiểu thuyết tương đối, nhưng không thể hòa hợp với nó. Không thể gọi ông là nhà khoa học lớn, nhưng ông xứng đáng được nhớ đến như một con người có những thay đổi mạnh mẽ khoa học. Abraham chết năm 1922 vì u não. Born và Laue đã cùng nhau viết trong cáo phó: ông là người phản biện đáng kính trọng chiến đấu trung thực nhất và gặp thất bại mà không hề kêu ca phàn nàn. Còn Anhxtanh thì rất lạc lõng: ông ấy yêu ether tuyệt đối, hệ phương trình, electron bền vững của mình, chúng đối với ông như là tình yêu đầu tiên… Nhưng ông luôn luôn tư duy trong sáng… sự phản đối của ông dựa trên sức thuyết phục sâu sắc… và không thiếu am hiểu” [22, 24].

Tất cả là rõ ràng? Không chỉ là giải thoát khỏi kẻ thù Anhxtanh, sau khi sắp đặt để ông phải vào bệnh viện, nơi được “điều trị” vì u não? (Liệu có phải như thế không?) mà còn là chứng tỏ rằng, tranh cãi với thiên tài chỉ có thể là đau ốm trong đầu…

Điều đó làm dấy lên câu hỏi: Liệu có thể nào G. Minkowski, người cũng ở Goettingen, và đã chết năm 1909 vì bệnh ruột thừa, không phải là cái chết tự nhiên? Sau tất cả, ông ấy không thực sự quan tâm đến Anhxtanh, chỉ làm công việc tính toán và định dạng TĐH, và Anhxtanh lại kém hiểu biết về điều này.

Đúng là nhà vật lý danh tiếng A. Poincare cũng đã chết đột ngột trước đó, vào tháng 4-1912 khi đang đọc bài giảng [41] về thuyết tương đối, mà không hề đề cập đến Anhxtanh [22]. Bạn bè của Poincare cho rằng cái chết của ông là đáng ngờ, như một học trò, là viện sĩ Pháp L. Brillyuen [42] cho biết. Bất ngờ, Brillyuen cũng chết đột tử năm 1960, khi chỉ vừa viết xong cuốn sách của mình, trong đó khám phá một số thiếu sót và mâu thuẫn thuyết tương đối Anhxtanh.

Ông Brillyuen bắt đâu viết sách vì ấn tướng bởi cuốn sách nhỏ của P. Bridzhmen [43], trong đó tác giả nỗ lực phân tích phản biện thuyết tương đối “theo quan điểm của người có kiến thức ABC”. Cuốn của Bridzhmen cũng chỉ vừa xuất bản không lâu sau cái chết sớm của tác giả.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #14  
Cũ 16-06-2013, 22:23
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh

Sau khi biết tất cả những điều đó, chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên thêm nữa về cái chết của viện sĩ người Ukraina A. Z. Petrov (1910-1972), là người chết tiếp theo sau khi viết lời tựa cho bản tiếng Nga của sách Brillouin năm 1972, lời tựa đó như thế này: TĐH vẫn diện cái quần ngắn cũn cơn của “trẻ con”, nó cho phép tất cả và thậm chí – miễn trừ khỏi kiểm tra thử nghiệm”. Thực sự là đúng ngày 9-5-1972, viện sĩ chết đột tử vì loét dạ dày.

Nhưng chúng ta quay lại đầu thế kỷ XX, nạn nhân tiếp theo Poincare có lẽ là nhà nghiên cứu Đức F. Garres [44], ông làm việc cho hãng danh tiếng "K.Tseys-Yena", và nhà khoa học Pháp M. G. Sagnac [45] (Sanyak). Các năm 1912-1914 họ tiến hành thử nghiệm tia sáng trên chiếc đĩa quay. Kết quả là có hiệu ứng Sagnac không hề hợp với “cái giường hẹp” TĐH (Procrustes) thậm chí trái ngược TĐH [46]. Năm 1928, viện sĩ S. I. Vavilov viết: “Nếu hiện tượng Sanyak được phát hiện sớm hơn… thì sẽ là bằng chứng tuyệt vời của ethe” [47].

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Đương nhiên, cả 2 nhà nghiên cứu đã bị thiệt mạng trong WW-I [46], và kết quả của họ cho đến nửa thế kỷ sau đã bị lấp liếm đi. Ví dụ, từ trước đến nay không có một từ nào trong sách giáo khoa tái bản USSR về quang học vũ trụ G. S. Landsberg. [48]

Viện sĩ hàn lâm Phổ Karl Shvartsshild (1873-1916) – giám đốc Viện vật lý-thiên văn Potsdam nổi tiếng, chưa bao giờ phản đối Anhxtanh hay có liên quan đến công việc đó. Trong khi giới khoa học quan tâm thuyết tương đối là rất nhiều, và cái đài quan sát thiên văn Potsdam bị biến thành cả một học viện.

Ngay từ đầu chiến tranh, ông đã ra mặt trận với Nga [22]. Từ mặt trận gửi về viện 2 công trình lý thuyết, mà thấy có giải pháp chuẩn xác cho phương trình của Anhxtanh về trường hấp dẫn của vật thể có khối lượng. Khái niệm bán kính hấp dẫn được gọi là “khối cầu Shvartsshild” lần đầu tiên là từ đây.

Anhxtanh đã đọc báo cáo của Shvartsshild và gặp gỡ lần đầu tại viện hàn lâm Phổ ngày 16-1-1916. Lần thứ 2 là ngày 24-2. Và ngày 29-6 ông ta đã phát biểu ở viện, tưởng nhớ Shvartsshild. Shvartsshild không chết vì đạn pháo quân thù ngoài tiền tuyến. Mà chết bất ngờ ngày 11-5 vì bệnh mắc phải trên mặt trận. Tác giả 1 cuốn sách viết [22].

Nhưng bệnh dịch ở mặt trận Nga vào mùa xuân 1916 thì không hề có ấm áp cần thiết đủ để vi khuẩn dịch phát triển. Mà có thể là ông ta đã mắc phải từ lá thư gửi đến từ Berlin bị tẩm vi khuẩn. Nhưng ít ỏi như thế là không đủ để khẳng định. Sau tất cả, y tế đang nằm dưới sự kiểm soát của Zionist, thực sự bọn chúng rất tài giỏi.

Cùng một cách nhiễm bệnh như thế là viện sĩ A. Fridman năm 1925, một người Nga là đối thủ của thiên tài, đã chứng tỏ khả năng vượt trội Anhxtanh và ông ta có thể bị thất bại.

Và vẫn còn người khác nữa tài hơn thiên tài, ứng viên giải Nobel Gunnar Nordstryom (1883-1923). Đó là nhà vật lý Phần Lan này cũng chết chẳng phải lúc, khi nghiên cứu những khó khăn Anhxtanh đang phải đối mặt năm 1911, ông tính toán sự phụ thuộc của tốc độ ánh sáng vào trường hấp dẫn và đề xuất một ý tưởng tài tình vào năm 1912 [49] để giải quyết tình trạng lúng túng đã cả thập kỷ. Nordstryom bắt đầu xây dựng thuyết hấp dẫn, trong đó không có hằng số vận tốc ánh sáng C và khối lượng m. Và dĩ nhiên cũng không giống Anhxtanh, ông đi ngay đến chuyển đổi Lorent và làm thỏa mãn định luật bảo toàn.

Norgstryom đã không thể rời Helsinki để dự hội nghị về hấp dẫn vào tháng 10-1913 ở Vienna. Do đó Anhxtanh đã rảnh tay để đọc báo cáo về lý thuyết của mình. Ở lý thuyết của Norgstryom có nhiều thứ làm Anhxtanh hài lòng, ngoại trừ 1 thứ - đó là nó phát triển từ kết quả của Abragam, địch thủ dữ dằn nhất của Anhxtanh.

Trong báo cáo, Anhxtanh cũng không hề nói một lời nào về một lý thuyết hấp dẫn khác, được phát triển bởi Gustav Mi, người không chỉ có mặt tại hội nghị, mà còn hành xử như địch thủ chính của Anhxtanh. Trả lời câu hỏi tại sao ông ta không đề cập đến thuyết của Mi, Anhxtanh không hề do dự trả lời rằng, ông ta chỉ đề cấp đến các thuyết thỏa mãn nguyên lý cân bằng [22]. Như chúng ta thấy, ngay cả ở đó cũng bắt đầu có sự im lặng về những gì gọi là không dựa trên thuyết hấp dẫn!

Tại hội nghị, lý thuyết của Norgstryom được công nhận chỉ như một lý thuyết gắn liền với hấp dẫn trong số hàng chục đề xuất, có cả của Anhxtanh trong đó.

Những tín đồ Anhxtanh ở đây, rõ ràng là đã quên Norgstryom. Năm 1923 ông chết ở tuổi 40 (mà hoàn cảnh cho đến nay vẫn không ai biết). Chẳng còn ai cạnh tranh với thiên tài Zionist nữa.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #15  
Cũ 16-06-2013, 22:29
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân của chủ nghĩa Anhxtanh

Lực lượng nào đứng đằng sau Anhxtanh để chống lưng cho ông ta trong những năm đó, để tính sổ các địch thủ khoa học và những đối thủ cạnh tranh? Câu trả lời trở nên rõ ràng nếu nhớ lại thời kỳ làm việc ở Berlin Anhxtanh có quan hệ thân cận với K. Blyumenfeld, kẻ này từ 1910 đến 1914 là Tổng thư ký Ủy ban điều hành tổ chức Zionist thế giới đặt trụ sở tại Berlin khi đó, còn sau 1924 là chủ tịch Liên đoàn Zionist Đức [22]. Không lạ gì, Anhxtanh là thành viên của Hội Ju-đa ở Berlin, và đã không chỉ 1 lần tin cậy vào đào tạo cho những tuyên bố chính trị của mình. Năm 1921, Blyumenfeld thuyết phục Anhxtanh đến Mỹ để gây quĩ thành lập “Viện Do Thái” ở đây [22].

Ở Nga khi đó, Lenin lên nắm quyền năm 1917, 2/3 chính phủ là Do Thái, Zionist ở Berlin kỷ niệm ăn mừng còn hơn cả một ngày lễ chiến thắng quốc tế của họ - sau tất cả, Lenin đã vay tiền từ Berlin để làm cách mạng tháng 10. Và khi mà Lenin cố gắng xuất khẩu cách mạng sang Đức, thì Anhxtanh đã xung phong vào đảng CS Đức năm 1919 [22]. Năm 1923, Anhxtanh tham gia vào tổ chức “Bạn bè của nước Nga mới”. Nhưng người Đức sớm hiểu ra điều đó, CNCS đã không thành ở Đức. CN phát xít đã phát triển, trước mối đe dọa khủng khiếp quá đỗi của cả CNCS và Zionism.

Rõ ràng là trong những năm này Đức có thái độ thù địch với Anhxtanh, không chỉ là từ các nhà khoa học mà còn là từ dân chúng. Vì thế, buổi giảng của Anhxtanh ở ĐH Berlin ngày 12-2-1920 đã biến thành hỗn loạn. Hiệp hội lao động của các nhà khoa học Đức sau đó xuất bản xuốn sách “100 tác giả chống Anhxtanh” [50], người ta thu xếp ở sảnh hòa nhạc Berlin buổi thảo luận về thuyết tương đối và đó là cuộc tuyên truyền bất nhã mà các tác giả này thực hiện.

Anhxtanh lúc này đang ở Đức và cảm thấy khó chịu và uy tín chẳng bao lâu sau thì sụp đổ trên báo chí, nhà vật lý Đức Filipp Lenard (1862-1947) là người tham gia vào tổ chức buổi thảo luận. Ông là người phát hiện hiện tượng hiệu ứng pho-ton năm 1902 [51], là công trình được trao giải Nobel năm 1905. Những nghiên cứu đó là cơ sở cho Anhxtanh làm điều tương tự và sau này cũng lại được trao Nobel 1 lần nữa. Cũng chính Lenard vào năm 1918 đã chỉ ra sự tương đương giữa khối lượng và năng lượng được thiết lập lần đầu tiên, không phải là Anhxtanh, mà là F. Gazenorl [52].

Y. Brovko [15] nêu ra rằng, thực sự thì lần đầu tiên, một nhà vật lý Nga làm việc ở Odessa là N. Umov đã chỉ ra tương quan khối lượng và năng lượng năm 1873, và ông ấy đã được tặng thưởng vì nghiên cứu này, nhà vật lý Anh O. Hevisayd năm 1890 cũng đã đưa ra công thức “Anhxtanh” E = mC2; Ông Pays viết về tiểu sử Anhxtanh [22] biểu thức liên hệ khối lượng và năng lượng thực sự đã được biết đến tận 25 năm trước Anhxtanh. Ông tin tưởng chắc chắn lần đầu tiên nó được đưa ra từ hiện tượng tự nhiên.

Năm 1918 ông F. Lenard xuất bản cuốn "Về thuyết tương đối, ether và hấp dẫn” phê phán thuyết tương đối [53]. Sau đó Anhxtanh và các tín đồ khắp mọi nơi tiến hành chiến dịch tấn công chống Lenard, giống như những người DT nghèo khổ của Anhxtanh vì ông ta mà làm người tiên phong quan điểm chính trị-xã hội.

Tháng 9-1920, ở Bud-Naugeyme tổ chức hội nghị “Giới khoa học tự nhiên Đức và những người hâm mộ nghệ thuật”. Cả Lenard và Anhxtanh đều tham gia thảo luận, Sau đó thì Anhxtanh buộc phải hứa hẹn trong thư gửi ông M. Born “không bao giờ nổi giận nữa” [22].

Năm 1921, sau thắng lợi đinh tai nhức óc của Anhxtanh về cái gọi là tính toán tia sáng bị uốn cong gần mặt trời (xem các bài trước), Lenard viết bài trên tạp chí mà Anhxtanh cũng ưa thích là tờ “Annalen der Physik” trích đoạn từ bài báo của Y. Zoldner [55] công bố năm 1801, trong đó Zoldner bằng các dụng cụ cơ học cổ điển đã tính toán ra góc lệch tia sáng ngôi sao tại đĩa mặt trời cho kết quả tương tự như Anhxtanh năm 1911. Đó là điều mà các tín đồ Anhxtanh không bao giờ có thể tha thứ.

Thật không may, chẳng kẻ nào dám đưa nhà được giải Nobel vào trại tâm thần. Vì thế chúng làm cách khác – sau đó chúng gắn những gì F. Lenard đã làm cho khoa học cái nhãn “vật lý phát xít”. Cho dù từ năm 1919, mối bất hòa này đã bắt đầu, nhưng người ta vẫn không nghe thấy cái tên phát xít ở Đức, kể cả muộn hơn. Sau tất cả, thứ chúng giành được là: kể cả sau WW-II, cái tên Lenard bị xóa bỏ khỏi mọi quyển sách giáo khoa, mặc dù, ví dụ, lý thuyết sự nhiễm điện của giọt nước cho đến nay vẫn được các nhà vật lý nhìn nhận là 1 thành công, trong số đó có cả tôi [56].

Có thể nói gì về A. Eddington (1882-1944) – kẻ đã tiếp tay cho Anhxtanh đến giấc mơ phong thánh, bị kẹp dưới bánh xe sau khi viết những vần thơ vũ trụ được lấy để khắc vào đá thành trùm sò xào số liệu.

Đã nhiều năm trôi qua, và dường như chẳng có ai làm sáng tỏ những cái chết bi kịch và bí ẩn liệu có Zionist can dự hay không, tín đồ Anhxtanh và Zionist sẽ hét lên tất cả là tình cờ và họ đã chẳng làm gì cả. Làm sao lại có nhiều tình cờ đến vậy? Tại sao lại liên quan đến những lý thuyết tiềm năng với số lượng lớn? Người ta hiểu điều đó là gì.

Đúng là cá nhân Anhxtanh đầy mâu thuẫn, tuy nhiên lại là cá nhân được sùng kính. Ở những cá nhân được kính trọng, một mặt, họ thực sự tài năng và lao động hăng say, làm những công việc vĩ đại và mở ra những khám phá lớn, mặt khác, là những kẻ bạo ngược hay xảo quyệt, tự cho mình có quyền chiếm đoạt thành quả của kẻ khác chỉ vì hắn tuồng như không nghe thấy đó là của họ.

Đó là thăng trầm của Anhxtanh, cùng 1 lúc giống như phép lạ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #16  
Cũ 17-06-2013, 02:03
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh

Nạn nhân Einsteinism bên USSR thậm chí còn đông hơn gấp bội, mà viết ra đầy đủ tên tuổi của họ cần đến cả 1 tuyển tập dầy. Do đó chúng ta chỉ có thể đề cập một số trường hợp nổi bật mà thôi. A. A. Friedman (1888-1925) đã đề cập ở bài #27 là một nhà khoa học trẻ tài năng. Sau WW-I tham gia vào các khóa quan sát-quan trắc, sau đó làm lãnh đạo đài quan sát Petrograd và đưa cơ sở toán học vào ngành khoa học thời tiết. Sau đó ĐH Perm được mở, Friedman tìm hiểu thuyết tương đối vào những lúc rảnh rồi. Năm 1922, Friedman công bố 1 bài viết trên tờ tạp chí Đức [57], nó trái ngược với mô hình Anhxtanh đang phát triển về vũ trụ tĩnh, có thể nói, với Friedman, vũ trụ phải dãn nở.

Mặc dù đó là con đường đột phá, nhưng Anhxtanh đã chẳng khởi đầu ra nó, thậm chí ông ta còn nghiêm cứu nó và phản ứng bằng một ghi chép ngắn trên cùng tờ tạp chí, trong đó gọi tính toán của Friedman là hoài nghi và không chứng tỏ được vũ trụ là không tĩnh tại.

Khi đó Friedman gửi cho Anhxtanh một bức thư, năm 1923, Anhxtanh buộc phải đăng tiếp một bài ngắn, trong đó viết cho biên tập tạp chí rằng: "Phản đối của tôi… dựa trên sai lầm trong tính toán. Tôi cho rằng kết quả của Friedman chính xác và đổ ra nguồn sáng mới…” Rất hiếm, cho đến cả ngày nay, lại có một xử sự nhã nhặn đến như vậy.

Năm 1929, một người Mỹ là E. Khabbl đã bắt được quang phổ dịch chuyển đỏ của các thiên hà ở xa như hiệu ứng Doppler, chứng tỏ nguồn bức xạ đang chuyển động ra xa người quan sát. Giả thuyết của Friedman về vũ trụ dãn nở đã được ghi nhận ở hầu như tất cả giới khoa học.

A. Fridman đã không còn sống để mà ăn mừng cho lý thuyết của mình, anh đã chết ở trong khu nghỉ dưỡng ở Crimea năm 1925, khi mới 37 tuổi vì bệnh sốt phát ban.

Hầu như tất cả đều nghĩ đó là 1 cái chết thông thường, bệnh, ốm và chết. Nhưng khi nhìn vào danh sách các nạn nhân Einsteinism, dù không cố ý cũng phải bắt đầu đối chiếu. Quả là cái chết quá bất thường trong thời bình. Và chỉ cần đợi đến giữa thập kỷ 60, khi chẳng còn ai nhớ Fridman thì lý thuyết vũ trụ dãn nở đã thành thời thượng ở phương tây. Công lao được dành cho Hubble, mô hình toán học vũ trụ dãn nở cũng không dành cho Fridman mà gọi là “standard” và cũng không hề cắt nghĩa làm sao lại là “ standard”.

Nhưng nếu như Friedman có khỏi được bệnh sốt và sống đến thập kỷ 30! Thì không chắc đã thọ được thêm nữa. Lý thuyết của Friedman về vũ trụ, có một cái gì đó giống như kinh thánh, và ở thập kỷ 30, ngay lập tức anh sẽ bị qui chụp “duy tâm” và có thể ngồi tù suốt đời. Chúng ta nhớ quyển sách của nhà thiên văn B. Vorontsov-Velyaminov “Luận về vũ trụ”, thậm chí cho đến lần tái bản thứ 5 (1964), thì lý thuyết vũ trụ dãn nở vẫn bị gọi là “ngu dân” và các nhà khoa học liên quan là “duy tâm”. Do vậy, số phận Friedman kiểu gì thì cũng đã bị định đoạt.

Nhưng ở thập kỷ 20, chính quyền XV khó mà liên quan đến cái chết của Friedman, bởi lúc đó vẫn chưa có qui định cấm chỉ trích thuyết tương đối, hồi đó đúng là có rất nhiều nhà khoa học theo đuổi “duy tâm” trong khoa học, và trái lại, thuyết vị lai vẫn còn phổ biến trong các giới, kể cả giới nghiên cứu tương đối, mà Friedman cũng là 1 người đã làm quen với nó từ đó. Ngay một số trong giới lãnh đạo đảng của Lenin cũng bàn luận về nó.

Do đó không ngạc nhiên khi năm 1925, ở USSR các nhà khoa học bàn luận TĐH không thể giải thích hiện tượng quang sai các ngôi sao. Cuối thập kỷ, giáo sư K. Shapochnikov xuất bản bài báo chứng tỏ dịch chuyển đỏ vũ trụ có thể được giải thích mà không cần thuyết tương đối. Năm 1928 viện sĩ S. I. Vavilov công bố công trình [47] mà chủ đề là chỉ trích một cách thận trọng một số thực nghiệm làm cơ sở cho thuyết tương đối. Năm 1933, nhà thiên văn có tiếng G. Tikhov công bố bài viết trong đó tuyên rằng độ cong của ánh sáng trong hấp dẫn mặt trời cho đến nay vẫn chưa được chứng tỏ bằng thực nghiệm…
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #17  
Cũ 17-06-2013, 02:08
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh

Cho đến lúc đó, sự nhẫn nại của các tín đồ Anhxtanh đã hết, và USSR vẫn còn có độc lập ở USSR. Cho đến năm 1934, bắt đầu có bàn luận từ TW về việc ra nghị quyết liệt những ai đối lập với thuyết tương đối là “duy tâm” hay “lạc đề”.

Bắt đầu có các nạn nhân, ví như nhà thiên văn nổi tiếng N. A. Kozyrev, người phản đối Anhxtanh, kẻ cho rằng thời gian có thuộc tính vật chất, có mật độ và có thể chuyển đổi thành năng lượng, và bạn của ông Matvei Petrovitch Bronstein (1906-1938) là một thiên tài bẩm sinh từ Vinnytsia, tốt nghiệp ĐH Leningrad và làm việc cho Khoa vật lý kỹ thuật, cùng trong nhóm bạn bè với G. Gamov, L. LandauD. Ivanenko và cưới cô cháu của K. Chukovsky. Ngay từ sớm đã viết một số lượng lớn chưa từng thấy các bài báo khoa học trên hầu hết các chủ đề. Bronstein đầu thập kỷ 30 dễ dàng lượng tử hóa trường hấp dẫn (công việc cực khó về toán học) và thiết lập hấp dẫn lượng tử của mình [60].

Anhxtanh vào lúc đó vô cùng căm ghét cái từ ‘lượng tử’ và đang chiến tranh với các nhà phát triển cơ học lượng tử. Do đó ông ta đã không nghe về hấp dẫn lượng tử và chưa bao giờ sử sụng những khái niệm như thế trước công chúng. Hóa ra Bronstein đã lượng tử hóa trường hấp dẫn, điều đó đối lập với Anhxtanh!

Họ cùng với Kozyrev bị bắt vào một đêm năm 1937 và bị kết án cùng 1 lần. Kozyrev – 10 năm tù và Bronstein 10 năm không có quyền thư từ. Cuối cùng là bị xử bắn. Kozyrev thì gặp may đã không chết trong tù và đến thập kỷ 60 lại trở thành nổi tiếng nhờ khám phá thiên văn. Bronstein thậm chí còn không có mộ, chỉ có mỗi từ Hấp dẫn lượng tử!

Và như đã nói, Anhxtanh căm ghét không công nhận khái niệm này, trong khi cả thế giới công nhận. Cho đến 100 năm sau, những cái tên G. Minkowski, A. Friedman và M. Bronstein vẫn được nhắc đến.

Năm 1937 ở Kharkov người ta bắt 2 người nổi tiếng, 2 nhà vật lý Xô Viết L. D. Landau (1908-1968) và Y. B. Rumer (1900-1975). Cho dù là Landau lúc đó chưa phải là viện sĩ thì Y. Rumer đã được coi là ngôi sao số 2 trong lĩnh vực khoa học bầu trời. Sinh ra ở Moldova, tốt nghiệp MGU và nghiên cứu ở phương tây. Ông được coi là sinh viên của Anhxxtanh, nhưng Rumer đã bỏ đi theo cơ học lượng tử, thứ Anhxtanh rất ghét. Ông làm việc ở Goettingen, nơi được coi là thánh địa của vật lý, Rumer sáng lập ta hóa học lượng tử, là giáo sư. Dĩ nhiên, ông đối lập với Anhxxtanh và bắt đầu phát triển phiên bản của mình về lý thuyết thống nhất, thứ mà ông gọi là “5-quang học”. Landau tốt nghiệp ĐH Leningrad năm 1929 và 2 năm ở Copenhagen, trong trường của nhà vật lý N. Bor. Cả 2 quen nhau từ đó và rồi trở về USSR.

Rumer bị bắt với cớ gián điệp Romania, mặc dù ông luôn luôn né tránh chính trị. Còn Landau thì bị bắt vì tội “duy tâm”. Nhưng dường như đã có nhầm lẫn, bởi Landau chẳng dính dáng nhiều lắm đến thuyết tương đối và đáp ứng đầy đủ chuẩn mực Zionism, nghĩa là không hề có biểu hiện hoài nghi thuyết tương đối kém hoàn hảo hay mạo phạm Anhxtanh.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên:
chipvn (19-06-2013), Nhật Minh (17-06-2013)
  #18  
Cũ 17-06-2013, 08:54
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh

Nhưng Landau vì sợ hãi đã thú nhận với các nhà điều tra rằng ở Kharkov có 1 nhóm phá hoại có tổ chức gồm toàn gốc DT (Akhiyezer, Brilliants, Vaysburg, Korets, Lifshits, Pomeranchuk, Rozenkevich, etc.) [15].

Landau được thả sau nửa năm, chắc là bởi đã 'thành khẩn' khai báo và bởi viện sĩ tên tuổi P. Kapitsa và cả Nils Bohr đã cầu xin Stalin. Họ vì lý do nào đó đã chẳng giúp Rumer. Ông bị đầy đi trại cải tạo lao động ở Siberia đủ án 25 năm, ban đầu là đốn cây, sau chiến tranh nổ ra là tính toán khí động học trong cái gọi là “sharashka” trại cải tạo ở Omsk, theo thiết kế máy bay của A. Tupolev.

Có lẽ cũng thật khôi hài với những gì đã xảy ra từ cái nghị quyết TW thuyết tương đối, xem ra người ta sợ hãi lý thuyết “5-quang học” của Rumer hơn là nhóm đánh bom khủng bố Do Thái! Đã có rất nhiều các nhà khoa học bị bắt oan uổng thậm chí ngay cả khi chẳng có chút quan hệ nào với tổ chức DT quốc tế Zionist: A. Tupolev, V. Myasishchev, V. Petlyakov, Bartini, N. Vavilov, A. Chizhevsky, P. Oshchepkov, Oparin…

Giáo sư Y. Parkhomovsky trong thời gian chiến tranh đã tình cờ làm việc cùng Rumer ở sharashka, viết trong hồi ký rằng nếu như năm 1942, Tupolev và một số tù nhân tài năng khác ở sharashka đã được tha bổng trước thời hạn và sau đó họ làm việc như các công dân bình thường, thì trường hợp của Rumer, vì lý do gì đó đã không được như vậy. Và cái khác ở Rumer so với những người kia, thì chỉ là lý thuyết của ông là mối đe dọa tiềm tàng đến thuyết tương đối Anhxtanh!

Hồi ký của Landau cũng viết là ông ta không bao giờ quên Rumer và hàng năm đều gửi cho bạn bưu kiện tạp phẩm, nhưng chúng đã chẳng bao giờ đến nơi.

Năm 1951 S. Vavilov trở thành chủ tịch Viện hàn lâm khoa học USSR, còn người anh em của ông, N. Vavilov thì đã chết trong trại cải tạo. Y. Rumer được chuyển từ trại Enisei đến Novosibirsk và cuối cùng được làm giáo viên dạy học cho tù nhân. Landau đã trở thành viện sĩ, ông ta đã không bao giờ đến Novosibirsk hay thậm chí là có một lời nào để giúp đỡ cho bạn Rumer.

Sau cái chết của Stalin thì Rumer được tạm tha vài ngày đển về Mat-xcơ-va báo cáo ở Viện hàn lâm khoa học về lý thuyết “5-quang học” [63] Ông thậm chí đến tận nhà Landau mời ông ta đến nghe báo cáo. Ông ta bối rối, đi lại từ góc nhà này đến góc nhà kia… và cuối cùng đã không đến. Tất cả là dễ hiểu?

Tác giả đã được nghe kể về điều này từ chính Rumer, khi không chỉ 1 lần đến thăm ông ở Novosibirsk đầu thập kỷ 70. Ngay cả sau khi Rumer được minh oan, cuối thập kỷ 50, Landau đã thuyết phục Rumer cùng viết sách khoa học phổ thông pro-Anhxtanh mang tên “Thuyết tương đối là cái gì” [64] Trong đoạn hồi ký về Landau [65], Rumer khi đó viết rằng khi mình mang bản thảo cuốn sách đến viện sĩ, ông ta (Landau) nhìn qua và hỏi: “Rồi sao?” Trả lời: “Hai tên bợm đã thuyết phục khách hàng rằng chỉ cần bỏ ra đồng 10 cô-pếk là hắn ta có thể hiểu, thuyết tương đối là cái gì”.

Rõ là, khi Rumer dùng cái từ “các bợm -жулики” đã không chỉ ám chỉ là 2 tác giả cuốn sách này.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Nghị quyết TW thuyết tương đối năm 1934 đã gây tai họa và tước bỏ sạch bao nhiêu cơ hội của các nhà vật lý tài năng Xô-Viết chỉ vì họ không chịu núp dưới váy Anhxtanh. Nhưng không chỉ có vậy, cái tiếp theo còn rất kỳ quặc. Đó là tháng 11 năm 1942, khi mà chiến tranh WW-II đang rất dữ dội, hầu như tất cả đều phải ra trận, hy sinh và mất mát. Thế nhưng đoàn chủ tịch Viện hàn lâm KH USSR trong buổi lễ kỷ niệm 25 năm CM tháng 10 lại ra nghị quyết chấp thuận thuyết tương đối! Đó là thứ cần thiết cho chiến tranh và xương máu người dân Liên Xô? Có cái gì để làm với thuyết tương đối Anhxtanh vào lúc nước sôi lửa bỏng? Họ không có việc gì để làm? hay có lẽ các ông viện sĩ bị điên!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #19  
Cũ 17-06-2013, 10:36
SSX SSX is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Sep 2011
Bài viết: 1,451
Cảm ơn: 288
Được cảm ơn 1,332 lần trong 674 bài đăng
Default Nạn nhân USSR của chủ nghĩa Anhxtanh

Tạp chí “Cận vệ trẻ” [15] và nhiều nguồn tư liệu khác cho biết, vào thập kỷ 30, Hitle đã thu xếp 1 thỏa thuận với tổ chức World Zionist để có được những khoản vay phát triển công nghiệp. Đổi lại là thỏa mãn ước mơ lập quốc 1000 năm của người Do Thái. Họ có thể lập quốc ở bất cứ nơi đâu ngoài lãnh thổ nước Đức. Vì thế, tất cả dân Do Thái từ khắp châu Âu, Hy Lạp, Thổ… đổ về đông Ba lan tá túc trong các trại tập trung chờ Liên Xô sụp đổ để xông ra cướp đất lập quốc.

Nhưng Liên Xô không những đã chẳng sụp đổ mà Hitle còn bị nện tơi tả, thế thua cuộc hiện rõ từ nửa cuối 1942. Dân Do Thái tháo chạy về Palestine, một phương án lập quốc khác!

Rất có thể vào lúc đó, Zionist đã phải có 1 thỏa thuận khác với Stalin để thay đổi tình thế. Hitle thành vật bị phế bỏ, đổi lại, LX đã giúp đỡ cho hàng triệu người Do Thái chạy thoát qua biển Caspian, qua Iran về Palestine. Nhưng chiến tranh là chiến tranh, những người dân Do Thái bình thường trở thành nạn nhân bị hủy hoại bởi chính Zionist.

Và hậu quả phụ: tự nhiên [15] Anhxtanh được yêu mến đến thế! Đoàn chủ tịch Viện hàn lâm ngồi trên đống lửa chiến tranh, quyết chấp thuận thuyết tương đối! Còn nữa, LX là nước đầu tiên công nhận Israel, như một thỏa thuận [15]. Dù sao đó cũng là điều tốt (cho LX và không cho dân tộc khác), bởi nếu không thì bà con họ hàng nhà Ju-đa đang tá túc chật cứng cả đất Nga vào lúc này. Nếu có gì sai lầm thì đó là sai lầm của Nữ Hoàng Ekaterina, bà đã làm được nhiều việc cho nước Nga, nhưng đã mắc sai lầm chết người chỉ vì lòng vị tha và tính tình thông thoáng cởi mở, đã chấp thuận cho người Do Thái được làm thần dân đế chế Nga, sao bao lần họ cầu xin mà không được.

Cái nghị quyết tương đối” của Viện hàn lâm có đoạn như sau: “Cấm chỉ tất cả các hội đồng khoa học và tạp chí, các diễn đàn khoa học chấp nhận, xem xét, thảo luận và công bố các công trình, phê phán thuyết của Anhxtanh”…

Nhưng cái nghị quyết phản khoa học của viện khoa học này cũng chỉ được chấp nhận muộn hơn 20 năm sau, vào năm 1964 [15]. Các nạn nhân bị chụp mũ “hoang tưởng” ví như đã nói: năm 1966, khoa vật lý tổng quát và ứng dụng đã “giúp đỡ” cho 24 nhà khoa học tỏ ra hoang tưởng…

Trong số đó có ông giáo sư người Belarus A. Veynik, người dám nêu câu hỏi ngờ vực thuyết tương đối trong quyển sách Nhiệt động học (Термодинамика). Lệnh của ông bộ trưởng USSR, cấm chỉ và Veynik mất dạy!

Viện sĩ hàn lâm USSR A. Z. Petrov năm 1963 viết sách [67] chứa các chỉ trích một số tiên đoán của thuyết tương đối rộng (TĐR), nhưng không ai dám đem ông viện sĩ vào viện tâm thần, bởi dù sao ông cũng là người nổi tiếng cả ở nước ngoài. Cái gì xảy đến với ông thì đã nói ở bài #27, chỉ vì dám công bố sách của Brillyuen [42], trái ngước với nghị quyết của viện khoa học.

Cũng những năm 60 còn có cuộc trừng phạt ông I. S. Filimonenko, nhưng cùng với điều đó là cả một hướng nghiên cứu mới của các nhà khoa học Xô Viết mở ra từ đó. Đó là từ đầu thập kỷ 50, ông Filimonenko đã phát hiện ra khi phun nước vào động cơ phản lực làm tăng công suất của nó lên 15%. Ông đoán điều đó xảy ra là do đốt cháy hi-dro trong quá trình nhiệt phân của nước và bắt đầu nghiên cứu về hiện tượng này. Tổng hợp nhiệt hạch lạnh, điều mà ông Richard Moody Jr. Nói đến trong chùm bài #2-#15, xuất phát từ đây. Ông Filimonenko gọi đó là “Phát xạ nhiệt điện từ của thiết bị thủy phân” và nhận bằng phát minh Liên Xô năm 1962.

Công trình từ thập kỷ 50 của ông được các viện sĩ ủng hộ: I. V. Kurchatov và S. P. Korolyov, có cả nguyên soái G. K. Zhukov [68]. Dựa trên nguyên lý này, thiết bị phát điện gọi là TOPAZ (hoàng ngọc) dành cho trạm không gian được thử nghiệm. Viễn cảnh nó giúp ích hoặc thay thế 1 phần cách lò phản ứng hạt nhân là có thể. Nhưng mọi thứ trước nguy cơ đổ vỡ vì phát minh này. Một hội đồng các chuyên gia được lập ra, do Shpilraen đứng đầu [15] đưa ra kết luận nó trái ngược qui luật vật lý. Không ai còn dám mạo hiểm. Filimonenko bị bãi nhiệm. Năm 1968, sau khi phát giác ông ký đơn đề nghị cấm thử vũ khí hạt nhân, người ta tống ông vào trại tâm thần [15]. Tất cả công việc dừng lại. Cho đến tận 1989, sau khi bê bối nhạy cảm M. Fleischmann và S. Pons xảy ra người ta mới biết đến thử nghiệm hạt nhân lạnh bên Mỹ và đề nghị cho phép Filimonenko trở lại với công việc. Nhưng đã quá muộn, tàu đã trật bánh, tuổi trẻ, sức lực và trí tuệ của ông đã tiêu tan hết qua những năm tháng trong trại tâm thần. Chẳng ai trẻ được mãi, ông vẫn còn sống sót ra được khỏi đó đã là quá may mắn rồi.

I. S. Filimonenko
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (19-06-2013)
  #20  
Cũ 17-06-2013, 12:03
Julia's Avatar
Julia Julia is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 386
Cảm ơn: 203
Được cảm ơn 378 lần trong 177 bài đăng
Default

Bài viết của anh SSX có rất nhiều thông tin. Bọn em đọc và ghi nhận, coi như là những thông tin tham khảo. Đọc rất thú vị, tuy nhiên em không dám bấm like vì em cũng chưa có nguồn thông tin chính thống để khẳng định. Mặt khác, Enstein là vĩ nhân được công nhận, một cây cổ thụ quá lớn, trên thế giới các nhà bác học lớn cũng chưa ai dám phản bác nên bọn em cũng chỉ dám đọc nhưng không dám bình luận. Anh SSX cứ tiếp tục.
__________________
THERE IS NO FREE MEAL
Trả lời kèm theo trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
ĐẤT VỠ HOANG 1959 - Поднятая целина - No sub Dzũng mèo Điện ảnh - Truyền hình 8 31-05-2014 21:24
Các tác phẩm của M. Sholokhov - Đất vỡ hoang và Sông Đông êm đềm vasily Văn học 31 13-09-2012 22:23
Chó hoang Đin-gô weekdaysman Văn học 57 11-06-2009 10:07


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 19:04.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.