|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
|||
|
|||
|
Đa nghi, gian hùng... Có rất nhiều lời bình về nhân vật Tào Tháo trong bộ kỳ thư Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Cùng với Khổng Minh, Quan Công, Chu Du, Lũ Bố, Trương Phi, Triệu Tử Long... Có thể nói, Tào Tháo là một trong những nhân vật được La Quán Trung xây dựng sống động nhất, thành công nhất, có sức hấp dẫn nhất. Chính vì hình tượng Tào Tháo trong tiểu thuyết được xây dựng quá tuyệt vời, cho nên Tào Tháo trong "Tam quốc" đã lấn át hình tượng Tào Tháo - nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc, xuất chúng... trong sự thật lịch sử. Và ít người biết rằng Tào A Man cũng là một thi nhân kiệt xuất, lãnh tụ thi đàn Kiến An, người có cống hiến lớn nhất cho kho tàng văn hóa Trung Quốc thời kỳ Hán mạt. Ông chính là người khai sáng dòng thơ tả cảnh thuần túy, nhà thi sử đầu tiên, là người thứ nhất mượn Nhạc phủ cổ để mô tả chính sự đương thời, người phục sinh thể thơ tứ ngôn, "tổ sư cải tạo văn chương" (Ngụy Tấn phong độ cập kỳ văn chương dữ dược cập tửu chi quan hệ - Lỗ Tấn), người đặt nền móng cho "Kiến An phong cốt"..., với phong cách đặc thù : "khí vận trầm hùng" (Thi bình, Ngạo Đào Tôn), "khí lực hùng tráng bao trùm tất thảy, chư tử Kiến An chưa ai được như vậy" (Thi khái, Lưu Hi Tải), "cổ trực hùng hồn, nhiều câu bi tráng" (Thi phẩm, Chung Vinh), "lời như búa bạt đỉnh núi" (Thi kính tổng luận, Thời Ung)...
Tào Tháo (曹操, 155 - 220), tự Mạnh Đức, tiểu tự A Man, lại còn có tên là Cát Lợi, người ở Tiêu quận, nước Bái (nay là huyện Hào, tỉnh An Huy, Trung Quốc). Cha là Tào Tung, vốn họ Hạ Hầu nhưng sau làm con nuôi của hoạn quan Trung thường thị Tào Đằng thời Hán Hoàn Đế, nên đổi làm họ Tào, về sau làm quan đến Thái úy. Tào Tháo xuất thân trong gia đình quan hoạn, từ nhỏ đã thích săn bắn, ca vũ và đa mưu quyền biến. Năm 20 tuổi đỗ Hiếu liêm, từng vì tinh thông cổ học mà được Hán Linh Đế cho làm Nghị lang. Khi khởi nghĩa Hoàng Cân bùng nổ, ông nhậm chức Kỵ đô úy, cầm binh trấn áp. Đầu thời Hán Hiến Đế, Đổng Trác chuyên quyền, muốn phế vua đoạt ngôi, Tào Tháo gia nhập liên quân thảo trừ. Sau khi đánh bại quân Hoàng Cân, thâu được hơn ba vạn quân nông dân khởi nghĩa, từ đó quân lực mạnh dần lên, và trở thành một trong những quần hùng ôm mộng thống nhất Trung Nguyên. Đến năm thứ nhất niên hiệu Kiến An (196), ông đón Hiến Đế về Hứa Đô (nay là phía Đông Hứa Xương, tỉnh Hà Nam), rồi từ đó "hiếp Thiên tử dĩ lệnh chư hầu" ; lần lượt đánh bại các địch thủ Lữ Bố, Viên Thiệu, Viên Thuật... và trở thành người có thực quyền thống trị ở phương Bắc lúc bấy giờ, cùng Ngô Tôn Quyền ở Giang Đông và Lưu Bị ở Tây Thục tạo thành thế chân vạc tranh hùng. Sử gọi là thời kỳ Tam quốc tranh hùng. Năm 208, ông giữ chức Thừa tướng, năm 216 làm Ngụỵ vương, năm 220 lâm bệnh và ôm theo xuống tuyền đài mối hận chưa thống nhất được Trung Nguyên. Sau, Tào Phi phế vua Hán, tự xưng đế, truy phong Tào Tháo là Ngụy Vũ Đế. Tào Tháo là nhà quân sự, nhà chính trị kỳ tài cuối thời Đông Hán. Đồng thời ông cũng là tác gia có thành tựu rất lớn, "ngoại định võ công, nội hưng văn học" (Ngụỵ chí, truyện Tuân Vực), không những có thể tập hợp được những người có "trị quốc dụng binh chi thuật" về dưới trướng mình mà còn quy tụ được rất nhiều văn sĩ về với Tào môn. Đương thời các văn nhân tập trung ở Nghiệp Hạ (nay là phía Bắc An Dương, tỉnh Hà Nam), trong số ấy có rất nhiều người tài hoa, và Tào Tháo chính là người bảo hộ và dẫn đường cho các sáng tác của họ. Thiên "Thời tự" trong "Văn tâm điêu long" của Lưu Hiệp viết : "Ngụy Vũ Đế (tức Tào Tháo) ở địa vị tôn quý mà rất yêu thích văn chương". Tào Tháo, Tào Phi, Tào Thực cùng với Khổng Dung, Vương Xán, Lưu Trinh, Trần Lâm, Nguyễn Vũ, Từ Cán, Ứng Sướng chính là linh hồn của thi phái Kiến An. Người đời sau thường gọi là Tam Tào - Thất Tử. Quyền lực chính trị và tài năng thơ ca, hai yếu tố này đã nhanh chóng đưa Tào Tháo lên địa vị lãnh tụ thi đàn Kiến An. Hiện tại, còn lưu giữ được 26 bài thơ của Tào Tháo và tất cả đều là Nhạc phủ ca từ. "Ngụỵ thư" viết, ông "đăng cao tất phú, cập tạo tân thi phi chi quản huyền, giai thành nhạc chương". Qua đó có thể thấy, Tào Tháo không những là một nhà thơ, mà còn là người say mê âm nhạc. Và điều đặc biệt trong sáng tác của ông là sự kế thừa truyền thống hiện thực chủ nghĩa "cảm ư ai lạc, duyên sự nhi phát" (cảm động ở những nỗi vui buồn, theo đó mà phát ra) của dân ca nhạc phủ (theo Hán thư - Nghệ văn chí), dùng hình thức Nhạc phủ cựu đề để chuyển tải những nội dung mới mẻ. Cũng như chủ trương dùng người tài không kể thân phận sang hèn, trong sáng tác, Tào Tháo dùng những thể thơ ca dân gian (mà thời đó bị các thi sĩ quý tộc khinh thường) làm hình thức sáng tác và phương tiện bộc lộ tình cảm. Trong số đó có rất nhiều danh tác như : Giới lộ hành, Cảo lý hành, Khổ hàn hành, Khước Đông Tây môn hành, Đoản ca hành, Quy tuy thọ, Đối tửu, Độ quan sơn, Quan thương hải và Mạch thượng tang với hình thức đa dạng, nội dung phong phú. Những động loạn của hiện thực xã hội và nỗi thống khổ của nhân dân đương thời được phản ánh một cách sâu sắc vào trong thơ ca Tào Mạnh Đức. Vì vậy, có người gọi ông là bộ "Hán mạt thực lục" và "thi sử" (theo Chung Tinh trong "Cổ thi quy") trước Đỗ Phủ đến 500 năm. Chẳng hạn như các tác phẩm "Giới lộ hành" và "Cảo lý hành" nguyên là những bài vãn ca (thơ ca phúng điếu) được Tào Tháo mượn "xác" để tả thời sự. Thông qua việc miêu tả một cách mới mẻ và chân thực sự tao loạn của thời đại, những tác phẩm này cũng đồng thời bộc lộ tình cảm ưu thời mẫn thế của nhà thơ : Đời hăm hai nhà Hán, Dùng những kẻ bất tài. Một lũ khỉ đội mũ, Trí mọn đòi múa may Chần chừ không dám quyết, Để hoạn quan ra tay. ... Gian thần cướp quyền bính, Giết vua diệt đế kinh. Cơ nghiệp tiên vương mất, Tông miếu bị tan tành... Năm Trung Bình thứ sáu (189), Hà Nam Doãn Đại tướng quân Hà Tiến mưu tính diệt hoạn quan, bèn mật triệu Đổng Trác vào kinh thành Lạc Dương để ra tay. Nhưng cơ mưu bại lộ, Hà Tiến bị bọn hoạn quan Trương Nhượng giết chết. Trương Nhượng đem Thiếu Đế và Trần Lưu Vương chạy khỏi cung. Sau khi đến kinh, Đổng Trác đưa Thiếu Đế trở về, không lâu sau đó phế Thiếu Đế làm Hoằng Nông Vương, cuối cùng đem giết luôn, rồi đưa Trần Lưu Vương lên ngôi, tức Hán Hiến Đế. Khi các châu quận khởi binh ở Quan Đông thảo phạt Đổng Trác, Đổng bèn đốt cung Lạc Dương bức Hiến Đế thiên đô về Trường An. Tào Tháo tận mắt chứng kiến cuộc biến loạn này, đặc biệt là khi nhìn thấy cảnh hoang tàn thảm thương của Lạc Dương đã sinh niềm cảm thương vô hạn. Và "Giới lộ hành" ra đời. Trong "Tam quốc diễn nghĩa", hồi thứ ba cũng có mấy câu thơ tả việc này như sau : Vận nhà Hán đến ngày tàn, Hà Tiến vô trí dự hàng tam công. Mấy phen chẳng kể lời trung, Tránh sao mũi kiếm trong cung liễu đời. "Cảo lý hành" là bài thơ ngũ ngôn 18 câu kể việc bọn Viên Thiệu, Viên Thuật mượn cớ thảo trừ Đổng Trác gây bao cảnh tang tóc, điêu linh cho dân lành. Nổi tiếng nhất là những vần thơ cuối cùng, những câu được xem là "danh cú cổ kim" : Bạch cốt lô vu dã Thiên lý vô kê minh Sinh dân bách di nhất Niệm chi đoạn nhân trường (Đồng hoang xương phơi trắng Ngàn dặm tiếng gà không Trăm người sống sót một Càng nghĩ càng quặn lòng) Mấy câu thơ tả thực vô cùng sắc xảo, đọc lên nghe lạnh gáy. Cảnh chiến trường như hiện ra trước mắt đầy vẻ hoang tàn, mịt mù tử khí, ai nghe cũng rùng mình kinh sợ. Câu chữ rất tự nhiên, giản dị nhưng nội lực hùng hậu, có sức rung chuyển kinh người. Hay như ở các bài "Khổ hàn hành" và "Khước Đông Tây môn hành", tác giả đã phản ánh sự khốn khổ trong sinh hoạt hành quân chinh chiến cuối thời Hán từ những góc độ khác nhau ; một tả sự gian khổ của cuộc hành quân, đường núi non hiểm trở, một tả tình hoài vọng cố hương của những người chinh phu. Do bản thân từng chinh chiến trận mạc, nếm trải cuộc sống trong chiến tranh cộng với tài năng thơ ca xuất chúng nên những cảnh miêu tả ở đây hết sức chân thực khiến người đọc như thấy hiện ra trước mắt, thân thiết cảm động. Trong cuộc đời ngang dọc chiến chinh của mình, Tào Tháo cùng tướng sĩ trải qua muôn ngàn gian lao, nguy hiểm ; tính mệnh mong manh không chỉ khi đối diện mũi giáo đường gươm quân thù, mà cả khi vượt suối băng ngàn trên đường hành quân : Đường lên núi Thái Hàng Vời vợi khó khăn thay Núi non lối khuất khúc Xe ngựa muốn lung lay Cỏ cây xơ hiu quạnh Gió lạnh rít ù tai Beo gấu luôn rình rập Hổ báo lượn đó đây Núi khe bóng người vắng Đầy trời tuyết bay bay... Cảnh thiên nhiên thật hùng vĩ, hoành tráng và đẹp đẽ nhưng cũng chất chứa bao hiểm nguy, khắc nghiệt. Trích đoạn trên là mười câu đầu trong kiệt tác "Khổ hàn hành" - tả một trong những cuộc hành quân của Tào Tháo cùng ba quân. "Khước Đông Tây môn hành" thể hiện tình cảm thương nhớ cố hương của người chinh phu đi chinh chiến lâu chưa được trở về, cũng là lời thổ lộ chân tình tự thương của tác giả trong cảnh li loạn chiến tranh : Hồng nhạn nơi ải Bắc, Chốn quạnh quẽ sơ hoang. Tung cánh hơn vạn dặm, Dừng, bay tự thành hàng. Đông, sang Nam ăn thóc, Xuân, lại về Bắc phương. Giữa đồng cỏ bồng chuyển, Theo gió muôn nẻo đường. Lớn lên nào biết gốc, Nghìn năm tuyệt hội tương. Hỏi chàng chinh phu trẻ, Sao đi mãi không dừng ? Yên cương không lơi lỏng, Áo giáp mặc thường thường. Cái già lừ đừ đến, Bao giờ quy cố hương ? Rồng thần ẩn vực thẳm, Mãnh thú lượn non cao. Cáo chết quay về núi, Cố hương quên được sao ? "Đoản ca hành" và "Quy tuy thọ" là những tác phẩm thể hiện tinh thần và hùng tâm thống nhất thiên hạ của Tào Tháo, đây cũng là hai danh tác trong thơ tứ ngôn của ông. Đó là tâm chí thống nhất Trung Nguyên, là tình cảm mãnh liệt của bản thân và tâm tình bi thương khẳng khái, nỗi ưu tư vì đại nghiệp chưa thành của khách anh hùng trước bóng hoàng hôn cuộc đời. Trên bước đường tung hoành mây gió, vào sinh ra tử, thành bại muôn lần của mình, không phải lúc nào Tào Tháo cũng chỉ nghĩ đến chiến chinh, chém giết. Cũng có rất nhiều khi, mộng xưng hùng tranh bá trong ông chợt lắng xuống để cho niềm cảm khái nhân sinh dâng trào. Xông pha, lăn lộn qua vô số trận mạc sa trường, khi tóc anh hùng đã nhuộm màu sương tuyết, Tào Tháo giật mình hoảng hốt thấy thời tráng niên sắp qua và biết mình đang bước những bước cuối cùng của cuộc đời. Đời người như giấc mộng, cũng như một khúc ca, hào hùng nhưng quá ngắn ngủi. Và đây là những vần thơ chứa chan tâm sự : Nâng chén hát ca Đời người bao là Nhẹ như sương sớm Khổ nhiều ngày qua Thở than buồn giận Ưu phiền nào tha... Đó là sáu dòng đầu trong danh tác "Đoản ca hành". Cả bài thơ là một nỗi lòng ngập tràn tâm sự và niềm cảm khái về kiếp người mong manh, khổ đau. Ở đây, lại thấy một Tào Tháo rất khác, không phải hiên ngang lồng lộng giữa đất trời với thanh kiếm xung thiên nộ khí mà là một Tào Tháo ngất ngây trong bầu rượu ưu tư. Tiếng hát vẫn có vẻ hào hùng khí thế song âm điệu lại trĩu nặng phiền não, bi hùng. Đời người lắt lay như khói sương, tháng năm khổ não chất chồng, hết thở than lại buồn giận, làm sao có thể xóa đi những phiền muộn ? Đây rõ ràng là khúc bi ca về cuộc đời, cuộc đời của một chiến binh, hết sức tài ba nhưng cũng vô cùng sâu sắc. Cái bi trong thơ ca Tào Tháo luôn gắn với cái hùng. Kiệt tác này cũng được La Quán Trung đưa vào "Tam quốc diễn nghĩa", hồi thứ 48 : "Yến trường giang Tào Tháo phú thi, Tỏa chiến thuyền Bắc quân dụng võ". Niềm cảm khái về nhân sinh thoáng chốc ấy càng được biểu lộ sâu sắc hơn trong bài "Quy tuy thọ" - khúc ca thứ tư trong "Bộ xuất hạ môn hành" : Thọ như rùa thiêng Cũng có lúc chết Rồng cưỡi mây mù Cũng ra tro hết Ngựa già nằm chuồng Chí ở bốn phương Anh hùng về cuối Hăng hái như thường... Rùa thiêng, rồng thần, ngựa thiên lý, anh hùng... tất cả cuối cùng cũng trở về cát bụi, cũng hóa hư vô. Có lẽ sự trải nghiệm đã khiến cho Tào Tháo có cái nhìn thẳm sâu về cuộc sống. Tào Tháo thấy được sự vô thường của kiếp người cũng như của vạn hữu, tuy vậy ông không chán nản, não lụy. Ngựa thiên lý tuy già yếu nằm chuồng nhưng chí của nó vẫn tung hoành ngoài nghìn dặm ; kẻ anh hùng bạc đầu nhưng hùng tâm vẫn mênh mang bốn phương. Ông tự hào về những tháng năm oai hùng đã qua và ngậm ngùi tiếc nuối, nhưng vẫn hát ca đón chào hoàng hôn đời mình. Trong danh tác "Đối tửu", tác giả miêu tả một xã hội lý tưởng trong tưởng tượng. Đó là một xã hội vua sáng tôi hiền, ai nấy đều kính nhường nhau, không có kiện tụng tranh chấp, không có những cảnh thúc thuế bắt nợ, người chấp chính thưởng phạt nghiêm minh, yêu thương trăm họ như anh em ; nhân dân yên tâm vui vẻ làm ăn, không có cảnh chạy tứ phương để trốn bắt lính, mọi người đều ấm no sung sướng, người già được sống trọn tuổi trời. Nâng chén ca Buổi thái hòa Quan không thúc thuế Vua chúa sáng hiền Trung lương tướng tá tài ba. Cùng nhau nhường kính Tranh chấp không xảy ra Ba năm cày cấy Chín năm vẫn ấm no Lúa gạo đầy kho Việc nặng không đến người già. Mưa thuận gió hòa Ngũ cốc được mùa Bắt ngựa hoang Giúp canh tác mùa màng. Các vị công, hầu, bá, tử, nam Đều yêu thương dân chúng Thưởng phạt phân minh Coi dân như con em mình Kẻ phạm lễ pháp Tùy nặng nhẹ xử hình. Ngoài đường của rơi không ai nhặt Trong lao tù vắng tanh Mùa đông không có án Người già cả Sống trọn tuổi trời Cả thảo mộc côn trùng, ân đức đều đến nơi. Ở bài "Độ quan sơn", ngoài việc mơ tưởng một xã hội lý tưởng với thánh quân minh chúa hết lòng với nhân dân, Tào Tháo còn khẳng định : Thứ đáng quý nhất trong trời đất là con người. Sống trong loạn đao binh khốc liệt, mạng người như cỏ rác, sống chết trong đường tơ kẽ tóc mà ông nhận ra và khẳng định được giá trị con người như vậy, kể cũng rất đáng ngạc nhiên đối với người từng có câu nói chấn động lịch sử : Ta thà phụ người chứ không để người phụ ta. Nhưng quan sát toàn bộ thơ ca của Tào Tháo, thì dường như còn có một Tào Tháo khác vậy. Qua ngót hai ngàn năm, thơ ca còn lại không thể là giả dối, nhất là đối Tào Mạnh Đức : Giữa trời đất, Người là nhất. Lập vua chăn dân, Làm ra phép tắc. Bánh xe chân ngựa, Ngự tuần khắp chốn. Thưởng phạt rõ ràng, Thứ dân đều biết... Đặc biệt được ca ngợi là thơ tứ ngôn trữ tình, người đời sau gọi ông là tác gia phục hưng tứ ngôn thi. Thẩm Đức Tiềm nói : "Tào công tứ ngôn, ư tam bách thiên ngoại, tự khai kỳ hưởng". Bởi vì từ sau "Kinh thi" (tam bách thiên), thơ tứ ngôn ngày càng ủy mị suy yếu, dần dần bị thơ ngũ ngôn thay thế, rất hiếm có giai tác xuất hiện. Thế mà đến giai đoạn này, Tào Tháo lại liền một lúc cho ra đến mấy kiệt tác như vậy, khiến thơ tứ ngôn được một phen tái sinh với vẻ đẹp đến kỳ lạ. Cao rộng, kỳ vĩ là đặc trưng cho thơ ca Tào Tháo, nhất là khi ông tả cảnh. Ông không đi sâu vào những chi tiết nhỏ vụn mà tập trung vào những nét lớn, gân guốc, mạnh mẽ. Bài thơ tả cảnh đặc sắc nhất của Tào Tháo là "Quan thương hải" (Ngắm biển khơi). Đây cũng là bài thơ tứ ngôn hoàn chỉnh sớm nhất với đề tài tả cảnh trong lịch sử thơ ca Trung Hoa : Trên mỏm núi cao Phóng trông biển rộng Cuồn cuộn nước reo Gò đảo sừng sững Cây cối tầng tầng Cỏ hoa nghìn sắc Gió thu hiu hắt Sóng vọt tưng bừng Mặt trăng mặt trời Từ đó sáng ngời Ngân hà rực rỡ Từ đó ra đời. Bài thơ rất ngắn và là chương thứ nhất trong "Bộ xuất hạ môn hành". Tuy nhỏ bé, nhưng bài thơ lại vẽ ra một khung cảnh thiên nhiên vô cùng khoáng đạt, kỳ vĩ, tuyệt đẹp. Nhà thơ đứng trên đỉnh núi Kiệt Thạch, phóng tầm mắt quan sát muôn trùng biển khơi. Tầm mắt quét một vòng bao quát toàn cảnh ; từ làn nước cuồn cuộn mênh mông, gò đảo nhấp nhô sừng sững, cây cối chen chúc, hoa cỏ muôn màu, gió thu hiu hắt, sóng vọt trùng trùng... đến cả vầng nhật nguyệt, dải Ngân hà. Thật là một cái nhìn sắc sảo, tinh tế, liên tưởng cực kỳ ; sự bát ngát ngút mắt của biển khơi là nơi khởi sinh của mọi sự sống và vẻ đẹp. Đây thực sự là những câu thơ đẹp lạ lùng, đồng thời cũng cho thấy tư thế, khí chất hùng dũng của một anh hùng cái thế. Loại thơ tả cảnh thuần túy như thế này trước Tào Tháo chưa từng xuất hiện, và như vậy có nghĩa rằng, chính ông là người sáng khởi ra thơ tả cảnh của Trung Quốc. Những nhà thơ đời sau sáng tác thơ tứ ngôn có thành tựu cao như Kê Khang, Đào Uyên Minh đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Tào Tháo. "Mạch thượng tang" lại là một kiệt tác thuộc loại "Du tiên thi" nói chuyện lên trời gặp tiên. Tào Tháo không chỉ có những vần thơ thực đến rùng mình kinh hãi, mà còn có những vần thơ bay bổng tuyệt vời. Ông kế thừa được cả tinh túy của văn hóa phương Bắc với Kinh thi và văn hóa phương Nam với Sở từ. Nghĩa là tâm hồn ông được bồi đắp bằng phù sa của hai dòng đại xuyên trường giang : hiện thực và lãng mạn. Và sự lãng mạn trong thơ ca Tào Tháo không phải được tô điểm bằng sự trang sức, phù hoa của ngôn từ, mà bằng trí tưởng tượng kỳ vĩ : Cưỡi cầu vồng, Đạp mây đỏ, Lên đỉnh Cửu Nghi nhập Thiên cung. Qua Thiên Hán, Đến Côn Luân, Gặp Tây Vương Mẫu cùng Đông Quân. Bạn Xích Tùng, Với Tu Môn, Cầu đạo bí phương di dưỡng tinh thần. Ăn linh chi, Uống cam tuyền, Cầm trượng quế và đeo hoa lan. Dứt chuyện đời, Du đất trời, Như gió lốc (soát) bay nhảy muôn nơi. Bóng chưa đổi, Băng ngàn dặm, Thọ như Nam Sơn, không quên lỗi lầm. Như thế, thơ Tào Tháo biểu hiện phong cách đặc trưng với sự hào sảng tung hoành và bi tráng hào hùng, biểu hiện một cách tập trung tinh thần của thời đại. Thơ ông không chỉ mở ra một thi phong mới cho thời đại Kiến An, mà còn có ảnh hưởng sâu rộng đối với sự phát triển sau này của văn học Trung Quốc, và việc ông dùng Nhạc phủ cựu đề để miêu tả thời sự cũng tạo ra nhiều gợi ý cho các thi nhân đời sau. Chẳng hạn như bài tân đề Nhạc phủ thi "Tức sự danh thiên" của Đỗ Phủ, hay cuộc vận động tân Nhạc phủ của nhóm Bạch Cư Dị... đều có thể truy nguyên đến Nhạc phủ ca từ của Tào Tháo. Thay đổi nội dung bởi: Vania, 20-10-2010 thời gian gửi bài 17:23 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
minminixi (20-10-2010) | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
Bạn ơi, Tào Tháo tiếng Nga gọi như thế nào nhỉ?
Nếu từ tiếng Việt ta có: Тао Тхао Nói trẹo đi một chút cho có vẻ... Hán-Nga: Цао Цао Và nghe chừng cũng... xuôi xuôi Thay đổi nội dung bởi: TLV, 20-10-2010 thời gian gửi bài 14:24 |
|
#3
|
|||
|
|||
|
Theo bản dịch Tam quốc bằng tiếng Nga thì Tào Tháo chính là Цао Цао như bác TLV đã viết ở trên.
Bác nào muốn đọc Tam quốc diễn nghĩa tiếng Nga qua bản dịch của В.А.Панасюк thì có thể xem link sau: http://lib.ru/POECHIN/SANGUO/sanguo.txt |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Tào Phi (曹丕, 187 – 226) tên tự Tử Hoàn, sinh ở Tiêu quận, nước Bái thuộc Dự châu, là con thứ hai của Tào Tháo và là anh của nhà thơ Tào Thực. Ông là nhà thơ, nhà phê bình văn học đầu tiên của Trung Quốc, cũng là vị vua sáng lập ra nhà Tào Ngụy.
Năm 211, Tào Phi giữ chức phó Thừa tướng nhà Hán. Năm 217, làm Thế tử nước Ngụy. Năm 220, Tào Tháo chết, ông kế nghiệp chức Thừa tướng nhà Hán và là Ngụy vương. Không bao lâu, tháng 10 năm 220, ông phế vua Hán Hiến Đế, tự xưng là Hoàng đế đầu tiên của nhà Ngụy (với miếu hiệu là Nguỵ Thế Tổ Văn Hoàng Đế, thường gọi tắt là Nguỵ Văn Đế). Và ông đã tiếp tục cuộc chiến của cha tranh hùng tranh bá với tập đoàn Thục Hán của Lưu Bị và Đông Ngô của Tôn Quyền, nhưng không thành công. Tào Phi ở ngôi sáu năm (220 – 226), sau khi mất được chôn ở Thủ Lăng. Trong thời gian ở ngôi, Tào Phi chỉ sử dụng một niên hiệu, đó là Hoàng Sơ. Ngoài những nét chính trên, sử sách còn cho biết : Trong số anh em của mình, Tào Phi là người sắc xảo nhất. Thay vì dùi mài kinh sử hay thao luyện quân binh, Tào Phi thường có mặt trong triều với các quan chức để tranh thủ sự ủng hộ của các quan và tham gia vào việc quân sự cùng cha. Sau khi Tào Tháo đánh bại được cha con Viên Thiệu, Tào Phi đã chiếm vợ của Viên Hy (con trai Viên Thiệu) là nàng Chân Lạc. Sau này Chân thị sinh ra Tào Tuấn là người kế nghiệp Tào Phi, nhưng vẫn bị thất sủng. Khi Tào Phi lên ngôi Hoàng đế đã sủng ái Quách thị, về sau Chân thị bị ép phải tự vẫn. Tào Phi có nhiều điều đối xử và giám sát khắt khe với các anh em trong nhà. Nhiều nhà sử học cho rằng sở dĩ như vậy là do ông ghen tài văn chương với Tào Thực và tài quân sự với Tào Chương. Tào Phi còn khiến tướng Vu Cấm phải xấu hổ mà chết. Chuyện là Vu Cấm được Tào Tháo sai đi đánh nhau với Quan Vũ, bị Quan Vũ đánh bại và cùng phó tướng Bàng Đức bị bắt sống. Trong khi Bàng Đức không chịu khuất phục thì Vu Cấm lại sợ hãi xin đối phương tha mạng. Kết quả Đức bị chém còn Cấm bị giam. Sau đó Tôn Quyền sai Lã Mông đánh úp Kinh châu, bắt giết Quan Vũ. Quan Vũ bắt được Vu Cấm, bèn trả về cho Tào Tháo. Đến khi làm vua, Tào Phi sai người vẽ tranh chế giễu Vu Cấm trưng ở chốn đông người. Tranh vẽ Quan Vũ ngồi chễm chệ, Bàng Đức vươn cổ chịu chém, còn Vu Cấm thì khúm núm lạy lục Quan Vũ. Bởi thế Vu Cấm không chịu nổi nhục, lo rầu mãi sinh bệnh mà chết. Tào Phi rất giỏi thơ phú, ông cùng với cha (Tào Tháo) và em (Tào Thực), đều là những cây bút nổi bật trên văn đàn Kiến An. Thơ ông, hiện còn khoảng 40 bài và bộ Điển luận. Tuy vậy, qua đó người đọc cũng hiểu được một phần nào quan niệm sáng tác của ông. Trần Đình Sử trong Từ điển Văn học (bộ mới) viết đại ý như sau : - Văn (Tào Phi) có nhiều thể, hiếm có ai giỏi hết, do đó văn nhân không nên dựa vào sở trường của mình mà khinh người, mà nên thẩm xét để hiểu người (thẩm kỷ độ nhân). Ông phản đối thói "văn nhân tương khinh" (văn nhân thường khinh nhau), hay khép kín kiến giải của mình. Ngoài ra, ông còn phê phán khuynh hướng "quý xa, khinh gần", làm văn cốt cầu danh, mà quay lưng với sự thực. - Các thể loại có những điểm khác nhau : Tấu, nghị nên trang nhã, thư luận nên có lý lẽ, thi phú cần phải đẹp. - Văn chương đều là sự biểu hiện tư tưởng, tình cảm của người viết. Cho nên gốc văn chương giống nhau mà ngọn (hình thức biểu hiện) khác nhau. Cái khác đó do "khí". Tào Phi viết : "Văn lấy khí làm chủ, mà khí trong hay đục là bẩm phú, không thể dùng sức gắng gượng mà có được !". - Nho gia xem "lập ngôn" đứng sau "lập đức", "lập công" ; Tào Phi đưa "lập ngôn" lên vị trí cao nhất, xem đó là "việc lớn lao bất hủ trong sự nghiệp trị nước" (kinh quốc chi đại nghiệp, bất hủ chi thịnh sự). Đây cũng chính là quan điểm làm cho trường phái văn học Kiến An trở nên phồn thịnh. Nguyễn Hiến Lê thì nhận xét : "Giọng thơ Tào Phi không hùng như cha (Tào Tháo), mà có vẻ phong lưu, nhàn nhã. Ngoài tài thơ, Tào Phi còn là nhà phê bình đầu tiên của Trung Quốc, Trong thiên Luận văn, ông có nhiều ý xác đáng, như : - Văn lấy khí làm chủ, mà khí có hai thể "thanh" và "trọc". Cả hai đều do trời sinh, không thể gắng sức mà luyện, dẫu cha anh cũng không thể truyền được cho con cái, anh em. - Bàn về các thể văn, ông cho rằng luận thuyết phải đúng lý, mà thi phú thì cần phải đẹp. Đó là khởi nguyên phong trào duy mĩ ở thời Lục Triều, trái hẳn với lối "văn dĩ tải đạo" (văn để chở đạo) của giai đoạn Tiền Hán trở về trước. Duy mĩ tức là "nghệ thuật vị nghệ thuật", mà tải đạo tức là "nghệ thuật vị nhân sinh". Ở một thời đại cực kỳ loạn lạc như Lục Triều, chủ trương đó rất được hoan nghênh. Cho nên thời bấy giờ là thời văn thơ lãng mạn nhất của Trung quốc, và nhóm Trúc Lâm thất hiền nổi tiếng vì thói khinh đời ngạo vật, phóng đãng, bất chấp lễ nghi...". So sánh với Tào Phi, học giả cũng viết : Tào Phi và Tào Thực, là hai anh em ruột mà tính tình và đời sống trái nhau hẳn. Tào Phi làm vua chỉ cho văn chương mới là sự nghiệp lớn, đáng lưu truyền lại thiên thu ; còn phú quý, công danh hễ chết là hết. Tào Thực, ngược lại, cho văn chương là nghề mọn mà sự lập công mới đáng trọng. Kết lại, ba cha con là Tào Tháo, Tào Phi, Tào Thực, làm lĩnh tụ trên thi đàn Kiến An. Tháo có giọng trầm hùng. Phi thì sầu, nhã. Thực, đa tài hơn cả ; thơ vừa diễm lệ, vừa lâm ly và cao kỳ. Đến năm 226, Tào Phi và Tào Thực đều đã chết hết, văn đàn rực rỡ thời Kiến An cũng rã tan theo. Thay đổi nội dung bởi: Vania, 20-10-2010 thời gian gửi bài 17:25 |
|
#5
|
|||
|
|||
|
Tào Thực (曹植, 192 - 232) tự là Tử Kiến, sinh ở Tiêu quận, nước Bái, là con trai thứ ba của Tào Tháo, em của Tào Phi, khi mất có tên thụy là Tư, nên còn được gọi là Trần Tư Vương. Ông là một nhà thơ nổi bật nhất trong số các văn nhân thời đại Kiến An.
Khi Tào Tháo xây xong Đồng Tước đài thì Tào Thực chỉ khoảng 10 tuổi. Vậy mà, lúc mới biết cha bảo các con làm thi phú tán tụng, ông đã làm xong bài phú "Đồng Tước đài", khiến cha vừa mừng rỡ vừa kinh ngạc, và Tào Phi bắt đầu ganh tị với ông từ đó. Ban đầu, Tào Tháo đã định lập ông làm Thế tử, song vì bản tính phóng túng, không chịu phục tùng ai mà lại còn bị Tào Phi đố kị, xúc xiểm, nên ông không được cha tin tưởng. Đau lòng nhất - theo Dịch Quân Tả (một học giả Trung Quốc) - Tào Thực thương một người con gái đẹp là Chân thị mà Tào Tháo có ý muốn tự nạp, về sau lại cưới cho Tào Phi. Khi nàng mất, Tào Thực mộng thấy gặp lại Chân thị bên bờ sông Lạc Thủy, và nàng đã tặng ông một chiếc gối. Khi tỉnh giấc, thiên tình sử ấy được Tào Thực tả lâm ly trong bài "Cảm Chân phú". Năm 220, Tào Tháo mất, Tào Phi được thừa kế địa vị của cha, và đã ép Hán Hiến Đế thoái vị rồi tự xưng là Ngụy đế. Tào Phi và con là Tào Tuấn tìm đủ mọi cách bức hại Tào Thực, như : giết mất "cánh tay" của Tào Thực là Đinh Nghi, Đinh Dực, chỉ phong cho ông tước hầu (Bình Nguyên hầu) và ép phải rời kinh đô... Về sau, tuy được mang tước vương (Trần vương), nhưng trong khoảng thời gian hơn mười năm dài, ông bị thuyên chuyển sáu lần và cuộc sống chẳng khác gì người tù bị giam lỏng. Cũng theo Dịch Quân Tả, thì : Tội nghiệp Tào Thực phải chạy ngược chạy xuôi, lo buồn tiều tụy, không có được một ngày yên tĩnh nghỉ ngơi, và ông chết trong sự uất hận đó khi tuổi vừa 40. Tào Thực mất có để lại "Trần Tư Vương tập", gồm khoảng 80 bài thơ ; hơn 40 bài từ, phú, tản văn và có thể chia làm hai thời kỳ : - Buổi đầu, thơ Tào Thực thể hiện chí khí tiến thủ, khát vọng lập công như : Đông chinh phú (Bài phú chinh phạt phía Đông, tức Đông Ngô), Chinh Thục luận (Luận về việc đánh nước Thục)... - Ở thời kỳ sau, vì bị anh và cháu chèn ép, nên thơ ông có chuyển biến rõ rệt. Thơ trở nên u uất bi thương, như : Dã điền hoàng tước hành (Bài hành về con sẻ vàng ngoài đồng), Dao tước phú (Bài phú về loài chim cắt), Hu ta thiên (Thiên tự than thân), nhưng tiêu biểu nhất là bài Tặng Bạch Mã vương Bưu... Tháng Năm (223), Tào Thực cùng Tào Bưu (cùng mẹ) và Tào Chương (khác mẹ) vào triều. Đến Lạc Dương, Tào Chương chết một cách ám muội. Trên đường về, hai anh em Tào Thực, Tào Bưu lại bị quan quân đi theo tìm cách hãm hại, không cho ở cùng một chỗ. Tào Thực phẫn uất viết bài thơ "Tặng Bạch Mã vương Bưu" trước khi chia tay. Bài thơ gồm bảy đoạn. Hai đoạn đầu nói lên sự vất vả dọc đường sau khi rời dòng Lạc Thủy và phần nào hé lộ nỗi niềm bi phẫn. Đoạn ba nói lên ý chính tức những điều ông quá bức xúc vì bị cắt chia tình cốt nhục và bị chèn ép về chính trị. Trên càng xe quạ réo, Đầy đường sói nhởn nhơ. Nhặng làm lẫn đen trắng, Nghe dèm thân hóa sơ. Đoạn bốn tả cảnh thu buồn bã. Đoạn năm thuật lại cái chết của Tào Chương và nêu lên dự cảm về kết cục bi đát của những người thân còn lại. Đoạn sáu, mở đầu bằng những lời động viên Tào Bưu (Trượng phu chí bốn biển, Ngàn dặm cũng như gần) nhưng kết thúc vẫn là những vần thơ chứa chan đầy nước mắt. Đoạn cuối nói lên nỗi lòng lúc chia tay và dự đoán khả năng "li biệt mãi mãi". Nguyễn Khắc Phi nhận xét : Tuy chỉ đề cập đến những bất hạnh cá nhân, nhưng bài thơ cũng cho ta thấy một số mặt trong các mối quan hệ xã hội dưới thời phong kiến ở Trung Quốc, do đó nó vẫn có giá trị hiện thực nhất định. Bài này lời lẽ chân thành, hình tượng sinh động, tự sự kết hợp nhuần nhuyễn với trữ tình, tình hòa với cảnh... Tuy nhiên, do hoàn cảnh sống mà ông cũng có được một số tác phẩm phản ánh được ít nhiều nỗi khổ của nhân dân trong cơn li loạn, nhất là nỗi đau đớn của những người phụ nữ bất hạnh, như Khuê tình (Tâm tình chốn phòng khuê), Khí phụ thi (Bài thơ về người vợ bị bỏ rơi), Thất ai thi (Bảy nỗi buồn than)... Giáo sư Nguyễn Khắc Phi đánh giá : Thơ Tào Thực có số lượng khá nhiều, nghệ thuật khá cao, ngôn từ điêu luyện, phong vị dân ca đậm đà, song nội dung không sâu sắc bằng những bài thơ tiêu biểu của một số thi nhân cùng thời, như Trần Lâm, Vương Xán và Thái Diễm... có một vị trí nhất định trong sự phát triển của lịch sử văn học Trung Quốc. Đó là tia hồi quang của một giai đoạn lịch sử đầy biến động khi những phe phái quân phiệt xâu xé nhau trên cái nền sụp đổ của triều Hán, gây cho nhân dân biết bao tai họa. Ngoài ra, Tào Thực còn là một trong những người đầu tiên biết học tập dân ca một cách sáng tạo. Nhờ ông, thơ ngũ ngôn Trung Hoa đã phát triển đến độ thành thục. Bàn về quan niệm văn chương của Tào Thực và Tào Phi,học giả Nguyễn Hiến Lê viết : Tào Phi và Tào Thực, là hai anh em ruột mà tính tình và đời sống trái nhau hẳn. Tào Phi làm vua chỉ cho văn chương mới là sự nghiệp lớn, đáng lưu truyền lại thiên thu ; còn phú quý, công danh hễ chết là hết. Tào Thực, ngược lại, cho văn chương là nghề mọn mà sự lập công mới đáng trọng. Trong một lá thư gửi bạn, ông thố lộ nỗi lòng, đại ý nói : "Tôi tuy bạc đức, cũng gắng sức giúp nước, để ân huệ cho dân, chứ không muốn lấy công việc bút mực làm công lao, lấy từ phú làm hơn người !". Mặc dù cho văn chương là "nghề mọn", nhưng cũng theo Nguyễn Hiến Lê thì : Tào Thực xứng đáng là đệ nhất thi nhân trong hai đời Tần - Hán và là người mở đường cho lối thơ diễm lệ đời Lục Triều. Thơ của ông đặc sắc vì lời rất điêu luyện, có nhạc, có đối mà vẫn tự nhiên, đủ văn vẻ lẫn chất phác. Danh sĩ Tạ Linh Vận thời Đông Tấn cũng đã hết sức khen ngợi Tào Thực : Văn chương trong thiên hạ có cả thảy một thạch (tức 10 đấu), riêng Tử Kiến (Tào Thực) đã chiếm hết tám rồi ! Thay đổi nội dung bởi: Vania, 20-10-2010 thời gian gửi bài 17:24 |
|
#6
|
|||
|
|||
|
Tôi cũng mới coi cuốn truyện "chuyện tình nội cung" và một cuốn khác về các anh hùng với mỹ nhân Trung Hoa, cũng thấy nhắc nhiều đến đời sống tình cảm của Tào Tháo, trong đó Đinh phu nhân là người cương liệt nhất. Tuy bị Tào Tháo hắt hủi rồi sau đó nhiều lần tìm cách trở lại với bà, nhưng bà đã tắt lửa lòng. Một số bài thơ họ Tào làm cho bà, nhưng tôi không nhớ rõ bài nào!
Người VN đọc Tam quốc xưa nay đa số đều coi Tào Tháo là biểu tượng gian hùng, nhưng thật ra phải là biểu tượng của tài thao lược mới đúng. Chính Lưu Bị mới là người mị dân thành thói, và Ngô Quyền chỉ là điển hình "nương theo chiều gió". Dòng họ Tào tuy thành công trong sự nghiệp, nhưng nhanh chóng bị họ nhà Tư Mã cướp công nhất thống Trung Nguyên. Nhưng lịch sử là như vậy, không thể có chuyện Chu Du, Khổng Minh về với Tào hay Triệu Vân cùng anh em vườn đào chiến đấu cho họ Tào. Lịch sử là chuỗi sự kiện, bi hùng hay vĩ đại chỉ là nhất thời mà thôi. Nhưng lạ nhất, ai đọc và ngẫm Tam quốc rồi cũng phải thốt lên : Tiên sư anh Tào Tháo !
|
|
#7
|
|||
|
|||
|
Bạn Vania ơi, các bài viết trên của bạn hình như có nguồn gốc Wikipedia phải không? Nếu bạn không phải là tác giả các bài viết trên, thì có lẽ cũng nên ghi rõ. Ngoài ra, mình cảm thấy, nếu ai cũng đi khuân vác từ nơi khác những bài cảm thấy hay hay về, thì có lẽ tạo nên thông tin thừa - chắc đó không phải là giải pháp tối ưu trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay.
Nếu bác nào quan tâm về Tam Quốc nói chung, và Kiến An Tam Tào nói riêng thì có thể đọc thêm link sau đây, nói chung trong đó có vẻ ít bài khuân vác, chủ yếu là bài tự viết/dịch/tổng hợp: http://www.diendanvanhoathethao.net/...read.php?t=202 |
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Cuộc phong tỏa Leningrad - Alexander Werth | danngoc | Lịch sử chiến tranh | 55 | 21-08-2011 05:58 |
| Đội thiếu niên tiền phong ở Liên Xô | Andre Plentinov | Chúc mừng - Chia sẻ - Giúp đỡ | 13 | 15-10-2009 15:28 |
| Món ăn Nga Tâm Hồn và Phong Cách | Ballad | Ẩm thực | 2 | 16-07-2009 12:24 |
| Bàn luận về phong thủy | nguyentien | Các chủ đề khác | 1 | 23-07-2008 14:37 |