|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
|||
|
|||
|
Tóm tắt sơ lược năm 1941 Hitle bắt đầu xâm chiếm nước Nga. Nước Anh tiếp tục thất thủ tại Greece và Crete, nhưng họ cũng đã chiến thắng trong các cuộc chống trả quân Italia tại Libya cho mãi đến khi lính Đức đến họ mới tạm thu binh. Đến cuối năm, khối liên minh (Đức, Ý, Nhật) mở các cuộc tấn công dữ dội, vào thời gian này nước Mỹ bắt đầu tham chiến. Chiến tranh lại càng dữ dội khi quân Nhật tấn công hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ tại Trân Châu cảng. Cùng thời gian Nhật bản tấn công các nước Đông Nam Á như Guam, Wake, Philippines, Singapore và rất nhiều quốc gia khác trong đó có Việt Nam. Quân đồng minh đã không chuẩn bị được nhiều tinh thần để đối kháng, bao gồm cả việc đánh giá quá thấp đối với quân đội Nhật Bản thời bấy giờ, Chiến tranh Trung-Nhật đã mở rộng trên khắp đất nước Trung Hoa cùng với chiến sự trên khắp thế giới. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hanvt (14-10-2010) | ||
|
#2
|
|||
|
|||
|
Đức tấn công nước Nga 22/6/1941-12/1941 Phần một Trước khi xâm chiếm Balan, Đức đã ký kết một bản hiệp ước ( Nga - Đức không gây hấn. Đóng chặt đường biên giới phía đông Đức. Hạn chế thông thương hầu như trên lãnh thổ Nga). Nhưng mọi người nhận thấy rằng nó chỉ là vấn đề thời gian. Trên ý thức, cả hai quốc gia đều không kiêng sợ lẫn nhau. Một trong các kế hoạch bá chủ của Đức quốc xã là tập trung cao độ cho việc xâm chiếm Liên Xô. Ngày 21/7, một tháng sau khi Pháp thua trận, Hitler triệu tập thống soái Walther von Brauchitsch và chỉ đạo cho ông này lập một kế hoạch tấn công Liên Xô Sự bất hòa giữa hai bên khởi đầu trong thời gian Ngoại trưởng Liên Xô Vyacheslav Molotov sang thăm Berlin vào ngày 12-13/11/1940. Khi đó Molotov nhắc nhở Đức nên có một khoảng cách đối với Phần Lan như đã cam kết trong hiệp ước. Hitler xoa dịu rằng, ông ta đang có hướng quan tâm đến châu Á còn tại châu Âu hiện chưa có ý định. Thế nhưng trong khi đó, bộ chỉ huy tối cao Đức đang triển khai các kế hoạch cho một mưu đồ xâm lược. Ban đầu được gọi là kế hoạch Fritz sau mang tên Directive 21, nhưng Hitler lại có ý đồ tấn công nước Nga từ trước nên đã ra chỉ thị đổi tên thành Chiến dịch Barbarossa. Kế hoạch hành động đã được thông qua vào tháng 1/1941 Trong kế hoạch đã được ấn định là “Chiến dịch 10 tuần” sẽ bắt đầu vào ngày 15/5/1941. Nhưng do các sự kiện đã xảy ra dồn dập trên các mặt trận khác làm thay đổi toàn bộ các toan tính đã chuẩn bị của Đức: Trong tháng hai Afrika Korps (Đội quân Phi châu của Đức) đổ bộ vào Bắc Phi, Nam Tư được cho là một nước liên minh thân cận nhưng cũng đã từ chối các sự giúp đỡ của Đức sau nữa là quân đội Ý cần sự giúp đỡ để chinh phục Hy Lạp. Do vậy cuộc tấn công nước Nga bị lùi lại 5 tuần sau và nó bắt đầu vào ngày 22/6/1941. Sự việc này đích thân đại nguyên soái Josef Stalin đã được báo trước do các tin tức tình báo Nga cung cấp. Mặt khác, sự tăng cường lực lượng của Đức tại Balan ngay sát đường biên giới với Liên Xô là rất hiển nhiên, thậm trí cả nước Anh cũng đã cảnh báo nhưng Stalin vẫn chưa cho quân đội chuẩn bị các phương án phòng thủ. Tổng chỉ huy không lực Hermann Goering và ngoại trưởng Đức Joachim von Ribbentrop đã cố gắng thuyết phục Hitler rằng; Tấn công nước Nga là một sự lựa trọn sáng suốt. Goering cho rằng không quân của Y có thể sẽ tấn công cả Anh và Nga trong cùng một thời điểm, Ribbentrop thì nhận định: bản hòa hiệp giữa Nga và Đức đã đến hồi kết. Các lực lượng vũ trang (Wehrmacht) được huy động dốc toàn lực để hành quân tiến thẳng đến Moscow Bộ chỉ huy tối cao mặt trận phía Đông của Đức - Oberkommando des Heeres (OKH,) huy động toàn bộ lực lượng tinh nhuệ nhất để tập trung tấn công Liên Xô. 148 sư đoàn (114 sư đoàn bộ binh, 15 sư đoàn lính mô tô, 19 sư đoàn thiết giáp), 67.000 binh lính Đức đang đồn trú tại Norway, 500.000 tại Phần Lan và 150.000 tân binh Rumani tham chiến. Tổng cộng 3.050.000 binh lính, 7184 khẩu pháo, 3.350 xe tăng, 2.770 máy bay. 600.000 ôtô và 625.000 kỵ binh chia làm ba hướng tiến vào Liên Xô. Mũi thứ nhất do thống chế tập đoàn quân phía bắc của Đức Wilhelm von Leeb dẫn quân xuyên qua lãnh thổ Phần Lan và Balan tấn công các nước vùng Baltic và Leningrad. Mũi thứ hai do thống chế tập đoàn quân chính diện Fedor von Bock chỉ huy lực lượng từ Balan và đông Phổ tiến vào Minsk và Smolesk. Mũi thứ ba do thống chế tập đoàn quân phía nam Gerd von Rundstedt xuất phát từ Tiệp Khắc tiến đánh Ukraine và dãy núi Caucasus. Cuộc đánh chặn địch của Hồng quân Liên Xô vào sáng ngày 22/6/1941 có phản ứng rất chậm trễ, kết quả hàng trăm xe tăng bị loại khỏi vòng chiến, không quân vẫn chưa phát huy được thực lực của mình. Chỉ với 7 sư đoàn, Hồng quân Liên Xô đã phải chống chọi với cả tập đoàn quân phía bắc của Đức, do tương quan lực lượng quá mỏng nên đành phải thất thủ tại Phần Lan, không bao lâu sau các nước vùng Baltic cũng bị rơi vào tay địch. Ngày 1/7 tập đoàn quân phía bắc của Đức đoạt được sông Dvina. Ỏ hướng khác, Tập đoàn quân chính diện Đức đã tiến đến quanh bờ bắc của vùng đầm lầy Pripet và bao vây Bialystok sau đó tiến đánh Minsk vào tuần kế tiếp, trong đợt này có 290.000 binh sĩ bị bắt làm tù binh. Tập đoàn quân phía nam của Đức cũng đang tiến vào Kiev bất chấp những cơn mưa dữ dội đang hoành hành. ![]() Quân Đức xâm chiếm Liên Xô ![]() 22-06-1941 máy bay Đức đang trên đường đi đánh bom các thành phố của Liên Xô| ![]() "Tấn công!!!" Hồng quân Liên Xô trong trận đánh gần Varoshilovgrad, Ukraine 1941 ![]() Hồng quân Liên Xô đang phản công dưới làn mưa đạn ![]() Hồng quân Liên Xô, mùa hè 1941 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hanvt (14-10-2010) | ||
|
#3
|
|||
|
|||
|
Đức tấn công nước Nga 22/6/1941-12/1941 Phần hai Stalin rất sững sờ trước sự phản ước của Hitler và không kịp phản ứng trước sự tấn công bất ngờ của đối phương, do vậy Hồng quân tuy đã chiến đấu rất dũng cảm nhưng không thể tránh khỏi những tổn thất. Có rất nhiều chiến sỹ đã bị bắt làm tù binh Oberkommando des Heeres tin rằng người Nga khó có thể chịu được mức độ thương vong này. 3/7 đại tá Đức - Franz Halder thông báo rằng: Quân Đức chỉ chạm trán với sự kháng cự yếu ớt tại Dnieper và trên sông Dvina. Hitler kết luận: Người Nga sẽ thất bại trong cuộc chiến này Trong khi quân Đức tiến được 20 dặm mỗi ngày, Hồng quân cũng đã bắt đầu dần chỉnh đốn lại quân đội. Ngày 30/6 Stalin tự bổ nhiệm làm lãnh đạo Ủy ban phòng vệ quốc gia, đảm đương tất cả cán sự, quân đội và nền kinh tế trong nước. Ngày 10/7 nước Nga cơ cấu lại lực lượng và chỉ định thành ba đội quân chính: Tây bắc, Tây, Tây nam. Ngày 3/7/1941, Stalin đọc diễn văn trước toàn thể công chúng nước Nga. Ông rất hoan nghênh sự trợ giúp từ các nước phương Tây và kêu gọi toàn thể người dân nước Nga hãy đứng lên chiến đấu chống lại cuộc xâm lược của kẻ thù. Trong suốt tháng bảy và tháng tám, quân Đức liên tục tiến công. Tập đoàn quân phía bắc có kế hoạch sẽ đánh chiếm Leningrad vào ngày 10/8. Tập đoàn quân chính diện, sau khi bắt giữ 138.000 tù binh trong một tuần, đã quyết định loại ra hai đội thiết giáp để trở về tiếp tục duy trang. Tập đoàn quân phía nam đã phá vỡ 20 sư đoàn của Hồng quân Liên xô cũng đang cố thoát khỏi Dnieper. Ngày 25/8 hai tập đoàn quân Đức đã bao vây 665.000 binh sĩ Hồng quân tại 150 dặm đông Kiev. Quân Phần Lan đánh chiếm lại đường biên 1940 trong ngày 31/8, trong đó có 30 dặm của thành phố Leningrad. Ngày 8/9 Leningrad bị chia cắt. Hitler điều toàn bộ xe bọc thép phía nam của tập đoàn quân phía bắc tiến thẳng đến Moscow. Quân Đức rất sửng sốt trước sự trang bị khí tài của Hồng quân Liên Xô, đặc biệt là loại xe tăng T-34. Các loại tăng của Đức được trang bị các loại pháo 37 – 50 ly khó có thể làm sứt mẻ được mui bọc thép của tăng T-34. Được trang bị pháo 105 ly, T-34 gây không ít khó khăn và đã chặn đứng các cuộc tấn công của xe tăng Đức. Sau đó, Đức cũng cho lắp đặt loại pháo 75 ly chiếm được của Nga lên thiết giáp (pzkpfw I) Ngày 8/9 Hitler kiên quyết tập trung toàn bộ lực lượng tiến đánh Moscow. Các tướng lĩnh của Y cho rằng, Liên Xô sẽ huy động toàn bộ lực lượng để bảo vệ Moscow và ở đây cũng sẽ xảy ra một trận chiến quyết định. Binh lính của tập đoàn quân chính diện Đức dừng lại 6 tuần để chỉnh đốn đội hình. Một đội quân tinh nhuệ của Đức, trong hai tuần đã tiến hành ba cuộc vây ráp lớn gần Bryansk và Vyazma. Trong các trận chiến này có 163.000 tù binh bị bắt giữ. Kết thúc giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh phía đông này. Hồng quân Liên Xô bị tổn thất khoảng 3.000.000 người chết và hơn một triệu người bị bắt giữ. http://worldwar2database.com. ![]() Hồng quân phản công ![]() Trận đánh gần Moscow 1941. Cuộc phản công thắng lợi đầu tiên của Hồng quân Liên Xô ![]() Đội quân ngụy trang trong mùa đông của Hồng quân Liên xô ![]() Tăng T-34 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hanvt (14-10-2010) | ||
|
#4
|
|||
|
|||
|
Cuộc chiến bảo vệ thành phố Moscow Cuộc chiến tại Moscow là một thời điểm then chốt trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai WW II. Trong cuộc chiến tại đây, Hồng quân Liên Xô đã đẩy lui được sự sụp đổ thảm khốc có thể sẽ xảy ra và chứng minh rằng: Đội quân Đức quốc xã trên thực tế vẫ có thể bị đánh bại. Trận đánh tại Moscow có thể chia làm ba giai đoạn chính: Thứ nhất, quân Đức tấn công từ ngày 30/9 đến 30/10/1941. Thứ hai, quân Đức tấn công từ 16/10 đến 5/12/1941. Thứ ba, Hồng quân Liên Xô phản công từ ngày 5/12/1941 đến 5/4/1942. Cuộc tấn công của quân Đức bắt đầu từ ngày 30/9/1941 mang mật danh "Dông tố." – " Typhoon". Bộ tư lệnh tối cao Đức hy vọng sẽ chiếm được thủ phủ của Xô Viết trước mùa đông 1941. Họ dự tính, Moscow thất thủ thì toàn bộ liên bang Xô Viết cũng khó có thể còn đứng vững thêm được nữa. Với mục tiêu đó quân Đức đã dàn trận một lực lượng khổng lồ để tấn công ồ ạt vào thủ đô Xô Viết. Đức tập trung 1.800.000 binh lính, 1.700 xe tăng, 14.000 pháo và súng cối, cùng với 1.390 máy bay tấn công Moscow. Được chỉ huy bởi tướng Đức Heinz Guderain, lực lượng khổng lồ này nhanh chóng nắm bắt được thế trận trước một đội quân mỏng hơn của Xô viết và đẩy lui họ để chiếm giữ được một vài thị trấn gần Moscow ngay trong tuần đầu tiên của chiến dịch. Ngày 15/10 quân Đức phá vỡ tuyến phòng thủ của quân đội Xô Viết và chiếm giữ các thị trấn trọng yếu của các thành phổ Kaluga và Mozhaisk phía tây nam Moscow. Với những trận thắng liên tiếp và nhanh chóng chiếm giữ các vùng ngoại ô của quân Đức, người dân đã sinh ra rất hoang mang trong thành phố Moscow, họ sợ rằng quân Đức sẽ sớm chiếm giữ được thủ đô nên đã bắt đầu sơ tán về hướng đông. Trong vài ngày, nhà đương cục địa phương hoàn toàn sụp đổ và Moscow xem ra gần như hỗn loạn và đang bấp bênh bên bờ vực thẳm. Tuy nhiên , có một vài yếu tố đã tác động làm chậm sự tiến công của Đức. Đầu tiên là, quân đội Đức đã tiến nhanh hơn cả sự tiếp tế. Thứ hai, Josef V. Stalin và bộ chỉ huy tối cao Xô Viết bổ nhiệm tướng Georgy Zhukov làm tổng chỉ huy mặt trận phía Tây, ông đã ổn định và củng cố vững chắc được vành đai phòng thủ quanh Leningrad và đang tiến hành tạo dựng một vành đai tương tự để bảo vệ Moscow, Hồng quân cũng bắt đầu củng cố mạnh mẽ lực lượng cho phòng vệ thủ đô. Thứ ba, tuyến tiếp viện của Đức bị Hồng quân Liên Xô cản phá dữ dội trên đường từ Viễn Đông vận chuyển quân lương đến Moscow. Đến khi hàng tiếp tế của quân Đức được chuyển đến, thì cũng là lúc chỉ huy phòng vệ thành phổ Moscow đã yêu cầu người dân tổ chức thành những đội du kích hoặc vệ quốc quân để sẵn sàng chiến đấu bảo vệ thủ đô. Những đội quân này được nhanh chóng đào tạo cơ bản và họ đã góp phần không nhỏ trong cuộc chiến bảo vệ thành phố Moscow. Trong một lần hàng tiếp viện được tập kết, quân Đức lại tiếp tục một cuộc tấn công mới vào hạ tuần tháng 11. Lúc đầu quân Đức cũng đạt được một vài trận thắng tại các khu vực phía tây bắc thành phố Klin và Istra và quanh phía nam Tula. Nhưng với sự kiên cường kháng trả của quân đội Xô Viết cùng với sự khắc nghiệt của mùa đông nước Nga đã làm chậm bước tiến của quân Đức và cho phép Xô Viết có đủ thời gian để chấn chỉnh lực lượng thậm trí còn bắt đầu bứt phá để phản công vào đầu tháng 12. Đang trên đà thắng lợi, quân đội Xô Viết đã cố gắng phối hợp tạo thêm nhiều đợt phản công quân Đức vào những ngày 5-6/12/1941. Với mục đích dồn quân Đức lui lại Smolensk, Stalin và Zhukov đã mở rộng chiến trường ra 560 dặm kéo dài từ Kalinin phía bắc Moscow đến nam thành phố Yelets (Еле́ц) với hy vọng trong chiến dịch này sẽ nhanh chóng đạt thắng lợi, được hỗ trợ bởi các lực lượng từ Trung Á, Hồng quân Liên Xô đã đẩy lui quân Đức từ hai mươi đến bốn mươi dặm, giải phóng Kalinin, Klin, Istra và Yelets, bẻ gãy vòng vây của quân Đức tại Tula. Tại rất nhiều khu vực quân Đức buộc phải nhanh chóng rút lui, do những tiếp viện của Đức càng ngày càng yếu đi và binh lính Đức không chịu được cái khắc nghiệt của mùa đông nước Nga. Cuộc chiến tại Moscow đã mang lại nhiều chân lý quan trọng. Đó là một thất bại đầu tiên của quân Đức từ khởi đầu năm 1939 trong thế chiến thứ hai. Mặc dù trên thực tế, Moscow đã gần ngã gục trong trung tuần tháng 12/1941 nhưng quân đội Xô Viết đã chứng minh rằng: Quân đội Đức không phải là vô địch. Hơn nữa, trong cuộc chiến này cũng đã sản sinh ra rất nhiều sỹ quan Xô Viết, họ là những người đã trở lên lỗi lạc trong những trận đánh bảo vệ thủ đô. Các sỹ quan như: Zhukov, Konstantin Rokossovsky, Ivan Boldin, và Dmitry Lelyshenko, cũng đã chứng tỏ rằng: Họ có năng lực để là những trụ cột chính trong quân đội Xô Viết trong cuộc chiến còn đang trước mặt. Cuối cùng, cuộc chiến bảo vệ thủ đô là một chiến thắng danh dự quan trọng của quân dân Liên Xô và là một ấn tượng khó phai trên các quốc gia Xô Viết của các nước khác trong thế chiến thứ hai www.answers.com ![]() Người dân trên đường phố Moscow đang nghe Radio đọc bản thông báo cuộc chiến bắt đầu ![]() Lính pháo binh Xô Viết ![]() Quân đội Nga đánh trả địch trên trận tuyến tại ngoại ô Moscow 1941
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
hanvt (14-10-2010) | ||
|
#5
|
|||
|
|||
|
Cuộc đột kích Kalinin 1941
Thiếu tướng A. Vitruk Đó là đợt tuyết đầu tiên của mùa đông gần thành phố Moscow. Dưới một màu trắng xóa tuyết rơi, tầm nhìn của binh sỹ do vậy bị hạn hẹp. Từ trên đường quốc lộ của thành phố Volokolamsk-Kalinin ta không thể nghe được tiếng ồn từ động cơ của ôtô, xe máy và tiếng rít lạo xạo của xích xe bọc thép. Quân Đức chuyển quân đến Kalinin. Chúng tôi nhận được lệnh quyết giao chiến với quân địch. Trên ngoại vi của làng Turinovo, một lữ đoàn đã hạ trại và chuẩn bị chiến đấu. Xe tăng và các phương tiện xe máy bắt đầu tiếp nhiên liệu, các lối mòn được canh gác cẩn trọng hơn, vũ khí đạn dược được chuẩn bị kỹ càng và tăng cường hiệu chỉnh các tính năng kỹ thuật của các loại xe máy. Trung đoàn trưởng, Anh hùng Liên Xô - Thiếu tá Mikhail A. Lukin trải thẳng tấm bản đồ và đánh dấu hai mũi tên trên đó hướng về Kalinin và nói: - Tôi rất có lòng tin vào dân tộc, họ không bao giờ chùn bước, nhưng chúng ta đang gặp những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Xe tăng chỉ có thể tiến trên Volokolamsk và quốc lộ Turginov, không thể cắt ngang vào các con đường khác vì ở những nơi đó toàn rừng rậm và đầm lầy. Do vậy lính Đức sẽ kéo đặc vào những nơi đây. Một lần nữa trung đoàn trưởng lại chìm sâu vào suy nghĩ rồi cương quyết: - Nhưng chúng ta không thể chần chừ thêm được nữa. Lữ đoàn trưởng đã nói đúng. Nếu như chúng ta không đập tan quân Đức tại đây, chúng sẽ tập trung lại lực lượng, đánh bật chúng ta ra khỏi thành phố và tiến đánh thẳng vào Moscow. Tất cả chúng tôi từ binh lính đến chỉ huy đều đã hiểu rõ tình hình trước mắt. Bằng bất kỳ mọi giá, chúng tôi phải đánh để làm suy yếu lực lượng của kẻ thù, ngăn không cho chúng tấn công vào đây, một vị trí rất trọng điểm của toàn mặt trận. Các chiến sỹ xe tăng rất háo hức cho trận đánh. Sáng ngày 17/10. Bầu trời vẫn tối sầm ảm đạm, Tất cả xe tăng của chúng tôi khởi động rời khỏi vị trí, tắt toàn bộ đèn pha, động cơ làm việc ở tốc độ vòng tua nhỏ nhất để giảm thiểu tiếng ồn. Tuy nhiên trên đường quốc lộ đã rất náo nhiệt. Trước tiên, một vài chiếc môtô phóng qua tầm nhìn các quan sát viên của chúng tôi, theo sau chúng là đoàn xe bọc thép xuất hiện, dày đặc những, ôtô, xe kéo theo pháo… chạy trên quốc lộ. Có quá nhiều mục tiêu hấp dẫn! nhưng chúng tôi không thể tấn công chúng do chưa có hiệu lệnh. Cuối cùng thì khẩu lệnh cũng vang lên qua ống nghe trên mũ sắt của chúng tôi: "số ba-số ba-số ba". Tất cả động cơ chạy hết tốc lực. Như kế hoạch, chiếc xe tăng thứ nhất được hộ tống chỉ huy, Anh hùng Liên Xô M.P.Agibalov bên trong chiếc xe tăng thứ nhất bất ngờ xuất hiện trên quốc lộ Volokolamsk bắt đầu ngiền nát và quét pháo vào tất cả các trang thiết bị và binh lính địch. Tăng T-34 tràn vào trận chiến, quét sạch các chướng ngại vật của quân thù trên đường tiến, xạ thủ tiểu liên trên xe tăng xả đạn như mưa vào quân Đức. Trung đoàn tăng của Anh hùng Liên Xô Lukin cũng chiến đấu rất quyết liệt ngay trên quốc lộ Turginov. Cuộc đột kích khởi đầu thắng lợi. làm cho quân Đức thực sự hốt hoảng. Tuy nhiên quân địch đã nhanh chóng tổ chức lại đội hình để phản công. Khi xe tăng của chúng tôi chiếm được làng Pushkino, hàng tá máy bay Đức "Junkers" đã tràn vào đánh bom vào xe tăng Xô Viết, thêm nữa còn có cả pháo binh địch cũng kéo đến khạc đạn điên cuồng. Dù sao thì cuộc chiến cũng đã đến. Lữ trưởng nhìn nhanh qua bản đồ tác chiến. Mục tiêu chính – Kalinin hoàn toàn giữ vững. Nhưng…(ở đây rất nhiều cái"nhưng" trong chiến tranh) số lượng máy bay oanh tạc của Đức càng ngày càng tăng thêm, nó đã làm cho xe tăng của Liên Xô rất khó có thể triển khai trên quốc lộ đến một khu rừng, lần lượt từng chiếc tăng một bị loại khỏi cuộc chiến, bất chấp các khó khăn đó, các biên đội tăng Liên Xô vẫn chiến đấu rất anh dũng. Tám chiếc tăng đã chiếm được ngoại vi Kalinin, một trong số tăng đó được chỉ huy bởi thượng sĩ Gorobets, ngay từ khi bắt đầu cuộc tấn công, xe tăng của anh luôn đi đầu trong tiểu đoàn hộ vệ số 1. Ngay trong khi bom địch bắt đầu dữ dội, Gorobets vẫn không ngừng hối thúc chiến sĩ lái tăng Litovchenko của mình: - Tiến! Tiến lên! Tăng tốc, hãy giữ hết tốc độ! Mũi kim trên đồng hồ tốc độ đạt đến giới hạn 50 và cuối cùng Kalinin đã ló hiện qua kính ngắm xe tăng. Tại thời điểm đó xe tăng của Gorobets đã bắt gặp một đoàn hộ tống Đức, quốc lộ bị tắc ngẽn bởi các hoạt động chậm chạp của xe cộ, môtô… bọn Đức không ngờ được một chiếc tăng Xô Viết đang theo sát chúng. Gorobets đã ra lệnh cho xạ thủ Kolomiets bắn thằng vào giữa đoàn quân địch. Xe cộ bốc cháy rầm rập, bọn Đức tháo chạy toán loạn. - Fedya, tiến lên! Postushin, Kolomiets – Bắn! – người chỉ huy lại ra lệnh. Khi đó, những chiếc xe tăng trong thành phố đã tiến ra quốc lộ Moscow. Tiếp tục các cuộc truy kích dữ dội khác… Không bao lâu sau, sư đoàn bộ binh súng trường số 5 đến đóng trại tại làng Gorodische, Biên đội tăng anh hùng đã được tuyên dương và trao tặng huân chương, và người chỉ huy biên đội – Thượng sĩ Gorobets được phong tặng danh hiệu Anh hùng Liên bang Xô Viết. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn số một M.P. Agibalov và trung đoàn trưởng M.A. Lukin đã hy sinh trong trận chiến này trên chiếc xe tăng mà các bạn thấy trong hình ảnh phía dưới. http://www.battlefield.ru ![]() Chiếc tăng T-34-57 của M.Lukin bị loại khỏi vòng chiến tại ngoại vi Troyanovo. Hình được chụp vài ngày sau trận chiến |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hanvt (14-10-2010) | ||
|
#6
|
|||
|
|||
|
Cuộc chiến tại Smolensk 10/7-10/9/1941 Trận đánh tại Smolensk là một trận đánh dữ dội của cuộc chiến vây giữa sư đoàn thiết giáp số hai được chỉ huy bởi Heinz Guderian và sư đoàn thiết giáp số ba, chỉ bởi Hermann Hoth thuộc Tập đoàn quân chính diện Đức, bắt đầu một cuộc tấn công vào ngày 10/7/1941 để bao vây các lực lượng của Xô Viết: Lực lượng Mặt trận phía Tây do Timoshenko chỉ huy, lực lượng Mặt trận quân dự bị do Zhukov chỉ huy, lực lượng mặt trận Trung tâm do Kuznetsov chỉ huy và lực lượng mặt trận Bryansk do Yeremenko chỉ huy. Cuối cùng là, lực lượng của các sư đoàn Thứ 16, Thứ19 và sư đoàn Thứ 20 tại phía nam Smolensk, Trận đánh tại Smolensk (10/7-10/9/1941) liên quan tới sự giao tranh dữ dội của quân Đức với Hồng quân Liên Xô tại Smolensk trên chiến trường phía đông trong thế chiến thứ hai. Nhân dân Xô Viết coi đây như: Một cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại. Sau nhiều cuộc giao tranh dữ dội và quyết liệt, Smolensk thất thủ vào ngày 16/7, nhưng Hồng quân đã phản công rất mãnh liệt. Đặc biệt là trận đánh đáng ghi nhớ nhất tại Yelnya, nó cũng là một chiến công đầu tiên của Hồng quân Liên Xô trong cuộc chiến tranh Xô – Đức, Trận đánh tại Yelnya trải rộng ra 50Km về phía đông Smolensk. Ngày 26/8 lực lượng vũ trang Stavka Xô Viết nhận lệnh của Quân đoàn số 24, chỉ huy bởi thiếu tướng Konstantin Rakutin sẽ bắt đầu phản công quân Đức trong pháo đài tại Yelnya vào ngày 30/8/1941. Ngày 3/9 dưới sự bao vây và công kích dữ dội của Hồng quân, Đức buộc phải rút lui ra khỏi pháo đài. Ngày 6/9/1941 Yelnya được giải phóng, nhưng Hồng quân vẫn tiếp tục tấn công cho đến tận ngày 8/9/1941 và bẻ gãy hàng phòng thủ của quân Đức mới thành lập trên vòng ngoài tại Yelnya. Trận đánh này cực kỳ trọng yếu, nó đảo ngược tình thế làm cho lực lượng vũ trang (Wehrmacht) trở nên thật tồi tệ. 45,000 binh sĩ Đức bị chết, bị thương hoặc bị bắt làm tù binh trong cuộc phản công này. Thiếu tướng Konstantin Rakutin đã hy sinh trong trận đánh. Hồng quân Liên Xô đã tạm thời bẻ gãy cuộc bao vây của quân Đức và buộc chúng phải rút khỏi Smolensk. Trận đánh dữ dội tại Smolensk đã làm trì hoãn đáng kể tới việc tiến quân thẳng vào Moscow của quân Đức, cũng do đó tuyến phòng thủ phía đông của Hồng quân được củng cố vững chắc hơn nữa, vì vậy đã thực sự đập tan thế tấn công của quân Đức. Theo như báo cáo của quân đội Đức, lực lượng của Liên Xô bị tổn thất trong trận chiến tại Smolensk này khoảng 250.000 người. Gần như toàn bộ thành phố Smolensk bị phá hủy trong khi xảy ra chiến sự. Năm 1985 Smolensk được nhà nước Liên Xô trao tặng danh hiệu Thành phố Anh hùng http://www.answers.com ![]() Trên các đường phố tại Smolensk trong thời gian chiến tranh |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hanvt (14-10-2010) | ||
|
#7
|
|||
|
|||
|
Uman 7/1941-8/8/1941 một thất bại Trận đánh tại Uman 7/1941-8/8/1941 là một trận đánh trên mặt trận phía đông của thế chiến thứ hai vào mùa hè năm 1941. Cuộc chiến đã xảy ra tại phía tây Ukraina giữa quân đoàn phía nam của Đức được chỉ huy bởi tướng Gerd von Rundstedt với lực lượng quân đội Xô Viết trên phương diện quân tây nam, được chỉ huy bởi thống soái Semyon Budyonny, bao gồm cả lực lượng mặt trận tây nam Xô Viết dưới sự chỉ huy của đại tướng Mikhail Kirponos và lực lượng mặt trận phía nam Xô Viết dưới sự chỉ huy của tướng quân đội Ivan Tyulenev. Trong những tuần đầu tiên của chiến dịch Barbarossa, tập đoàn quân phía nam của Đức đã nhanh chóng tiến thẳng đến phía đông , đánh chiếm Lvov, Tarnopol , Vinnitsa và làm mất hiệu lực 4 quân đoàn cơ giới của Hồng quân do tướng Kirponos chỉ huy trong một trận phản công. Vấn đề này đã diễn ra một trận giao chiến giữa các lực lượng xe tăng của hai bên. Lực lượng xe tăng của Xô Viết đông đảo hơn so với quân Đức, nhưng trong các cuộc giao chiến thì họ lại tỏ ra kém hiệu quả. Lực lượng quân Xô Viết cố gắng bẻ gãy dường hành quân của đội hình Đức, nhưng họ lại đánh cả hướng nam và bắc tại khu vực Dubno. Nhày 29/6/1941, quân Đức tạm dừng cuộc tiến, nhưng các lực lượng của quân đội Xô Viết cũng đã kiệt sức nên đành ra lệnh rút quân. Ngày 10/7/1941, Thống soái Budyonny nhận lệnh tổng chỉ huy toàn bộ lực lượng trong chiến dịch trên phương diện phía tây nam, kết hợp tác chiến giữa các mặt trận tây nam và mặt trận phía nam. Budyonny chỉ huy 1.5 triệu binh sĩ ở hai vùng rộng lớn tại Uman và Kiev. Ông đã dành thế chủ động để mở màn ba cuộc tấn công sâu vào lãnh thổ Ukraina. Tướng Đức Ewald von Kleist của đội quân thiết giáp số 1 đánh bạt vào một mũi nhọn tấn công giữa hai cánh quân Xô Viết tại nam Kiev và bắc Uman, chiếm giữ được thành phố Berdichev ngày 15/7/1941 và thành phố Kazatin ngày 16/7/1941. Tướng Kazatin Karl-Heinrich von Stülpnagel chỉ huy tập đoàn quân số 17 Đức tiến thẳng đến phía nam Uman và tướng Ritter von Schobert chỉ huy tập đoàn quân số 11 Đức tiến đến từ hướng bắc biên giới Romania (Schobert bị chết ngày 11/9/1941 khi chiếc máy bay của ông ta hạ cánh xuống một bãi mìn) STAVKA và chỉ huy của mặt trận phía nam đã sai lầm khi tính rằng quân Đức sẽ có ý định vượt qua sông Dnieper giữa Kiev và Cherkassy để tiếp tục tiến đánh Donbass cũng như đánh giá thấp mối hiểm nguy của quân Đức đang bao vây các quân đoàn Xô Viết số 6 và số 12. Ngày 28/7/1941, một mệnh lệnh của tổng chỉ huy mặt trận đã ban ra cho các lưc lượng tại mặt trận phía nam và mặt trận tây nam huy động lực lượng để đánh chặn quân Đức tại sông Dnieper và chỉ rút lui các lực lượng tại phương diện phía đông ra khỏi trận chiến. Kết quả, thời cơ rút lui của phương diện quân phía đông nam để tránh hiểm nguy trong vòng vây địch đã thất bại. Ngày 2/8/1941, vòng vây đã bị thắt chặt bởi đội quân thiết giáp số 1 và quân đoàn bộ binh số 17 của Đức. Vòng vây lại tiếp tục được tăng cường siết chặt hơn nữa vào ngày hôm sau, do sư đoàn quân thiết giáp số 16 của Đức kết hợp với quân đoàn cơ giới Hungary (hay còn gọi là Gyorshadtest) tiến hành phong tỏa. Ngày 8/8/1941, mọi sự kháng trả của quân đội Xô Viết hầu như dừng lại. Hai mươi sư đoàn của quân đoàn Xô Viết số 6 và tập đoàn quân Xô Viết số 12 gần như tan vỡ. Theo như tường trình, khoảng 100.000 binh sĩ bị bắt giữ. Trong số tù binh chiến tranh đó có cả các sĩ quan chỉ huy của quân đoàn Xô Viết số 6 và tập đoàn quân Xô Viết số 12, bốn chỉ huy quân đoàn và mười một chỉ huy sư đoàn. Tổng cộng quân đội Xô Viết bị tổn thất trong chiến dịch này rất khó để ước đoán. Nhưng cũng có thể tạm đưa ra một con số gần đúng là: 200.000 người bị chết và bị thương, 100.000 người bị bắt bắt giữ. http://www.answers.com ![]() Uman 1941 ![]() Lính Đức đi trinh sat trước trận đấu. Gần Uman- Ukraina, 8/1941 ![]() Uman- August 1941 ![]() Các khẩu pháo bỏ lại trong cuộc chiến. hầu như của dơn vị pháo binh quân đoàn số 12 Ukraina, vùng lân cận của Uman. 8/1941 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hanvt (14-10-2010) | ||
|
#8
|
|||
|
|||
|
Trận chiến Brody Trận chiến tại Brody là một trận đánh lớn giữa tập đoàn quân thiết giáp số 1 của Đức với 5 quân đoàn cơ giới Xô Viết tại Ukraina. Đây là một trong những trận đánh dữ dội nhất trong giai đoạn mở màn của chiến dịch Barbarossa. Tập đoàn quân đoàn phía nam của Đức được triển khai lực lượng tại phía nam Balan và Romania, dưới sự chỉ huy của thống chế Gerd von Rundstedt. Tập đoàn quân đoàn này có các quân đoàn số 6 và số 17 tại Balan và quân đoàn số 11 đóng tại Romany. Lực lượng cơ giới của nó có một quân đoàn thiết giáp số 1 dưới sự chỉ huy của tướng Paul Ludwig Ewald von Kleist, lực lượng bộ binh bồm 33 sư đoàn, lực lượng thiết giáp gồm 3 sư đoàn môtô và 5 sư đoàn bọc thép. Hỗ trợ cho quân Đức còn có một số lực lượng khác của Romany, Italy và Slovakia. Để chống trả quân Đức, tại phía nam có lực lượng mặt trận tây nam của Nga gồm có: Các sư đoàn cận vệ số 5, số 6, số 12, số 26. 27 sư đoàn súng trường và kỵ binh, 12 sư đoàn xe tăng cùng 6 sư đoàn môtô. Thêm một mặt trận Xô Viết ở phía nam cũng được gọi là mặt trận phía nam của Nga, tại đây tập trung các lực lượng quân Xô Viết như: sư đoàn số 9, số 18 cùng 17 sư đoàn súng trường và kỵ binh, 6 sư đoàn xe tăng và 3 sư đoàn môtô Phía cánh tả tập đoàn quân phía nam của Đức được tung thêm sư đoàn số 6, số 17 và quân đoàn thiết giáp số 1. Bên phía quân đội Xô Viết gồm có quân đoàn số 5, số 6, số 26. Quân đoàn số 6, số 7 của Đức tiến hành tấn công vào vị trí tiếp giáp giữa các quân đoàn số 5, số 6, số 26 của Xô Viết, để cho tập đoàn quân thiết giáp số 1 của Đức dồn một mũi nhọn bọc thép 600 xe tăng của nó tiến xuyên qua quân đoàn số 6 của Xô Viết thẳng tiến vào thị trấn của Brody Ngày 26/6, năm quân đoàn cơ giới của Xô Viết gồm có: số 4, số 8, số 9, số 15 và số 19 với hơn 1.000 xe ào ạt phản công từ các phía bắc và nam, với mục đích đánh tạt vào sườn tập đoàn thiết giáp số 1 của Đức và cùng chiếm lĩnh trận địa gần thành phố Dubno. Trận đánh các quân đoàn cơ giới của Xô Viết với tập đoàn quân thiết giáp của Đức diễn ra mãnh liệt nhất trong toàn bộ thời kỳ chiến tranh. Trong suốt 4 ngày đêm, quân đội Xô Viết chiến đấu rất mãnh liệt, các biên đội xe tăng và các khẩu đội súng chống tăng của Đức rất khiếp sợ trước loại xe tăng T-34 mới của Xô Viết do các loại súng đạn của chúng hầu như không làm gì được loại xe này. Tuy nhiên quân đội Xô Viết chưa thật sự triển khai đội hình tăng được một cách tốt nhất hoặc không tập chung hỏa lực thành từng nhóm. Xe tăng Xô Viết thường tác chiến độc lập, do vậy Luftwaffe đã thoải mái tràn khắp trên chiến trường , bẻ gãy đội hình quân Xô Viết và bắn phá loạn xạ vào bất kỳ mục tiêu nào mà chúng gặp. Kết quả, gọng kìm của các lực lượng Xô Viết dự định sẽ chiếm lĩnh trận địa tại Dubno bị thất bại. http://www.answers.com ![]() Những chiếc tăng T-35 và T-26 của quân đoàn cơ giới số 8 tại Dubno 7/1941 |
|
#9
|
|||
|
|||
|
Trận đánh Tại Kiev ![]() Trận đánh tại Kiev là một trận bao vây khổng lồ trên đất Ukraina trong chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đến ngày nay nó vẫn được đề cập đến như là một trận đánh vây lớn nhất trong lịch sử. Trận đánh bắt đầu từ trung tuần tháng 8 đến 26/9/1941 và nó là một phần trong chiến dịch Barbarossa của quân Đức. Trong lịch sử quân đội của Xô Viết đây là một cuộc chiến đấu được coi như là một "Chiến dịch phòng thủ Kiev" – " Киевская оборонительная операция". Trong thời gian từ 7/7 – 26/9 gần như toàn bộ Hồng quân Liên Xô trên chiến trường Tây nam của Xô Viết đã giao tranh quyết liệt với vòng vây của quân Đức, 665.000 người bị bắt giữ làm tù binh. Trong trận chiến này, quân Đức đã vây kín tại Kiev không một kẽ hở, tuy nhiên chỉ có một số nhỏ binh sĩ Hồng quân thoát được ra ngoài trước khi quân Đức khép chặt vòng vây, bao gồm cả nguyên soái Budyonny, nguyên soái Timoshenko và chính ủy Khrushchev. Tuy nhiên, một sự thất bại chưa từng thấy đã xảy ra với Hồng quân tại đây nó nặng trọng hơn cả tấn thảm kịch đã xảy tại Minsk từ tháng 6 đến tháng7/1941. Ngày 1/9/1941 trên mặt trận tây nam, gồm 752-760.000 binh sĩ (850.000 cả quân dự bị và bộ phận hậu cần), 3.642 súng và pháo binh, 167 máy bay chiến đấu. Kế tiếp theo cuộc bao vây gồm 452,700 binh lính, 2,642 súng, pháo binh và 64 xe tăng, ngày 2/10 có 15.000 binh lính thoát khỏi vòng vây. Toàn bộ trên chiến trường tây nam có 700.544 bị thương vong bao gồm có 616.304 người bị chết, bị bắt giữ hoặc mất tích trong thời gian một tháng dài chiến trận trên đất Kiev. Theo kết quả đó, 4 quân đoàn Xô Viết (số 5, số 37, số 26 và số 21) gồm có sư đoàn 43 hầu như bị tổn thất toàn bộ. Cuối tháng tám, bộ tư lệnh tối cao của Đức (OKH) đã phải có sự lựa chọn: Hoặc tiếp tục tiến quân thẳng đến Moscow, hoặc triệt tiêu lực lượng quân đội Xô Viết tại hướng nam. Bởi do quân đoàn phía Nam của Đức hiện đang thiếu lực lượng để dàn trải ra các mặt trận, một phần lớn lực lượng của quân đoàn chính diện Đức lại cần phải đi thực hiện nhiệm vụ khác. Sau cuộc bàn cãi trong nội bộ OKH, phần chính của đội thiết giáp số 2 (Panzergruppe 2) và lực lượng quân đội số 2 đã được tách ra khỏi quân đoàn chính diện của Đức để chuyển đến phía nam bao vây quân đội Xô Viết và sẽ liên kết với quân đoàn phía Nam tại phía đông Kiev Các đội quân thiết giáp của Đức được xúc tiến nhanh chóng để hình thành thế trận bao vây với ý đồ đánh úp quân đội Xô Viết của nguyên soái Budyonny. Cuộc bao vây quân đội Xô Viết đã được tiến hành vào ngày 16/9 khi hai cánh quân của Đức giữa đội quân thiết giáp số 1 do Kliest chỉ huy và quân đoàn số 24 do Guderian chỉ huy đã gặp nhau tại Lokhvitsa, 120 dặm phía sau Kiev. Sau đó, vòng vây đã được bịt kín. Về phía quân đội Nga, những sự choáng váng đã bộc lộ. Họ hầu như không còn khả năng để bẻ gãy được vòng vây của quân địch. Quân đoàn số 17 và quân đoàn số 6 thuộc tập đoàn quân phía Nam của Đức cũng như quân đoàn số 2 thuộc tập đoàn quân chính diện Đức sau đó đã được thêm sự trợ giúp của lực thiết giáp nên càng siết chặt vòng vây hơn nữa. Cuộc bao vây quân đội Nga tại Kiev ngày càng quyết liệt. Một trận chiến tấn công dữ dội của quân đội Xô Viết đã bị thất bại bởi pháo binh, xe tăng và máy bay địch cũng tham chiến. Ngày 19/9, Kiev đã có rất nhiều người bị thiệt mạng nhưng cuộc chiến đấu vẫn tiếp diễn không lúc nào ngưng nghỉ. Sau nhiều ngày giao tranh và bị nhiều tổn thất, ngày 26/9 Kiev thất thủ, quân Đức đã bắt giữ khoảng hơn 600.000 binh sĩ Hồng quân làm tù binh. http://en.wikipedia.org |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hanvt (14-10-2010) | ||
|
#10
|
|||
|
|||
|
Rostov na Donu ![]() ![]() Trận đánh tại Rostov (1941) là một cuộc chiến trên mặt phía Đông của Thế chiến thứ II, cuộc chiến đấu này đã bao trùm toàn bộ khu vực Rostov trên sông Đông giữa lực lượng Hồng quân của mặt trận phía Nam - Xô Viết do tướng Yakov Timofeyevich Cherevichenko chỉ huy với tập đoàn quân phía Nam của Đức dưới sự chỉ huy của tướng Gerd von Rundstedt. Sau khi đã giành phần thắng tại mặt trận Kiev trong tháng 9/1941, tập đoàn quân phía Nam của Đức từ phía sông Dnieper đã thúc quân xuống vùng bờ biển Azov. Quân đoàn số 6 của Đức do Walther von Reichenau chỉ huy tiến đánh Kharkov. Quân đoàn số 17 do Carl-Heinrich von Stülpnagel chỉ huy hành quân xuyên qua thành phố Poltava nhằm hướng Voroshilovgrad để tiến quân. Quân đoàn số 11 do Erich von Manstein chỉ huy tiến vào Crimea và cũng đã giành được kiểm soát toàn bộ vùng bán đảo này. Ewald von Kleist chỉ huy quân đoàn thiết giáp số 1 từ Kiev lao xuống bao vây Hồng quân Xô Viết tại Melitopol trong tháng 10/1941, chúng càn quét khắp khu vực phía đông vùng bờ biển Azov hướng về Rostov khu hạ nguồn sông Đông và cửa ngõ Caucasus. Ngày 21/11 quân Đức đánh chiếm Rostov. Tuy nhiên các tuyến quân của Đức đã bị trải rộng ra khắp các mặt trận và chính Kleist đã phải cảnh báo rằng cánh quân phía sườn trái của ông ta rất dễ bị Hồng quân tấn công do lực lượng tăng thiết giáp ở đây sẽ chẳng làm được trò trống gì trong thời tiết của một mùa đông lạnh buốt này. Ngày 27/11 quân đoàn số 37 của Hồng quân Liên Xô dưới sự chỉ huy của trung tướng Anton Ivanovich Lopatin đã tổ chức phản công vào một mũi nhọn phía bắc thuộc quân đoàn thiết giáp số 1 của Đức, bắt buộc chúng phải rút chạy ra khỏi thành phố. Adolf Hitler lên tiếng phản đối cuộc rút chạy này. Khi đó Von Rundstedt đã bất tuân mệnh lệnh, do đó ông ta đã bị Hitler lập tức cách chức. Nhưng dù sao cuộc rút chạy của quân Đức cũng không thể tránh khỏi, quân đoàn thiết giáp số 1 của Đức cuối cùng cũng phải tháo chạy về phía sông Mius tại Taganrog. Đây cũng là cuộc chạy trốn đáng kể nhất của quân Đức trong thời kỳ chiến tranh. http://www.answers.com Thay đổi nội dung bởi: nthach, 26-11-2007 thời gian gửi bài 14:44 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hanvt (14-10-2010) | ||
|
#11
|
|||
|
|||
|
Cuộc phá vây của chiến hạm Bismarck - 20-27 tháng năm, 1941 ![]() Chiến hạm Bismarck của Đức trong thời gian chiến tranh Mùa xuân năm 1941, trận không chiến tại Anh đã không thể bẻ gãy được ý chí chiến đấu của dân chúng nước Anh. Trận đánh dữ dội trên Đại tây dương hội tụ vào các đội U-boats Kriegsmarine của Đức, chúng tấn công các thương tàu làm tác động dữ dội đến nước Anh và nó cũng ý định làm cho người Anh phải chịu khuất phục. Ngoại trừ một số ngoại lệ, một số tàu chiến chính của Đức không tham gia vào các cuộc đột kích trên Đại tây dương này. Do đó chiến sự đã chuyển sang một trận đột kích của hạm đội Bismarck và chiếc tàu tuần dương hạng nặng Prinz Eugen trong tháng 5/1941. Bismarck là một chiến hạm hiện đại được bọc thép chắc chắn, nó được trang bị 8 khẩu 15”. Các tuần dương đô đốc Gneisnau và Scharnhorst được biên chế cùng chiến hạm này, nhưng chiếc Gneisnau đã bị hư hỏng vì không kích còn chiếc Scharnhorst thì cần thay thế lại nồi hơi. Tiếp nữa còn có chiếc Tirpitz, nó cùng một kiểu với chiếc Bismarck, chiếc tàu chiến này được biên chế cùng hạm đội nhưng chưa được đưa vào sử dụng. Theo lịch trình cho tháng tư bị chậm lại do chiếc Prinz Eugen cần được tu sửa vì nó vừa bị trúng thủy lôi. Đô đốc hải quân Đức Gunther Lütjens và các chuyên viên chiến lược của Y không hề biết rằng có một sự hợp tác rất chặt chẽ hiện đang lớn mạnh giữa các lực lượng hải quân Mỹ và Anh. Người Mỹ đã đồng ý mở rộng các hoạt động tuần tra của họ đến phía tây Đại tây dương, họ cũng đã chế tạo mới một loại máy bay tuần tra tầm xa - Catalina cho nước Anh. Những thỏa thuận này cho phép nước Anh tập trung huy động năng lực phòng thủ tại quốc gia của mình. Hơn nữa, chiếc tàu vận tải HMS - Vinh quang vừa mới được trang bị thành tàu chiến, nó đang sẵn sàng được tham chiến. Cơ quan tình báo cũng phát hiện được rằng, các tàu chiến Đức đã nhận được những hải đồ mới và hải cảng của Pháp tại Brest cũng được tân trang để tiếp nhận trợ giúp tàu chiến loại lớn. Ngày19/5, Lütjens đến từ Đức để hỗ trợ cho Norway. Với nhiều lý do, Lütjens đã không ra lệnh cho Bismarck tiếp nhiên liệu từ tàu chở dầu. trong khi Bismarck đang ẩn nấp tại vịnh Norway, một chiếc máy bay do thám của RAF (không lực Hoàng gia Anh) đã phát hiện ra Bismarck ngày 20-21/5. Phát hiện này đã làm hoang mang cho tất cả lực lượng hải quân Hoàng gia. Bởi nếu như hai tàu chiến địch có thể đánh được vào cửa ngõ của Đại tây dương, chúng sẽ tiến hành tàn phá rất nguy hiểm cho hàng phòng thủ trên biển. Tổng tư lệnh lực lượng hải quân Hoàng gia Anh, đô đốc John Tovey có trong tay một số lượng tàu chiến rất đông đảo nhưng chúng lại được trải rộng trên rất nhiều vị trí. Những vị trí của hải quân Hoàng gia từ Gibraltar đến Iceland đã được báo động để canh phòng tàu chiến. HMS Norfolk cùng với chiếc tuần dương hạm HMS Suffolk đã được điều đi tuần tra trên eo biển Đan Mạch giữa vùng Greenland và Iceland, ngày 23/5 chúng phát hiện thấy tàu chiến Đức và đã phát tín hiệu cảnh báo về tổng hành dinh đô đốc. Sáng ngày 24/5, hai chiếc HMS Hood và HMS Prince của xứ Wales đã đến phạm vi thiết lập đội hình tại phía bắc và bắt đầu triển khai hỏa lực vào quân Đức. Chiếc Bismarck và chiếc Prinz Eugen của Đức quay lại bắn trả. Trong vòng 17 phút, chiếc Bismarck đã ba lần bắn trúng vào tàu chiến của Anh. Chiếc HMS Hood nổi giận, giáng trả liên tiếp hai lần hỏa lực trúng đối phương. Chiếc Prince của xứ Wales. Một chiếc tàu chiến mới cũng bị nhiều vết đạn do chiếc Bismarck và Prinz Eugen nã trúng. Chiếc HMS Hood bị đánh chìm làm cho lực lượng Hải quân Hoàng gia và công chúng Anh nổi giận. Lütjens thấy rằng cuộc chiến sẽ bị thiệt hại giống như cuối trận Đại Tây Dương và Y quyết định đánh thẳng vào Brest để tìm lối thoát cho chiếc Prinz Eugen, trong khi đó chiếc Bismarck cố gắng lẩn trốn sự truy đuổi của các tàu chiến Anh. Lütjens hy vọng rằng, Y sẽ có được sự cứu viện từ căn cứ không quân tại Pháp trước khi các tàu chiến của Anh có thể bắt kịp. Hải quân Anh lại một lần nữa mất dấu vết của chiếc Bismarck cho đến tận ngày 26/5, một sĩ quan hải quân Hoa kỳ trên chiếc máy bay tuần tiễu Catalina phát hiện ra chiếc Bismarck xuyên qua đám mây, Tovey liền thông báo ngay cho lực lượng hải quân Hoàng gia. Với hai phát thủy lôi, chiếc oanh tạc cơ ngư lôi thuộc hạm đội HMS Ark đã phá hỏng chiếc Bismarck, phát thứ nhất chỉ đánh hỏng nhẹ ở mớn nước gần sống mũi con tàu, nhưng phát thứ hai đã phá hủy nặng nề ở phần đuôi lái của nó. Lütjens nhận thấy rằng ông ta đang gặp một trở ngại ngiêm trọng. Ông ta không thể điều khiển được con tàu được nữa và mức nhiên liệu dự trữ cho động cơ cũng sắp cạn kiệt. Ông ta cảm thấy hối tiếc vì đã không tiếp thêm nhiên liệu ở Norway. Ngày 27/5/1941,Tovey tiếp tục giáng thêm hỏa lực vào chiếc Bismarck. Với lợi thế lực lượng và trang bị vũ trang đông đảo hơn, các tàu chiến của Anh đã liên tiếp giáng cho chiếc Bismarck những đòn chí mạng, làm cho nó dường như không thể chống trả. Sau khi bị hơn 400 phát đạn pháo nã trúng, chiếc Bismarck chở thành một chiếc tàu chiến bục nát. Trong khi lực lượng hải quân Hoàng gia đang tiến hành giải cứu thủy thủ đoàn của chiếc Bismarck thì một chiếc tàu ngầm Đức đã nã một phát thủy lôi vào họ làm cuộc giải cứu này bị chấm dứt, do vậy chỉ khoảng vài trăm trong số 2000 thủy thủ đoàn của chiếc Bismarck được giải thoát, Sau sự va chạm này, lính thủy Đức đã phải canh gác để cho đồng đội của họ thoát ra nhưng có một số đã không thể cứu được. Lütjens và ban tham mưu của ông ta đã chìm xuống cùng với chiếc Bismarck. ![]() Chiến hạm Bismarck bị bắn cháy bới các hạm đội hải quân Hoàng gia Anh ![]() Những phát đạn đầu tiên của Quân Anh đã đánh trúng bên mạn chiến hạm Bismarck ![]() Chiếc Bismarck đang bị chìm http://worldwar2database.com |
| Được cảm ơn bởi: | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Победа.1941-1945 | tieuboingoan | Ký ức chiến tranh | 38 | 28-09-2012 18:13 |
| Blitzkrieg – Game chiến thuật hay nhất về Chiến tranh thế giới lần thứ 2 | phuongnn | Các chủ đề khác | 98 | 18-02-2012 12:55 |
| Chiến dịch "trả đũa" của không quân Liên Xô tại Berlin năm 1941 | tieuboingoan | Hồ sơ chiến tranh thế giới | 2 | 20-01-2010 14:52 |
| Cuộc đột kích Kalinin 1941 | nthach | Các trận đánh lớn | 3 | 18-02-2008 04:32 |