|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
|||
|
|||
|
Bốn năm trước, 4-12-2007, Phạm Tiến Duật trút hơi thở cuối cùng trên giường bệnh trong Quân y viện 108. Là một người rất thích thơ của anh song chưa bao giờ được gặp mặt trực tiếp dù anh là bạn khá thân của bà chị ruột tôi - ngày cu đầu nhà chị tôi còn bé bị sốt, anh Duật đôn đáo đạp cái xe Phượng Hoàng xuôi ngược đến khắp bè bạn kiếm thuốc cho cu. Bởi thế, nghe trên mạng có người loan tin anh sắp mất, tôi bổ vào QY 108 để thăm. Lúc ấy Phạm Tiến Duật đã chìm trong hôn mê, trán đắp một cái khăn mặt ướt, thở rất nặng nhọc. Dẫu biết anh đã không thể nghe được nữa, tôi vẫn thì thầm đọc lại theo trí nhớ cho anh nghe Chuyện hàng cây yêu đương, bài thơ đầu trong tập Vầng trăng và những quầng lửa của anh, như một lời nói với anh rằng dẫu cuộc sống đã đổi thay rất nhiều, xô bồ hơn rất nhiều, những người lính năm xưa vẫn còn thuộc và yêu thơ anh.
Nhân 4 năm ngày anh Duật mất, tôi muốn gửi lên đây bài viết trong xà lim của mình nhân đọc Kao nhả kúc của Xamova hôm nào. 10-3-2011, thứ năm Đọc thơ của bác Xamova, lại nhớ đến anh Duật bởi thơ của bác Xamova có những nét giống thơ anh Duật lắm. Thế là anh Duật mất đã được mấy năm. Không biết linh hồn anh ấy giờ này đang bay lượn trên cao hay đang cùng gặp gỡ với bao nhiêu những người lính vẫn còn rất trẻ – nói theo tựa đề cuốn nhật ký của Nguyễn Văn Thạc thì mãi mãi tuổi hai mươi – những đồng đội Trường Sơn ngày xưa của anh ấy mà thân xác vẫn còn đâu đó trong những cánh rừng trụi lá trên những cung đường ác liệt năm nào. Tôi bắt đầu yêu thơ kể từ lần đầu nghe thơ Phạm Tiến Duật. Bài thơ đầu tiên được nghe là Lửa đèn, nghe là thấy thích ngay, trong lòng như cồn cào lửa đốt. Những năm phổ thông, là dân chuyên toán nên bọn con trai suốt ngày mụ mị với các bài toán hình học hay đại số chúng tôi thường không mấy thích thơ nếu không nói là thảy đều sợ những tiết bình giảng văn học trên lớp. Thế nhưng đấy lại là những năm chiến tranh, chiến tranh rất ác liệt trên cả hai miền đất nước và lâu lâu vài người trong đám bạn bè chúng tôi lại khoác lên mình bộ quân phục màu cỏ úa, để trống lại chỗ ngồi trong lớp – không ai trong lớp lại nỡ ngồi vào những chỗ trống ấy, như thể các bạn ấy chỉ mới chạy đâu đó ra ngoài và sắp quay trở lại, dẫu cả bọn đều hiểu rằng rất có thể chỗ ấy chỗ nọ sẽ mãi mãi bỏ trống, cho dù mấy chục năm sau lớp có đông đủ đến mấy quay lại hội trường. Và không ai có thể dửng dưng bởi ngày nào tin chiến sự khắp các mặt trận cũng tới tấp bay về. Chiến tranh những năm ấy hiện về trên mặt báo, trong các câu chuyện lính đi B về kể lại và hiện lên qua nỗi thẫn thờ của những cặp mắt các bạn gãi mỗi một đợt tiễn các bạn trong trường lên đường ra trận. Hiện ra cả trong thơ, vang trong các câu hát. Có những ngày vui sao Cả nước lên đường, xao xuyến bờ tre, từng hồi trống giục … Ơi, đất nước mình đây bao nhiêu năm qua Mưa nắng đêm ngày hành quân không mỏi Vui sướng bao nhiêu tôi là đồng đội Của những người đi đánh giặc hôm nay và Trên đường ta đi đánh giặc Dù về Nam hay ta lên Bắc Ở đâu cũng gặp Những ngọn đèn chong mắt đêm thâu Ơi, những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt Như những tâm hồn không bao giờ tắt Như miền Nam, hai mươi năm không đêm nào ngủ được Như cả nước, nhớ miền Nam Đêm nào cũng thức (những câu hát, lời theo thơ của Chính Hữu, một nhà thơ quân đội cũng giã biệt đồng đội và thế gian gần như cùng lúc với anh Duật) Những ngày ấy đã bắt đầu có rất nhiều thơ về cuộc kháng chiến thần thánh của cả dân tộc, nhiều lắm. Song với tôi, vẫn cứ xa xôi thế nào ấy. Rất nhiều bài thơ ầm vang tiếng súng công đồn, đầy lời hô xung trận và cả giàu những hoan hô nữa song có vẻ như những bài thơ ấy vẫn nhờn nhợt, chiến trường vẫn cứ bàng bạc, xa xôi. Thế rồi là một lớp những nhà thơ mới, dấn thân vào tuyến lửa chiến tranh, đi cùng những người lính, lăn lộn cùng thanh niên xung phong, quyết không chịu viết ra những câu thơ hành quân vàng vọt ánh đèn trong hầm sâu hậu cứ. Và cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ, đầy hy sinh, theo thơ họ, cứ thế hiện ra sắc cạnh, sống động vô cùng. Từ những câu thơ của họ, như thể ta có thể bóc ra những tảng bùn khô cứng trên vai áo những cô thanh niên xung phong, nghe được tiếng rú của đạn bom xen lẫn tiếng gầm của xe đạn đang nặng nề vượt dốc, bánh xe quay tít trong bùn nhão do mưa dầm trong các ổ voi mà bom đạn khoét dầy như lỗ hà ăn chân* trên các cung đường, như ngửi thấy cái khét lẹt của lửa bom na-pan mà vẫn chẳng ngăn nổi mùi hương thầm đầy nữ tính, bay rất xa trong đêm tối, quyện trong giọng hò câu hát của những đoàn nữ thanh niên phá đá, san hố, sửa ngầm. Và bầu trời cứ dường như chao nghiêng theo từng cánh võng. Thơ như thế mới thực là thơ xung phong. Giục lòng người hậu phương lắm. Phạm Tiến Duật là một trong những người đi tiên phong trong số những nhà thơ xông xáo ấy. Ngày mới vào bộ đội, một lần được tạt về Hà Nội, mừng rỡ vớ được tập Vầng trăng và những quầng lửa của Phạm Tiến Duật trên giá sách nhà bà chị cả, thế là tôi nhét vào túi cóc mang thẳng về đơn vị để đọc, bởi vẫn còn như in cái xúc động khi nghe Lửa đèn năm nào. Thơ Phạm Tiến Duật nghe bình tĩnh lạ kỳ, đầy hơi thở lạc quan của những anh hùng vô danh trên khắp các cung đường tiền tuyến. Ta sẽ không thể tìm thấy bất cứ một trận đánh nào trong thơ của anh, song cẩn trọng và cần cù, anh nhặt nhạnh những mẩu cuộc sống đong đầy gian khó hy sinh của lính chiến trường, bắt lấy từng khắc của công việc gian nan bảo đảm giao thông, thu vào từng tiếng cười trong trẻo, đãi lấy từng nét lạc quan của cả một thế hệ thanh niên đã dâng hiến cả tuổi thanh xuân cho chiến thắng nhất định phải tới. Tài năng của Phạm Tiến Duật là ở đã chọn được góc nhìn để từ những cái tưởng chừng như vô cùng nhỏ nhặt, khó nhận ra của cuộc sống chiến trường, bằng giọng thơ nghe như rất khó nuốt, song từng từ một đã được giũa chuốt cầu kỳ, từng tí từng tí một, anh ghép nên một góc bức tranh của cả cuộc chiến đấu lớn. Liệu có phải vì mình cũng đã từng khoác áo lính những năm gian khó ấy nên mới yêu thơ của anh Duật đến thế? --- *) Tùng Cốc Tùng Cốc/qua cầu này là ta lên dốc/phía trước mặt là ngã ba Đồng Lộc/Vết bom dày như lỗ hà ăn chân... - Phạm Tiến Duật, Qua cầu Tùng Cốc, trong tập Vầng trăng và những quầng lửa. Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 06-12-2011 thời gian gửi bài 06:19 |
| Có 7 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
baodung (07-12-2011), Dmitri Tran (06-12-2011), Hoa May (06-12-2011), hongducanh (06-12-2011), hungmgmi (06-12-2011), NISH532006 (07-12-2011), Siren (06-12-2011) | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
Trích:
Gửi cháu yêu quý, Cậu gửi cho cháu một bài thơ của nhà thơ Pham Tiến Duật mà khi còn là lính ở Trường Sơn, cậu rất thích. Hy vọng cháu sẽ hiểu hơn về cuộc sống và tâm hồn của những người lính trong cuộc kháng chiến Chống Mỹ cứu nước của dân tộc mà cậu của cháu đã từng được tham gia. NGHE EM HÁT Nghe em hát mà anh buồn cười Nhịp với phách xem chừng sai cả Mồ hôi em ướt đầm trên má Anh với mọi người nhìn nhau khen hay. Khu rừng già âm ỷ tàu bay Các chiến sỹ nhìn em đăm đắm Mũ sắt lấm, áo dài cũng lấm Mỗi khi cười bóng dáng cứ lung linh. Có lẽ vì khuôn mặt em xinh Nên tiếng hát nhoè đi không nhớ nữa Rồi trí nhớ lại bén bùng như lửa Ẩn náu rất nhiều giọng hát xa xăm. Giữa một vùng đất bụi khô rang Em bỗng đến như dòng sông đầy nước Trong nhà hầm hun đầy khói thuốc Câu hát chành như võng đưa. Các chiến sỹ nghe em hát say sưa Ngày mai ngày kia sẽ chuyện trò vô khối Giữa những câu chuyện không đầu không cuối Bao nhiêu người lại nhắc đến em. Câu hát bay vòng qua đêm Mai chiến sỹ lại ra cao điểm Cuộc chiến đấu còn đang tiếp diễn Em còn đi, rừng mở những gian hầm Tiếng hát bay vòng tháng năm Ở đâu mà không cần tiếng hát Nhưng giữa chiến trường nhiều khi thay cho nhạc Là những tâm hồn có nhạc ở bên trong Câu hát màu chi mà khuôn mặt màu hồng Tiếng hát xa rồi, không nhớ nữa Đốt lòng nhau cứ gì phải lửa Tiếng hát trong rừng bay xa, bay xa... Phạm Tiến Duật.
__________________
Ласковый Май |
| Có 7 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
baodung (07-12-2011), Dmitri Tran (06-12-2011), Hoa May (06-12-2011), hongducanh (06-12-2011), hungmgmi (06-12-2011), NISH532006 (07-12-2011), nqbinhdi (06-12-2011) | ||
|
#3
|
|||
|
|||
|
Trích:
Ngoài ra, bài thơ này anh Duật để ở thể từng khúc 4 câu một chứ không liền một mạch như thế. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
NISH532006 (07-12-2011) | ||
|
#4
|
|||
|
|||
|
Cái cầu
Cha gửi cho con chiếc ảnh cái cầu Cha vừa bắc xong qua dòng sông sâu Xe lửa sắp qua, thư cha nói thế Con cho mẹ xem, cho xem hơi lâu Những cái cầu ơi yêu sao yêu ghê Nhện qua chum nước bắc cầu tơ nhỏ Con sáo sang sông bắc cầu ngọn gió Con kiến qua ngòi bắc cầu lá tre Yêu cái cầu vồng khi trời nổi gió Bắc giữa trời cao vệt xanh vệt đỏ Dưới gầm cầu vồng nhà máy mới xây Trời sắp mưa khói trắng hơn mây Yêu cái cầu treo lối sang bà ngoại Như võng đung đưa ru người qua lại Dưới cầu nhiều thuyền chở đá chở vôi Thuyền buồm đi ngược thuyền thoi đi xuôi Yêu cái cầu tre bắc qua sông máng Mùa gặt con đón mẹ bên cầu Lúa hợp tác từng đoàn nặng gánh Qua cầu tre vàng cả dòng sâu Yêu hơn cả cầu ao mẹ thường đãi đỗ Là cái cầu này ảnh chụp từ xa Mẹ bảo Cầu Hàm Rồng Sông Mã Con cứ gọi cái cầu của cha. Thư gửi lenmangtieusau, một thành viên của edu.net (một lưu học sinh, người đã mang từ Thổ Nhĩ Kỳ về tặng tôi cây đèn thần của Aladin và cuốn Kinh Cô-ran song ngữ). Ngày còn học phổ thông tôi thường sợ thơ và bình thơ, ấy là vì thơ những năm đó mà người ta bắt chúng tôi bình luận toàn là những bài thơ đọc lên toàn nghe tiếng sắt thép. Đại loại những năm ấy, chúng tôi thường phải cắm đầu cắm cổ làm văn, bình luận những câu như: "Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù" của Đại đội trưởng mù một mắt Lê Mã Lương (bây giờ đã là đại tá) hay bình luận cả bài thơ kiểu "Ngọn đèn đứng gác" hay ngắn gọn hơn, bình luận câu thơ "Sung sướng bao nhiêu, tôi là đồng đội của những người đi đánh giặc hôm nay", thảy đều của nhà thơ của cả 2 cuộc kháng chiến Chính Hữu (cụ cũng mới vừa ra đi, cho tôi kính cẩn bày tỏ lòng thương tiếc với nhà thơ, người mà cả một thời chúng tôi đã ra sức bình luận - ồ mà cái vế sau này đã lại nhuốm cái láo lếu của lính rồi đây). Ấy thế nhưng tôi và chúng tôi - những người lính năm nào - thích thơ của Phạm Tiến Duật. Đó là do thơ của anh Duật bình dị, nhiều khám phá nho nhỏ về những cái gần gụi quanh ta mà chẳng mấy ai để ý. Cái hay hơn của thơ Phạm Tiến Duật là cung bậc lạc quan trong gian nan, nó vút lên trong trẻo, không cố ý chạm trổ bằng súng đạn hay sự hy sinh, không ngợi ca màu mè bằng những lời hoan hô vô hồn, mà vẫn như lời khẳng định: "Những người lính lạc quan, tin tưởng sắt đá vào thắng lợi là những người lính bất tử", vẫn là bức tranh chân thật về cuộc sống và tình cảm của những người lính ngoài mặt trận, của những cô thanh niên xung phong. Cứ lấy bài Cái cầu này làm ví dụ. Bây giờ, đọc bài thơ này người ta chỉ thấy đó là một bài thơ quá lắm là có nhiều ý lạ. Tuy nhiên nên biết rằng vào đầu những ngày chiến tranh leo thang (escalation war), những bộ óc điện tử của Lầu Năm Góc từ bên kia Thái Bình Dương đã đánh dấu trên bản đồ miền Bắc hơn 600 điểm chết - những nút thắt cổ chai - mà nếu đánh vào đó tiếp tế vào miền Nam từ hậu phương miền Bắc sẽ gián đoạn và ngưng trệ (tôi đọc được điều này từ bản tin tham khảo đặc biệt của VNTTX mà cha tôi được phát trong những năm chiến tranh). Gần hết cả hơn 600 điểm đó đều là những cây cầu lớn nhỏ, tập trung chủ yếu trên 4 tỉnh miền Trung, bắt đầu từ đất Thanh Hoá mà Phạm Tiến Duật đã từng viết "Từ mảnh đất này/Các tỉnh miền Trung sắp thành hàng dọc/Thành sợi dây chuyền vận tải khổng lồ/Lịch sử sẽ quên đi một số câu hò/Song sẽ lấy con đường này làm câu ví dụ/Đêm nay trên xe anh đi không ngủ/Nghe câu hò - đất nước sinh sôi" (Nghe câu hò đêm bốc vác). Đầu cái sợi dây chuyền vận chuyển khổng lồ ấy là cầu Hàm Rồng. Không quân Mỹ đã liên tục đánh đi đánh lại cây cầu ấy hàng trăm trận, không biết bao nhiêu đạn bom đã dội xuống cây cầu và dòng sông Mã trong suốt những năm từ 1965 đến 1972. Cũng từ cây cầu ấy, thế giới được biết tới một cô gái Việt Nam, gày gò nhỏ bé mà đã vác một lúc hai hòm đạn cao xạ nặng hơn chính bản thân mình băng qua mưa mảnh bom để tiếp đạn cho trận địa. Báo chí thời đó viết về cầu Hàm Rồng, về những hy sinh vô bờ bến của quân dân Thanh Hoá nhiều lắm. Anh hùng thiếu niên Nguyễn Bá Ngọc cũng đã hy sinh, lấy thân mình che chở cho bé em trong một trong những trận không quân Mỹ đánh Thanh Hoá ấy đấy. Phạm Tiến Duật cũng viết về cầu Hàm Rồng, song anh đã chọn cho mình một chỗ đứng độc đáo, để có cái nhìn độc đáo. Suốt bài thơ là tự sự của một chú bé con, có cha là công nhân bảo đảm cầu Hàm Rồng, về cái sự kiện to tát của cuộc đời chú: Cha chú gửi cho 2 mẹ con nơi hậu phương tấm ảnh cái cầu. Với tấm ảnh cái cầu ấy, chú bé tưởng tượng tới đủ mọi loại cầu (hô hô, cái câu này tôi viết thêm vào để cho bài viết đỡ mang tính khọm giề nhé: còn thiếu một loại cầu nữa, ấy là cầu tõm - bọn lính chúng tôi ngày ấy khi đọc bài này đã tinh quái bình loạn như vậy ạ), song không cây cầu nào mà chú yêu thương hơn là cái cầu này ảnh chụp từ xa, nơi cha chú cùng đồng đội đang ngày đêm quên mình gìn giữ, giữ cho mạch máu giao thông không ngừng chảy, tiếp viện cho miền Nam. Toàn bài thơ chả có một tiếng bom, song người ta hiểu rằng, với một hậu phương ngóng chờ tin yêu như thế, bọn Mỹ không thể thắng nổi những người xây cầu và bảo vệ cầu. Cầu có thể sập vì bom, nhưng chiến thắng nhất định sẽ thuộc về chúng ta. Một dân tộc anh dũng nhường ấy, lạc quan trong trẻo nhường ấy nhất định phải thắng. (Trích trao đổi trên edu.net.vn, mấy ngày sau khi anh Duật mất). Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 06-12-2011 thời gian gửi bài 17:55 |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
|
#5
|
||||
|
||||
|
Trích:
Các thi sĩ trong huyết quản dường như có pha dòng máu họa sĩ. Họ băn khoăn trước bảng màu tình cảm: Tiếng hát màu gì, sự chia ly màu gì? Có sự chia ly màu đỏ, có sự chia ly tím biền biệt... Đọc những thi sĩ ngày trước, thấy sự đồng cảm rõ rệt. Còn những thi sĩ ngày nay, họ cũng băn khoăn đấy trước bảng màu tình cảm. Chỉ có điều họ không "nhìn" bằng tâm hồn hay sự thăng hoa của cảm xúc, mà khi cần, thời đại @, họ cứ nhấc ống nghe lên mà hỏi...1080. Ví như Nguyễn Thế Hoàng Linh, người đã được Nguyễn Quang Thiều khen nức nở khi viết tiểu thuyết " Chuyện của thiên tài", có những câu thơ thế này. Phải nói trước là bài thơ lạ, hiện đại, có tứ, nhưng đọc vẫn thấy không vào nổi: Tôi hỏi một không tám không Chị ơi nỗi nhớ thì lông màu gì? Chị tổng đài giọng nhu mì À nhiều màu lắm vặt đi vẫn nhiều Hình như là bạn đang yêu? ......Không, em chỉ hỏi những điều hồn nhiên Hình như là bạn đang điên? Vâng, điên thì mới phí tiền hỏi han ... Xong xuôi hết bốn chín ngàn.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 06-12-2011 thời gian gửi bài 10:30 |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
Dmitri Tran (06-12-2011), Hoa May (06-12-2011), hongducanh (06-12-2011), NISH532006 (07-12-2011), nqbinhdi (06-12-2011) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|