|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
||||
|
||||
|
1. Bà chủ Núi Đồng
Người dịch : Đoàn Ngọc Trinh Một hôm, hai người thợ một già một trẻ đi vào núi thăm cánh đồng cỏ dưới thung lũng. Xỉ đồng của nhà máy chất cao như núi nên mọi người gọi nó là Núi Đồng Sau cơn mưa, trời trở nên nóng khủng khiếp. Hai người mệt mỏi vì đường xa nóng nực. Khi vào tới rừng, họ cảm thấy dễ chịu hơn, liền nằm lăn dưới gốc cây thanh lương mà ngủ. Bỗng người thợ trẻ choàng tỉnh dậy, anh cảm thấy như có ai hích mạnh vào sườn mình. Anh nhìn thấy một cô thiếu nữ ngồi trên tảng đá. Tóc nàng tết bím, chắc chưa có chồng. Hai bím tóc nặng trĩu buông xuống gót chân. Nàng thắt nơ, xa xa trông như hai dải đồng. Chàng trai say sưa ngắm cô gái. Thân hình nàng mảnh dẻ, trông thật đáng yêu. Nàng đang cúi xuống tìm vật gì dưới chân, lúc quay bên này, lúc quay bên kia, miệng thì thầm như đang to nhỏ với ai. Chàng trai vừa định bắt chuyện với cô gái, bỗng sựng lại như ai đánh mạnh vào đầu. Chàng chợt hiểu ra : - Trời ơi, đó chính là Bà Chủ Núi Đồng. Bà ta ăn mặc như vậy mà sao ta không nhận ra bà ta. Mắt ta để đi đâu không biết nữa ? Quả thật như vậy, không thể tìm thấy một bộ quần áo như thế : bà ta mặc một chiếc váy dài hàng tơ màu xanh lông công rực rỡ, trông xinh đẹp tuyệt trần. Thật là không may cho ta – chàng trai nghĩ – phải mau mau trốn khỏi nơi này, trước khi bà ta quay trở lại. Chàng thường nghe các cụ già trong làng kể lại : ai không may gặp phải Bà Chủ Núi Đồng thì thường gặp những điều rủi ro hơn là điều lành. Nhưng không kịp nữa rồi! Vừa lúc đó Bà Chủ Núi Đồng quay lại. Nhìn thấy chàng trai, bà ta vui vẻ nói : - Thế này Stephan, sao chàng lại ngây ra nhìn em vậy ? Sao không lại gần đây và trò chuyện với em ? Chàng trai sợ hãi nhìn Bà Chủ Núi Đồng. Chàng cố trấn tĩnh, tự nhủ : mặc dù cô ta có phép thần, nhưng dù sao ta cũng là một đứa con trai, sợ cô ta thì thật đáng xấu hổ - Tôi đi thăm cánh dồng cỏ chứ đâu phải đến đây tán dóc với cô ? - Tôi sẽ có cách bắt anh phải lại đây ! Tôi có chuyện cần nói với anh . Chàng trai tức giận nói : - Lại thì lại, chẳng việc gì tôi phải sợ cô ! Stephan đi lại phía Bà Chủ Núi Đồng . Bà ta giơ tay cao lên, vung khắp bốn phương. Stephan cũng đi vòng quanh. Chàng nhìn xuống chân – vô số thằn lằn đủ các màu không biết từ đâu bò ra, con màu xanh lá cây, con màu xanh da trời, con màu vàng, con màu trong suốt như pha lê, con sáng lấp lánh như những giọt sương đọng trên ngọn cỏ. Bà Chủ Núi Đồng mỉm cười : - Đừng có tránh ra, hỡi người lính can đảm của ta. Trông chàng to lớn nhường ấy mà lại sợ những con thằn lằn của ta à ? Bà ta vỗ tay, các chú thằn lằn tản ra, nhường lối cho Stephan. Chàng trai đã tới gần bên Bà Chủ Núi Đồng, chàng dừng lại. Bà ta liền vỗ tay, nói : - Bây giờ anh không trốn đi được nữa. Cẩn thận kẻo dẫm chết những kẻ hầu cận của ta. Stephan cúi nhìn xuống, các chú thằn lằn bò quấn lấy chân anh, trông giống như những đường hoa văn trang trí sàn nhà. Stephan định thần nhìn lại – chao ôi, đó chính là những quặng đồng, toàn loại hảo hạng, sáng lấp lánh. Những đường hoa văn ấy như trong ảo mộng, đẹp như những đường vân đá khổng tước. - Thế nào, bây giờ anh đã nhận ra ta là ai chưa ? – Bà Chủ mỏ đá khổng tước, hay còn gọi là Bà Chủ Núi Đồng hỏi Stephan. Bà ta gật đầu nói : - Chàng không việc gì phải sợ ta, ta không làm hại chàng đâu . Chàng trai khổ tâm vì bị cô gái cười nhạo,lại còn nói những lời như vậy, chàng liền kêu lên : - Nếu tôi sợ ai thì tôi đã chẳng dám lên núi - Vậy thì tuyệt quá – Bà Chủ Núi Đồng nói – Ta đang cần người can đảm như vậy, một người không biết sợ ai. Sáng mai khi đi làm, chàng hãy nói với ông chủ của chàng rằng : Thưa ông chủ kính mến, Bà Chủ Núi Đồng ra lệnh cho ông – đồ con lừa – phải lập tức dọn dẹp núi Đồng đi. Nếu ông còn làm hỏng chiếc mũ sắt của Bà Chủ Núi Đồng Bà ta còn dặn thêm : - Chàng có hiểu không, Stephan ? Chàng đã nói chàng không sợ ai, vậy chàng hãy nói với ông chủ của chàng như ta dặn. Bây giờ chàng hãy về chỗ bạn chàng. Đừng có nói với ai về những gì chàng đã nghe và đã thấy ở đây Bà Chủ Núi Đồng vỗ tay, đàn thằn lằn biến mất. Bà ta đứng lên, đặt tay vào tảng đá, nhảy vọt lên, biến thành con thằn lằn : chân tay biến thành chân tay của thằn lằn, mọc thêm cái đuôi chỉ đầu là đầu người. Bà ta bò tới đỉnh núi còn quay đầu lại : - Hãy nhớ lấy những lời ta dặn, làm theo lời ta, ta sẽ lấy anh. Chàng trai trả lời : - Ai thèm lấy thằn lằn . Bà Chủ Núi Đồng quay lại nhìn Stephan, thấy chàng đang tức giận khạc nhổ, bà ta cười ha hả : - Thôi được, chúng ta sẽ nói chuyện ấy sau – biết đâu chẳng có lúc anh nghĩ lại ! Nói xong, bà ta bò lên đỉnh núi, chỉ còn nhìn thấy cái đuôi xanh ve vẩy, rồi biến mất.
__________________
Ласковый Май Thay đổi nội dung bởi: Siren, 07-08-2010 thời gian gửi bài 17:45 |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
Stephan còn lại một mình. Anh đánh thức người bạn dậy. Hai người cầm liềm đi cắt cỏ tới chiều
Về tới nhà, Stephan băn khoăn không biết mình phải làm gì bây giờ . Câu chuyện vừa xảy ra ở trong núi đối với anh giống như một giấc mơ. Nói với ông chủ những lời như Bà Chủ Núi Đồng dặn không phải là chuyện đùa – lôi thôi mất việc như chơi, mà không nói cũng sợ bà ta, vì bà ta là Bà Chủ Núi Đồng. Quặng có thể biến mất, và ngượng với bà ta là vì đã khoác lác là không sợ ai. Trầm ngâm suy nghĩ hồi lâu, Stephan tự giễu mình : - Có thật hay không thì mình cứ thử làm theo lời bà ta dặn xem sao Sáng hôm sau, khi kẻng đi làm vang lên, mọi người tập trung trước cổng nhà máy chờ ông chủ tới cắt đặt công việc. Ông chủ tới, mọi người ngả mũ chào. Stephan bước lại trước mặt ông ta : - Thưa ông chủ kính mến, hôm qua tôi gặp Bà Chủ Núi Đồng, bà ấy nhờ tôi nhắn lại với ông rằng : ông hãy cho dọn dẹp bãi thải quặng đi, nếu ông làm gẫy chiếc mũ sắt của bà ta, thì bà ta sẽ hóa phép làm cho quặng đồng ở Gumexco biến mất, lúc đó không còn ai khai thác được quặng đồng ở đây nữa Ông chủ không tin vào tai mình nữa : - Này, mày nói gì thế hở Stephan. Mày có điên không mà dám nói những lời như thế với tao. Tao sẽ tống cổ mày lên núi cho chó sói ăn thịt. - Tùy ông, chẳng qua tôi chỉ nói lại lời nói của Bà Chủ Núi Đồng nhắn ông mà thôi - Hãy trói nó lại – Ông ta hét lên – Xích nó vào mỏ hoang trên núi để nó làm mồi cho chó sói, cho nó một bài học về sự vô lễ. Nó có chết cũng chẳng đáng thương Thế là chàng trai bị đưa lên núi. Stephan quan sát mỏ than đá, chó sói cũng chưa phải là điều tệ hại nhất, mỏ than này bỏ hoang đã lâu ngập đầy nước. Chúng trói chàng bằng sợi xích dài, nên chàng còn có thể xê xích được. Rõ ràng thời gian là một thành trì vững chãi. Mọi sự như chế giễu con người. Chàng ngắm kĩ hầm mỏ rồi nói : - Ăn không ngồi rồi ở đây chỉ là chuyện nhỏ, nhưng thật vô lý khi ta nhận được bài học như thế này. Stephan làm gì được ngoài việc ngắm nghía mỏ than. Bỗng nhiên như có ai đó dùng tay hạ nóc hầm bằng đá khổng tước xuống, nước rút khỏi hầm mỏ. Mỏ trở nên khô ráo. - Có thế chứ - Stephan nghĩ – Dù sao Bà Chủ Núi Đồng vẫn còn nhớ tới ta Chàng vừa nghĩ như vậy thì thấy Bà Chủ Núi Đồng hiện ra trước mặt - Chào chàng trai Stephan. Có thể ghi tên chàng vào sổ vàng danh dự, chàng đã không sợ đồ con lừa, đã nói với hắn đúng lời ta dạy. Nào mời chàng đi xem của hồi môn của ta Bà Chủ Núi Đồng tháo xích cho Stephan rồi đi trước, Stephan đi sau. Bà Chủ Núi Đồng đi tới đâu, cửa tự động mở ra tới đó. Mỗi bức tường ở các phông màu khác nhau, phông màu xanh lát cây, phông màu vàng óng ánh, trong phòng trang trí bằng những chùm hoa bằng đồng, bông màu xanh da trời, bông màu xanh lá cây. Áo của Bà Chủ Núi Đồng cũng đổi màu, khi thì sáng lấp lánh màu bạc, khi tỏa sáng rực rỡ như kim cương, khi biến thành màu xanh lông công Họ đi tới căn phòng hình bầu dục lớn, đồ đạc bày biện trong phòng sang trọng như ở trong cung của nữ hoàng. Tưởng là đá cẩm thạch khảm kim cương, trên trần treo một chùm bông bằng đồng - Xin mời chàng ngồi xuống đây Họ ngồi xuống ghế. Bà Chủ Núi Đồng hỏi : - Chàng đã nhìn thấy hết của hồi môn của thiếp chưa ? - Tôi đã nhìn thấy - Vậy chàng có muốn lấy thiếp làm vợ không ? Stephan không biết phải trả lời như thế nào. Chàng đã có vợ chưa cưới là Natasia. Nàng là một cô gái mồ côi, nàng rất tốt và thương chàng. Nhưng cũng khó mà cưỡng lại được vẻ đẹp quyến rũ của Bà Chủ Núi Đồng. Dù sao chàng Stephan cũng chỉ là một chàng trai như bao nhiêu chàng trai khác mà thôi. Chàng suy tính hồi lâu, cuối cùng chàng nói : - Của hồi môn của nàng sánh với các bậc vua chúa, nhưng tôi chỉ là một người thợ tầm thường - Anh tế nhị lắm. Hãy nói thẳng ra là anh không muốn lấy tôi có phải không ? Stephan trả lời : - Tôi không thể lấy nàng làm vợ, vì tôi dã có hứa hôn với nàng Natasia. Chàng trả lời xong, chờ đợi một cơn thịnh nộ, nhưng chàng không ngờ nàng lại vui vẻ trả lời : - Chàng là một con người chung thủy, đã không vì sự giàu sang của ta mà phản bội cô bé mồ côi đáng thương. Đây là quà tặng của ta cho vợ chưa cưới của chàng. Bà Chủ Núi Đồng trao cho chàng một chiếc tráp bằng đá khổng tước rất lớn, trong tráp chứa đầy nữ trang quý giá, vòng vàng, nhẫn kim cương. Ngay cả một vị hôn thê giàu có cũng không thể có được một món quà cưới quý giá như vậy. - Bây giờ làm sao tôi có thể lên tới mặt đất ? - Đừng lo, ta sẽ đưa chàng ra khỏi đây. Nhưng trước khi ra khỏi đây, chàng hãy nghe rõ lời ta, chàng sẽ sống sung sướng với vợ chàng với một điều kiện, chàng hãy quên ta đ, quên tất cả những gì mà chàng đã nghe thấy, đã nhìn thấy ở đây. Đó là điều thử thách cuối cùng của chàng. Bây giờ xin mời chàng ăn lót dạ. Bà Chủ Núi Đồng vỗ tay, đàn thằn lằn bò ra bày thức ăn ngon lành ra bàn
__________________
Ласковый Май |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Xamova (08-08-2010) | ||
|
#3
|
||||
|
||||
|
Sau đó Bà Chủ Núi Đồng nói :
- Vĩnh biệt Stephan. Hãy quên ta đi. Nói rồi chính nàng lại khóc. Nàng giơ tay hứng những giọt nước mắt , nước mắt từng giọt từng giọt rơi xuống lòng bàn tay nàng, biến thành những đồng tiền vàng lấp lánh. Nàng đưa số tiền vàng đó cho chàng. Stephan cầm lấy, cúi chào nàng và hỏi : - Bây giờ tôi phải đi về hướng nào ? - Đừng lo, ta sẽ đưa chàng ra khỏi đây, nhưng hãy nhớ kỹ những lời ta dặn. Bà Chủ Núi Đồng giơ tay về phía trước, hiện ra một lối đi như đường hầm lò. Trong đường hầm sáng như ban ngày, Stephan theo đường đó lên tới mặt đất. Bọn thằn lằn quấn xích vào chân chàng như cũ. Cửa hầm khép lại sau lưng chàng, các chú thằn lằn biến mất. Chiếc tráp khổng tước và túi tiền vàng của Bà Chủ Núi Đồng tặng chàng biến thành nhỏ, chàng giấu chúng vào ngực áo Chẳng bao lâu, tên chủ mỏ tới, mỉa mai nhìn Stephan. Khi thấy trên đầu Stephan toàn bụi đá khổng tước hảo hạng, hắn sửng sốt : của quý này ở đâu ra nhỉ. Hắn sục sạo khắp tầng lò rồi nói : - Tầng lò này sụp hết rồi . Hắn chuyển Stephan sang hầm lò khác và cắt người cháu ở lại canh chừng chàng. Người cháu của hắn bản tính khác hẳn. Chàng ta đối xử với Stephan rất tốt, để mặc chàng muốn làm gì thì làm. Stephan lại lấy tay đào bới, dọn sạch đất đá, lớp đá khổng tước lại lộ ra. Tên giúp việc của chủ mỏ thấy thế vội về báo với chủ của hắn là Stephan đã bán linh hồn cho quỷ dữ Tên chủ mỏ nói : - Bán linh hồn cho quỷ hay không là việc của nó, còn chúng ta thì phải nhân việc này mà kiếm lợi về cho mình. Hãy bảo nó : ta sẽ thả nó ra nếu nó tìm được một tảng đá khổng tước nặng một trăm pút. Tên giúp việc của chủ mỏ sai tháo xiềng cho Stephan và ra lệnh cho chàng đi tìm đá khổng tước trên Núi Đồng. Hắn nói rõ đó là lệnh của ngài chủ mỏ. Hắn nói : - Ai biết được tại sao thằng ngốc đó lại ra một cái lệnh oái ăm như vậy. Biết đâu hắn nói lúc mất trí. Ở đây thì thậm chí đến quặng đồng cũng chẳng có, nói gì đến đá khổng tước Nhưng Stephan trả lời : - Tôi sẽ cố gắng đi tìm, bởi vì nếu tìm thấy đá khổng tước tức là tìm thấy hạnh phúc của tôi. Nhưng các ông đừng có quên lời đấy nhé Stephan đã tìm thấy một tảng đá như vậy. Anh mang nó tới cho chủ mỏ. Tên chủ mỏ rất tự hào về tảng đá đó, nhưng nuốt lời hứa, không chịu thả Stephan ra. Một tên quý tộc ở Pê-tec-bua nghe nói về tảng đá quý này, liền mò về. Hỏi thăm người dân địa phương, hắn biết Stephan là người đã tìm ra tảng đá đó. Hắn liền lân la tới gặp Stephan và dỗ dành chàng : - Này chú em – Hắn nói – Ta hứa danh dự với chú nếu chú tìm được cho ta một tảng đá có thể xẻ ra thành những phiến dài từ một thước trở lên, ta sẽ chuộc lại tự do cho chú Stephan trả lời : - Tôi đã bị người ta lừa một lần rồi. Tôi đã rút được kinh nghiệm. Bây giờ nếu ông muốn tôi tìm tảng đá đó cho ông, thì hãy viết trên giấy trắng mực đen lời cam kết trả lại tự do cho tôi khi tôi tìm thấy tảng đá khổng tước. Tôi sẽ đi tìm bằng được cho ông Tên quý tộc giận dữ giậm chân hét lên, nhưng Stephan vẫn thản nhiên nói tiếp : - Và đừng quên viết kèm lời cam kết phải tôn trọng tự do của vợ tôi. Nếu không thì chỉ là sự đổi chỗ giữa hai chúng tôi, tôi được tự do còn vợ tôi thì lại vào tù. Tên quý tộc hiểu rằng chàng trai không phải kẻ dễ bảo, hắn đành viết giấy cam đoan rồi đưa cho Stephan. - Đây, hãy nhìn xem ! – Hắn nói Stephan nói : - Tôi đi tìm đá quý cũng như đi tìm hạnh phúc của tôi. Tất nhiên Stephan đã tìm thấy tảng đá như tên quý tộc yêu cầu, vì chàng đã sục sạo khắp Núi Đồng và được sự giúp đỡ của Bà Chủ Núi Đồng. Người ta xẻ từ tảng đá đó những phiến đá dài, tên quý tộc dung những phiến đá đó để lát những bức tường trong lâu đài của hắn. Những phiến đá cẩm thạch đó vẫn còn trong thành phố của chúng ta đến tận bây giờ Từ ngày Stephan tìm thấy đá khổng tước, nhiều kẻ giàu có đổ xô tới Gumexco để tìm đá quý. Họ đào được nhiều đá màu lam, nhưng phần nhiều là đá giả. Chẳng thấy cung điện nguy nga đâu, mà chỉ thấy đất đá bị đào bới, những mạch nước ngầm tuôn trào mọi ngả. Bọn giàu có bị lỗ vốn to, cuối cùng phải bỏ cuộc. Nhiều kẻ bị nước lũ cuốn đi mất. Người ta còn nói rằng Bà Chủ Núi Đồng đã đốt cháy những tấm đá mà chúng đặt trong cung điện, chẳng để lại một chút gì. Chàng Stephan cũng không tìm thấy hạnh phúc trong cuộc sống. Chàng đã lấy vợ và sống một cuộc đời giàu sang. Lẽ ra chàng phải vui sướng mới đúng, Natasia là một cô gái hiền dịu, nàng rất yêu chồng. Nhưng thật là bất hạnh cho Stephan cũng như cho vợ chàng, vì chàng không thể làm theo lời dặn của Bà Chủ Núi Đồng là hãy quên đi tất cả những gì có liên quan đến Bà Chủ Núi Đồng, Chàng buồn bã, phiền muộn, gầy sút hẳn đi, người chỉ còn da bọc xương. Chàng mua một khẩu súng săn và thường xuyên vào vùng Núi Đồng để săn bắn, nhưng chẳng bao giờ chàng mang được con thú nào về. Một hôm không thấy chàng đi săn về nữa, mọi người đổ xô đi tìm . Cuối cùng họ tìm thấy xác chàng ở mỏ quặng. Chàng nằm trên tảng đá cao, miệng mỉm cười, khẩu súng săn rơi bên cạnh, đạn vẫn chưa ra khỏi nòng. Người đầu tiên tìm thấy chàng kể lại rằng, khi anh ta chạy tới nơi thì thấy một con thằn lằn rất to, chưa bao giờ có con thằn lằn nào to như thế ở trên đời đang ngóc cao đầu lên nhìn chàng và khóc. Thấy động, thằn lằn bỏ đi mất. Moi người mang xác Stephan về nhà. Khi tắm rửa cho chàng, họ thấy tay chàng còn nắm chặt một viên ngọc xanh. Một ông già trong làng sành về các loại ngọc nhìn viên ngọc nói : - Đây là một viên ngọc bích rất quý. Natasia cô đã trở thành người giàu có nhât Vợ Stephan nói nàng chưa bao giờ nhìn thấy viên ngọc đó. Ngày cưới, chàng có tặng cho nàng một chiếc hộp đá đựng đầy trang sức, nhưng không có viên ngọc nào đẹp như viên ngọc này. Người ta lấy viên ngọc ra khỏi tay Stephan, đưa cho Natasia cất đi, rồi an táng chàng ở trên núi. Stephan đã mang theo bí mật về viên ngọc xuống mồ, vì vậy dân làng đào bới lung tung nhưng chẳng thấy gì. Sau này một người nào đó đã biết được rằng đó chính là nước mắt của Bà Chủ Núi Đồng. Stephan đã không nói với ai về Bà Chủ Núi Đồng. Ôi, Bà Chủ Núi Đồng ! Ai chẳng may trông thấy bà ta thì sẽ gặp phải điềm xấu hơn điềm lành.
__________________
Ласковый Май |
|
#4
|
||||
|
||||
![]() 2. Chiếc tráp bằng đá khổng tước Người dịch : Đoàn Ngọc Trinh Chắc các bạn còn nhớ khi Stephan sắp lấy vợ, Bà Chủ Núi Đồng có tặng cho chàng một chiếc tráp bằng đá khổng tước đựng đầy đồ trang sức quý giá, ngay đến vị hôn thê giàu có nhất cũng không dám mơ ước Natasia lớn lên trong cảnh mồ côi nên cũng không quen dùng đồ sang trọng. Chỉ khi nào đi lễ nhà thờ hay đi thăm họ hàng thì nàng mới đeo. Vậy mà những người phụ nữ trong làng vẫn còn xì xào bàn tán : - Kìa, nhìn xem, Stephan đã kiếm được ở đâu một nàng công chúa ra công chúa. Nghe những lời bàn tán đó, Stephan rất bực mình. Chàng không muốn vợ mình đeo những đồ trang sức đó nữa, liền bảo : - Mình hãy đem cất chiếc tráp đó xuống đáy hòm Đến khi Stephan mất, người ta thấy tay chàng cầm viên ngọc bích. Khi đó Natasia đem hộp nữ trang cho mọi người xem. Một ông lão trong làng rất sành về đồ trang sức đã bảo chị : - Chiếc tráp này đáng giá tiền nghìn. Natasia đem cất chiếc tráp vào chỗ cũ. Nhiều người hỏi Natasia làm vợ, nhưng người thiếu phụ đó không nhận lời ai, nàng ở vậy nuôi con. Stephan để lại cho vợ con một gia tài kha khá, một ngôi nhà khang trang, một đàn đầy ngựa, bò dê, cừu. Nhưng Natasia một mình nuôi con thật khó khăn. Một năm, hai năm, .... ba năm trôi qua, ... gia cảnh cứ sa sút dần, đàn gia súc cứ bán dần bán mòn, nhà cũng chẳng còn gì. Họ hàng khuyên Natasia bán hộp nữ trang đi. Nghe tin đó, nhiều lái buôn tới hỏi mua. Người trả một trăm, người trả hai trăm... Natasia vẫn nhớ lời người chồng quá cố dặn không bán chiếc tráp đá nên nàng còn do dự không muốn bán. Đứa con gái nhỏ nói : - Mẹ đừng bán kỷ vật của cha. Để con đi ở cho người ta Stephan mất đi để lại ba đứa con, hai trai một gái. Cô gái út làm cho mọi người phải sửng sốt trước sắc đẹp lạ lùng của nó. Không chỉ những người đàn bà ngồi lê đôi mách, mà ngay cả những người đàn ông cũng bảo Stephan : - Hai cha con giống nhau như hai giọt nước, tóc đen, mắt xanh. Con chúng tôi chẳng ai được như thế. Stephan nói đùa : - Chẳng có gì là lạ cả. Tóc đen vì cha nó từ nhỏ dã lăn lộn với đất. Mắt xanh vì tôi dã tìm thấy tảng đá xanh cho lão chủ mỏ. Đó là bản sao của tôi mà Từ đó Stephan gọi Tania là “Đài kỷ niệm của cha” và mỗi khi mua sắm cho Tania, chàng đều mua những thứ có màu xanh da trời, màu xanh lá cây. Tania càng lớn càng xinh đẹp. Thỉnh thoảng ngắm nhìn con, Natasia phải thốt lên : - Con gái ta đẹp thật. Dường như không phải con ta mà là ai đã đánh tráo con gái cho ta. Tania rất đau đớn trước cái chết của cha, người gầy rộc đi chỉ thấy hai con mắt. Để con đỡ buồn Natasia tính cho con gái chiếc tráp đá khổng tước. Cô bé tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã thích làm dáng. Một điều kỳ diệu đã xảy ra khi cô bé chạm tay vào chiếc tráp : - Mẹ ơi, vật kỷ niệm của cha con quý giá biết bao ! Nó tỏa ra hơi ấm như con ngồi cạnh lò sưởi ấy mẹ ạ. Trong khi đó Natasia ngồi khâu quần áo hai tay tê cóng, hai tay đau buốt vì lạnh, má đỏ ửng. Nàng nghĩ như vậy thật không bình thường, vội cất chiếc tráp vào đáy hòm. Nhưng Tania lại đòi : - Mẹ ơi, lấy chiếc tráp đá cho con chơi đi Thương con, Natasia lại đưa chiếc tráp cho con chơi
__________________
Ласковый Май |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Xamova (09-08-2010) | ||
|
#5
|
||||
|
||||
|
Sau này, khi Tania lớn lên, nàng thường tự lấy chiếc tráp đó ra ngắm nghía. Mỗi khi mẹ và các anh đi vắng, Tania thường xin phép ông chủ cho về trông nhà. Đầu tiên nàng phải lo dọn dẹp nhà cửa rửa thêm chén đĩa, giũ sạch khăn trải bàn, cho gà ăn. Nàng mong nhanh nhanh làm xong việc nhà để còn lấy chiếc tráp đá ra xem. Nàng lấy đồ trang sức trong tráp đá ra ướm thử vào người.
Một lần, khi Tania đang mải ngắm đồ trang sức thì có kẻ trộm vào nhà. Không ai biết hắn vào nhà bằng lối nào. Đã có ai nói với hắn về chiếc tráp đó, vì thế hôm nay hắn lẻn vào nhà để lấy trộm nó. Tania đang lấy vòng vàng nhẫn bạc ra đeo thì tên trộm lẻn vào. Tay hắn cầm chiếc rìu. Tania quay lại, thấy hắn đứng cạnh ổ rơm em sợ hãi ngồi im. Bỗng tên ăn trộm buông chiếc rìu hai tay ôm mặt kêu lên : - Trời ơi, mù mắt tôi rồi Mắt hắn nhắm chặt, hai thái dương giật giật Tania khó chịu nhìn người lạ mặt, hỏi : - Ông đến nhà tôi làm gì mà cầm cả rìu thế này Người lạ mặt rên rỉ vì đau. Tania thấy vậy đâm thương hại, em cầm chiếc gầu định đi lấy nước, nhưng hắn chặn cửa không cho em đi. Em đành trèo qua cửa sổ chạy sang nhà hàng xóm. Mọi người kéo sang nhà em, căn vặn tên trộm. Hắn nói : - Tôi là người qua đường, muốn vào nhà hỏi thăm, nhưng vừa bước vào nhà thì bị cái gì đâm vào mắt, nóng như tia mặt trời, mắt tôi bị mù vì bỏng Tania không hé răng gì về chiếc tráp đá và chiếc rìu.Vì vậy mọi người không tin lời kẻ lạ mặt. Họ nghĩ : - Chuyện hoang đường. Có thể cô bé quên đóng cửa, hắn đã lẻn vào nhà rồi không biết chuyện gì đã xảy ra với hắn. Họ giữ tên lạ mặt lại cho tới khi bà Natasia về. Khi Natasia về tới nhà, hắn cũng nói với bà như vậy. Bà Natasia kiểm tra thấy không mất mát thứ gì liền thả hắn đi. Mọi người trong xóm ai về nhà nấy Chờ cho mọi người về hết, Tania kể hết mọi việc cho mẹ nghe. Bà Natasia biết chiếc tráp đá đó không phải là chiếc tráp thường. Để tránh những việc đáng tiếc có thể xảy ra, bà cất kỹ chiếc tráp đó vào nhà kho dưới hầm nhà. Khi cả nhà đi vắng, Tania lại định lấy chiếc tráp xanh ra ngắm nghía, nhưng nàng không thấy. Tania rất buồn, thắc mắc mãi không biết mẹ cất chiếc tráp ở đâu hay đã bán mất rồi. Nàng tìm khắp nhà. Bỗng nhiên thấy dưới hầm nhà có ánh sáng hắt lên, nàng sợ hãi tưởng cháy nhà. Tania chạy lại nhìn vào kho chứa đồ, không thấy lửa và khói, chỉ thấy ở góc hầm nhà sáng bừng lên. Nàng chui vào kho chứa đồ, sung sướng nhận ra ánh sáng đó phát ra từ chiếc tráp đá. Tania không mang chiếc tráp đá đó lên nhà nữa mà trốn dưới hầm nhà chơi Trong khi đó bà Natasia vẫn đinh ninh chiếc tráp đã được giấu kỹ không ai hay biết.
__________________
Ласковый Май |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Xamova (09-08-2010) | ||
|
#6
|
||||
|
||||
|
Năm tháng trôi qua, các con đã lớn cả, hai người con trai đã đi làm, đã kiếm ra tiền giúp mẹ. Còn Tania do tình cờ mà học nghề thêu cườm.
Đó là một hôm, có một người đàn bà ngăm ngăm đen, vai đeo bị, tay chống gậy, đi đến nhà Natasia và nói : - Thưa bà chủ, bà có thể cho tôi ở trọ nhà bà ít bữa không ? Tôi mệt quá rồi, không thể đi xa hơn được nữa. Natasia nhìn người đàn bà đó nghi ngờ, không biết có phải vì chiếc tráp đá mà bà ta muốn nghỉ lại nhà mình không. Nhưng Natasia vẫn bảo : - Tôi không tiếc bà chỗ nghỉ. Ăn hết nhiều chứ ở hết mấy. Nhưng nhà tôi nghèo, chẳng có giường chiếu gì cả, sáng ăn kê, uống nước kơ-vát, chiều lại nước kơ–vát với bánh kê. Quanh năm chỉ có vậy. Nếu bà không ngán thì bà có thể ở lại bao lâu cũng được Người đàn bà đi vào trong nhà, bà bỏ bị xuống rồi lấy đồ khâu ra thêu. Natasia không thích cử chỉ đó của bà ta. Natasia nghĩ : thật là con người bất lịch sự, không kịp chào hỏi ai đã giở đồ may ra Người đàn bà đó nói với Tania : - Cháu có muốn học thêu không Tania lại gần bà ta. Người đàn bà đưa cho Tania một chiếc khung thêu, ngôi nhà tự nhiên trở nên ấm áp hơn và sáng sủa hẳn ra. Tania thích thú nhìn không chớp mắt những đường thêu kì diệu, còn người đàn bà mỉm cười nói : - Thế nào, con có muốn học không ? Tania trả lời : - Cháu muốn học lắm ạ. Natasia không bằng lòng nói : - Chúng tôi không đủ tiền mua muối nói gì đến thêu thùa. Tôi không có tiền trả tiền công dạy cho bà đâu - Cứ yên trí, bà chủ ạ, tôi không lấy tiền công đâu. Nghề thêu không phải là nghề vô dụng, bà cứ để cho cháu nó học rồi bà sẽ thấy những người thợ thêu chúng tôi cũng kiếm được khá tiền - Vậy bà dạy cho cháu biết nghề, tôi xin cảm ơn bà Người đàn bà bắt đầu dạy Tania học thêu. Cô bé nhanh chóng nắm được bí quyết của nghề thêu cườm. Tania ngày càng quyến luyến người đàn bà đó. Cô đối với mẹ và những người khác trong gia đình rất hay gắt gỏng, nhưng đối với người đàn bà xa lạ này lại đặc biệt dịu dàng, điều đó đã xúc phạm đến tình cảm của người mẹ. Bà Natasia vô cùng buồn rầu, vì bà đã hy sinh cả cuộc đời hạnh phúc của tuổi thanh xuân cho con cái. Bà buồn rầu nghĩ : “Nó tìm được một người mẹ mới rồi đấy! Đối với người mẹ rứt ruột đẻ ra nó, đã cho nó cả cuộc dời thì hễ trái ý nó một chút là nó gắt, nói với mẹ độc trống không như sai phái người ở, mà đối với người xa lạ ấy lại thật dịu dàng quấn quýt. ” Dường như trêu tức Natasia người đàn bà đó còn một điều “con gái của mẹ”, hai điều “con gái của mẹ”, chứ không thèm gọi tên thánh của Tania Tania biết mẹ giận, nhưng cô bé lại khong biết che giấu tình cảm của mình. Bà Natasia vì buồn rầu mà gầy sút đi, nhưng chỉ biết nhẫn nhục cam chịu số phận không may của mình : - Người đời là vậy, biết làm sao bây giờ ! Tania còn nói lộ cho người đàn bà kia biết về chiếc tráp đá của cha. - Nhà con có một kỷ vật rất quý của cha con để lại – đó là chiếc tráp bằng đá khổng tước rất đẹp, con có thể suốt đời nhìn ngắm nó mà không chán mắt - Có thể cho mẹ xem được không ? - Để khi nào cả nhà đi vắng, con sẽ cho mẹ xem. Một hôm cả nhà đi vắng, Tania đưa người đàn bà xuống hầm nhà, lấy chiếc tráp đá ra cho bà ta xem. Người đàn bà đó xem qua rồi nói : - Đẹp lắm, con đeo vào cho mẹ xem rõ hơn Tania chỉ chờ có vậy, nàng lấy đồ trang sức đeo vào. Bà ta khen nức nở : - Đẹp tuyệt, chỉ cần sửa lại chút xíu nữa thôi! Người đàn bà chạm ngón tay vào chiếc tráp, lập tức chiếc tráp đó lóe lên những tia sáng kỳ lạ, bao phủ kín lấy Tania, làm cô bé lúc ẩn lúc hiện. Sau đó bà ta bảo Tania : - Con hãy đứng dậy đi ! Tania đứng dậy, còn người đàn bà đó im lặng vuốt ve mái tóc, bờ vai và khắp người Tania rồi nói : - Con hãy quay lại sau, nhìn thẳng về phía trước, im lặng đừng nói gì cả Tania quay lại. Trước mặt nàng hiện ra một tòa cung điện nguy nga, trần nhà, tường nhà sàn nhà đều lát đá khổng tước. Trước mặt Tania như có tấm gương, một cô thiếu nữ xinh đẹp đứng trước mặt nàng. Chỉ có trong truyện cổ tích mới có người con gái đẹp đến như vậy.Tóc nàng đen như đêm tối, mắt nàng xanh màu ngọc bích, khắp người nàng trang điểm bằng ngọc quý. Lẽ ra người con gái của một người thợ phải xấu hổ trước mọi người vì đã ăn mặc sang trọng như một công chúa mới phải, nhưng cô gái mắt xanh này vẫn bình thản như đương nhiên nàng phải ăn mặc như vậy. Trong cung điện đầy người, họ ăn mặc rất sang trọng, ngay đến người hầu của họ cũng đeo vàng bạc quanh mình. Ở đó dường như tập trung tất cả giới thượng lưu. Các bà cũng đeo găng trắng, cũng đeo đồ trang sức bằng đá quý, nhưng so với cô gái mắt xanh thì họ chỉ đáng xách dép cho nàng.
__________________
Ласковый Май |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Xamova (09-08-2010) | ||
|
#7
|
|||
|
|||
|
Chi Siren ơi, có một bạn vừa gửi mail cho em file văn bản truyện này, do hai bạn Lam Anh và A Thanh gõ đăng trên Việt Kiếm từ năm 2007.
Trích:
|
|
#8
|
||||
|
||||
|
Tốt quá rồi, Nina! Lâu rồi chị không có thời gian ngồi gõ. Có đầy đủ các phần đọc theo mạch vẫn thích hơn mà! Cảm ơn em!
__________________
Ласковый Май |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Nina (09-12-2010) | ||
|
#9
|
|||
|
|||
|
3. Bông hoa đá
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Trong các loại đá không phải chỉ có đá hoa cương là loại tốt. Ở vùng chúng tôi nhiều hơn cả là loại đá khổng tước. Đó là loại đá quý nhất. Những sản phẩm làm từ đá khổng tước thật tuyệt diệu. Ông già Prô-cô-pích là người thợ chạm khắc đá lành nghề nhất ở vùng chúng tôi. Đến chủ mỏ cũng phải căn dặn đốc công cho người đến nhờ ông Prô-cô-pích truyền nghề cho. - Hãy nhờ ông ấy dạy cho tất cả những bí quyết của nghề chạm khắc đá quý. Nhưng không biết vì giấu nghề hay vì một lý do nào đó mà công việc dạy nghề của ông rất tồi. Những chàng trai học nghề thường bị bươu đầu sứt trán. Prô-cô-pích bảo người đốc công: - Cậu này không tinh mắt khéo tay nên không học được nghề làm đá. Người đốc công xử nhũn với ông nói: - Thôi, để tôi tìm đứa học trò khác nhờ ông kèm cặp vậy. Bọn trẻ đều sợ hãi mỗi khi nghe thấy phải đến học nghề ở nhà ông Prô-cô-pích. Cha mẹ của chúng cũng không muốn cho con bị đày ải, khổ sở ở chỗ người thợ già khó tính. Họ nghe nói bụi đá khổng tước rất độc, vì vậy cố tìm cách từ chối không cho con đi học nghề chạm đá. Tuy vậy, người đốc công vẫn nhớ tới lệnh của ngài chủ mỏ - vẫn tiếp tục gửi học trò cho ông Prô-cô-pích. Nhưng ông lão lần lượt hành hạ những đứa trẻ rồi trả lại cho người đốc công: - Những cậu này cũng không đủ khả năng học nghề. Người đốc công bực mình: - Vậy đến bao giờ mới đủ khả năng ? Người này không được, người kia không được. Hãy cứ dạy cho nó đi! Ông Prô-cô-pích trả lời: - Tôi sẵn sàng bỏ mười năm để dạy nghề cho anh ta, nhưng ông chẳng hy vọng anh ta trở thành một tay thợ lành nghề đâu. - Vậy thì ông cần một người như thế nào? - Tôi chẳng cần gì cả, mà ông cũng chẳng nên buồn vì chuyện đó. Cứ như vậy, người đốc công và Prô-cô-pích đã thử dạy cho nhiều chàng trai, nhưng chỉ dẫn đến kết quả là các chàng trai bươu đầu sứt trán mà thôi. Những người đó đã cố tình làm hỏng để ông Prô-cô-pích đuổi họ đi. Cho tới khi cậu bé mồ côi Đa-ni-lô tới thì việc tìm học trò của ông Prô-cô-pích mới kết thúc. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#10
|
||||
|
||||
|
Chiếc tráp bằng đá khổng tước - Малахитовая шкатулка (Павел Бажов, 1879 - 1950)
Đá khổng tước hay đá lông công - malachit (khổng tước là con công, mật khổng tước là độc dược số 1) vân tuyệt đẹp, giống đuôi con công thật sự: http://tamhiep.vn/content/timkiem_baiviet.php?langid=0 ![]()
__________________
"Дело ведь совсем не в месте. Дело в том, что все мы - вместе!" Thay đổi nội dung bởi: USY, 09-12-2010 thời gian gửi bài 23:47 |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn USY cho bài viết trên: | ||
|
#11
|
|||
|
|||
|
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Đa-ni-lô là một cậu bé mồ côi mười hai tuổi, chân tay khẳng khiu, tóc xoăn, mắt màu xanh lơ, khuôn mặt trông sáng sủa thông minh. Một người đàn bà Ca-dắc đã dẫn cậu bé tới quán rượu xin làm chân hầu bàn. Người ta sai cậu bưng hộp thuốc lá ra cho khách, đưa khăn cho khách. Công việc chỉ có vậy nhưng cậu bé này không có khả năng trong công việc chạy bàn. Các cậu thanh niên khác còn nhanh nhẹn lượn từ chỗ này sang chỗ khác. Còn Đa-ni-lô thì lánh vào một góc, mơ màng ngắm một bức tranh nào đó, khi thì ngắm nhìn một đồ trang sức, khi thì đứng ngẩn ngơ, người ta gọi Đa-ni-lô nhưng cậu còn mải nghĩ đẩu đâu nên chẳng nghe thấy gì, rồi người ta kéo cậu vào, mắng cho một trận. - Cái đồ ngớ ngẩn. Làm gì mà mong nó trở thành người hầu bàn giỏi cho được Người ta cho cậu bé vào làm việc trong nhà máy, chưa được một tuần thì lại đuổi ra. Người đốc công lại sắp xếp cho Đa-ni-lô đi chăn gia súc. Ở đây cậu cũng chẳng khá hơn. Mặc dù cậu thiếu niên tỏ ra rất cố gắng, nhưng công việc cũng chẳng trót lọt. Lúc nào cậu cũng mải nghĩ vẩn vơ, mắt nhìn đồng cỏ mà bò chạy đâu chẳng biết. Người mục đồng già ôn tồn khuyên bảo vì thương cậu bé mồ côi, nhưng sau đó nói mãi mà cậu không thay đổi tính nết, cụ bực mình, mắng: - Cháu là thứ người gì vậy hả Đa-ni-lô. Cháu tự làm mình hư đi thôi. Cháu lại dồn gánh nặng lên vai người già cả hay sao.Cháu cứ nghĩ đi đâu chẳng thèm để tâm đến công việc của mình cả. - Cháu cũng chẳng biết sao nữa. Cháu nhìn con sâu bò trên chiếc lá. Đúng là con chuồn chuồn mà ở dưới cái cánh lại ló ra cái gì vàng vàng chiếc lá thì như rộng ra. Đường răng cưa xung quanh chiếc lá cũng như rộng ra, cong lên. Trời tối hơn, chiếc lá lúc nãy còn xanh bây giờ lại biến thành đỏ, con sâu lại bò đi đâu mất. - Nào thật là đồ ngốc, Đa-ni-lô ạ. Việc của cháu có phải đi ngắm nghía con sâu đâu. Việc của cháu là đi chăn bò. Hãy vất bỏ những cái trò ngớ ngẩn ấy đi, không ông sẽ mách ngài đốc công. Một lần, khi ông lão đi đâu đó, Đa-ni-lô lấy sáo ra thổi. Tiếng sáo nghe thật du dương. Buổi chiều, tới lúc dồn bò vào chuồng, các cô gái bảo Đa-ni-lô: - Hãy thổi một bài nào đi, Đa-ni-lô. Chú bé bắt đầu thổi những bài hát lạ, nghe như tiếng suối reo, chim hót. Các cô gái say sưa lắng nghe Đa-ni-lô thổi sáo. Mọi người quây quần xung quanh Đa-ni-lô, người khâu quần, người chữa lại chiếc áo cũ. Ông lão chăn bò cũng bị lôi cuốn bởi tiếng sáo của Đa-ni-lô. Vì tiếng sáo, mọi người quên luôn cả đàn bò. Cũng vì vậy mà bất hạnh đã ập xuống đầu Đa-ni-lô. Cậu bé mải mê thổi sáo, còn ông lão chăn bò thiu thiu ngủ. Bò của họ chạy tứ tán khắp ngả. Khi họ dồn bò về chuồng thì phát hiện mất khá nhiều. Họ đổ đi tìm chúng, lặn lội tới tận E-nhi-nôi xa tít tắp. Họ lần theo vết sói, chỉ còn sót lại một con bò. Mọi người trong nhà máy nghe tin mất bò cũng tỏa đi khắp rừng tìm nhưng chẳng thấy con nào. |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (23-12-2010), Siren (19-12-2010) | ||
|
#12
|
|||
|
|||
|
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Đám mục đồng biết rõ sự trừng phạt như thế nào đang chờ đợi họ. Để quên nỗi lo sợ, họ đem rượu ra uống. Trong chuồng bò của viên đốc công chỉ còn có một con. Họ chẳng mong gì được hắn tha tội.
Quả nhiên viên đốc công nổi giận. Đầu tiên hắn lôi ông lão chăn bò ra đánh một trận, sau đó tới lượt Đa-ni-lô. Chú bé gầy khẳng khiu trông thật đáng thương, ấy thế mà tên đao phủ còn đơm đặt them cho chú: - Lần này phải đánh cho bật những ý nghĩ vớ vẩn ra khỏi đầu mày! Hắn thẳng tay quất Đa-ni-lô một trận thừa sống thiếu chết. Nhưng Đa-ni-lô vẫn im lặng. Hắn đánh trận đòn thứ hai, chú vẫn im lặng. Đánh trận thứ ba cũng vậy. Chú bé gan góc chịu đòn. Tên đốc công vừa thẳng tay hành hạ chú bé vừa thét lên: - Im lặng này ! Tao đánh cho mày bật ra lời van xin thì mới thôi! Đa-ni-lô đau đớn quằn quại dưới trận đòn độc ác. Nhiều lúc ngất đi, nhưng chú vẫn không thốt ra một tiếng kêu nào. Viên chủ mỏ có mặt ở đấy phải ngạc nhiên nói: - Thật là sự chịu đựng phi thường. Nếu nó sống sót thì sau đợt này nên tìm cho nó một công việc gì đó thích hợp hơn. Đa-ni-lô nằm bất tỉnh. Bà Vi-khơ-ri-kha đưa chú về nhà. Bà là thầy lang giỏi nhất của vùng chúng tôi. Bà biết rất rõ các cây thuốc trong rừng: loại nào chữa đau răng, loại nào chữa đau bụng, loại nào chữa nhức xương… Bà biết rõ thời vụ của từng loại cỏ chữa bệnh và trữ chúng ở trong nhà. Thật may mắn cho Đa-ni-lô đã được bà Vi-khơ-ri-kha chữa bệnh. Đa-ni-lô sống rất dễ chịu ở nhà bà. Bà lão dịu dàng chăm sóc chú bé đáng thương. Khắp nhà bà đầy những cỏ, rễ cây và hoa phơi khô treo khắp mọi nơi. Đa-ni-lô tò mò nhìn những loại hoa cỏ đó: - Cỏ này là cỏ gì hả bà? Nó mọc ở đâu? Còn hoa này là hoa gì? Bà lão kể cho chú nghe về đời sống và công dụng của các loại cây thuốc đó. Một lần Đa-ni-lô hỏi bà: - Bà ơi, bà có biết hết tất cả các loại hoa ở trong rừng không? - Bà biết đủ hết cháu ạ. Bà lão trả lời: - Dường như bà đã biết hết các loại hoa rồi, chẳng còn tìm thêm được hoa gì mới nữa. - Chẳng lẽ không thể tìm ra loại hoa gì mới nữa à? - Có lẽ vẫn còn một số loại hoa mà bà chưa có. Cháu có nghe nói về một loại cây dương xỉ không? Hoa của nó nở vào ngày lễ thánh Ivan. Còn loại hoa tầm ma nữa. Chúng mọc ở nghĩa địa. Loại hoa đó để dành cho những người xấu. Cỏ nổ nở ra những bong hoa lửa cháy. Đó là những bông hoa ăn trộm. Nếu cháu nhìn thấy chúng – vậy là cháu đã phát hiện được tất cả các loại hoa. Còn loại hoa cá nữa. Những bông hoa này mọc ở trên núi đá khổng tước. Vào ngày lễ Rắn, chúng nở rộ. Thật là bất hạnh cho người nào nhìn thấy chúng. - Tại sao lại bất hạnh hả bà? - Tại sao thì bà không biết, cháu ạ. Bà chỉ nghe kể lại như thế. Lẽ ra Đa-ni-lô còn có thể ở nhà bà Vi-khơ-ri-kha thêm ít lâu nữa nếu như tên hầu cận của viên đốc công không nhìn thấy chú bé đã nhúc nhích đi lại được. Hắn đến mách cho tên đốc công biết điều đó. Viên đốc công cho gọi Đa-ni-lô tới và bảo chú: - Bây giờ mày hãy tới chỗ lão Prô-cô-pích mà học lấy nghề làm đá, đó chính là việc của mày. Đa-ni-lô lảo đảo đi tới nhà ông thợ đá Ông Prô-cô-pích nhìn thấy cậu bé liền nói: - Chưa đủ sức đâu. Sau trận đòn thập tử nhất sinh đó, chú không đủ sức khỏe để học nghề thợ đá đâu. Ông Prô-cô-pích bước tới gần tên đốc công nói: - Tôi không thể dạy cho một người ốm yếu như thế này. Sao ông không đánh nó thêm đi. – Ông thợ đá nói câu đó bằng giọng mỉa mai rồi bỏ đi Viên đốc công chặn ông lão lại, bảo: - Ông đi đâu? Nghe tôi nói đã nào. Không có bàn tán lôi thôi gì cả. Ông phải dạy nghề cho thằng bé này. Nó có sức chịu đựng phi thường. Đừng có nhìn vẻ bề ngoài ốm yếu của nó. - Các ông tử tế như thế đấy! Thôi được, tôi sẽ dạy nghề cho nó, nhưng không phải để các ông lại lôi nó đi. - Sẽ chẳng có ai lôi nó đi. Thằng bé này là kẻ mồ côi, không người thân thuộc, muốn làm gì nó thì làm. Ông Prô-cô-pích đưa Đa-ni-lô về nhà. Đa-ni-lô đứng cạnh chiếc máy, chăm chú nhìn tấm đá khổng tước. Ông Prô-cô-pích đang định đẽo bỏ những rìa đá. Ông nhìn Đa-ni-lô tò mò, không biết thằng bé mới tới này nhìn thấy cái gì mà chăm chú như thế. Ông liền hỏi - Này, cháu nhìn cái gì đấy? Ai đã trao việc cho cháu mà cháu mon men tới đó.? Đa-ni-lô trả lời: - Theo con mắt của cháu thì phải từ phía này cắt bỏ những mép đá. Ông hãy nhìn xem. Ở đây khắc những đường hoa văn sẽ đẹp hơn Tất nhiên ông Prô-cô-pích cáu kỉnh hét lên: - Này, nhóc, mày nghĩ mày là ai vậy? Là thợ cả hả. Tay nghề không có mà dám bàn với luận. Mày thì biết được cái gì. - Cháu biết người ta định làm chiếc tráp. - Ai làm? Mày làm chắc? Đồ hỉ mũi chưa sạch. Coi chừng tao kể lại cho viên đốc công nghe những việc vớ vẩn đó thì không hy vọng gì sống sót đâu. Ông lão thét lác ồn ã như vậy, nhưng không hề chạm một ngón tay tới Đa-ni-lô, chỉ cần nhìn qua thì ông cũng phát hiện ra chú bé nói có lý. Chốc lát, ông lão nguôi cơn giận, nhẹ nhàng bảo chú bé: - Thế đấy! Cháu đúng là sinh ra để làm thợ khắc đá. Nào, hãy thử nói xem, theo ý cháu thì phải làm như thế nào? Đa-ni-lô thành thạo nói: - Nét chạm này nên như thế này… Mài nhẵn mép đá, đặt một dây ở trên. Ông Prô-cô-pích khen ngợi: - Cháu biết khá nhiều về nghề đá đấy. Sẽ chẳng phí công vô ích đâu. – Ông lão nhủ thầm: “ Thằng bé nói đúng đấy. Chắc chắn nó sẽ trở thành một thợ đá lành nghề. Chỉ có điều bây giờ biết dạy nó như thế nào đây? Trải qua trận đòn vừa qua lẽ ra nó đã chết thẳng cẳng rồi ” Ông lão nghĩ như vậy và hỏi Đa-ni-lô: - Cháu là con cái nhà ai hở nhà thông thái? Đa-ni-lô kể cho ông lão nghe về số phận hẩm hiu của mình. Chú là một đứa trẻ mồ côi. Chú chỉ còn nhớ được lờ mờ một vài nét về mẹ, còn cha chú là ai thì chú hoàn toàn không biết. Bởi vậy người ta thường gọi chú là Đa-ni-lô mồ côi. Chú hoàn toàn không biết đến tình cha con. Chú kể tới những ngày chú lưu lạc tới nhà máy, làm việc ở nhà ăn, rồi bị người ta đuổi, rồi sau đó đi chăn bò thì lại bị đòn. |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (23-12-2010), Siren (23-12-2010) | ||
|
#13
|
|||
|
|||
|
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Ông lão Prô-cô-pích thương xót nói:
- Thôi đừng buồn nữa. May cho cháu đã gặp ta, ta sẽ truyền nghề cho cháu. Ở vùng ta, nghề thủ công làm đá được trọng dụng lắm. Sau đó ông lão lại bực tức cằn nhằn: - Đủ rồi, đủ rồi! Nói bằng miệng chứ không phải bằng tay. Thế là chiều nay ta chẳng làm được gì. Học trò cũng vậy. Để sáng mai xem cháu học hành thế nào. Còn bây giờ hãy ngồi xuống ăn đi rồi đi ngủ. Ông lão sống một mình. Vợ ông đã mất từ lâu. Hàng ngày có bà Mi-rô-pha-nốp-na sang dọn dẹp, nấu nướng giúp ông. Nhiều khi ông lại tự làm lấy những công việc nội trợ. Ăn xong ông lão bảo Đa-ni-lô: - Cháu nằm xuống chiếc ghế này ngủ đi Đa-ni-lô đặt mình xuống, mặc dù trời đã sang thu, căn nhà khá lạnh, nhưng chú ngủ liền. Còn ông lão Prô-cô-pích thì vẫn không ngủ được. Ông vẫn nghĩ mãi câu chuyện về những đường hoa văn lúc chiều. Trằn trọc mãi không ngủ được, ông trở dậy cầm búa, thắp nến lên, ngồi đẽo theo sự góp ý của Đa-ni-lô. Quả thật dần dần đã xuất hiện những đường hoa văn tuyệt xảo. - Ôi, chú mày như vậy mà không có người dạy dỗ. Kỳ lạ thật. Không ở trong nghề mà lại có thể chỉ bảo cho người thợ già. Đúng là chú có con mắt tinh tường, biết nhìn ra vẻ đẹp ẩn giấu trong đá. Ông lão rón rén đi vào trong buồng, lôi ra chiếc áo long cừu đắp cho Đa-ni-lô: - Hãy ngủ ngon, con nhé! Ông lão không ngủ, ngồi trên chiếc thùng gỗ trầm ngâm. Ông không có con, Đa-ni-lô đã sưởi ấm trái tim ông. Ông lặng lẽ nhìn chú bé ngủ. Đa-ni-lô ngủ say sưa không hay biết gì. Ông lão lo lắng tìm cách chăm sóc chú bé để chú nhanh chóng bình phục. Ông lão nghĩ thầm: Với sức khỏe của nó như vậy, làm sao có thể học nghề thủ công nặng nhọc này. Hãy để nó nghỉ ngơi lấy lại sức đã. Sau đó hãy dạy nghề cho nó. Sáng hôm sau, ông lão bảo Đa-ni-lô: - Bây giờ cháu hãy giúp ông làm mấy việc vặt đã. Ông có trồng mấy luống hoa kim ngân, cháu hãy chăm sóc nó. Cháu hiểu không. Đừng có đi chơi xa quá. Cháu hãy mang bánh mì, bánh nướng tới chỗ bà Mi-rô-pha-nốp-na, nói với bà cho bình sữa rồi mang tất cả những thứ đó vào rừng cho ông. Hôm khác ông lão lại bảo Đa-ni-lô: - Hãy đi câu cá về đi ông, để ăn bữa chiều Đến khi Đa-ni-lô mang cá về thì ông lão bảo không đủ, cần phải câu thêm nữa. Cứ như vậy hàng ngày ông lão toàn giao cho Đa-ni-lô làm những công việc dễ dàng, vừa chưa vừa làm cũng xong như xúc tuyết, mang củi, ngồi đằng trước xe ngựa hoặc thủng thẳng đi bộ phía sau rồi về ăn no ngủ kĩ. Ông lão còn mua mũ ấm, áo khoác, quần dài… cho chú bé. Ông chăm sóc Đa-ni-lô như con trai của mình. Sống sung sướng ở nhà ông Prô-cô-pích, Đa-ni-lô bắt đầu bình phục và quấn quýt ông lão. Lần đầu tiên trong đời có người quan tâm thương yêu, chăm sóc đến em như vậy. Mùa đông đã tới, Đa-ni-lô càng được tự do. Em chạy chơi khắp rừng, hồ ao sông suối nhưng vẫn luôn để ý quan sát nghề chạm đá. Đa-ni-lô thường hỏi ông Prô-cô-pích về đủ mọi chuyện. Ông lão giải thích cặn kẽ và bày cho Đa-ni-lô tập làm theo mình. Cũng có lúc Đa-ni-lô tự làm, ông lão đứng cạnh xem, khi cần thì hướng dẫn cho chú làm đẹp hơn Có một lần, viên đốc công thấy Đa-ni-lô đứng chơi cạnh bờ ao. Hắn hỏi người hầu của mình: - Nó là con cái nhà ai đấy? Ngày nào cũng thấy nó ra bờ ao chơi, chẳng còn bé bỏng gì nữa mà rong chơi suốt ngày. Bố mẹ nó có vẻ chiều con quá. Khi được người hầu cho biết đó chính là thằng bé chăn bò đã bị đánh thừa sống thiếu chết dạo trước thì viên đốc công không tin: - Hãy gọi nó tới đây để ta tự hỏi cho biết nó là con cái nhà ai! Người ta dẫn Đa-ni-lô lại. Viên đốc công hỏi: - Mày là con cái nhà ai? Đa-ni-lô trả lời: - Cháu là học trò của ông lão thợ đá Viên đốc công liền beo tai chú: - Mày học hành như vậy đấy phải không? Rồi hắn xách tai Đa-ni-lô tới gặp ông lão Prô-cô-pích. Ông lão nhìn thấy lão đốc công lôi Đa-ni-lô tới thì hiểu ngay đã có chuyện không hay xảy ra với cậu bé. Ông lão nói: - Tôi khó ở, thèm ăn cá nên sai cháu nó đi câu ít cá về nấu cháo ăn. Nhưng viên đốc công không tin. Hắn thấy Đa-ni-lô đã thay đổi hoàn toàn: béo ra, ăn mặc đàng hoàng, áo sơ mi có mũ ấm lại đi giày nữa. Hắn kiểm tra Đa-ni-lô: - Nào, hãy cho ta xe mày đã học được những gì rồi. Đa-ni-lô khoác chiếc tạp dề vào, lại bên máy, bắt tay vào làm, sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi của viên đốc công: Làm thế nào để bào nhẵn đá, cựa đá như thế nào, tiện đá ra sao, ghép đá bằng cách nào, tạo hình như thế nào làm sao để khảm đồng trên đá…. Tóm lại Đa-ni-lô đã trả lời đúng hết tất cả các câu hỏi của viên đốc công Viên đốc công quay lại hỏi ông lão: - Thế nào? Chàng thợ trẻ này có lẽ đã làm gì vừa lòng ông. - Tôi không ân hận vì đã truyền cho nó. - Ân với chả hận. Tôi cho nó tới ông để học nghề mà ông thả nó cho đi chơi suốt ngày ở bờ ao. Hãy coi chừng đấy, ông mà còn để nó lêu lổng như vậy thì không yên với tôi đâu. Lão đốc công dọa nạt hai thầy trò một hồi rồi bỏ đi. Ông Prô-cô-pích ngạc nhiên hỏi: - Sao ban nãy cháu trả lời thành thạo thế? Cháu biết những điều đó từ bao giờ. Ông đã dạy được gì cho cháu đâu? - Ông có dạy mà. Mỗi khi ông nói chuyện và giảng giải, cháu đều để ý quan sát và ghi nhớ ạ. Ông lão mừng rơi nước mắt: - Ôi con trai yêu quý của ta. Đa-ni-lô, ta còn biết dạy con cái gì nữa. Con đã tự phát hiện ra tất cả rồi. Từ đó Đa-ni-lô không còn được chạy chơi tự do nữa. Ngay hôm sau, viên đốc công đã giao một lô việc cho Đa-ni-lô tập làm. Đầu tiên là những đồ trang sức cho phụ nữ như vòng đá đeo tay, nhẫn, sau đó là những vật đòi hỏi trình độ phức tạp hơn như giá cắm nến với những đường hoa văn khác nhau, rồi cả những bong hoa, những chiếc tráp bằng đá khổng tước nữa. Đích thân viên đốc công ngồi giám sát. Dần dần Đa-ni-lô trở nên lành nghề. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#14
|
|||
|
|||
|
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Cho tới khi Đa-ni-lô tiện được chiếc vòng tay từ nguyên khối đá cứng thì viên đốc công phải công nhận Đa-ni-lô là thợ đá lành nghề. Hắn viết thư cho ông chủ nhỏ: "Ở chỗ chúng tôi mới có một thợ đá trẻ, đó là Đa-ni-lô mồ côi. Anh ta làm việc rất tốt, chỉ có điều còn quá trẻ nên chưa có tiếng tăm. Chúng tôi định thử giao cho anh ta những công việc giống như của Prô-cô-pích . Nếu anh ta đảm đương được, ta sẽ buộc lão Prô-cô-pích nghỉ việc. Lão ta già quá rồi". Có một lần, viên đốc công giao cho Đa-ni-lô một việc bắt phải làm xong trong năm ngày. Tuy biết Đa-ni-lô rất thành thạo công việc, nhưng ông lão Prô-cô-pích vẫn đến bên viên đốc công, nói: - Không ai có thể làm xong việc dó trong năm ngày được. Ít nhất phải mất nửa tháng mới có thể làm xong. Dù sao nó cũng chỉ là đứa trẻ đang học việc. Vội vàng chỉ tổ làm hỏng đá mà thôi. Viên đốc công tranh cãi một hồi với ông Prô-cô-pích rồi cũng phải đồng ý gia hạn. Đa-ni-lô làm việc không ngơi tay. Ông lão muốn cho Đa-ni-lô chóng hoàn thành công việc đã giúp chàng tiện đá, nhưng Đa-ni-lô không chịu. Chàng nói: - Ôi, ông làm gì thế kia. Hãy trông râu ông dính đầy bụi đá, biến thành màu xanh rồi kìa. Hại cho sức khỏe của ông lắm. Ông cứ để mặc cháu. Làm hộ cháu làm gì. Đa-ni-lô đã trở thành một chàng trai cao lớn, tóc xoắn, khéo tay và vui tính. Chàng đã làm cho khối cô gái phải để mắt đến chàng. Ông lão đã nhiều lần nói chuyện kén vợ cho chàng, nhưng lần nào chàng cũng gạt đi. - Họ chẳng chạy đi đâu mất mà phải vội. Chờ bao giờ cháu trở thành thợ cả hẵng. Lão chủ mỏ ra lệnh cho viên đốc công: - Hãy sai tên học trò của lão Prô-cô-pích làm cho ta một chiếc chén có chân. Ta muốn đích thân xem xét trình độ của hắn. Ông hãy đích thân kiểm tra không cho lão Prô-cô-pích giúp đỡ hắn. Nếu ông không đích thân coi sóc việc này, có chuyện gì man trá thì ông hãy liệu hồn. Viên đốc công liền cho gọi Đa-ni-lô tới và nói: - Có việc cho anh rồi đây. Anh hãy làm cho ông chủ một chiếc chén có chân. Đá ta sẽ cung cấp cần bao nhiêu thì có bấy nhiêu. Ông lão Prô-cô-pích nghe tin đó buồn rầu nghĩ: "Bọn họ lại giở trò gì đây". Ông lão lại gần viên đốc công định nói chuyện với hắn. Nhưng hắn chỉ nói: "Không phải việc của ông". Đa-ni-lô đi tới bàn máy, ông lão dặn với theo: - Cháu đừng có vội vàng mà hỏng việc. Hãy cẩn thận kẻo rước vạ vào thân. Đầu tiên Đa-ni-lô cắt đá. Chàng thử và ước tính nhiều lần. Trong thời gian chàng làm việc, viên đốc công ngồi giám sát chàng từ sáng tới tối. Vì buồn chán, chàng phung phí sức lực, cố gắng hết sức làm xong chiếc chén. Cuối cùng, chàng đã làm xong chiếc chén. Viên đốc công xem xét kỹ lưỡng, hài lòng nói: - Hãy làm thêm cho ta một chiếc nữa giống như vậy. Đa-ni-lô làm thêm một chiếc, rồi lại thêm một chiếc nữa. Khi chàng làm xong chiếc thứ ba, viên đốc công mới nói: - Bây giờ thì mày không trốn đi đâu được nữa. Tao sẽ bắt mày rời khỏi nhà lão Prô-cô-pích. Trong thư viết cho tao, ông chủ đã ấn định thời gian mày phải làm xong một chiếc, nhưng thực tế thì mày đã làm xong ba chiếc. Tao biết khả năng của mày. Mày đừng hòng lừa dối được tao. Tao sẽ cho lão già biết tay vì đã buông lỏng mày. Ông chủ sẽ thải lão, thuê người khác. Viên đốc công viết thư và gửi ba chiếc chén cho lão chủ mỏ. Nhưng không biết vì lý do gì mà lão không trả lời. Cuối cùng người ta cũng thả cho Đa-ni-lô về nhà, chứ không bắt hai ông cháu xa nhau nữa - bởi vì họ nghĩ có thể hai người thông minh hơn một người, hai người sẽ sớm phát minh ra cái gì mới hơn chăng. Bỗng viên đốc công nhận được bức vẽ và thư của lão chủ mỏ. Bức vẽ vẽ một chiếc chén có chân với những đường hoa văn cầu kỳ, đế chén hình chiếc lá. Trong thư, viên chủ mỏ viết: "Hãy làm theo đúng mẫu này, thời hạn trong năm năm phải xong" Viên đốc công lại cho gọi Đa-ni-lô đến, đưa cho anh hình vẽ và nói lại lời lão chủ: cho thả Đa-ni-lô về với ông Prô-cô-pích Hai ông cháu vui sướng, hăng hái bắt tay vào việc. Những họa tiết của chiếc chén này rất phức tạp, nhưng Đa-ni-lô mắt tinh, tay khéo thừa sức hoàn thành chiếc chén. Tuy vậy chàng không thấy thỏai mái vì làm mất nhiều công sức mà lại chẳng đẹp. Chàng nói với ông Prô-cô-pích điều đó, nhưng ông lão chỉ ngạc nhiên nói: - Cháu băn khoăn về việc đó làm gì. Ông đã làm ra biết bao nhiêu chiếc chén như thế, vậy mà bây giờ chúng đi đâu, ông cũng chẳng biết. Đa-ni-lô thử nói điều băn khoăn của chàng với viên đốc công, y đùng đùng nổi giận, vung tay giậm chân nói: - Mày có điên không đấy. Ông chủ đã phải tốn bao nhiêu tiền bạc mới thuê được người họa sĩ giỏi nhất kinh đô vẽ kiểu chiếc chén này đấy, thế mà một thằng nhóc học việc lại đòi sửa bản vẽ. Nhưng dường như sực nhớ tới mệnh lệnh của lão chủ: cứ để mặc hai thầy trò làm việc với nhau, biết đâu họ lại chẳng nghĩ ra điều gì hay ho, hắn bèn bảo Đa-ni-lô: - Thôi, mày hãy theo bản vẽ này mà làm cho ông chủ một chiếc chén, sau đó thì mày tha hồ mà lấy đá ở đây tạc những chiếc chén theo ý mày. Chúng tao chẳng thiếu gì đá, có khá đủ để cho mày dùng đấy, muốn lấy bao nhiêu thì tùy thích. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#15
|
|||
|
|||
|
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Từ đấy, Đa-ni-lô suốt ngày vùi đầu vào công việc tới quên ăn quên ngủ. Những người khôn ngoan trong xóm thấy vậy đâm khó chịu, buông lời gièm pha chàng, nhưng dồn hết tâm trí vào công việc mà mình yêu thích nên chàng đâu có để ý tới những lời của họ. Đêm đêm, vì trăn trở với các kiểu chén đĩa đủ loại nhảy nhót trong đầu nên Đa-ni-lô thao thức suốt đêm. không sao ngủ được. Đa-ni-lô ngồi trước bản vẽ nhưng tâm hồn chàng lại gửi vào chiếc chén của chàng. Vì quá hao tổn tâm trí nên chàng trở nên ủ rũ như tàu lá héo, thấy vậy ông lão Prô-cô-pích khuyên chàng: - Cháu có ốm không đấy. Thôi dẹp quách cái chén đi.Tốt hơn hết, cháu hãy chạy đi đâu đó cho đầu óc thanh thản một chút, chứ ngồi ở nhà suốt ngày sẽ sinh mụ người ra đấy. - Vâng - Đa-ni-lô thở dài - có lẽ đành phải tạm gác công việc đang làm dở lại vậy, cháu vào trong rừng một lát may ra lại có thể tìm thấy cái mình tìm. Ngày nào Đa-ni-lô cũng dạo chơi trong rừng. Đang mùa hái quả, quả cây rừng chin đỏ mọng treo lủng lỉu trên cành. Đa-ni-lô tha thẩn khắp rừng chàng sục sạo từng bụi cây ngọn cỏ như tìm kiếm vật gì. Dân làng vào rừng hái quả thấy lạ bèn hỏi chàng: Chàng mỉm cười trả lời bâng quơ - Nào có mất gì đâu, nhưng chưa tìm thấy cái mình cần. Dân làng xì xào: "Không biết cái thằng này có đâm dở người không nhỉ" Chàng tha về nhà đủ loại hoa quả, lá cây, trong đó nhiều nhất là hoa anh đào dại, hoa cà độc dược. Cứ về tới nhà là chàng lại sà ngay vào đống đá đẽo đẽo gọt gọt cho tới sáng. Rạng sáng chàng lại trở vào rừng. Vì thiếu ngủ nên chàng trở nên thiếu sáng suốt, hoa mắt run tay. Ông Prô-cô-pích rất lo lắng cho sức khỏe của chàng, nhưng Đa-ni-lô lại chẳng lo gì cho bản thân mình mà còn nói: - Chừng nào cháu chưa tạc xon chiếc chén vừa ý, cháu vẫn chưa thể ăn ngon ngủ yên được. Cháu phải làm kỳ được chiếc chén thật đẹp để mọi người thưởng thức vẻ đẹp của đá Ông Prô-cô-pích băn khoăn: - Nhưng cháu phải khổ sở đến như vậy chỉ vì một chiếc chén của lão chủ để làm gì? Chiếc chén đẹp hay xấu thì có ích gì cho ông cháu ta đâu? Sao cháu không làm ngay chiếc chén theo yêu cầu của ông chủ? Việc của họ là nghĩ ra các kiểu chén và đường hoa văn trang trí, còn chúng ta thì chỉ việc làm theo đơn đặt hàng của họ. Nhưng Đa-ni-lô vẫn khăng khăng: - Không phải cháu cố gắng để phục vụ cho lão chủ đâu. Chỉ vì cháu không làm sao vất bỏ được những ý nghĩ về chiếc chén này, suốt ngày hình ảnh của đá cứ lởn vởn trong đầu cháu. Ông nhìn xem: Đá của quê ta đẹp biết bao, vậy mà chúng ta đã làm hỏng chúng. Chúng ta ra sức gọt giũa khắc chạm, mà kết quả sản phẩm của chúng ta chẳng ra làm sao cả. Bởi vậy cháu muốn làm sao cho mọi người thấy được vẻ đẹp và sự quyến rũ của đá. Đa-ni-lô lại không nản chí ngồi đẽo gọt chiếc chén theo bản vẽ. Chàng vừa làm vừa nói đùa: - Mảnh đá này có lỗ thủng, chắc là dễ khắc đường viền Nhưng bỗng nhiên chàng lại bỏ cuộc. Ông Prô-cô-pích khuyên cháu: - Hay là cháu thử khắc theo hình bông cà độc dược? Nhưng Đa-ni-lô lại không muốn nghe lời ông. Vài ba hôm sau chàng nói với ông: - Trước tiên cháu phải cố làm xong chiếc chén theo ý ông chủ, nhưng đến lúc ấy ông đừng cố ma ngăn cản cháu đấy. Dù sao chăng nữa thì cháu cũng không vứt được những ý nghĩ đó ra khỏi đầu. Ông Prô-cô-pích mừng rỡ trả lời: - Tất nhiên rồi, cháu cứ làm cho xong việc của ông chủ giao đi, để ông ấy khỏi rầy la ông cháu ta, xong rồi cháu muốn làm gì thì làm, ông sẽ không ngăn cản cháu đâu. - Tuy nói vậy nhưng ông Prô-cô-pích lại đã nghĩ: đã đến lúc phải lấy vợ cho nó rồi. Lúc đó nó sẽ quên đi ý nghĩ gàn dở hiện giờ mà để tâm vào lo cho vợ con nó. Đa-ni-lô rất bận rộn trong suốt một năm vẫn chưa hoàn thành chiếc chén, và tưởng như chàng đã quên mất chiếc chén lý tưởng của chàng rồi Ông già Prô-cô-pích bắt đầu thấy sốt ruột, nhắc chàng lấy vợ: - Cháu thấy cô Kachia làng ta thế nào? Ông thấy nó là một cô gái vừa đẹp lại vừa ngoan đấy chứ. Tại sao cháu không hỏi cưới nó hả thằng ngốc? Ông già nói vậy vì đã từ lâu ông nhận thấy Đa-ni-lô có cảm tình với Kachia và xem chừng cô gái cũng chẳng thờ ơ với Đa-ni-lô Nhưng Đa-ni-lô lắc đầu: - Cháu còn phải làm xong chiếc chén này đã, nó làm cháu phát ngấy lên rồi. Ông yên tâm, dầu sao thì cháu cũng thuyết phục được Kachia rồi, cô ấy hứa sẽ đợi cháu. Cuối cùng thì Đa-ni-lô cũng phải làm xong chiếc chén. Tất nhiên họ không dại gì mà cho viên đốc công biết công việc hắn giao đã hoàn thành. Kachia và bố mẹ nàng cùng với hai người thợ đến nhà chàng xem chiếc chén - chàng vừa làm xong. Kachia ngạc nhiên nhìn chiếc chén: - Chàng khắc giỏi quá. Đường hoa văn phức tạp như vậy mà chàng chạm chúng không bị mẻ chỗ nào cả. Những người thợ khác cũng khen ngợi: - Cháu đã làm rất cẩn thận. Đường chạm sắc sảo lắm. Không người thợ nào trong vùng có thể làm tốt hơn. Đa-ni-lô lắng nghe những lời bình phẩm rồi nói: - Kể ra thì các đường chạm trổ cũng tinh vi, nhưng chưa lột tả được vẻ đẹp của đá. Khi ta ngắm nhìn trái tim ta sẽ rung động trước vẻ đẹp của nó. Còn chiếc chén này thì có thể làm cho trái tim của ai rung động được? Người ta tìm thấy gì ở nó? Theo như cái nhìn của Kachia thì đây chỉ là do sự khéo tay của người thợ đá mà nó không bị sứt mẻ gì mà thôi. - Ồ, sao cháu khó tính thế, cháu còn đòi hỏi gì hơn ở một đồ vật bằng đá nhỉ? - Mà sao cháu lại bỗng nhiên đi so sánh một vật bằng đá với vẻ đẹp của một bông hoa? - Vậy thì vẻ đẹp của đá biến đi đâu. Chúng ta chạm khắc hình bông hoa trên đá, nó chỉ giống hình dáng của một bông hoa chứ đâu mang sắc thái của loài hoa. Mà đá của chúng ta mới đẹp làm sao chứ ! Chàng trở nên buồn rầu. Những người thợ đá nhắc lại những lời mà ông Prô-cô-pích đã nhiều lần nhắc chàng: - Đá thì vẫn chỉ là đá mà thôi. Thế cháu còn muốn biến đá thành cái gì mới được cơ chứ. Công việc của chúng ta chỉ là đẽo và chạm trổ nó theo ý khách hàng mà thôi. Những bỗng có một cụ già xen vào cuộc tranh cãi giữa Đa-ni-lô và những người thợ. Cụ vốn là thầy dạy của ông Prô-cô-pích và những người thợ cả trong làng. - Con thân yêu, con chớ có nên đi theo con đường đó. Hãy vứt bỏ những ý nghĩ điên rồ của con ra khỏi đầu đi, kẻo lại rơi vào bàn tay độc ác của Bà Chủ Núi Đồng đấy. Khéo lại giống những người thợ trên núi thôi. - Những người thợ nào hả cụ? - À những người thợ ấy… sống ở trên núi, nhưng chẳng ai thấy họ bao giờ. Họ làm công cho Bà Chủ Núi Đồng. Tay nghề của họ thật tuyệt vời. Mọi người trở nên tò mò hỏi: - Cụ có nhìn thấy họ? - Họ ở trên núi Rắn ấy - Cụ già nói. - Ở đấy có thể nhìn thấy họ rõ như các anh nhìn thấy bàn tay của mình. - Vậy họ như thế nào ạ? - Ta đã nói họ là những người thợ tuyệt vời mà. Bất kỳ người thợ nào cũng có thể nhận ngay ra những sản phẩm của họ không phải tầm thường. Trên núi Rắn của chúng ta đầy rẫy những tác phẩm của họ: nào là những người đá sống động như thật, đôi mắt, mái tóc mềm mại tinh nhanh. Đặc biệt là những bông hoa đá, chúng thật là biểu tượng của cái đẹp. Đa-ni-lô nghe nói tới những bông hoa đá lập tức bám lấy ông lão mà hỏi rất kỹ về chúng, nhưng ông già khuyên chàng: - Cháu chớ nên bén mảng tới đó làm gì. Ta cũng chưa nhìn thấy chúng bao giờ, nhưng có nghe nói rằng, bất kỳ ai nhìn thấy chúng thì sẽ không bao giờ còn được thấy ánh sáng mặt trời nữa. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#16
|
|||
|
|||
|
Người dịch: Đoàn Ngọc Trinh Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Nhưng Đa-ni-lô bướng bỉnh nhắc lại:
- Nhất định cháu phải thấy chúng, cho dù có xảy ra chuyện gì nữa đi chăng. Vợ chưa cưới của chàng, Kachia nghe thấy vậy sợ hãi nói: - Anh làm sao vậy Đa-ni-lô? Chẳng lẽ anh lại không muốn nhìn thấy ánh sáng trên đời này nữa hay sao? - Nói rồi nàng khóc thổn thức. Ông Prô-cô-pích và những người khác cũng nhận thấy Đa-ni-lô không có vẻ gì là nói đùa bèn trách ông lão: - Ông lão già quá lẩm cẩm rồi. Làm gì có chuyện ấy. Đó chẳng qua chỉ là câu chuyện cổ tích mà thôi. Ông lão tức giận đập bàn: - Có những bông hoa đá. Chàng trai nói đúng sự thật: Chúng ta đang làm phí đá. Những bông hoa đá của những người thợ trên núi mới tượng trưng cho cái đẹp, mới không làm uổng phí đá. Những người thợ mỉa mai: - Ông già điên rồi. Còn ông lão vẫn lẩm bẩm: - Có những bông hoa đá…. Khách ra về từ lâu nhưng Đa-ni-lô vẫn không quên câu chuyện của ông lão. Chàng lại vào trong rừng suốt ngày để tìm những bông cà độc dược. Chàng chẳng còn nhớ mảy may gì tới đám cưới nữa, làm ông Prô-cô-pích phát bực mình: - Thế mày có biết thương cái cô gái đã hứa hẹn với mày không đấy? Nó còn phải làm vợ chưa cưới của mày trong bao nhiêu năm nữa hả cái thằng dở hơi kia? Mọi người đã bắt đầu chế giễu nó, gọi nó là "bà cô" rồi đấy thằng ranh con ạ. Đa-ni-lô tự nhủ: "Ông ráng chờ thêm một thời gian nữa. Chỉ khi nào cháu làm xong chiếc chén vừa ý thì mới có thể nghĩ tới đám cưới được". Thế rồi chàng lại lao lên Núi Đồng, ngắm nghía từng phiến đá ở đó và lẩm bẩm: "Không, không phải tấm này". Mãi khi chàng đã bắt đầu chán nản thì bỗng nghe như có ai nói: - Không, không phải ở đó, hãy tìm ở phía núi Rắn ấy. Chàng nhìn quanh, chẳng có ai cả. Hay ai trêu cợt chàng rồi trốn vào đâu đó chăng. Nhưng nào có ai đâu. Chàng bắt đầu định quay về thì lại nghe thấy tiếng ai nói: - Có nghe thấy không hả chàng thợ đá Đa-ni-lô? Tôi bảo ở núi Rắn kia mà. Đa-ni-lô quay lại chợt nhìn thấy bóng một cô gái ẩn hiện trong làn sương mờ xanh, sau đó biến mất. Cái gì thế? Chẳng lẽ có ma? Nếu ta cứ đến núi Rắn thì sẽ thấy cái gì nhỉ? Đa-ni-lô thuộc lòng núi Rắn như bàn tay mình. Núi Rắn cách núi Đồng không xa lắm. Ngày nay núi đó không còn nữa, nó dã bị san bằng, chứ ngày xửa ngày xưa ở đó đầy đá. Ngay hôm sau Đa-ni-lô mò đến núi Rắn. Tuy núi không lớn lắm nhưng cao, đường lên núi dốc dựng đứng. Nhìn từ một phía, trái núi có một thung lũng nhỏ. Ở đấy có các phiến đá tòan loại hảo hạng. Không một nơi nào có đá tốt hơn đá ở đây. Đa-ni-lô lại gần thung lũng, ở đó toàn loại đá khổng tước loại tốt nhất. Có một phiến đá lớn đến nỗi Đa-ni-lô dùng cả hai tay mà không nhấc nó lên được. Đa-ni-lô ngắm nghía tấm đá đó. Nó có thể thỏa mãn được yêu cầu của chàng. Màu sắc đậm ở phần dưới có những đường vân xanh ở ngay chỗ chàng muốn, tất cả như cố tình tạo nên cho chàng dùng. Đa-ni-lô vui mừng chất phiến đá lên lưng ngựa rồi đi về nhà. Vừa về tới nhà, Đa-ni-lô đã vui mừng la lên: - Ông nhìn xem này, cháu mang về một phiến đá đẹp tuyệt vời chưa này. Thiên nhiên dường như cố tình tạo ra tấm đá này để cháu dùng. Bây giờ thì cháu có thể bắt tay vào làm việc, sau đó sẽ cưới vợ. Có lẽ Kachia đã chờ đợi cháu lâu lắm rồi. Và đối với cháu, sự chờ đợi cũng chẳng phải dễ dàng gì. Bây giờ thì phải mau mau kết thúc công việc để còn lo đám cưới chứ, ông nhỉ? Đa-ni-lô bắt tay vào tiện phiến đá đẽo chạm. Chàng làm ngày làm đêm. Còn ông Prô-cô-pích thì cứ im lặng, chờ cho chàng trai bình tâm lại. Công việc tiến hành trôi chảy. Chiếc chén như hình dáng mà Đa-ni-lô đã hình dung: Dáng bông cà độc dược, chân chén là chiếc lá xòe rộng duyên dáng đỡ lấy chiếc chén. Tất cả đã được hoàn thành một cách tốt đẹp nhất. Ông Prô-cô-pích khen ngợi hết lời. Nhưng Đa-ni-lô vẫn chưa hài lòng tới mất ngủ. Chàng nghĩ nó vẫn chẳng giống bông hoa thật và lại mất đi vẻ đẹp vốn có. của những bông hoa thật. Chàng chẳng còn thiết ăn uống ngồi lỳ suốt ngày bên chiếc chén để nghĩ cách làm sao cho nó đẹp hơn. Ông Prô-cô-pích và những người thợ khác thấy vậy thắc mắc, không biết chàng trai còn cần gì nữa? Từ trước tới nay chưa có ai trong vùng này có thể chạm được chiếc chén đẹp đến như thế này, vậy mà chàng trai vẫn không hài lòng. Chắc chàng ta mắc bệnh tâm thần rồi, cần phải chạy chữa cho chàng thôi. Kachia nghe thấy mọi người bàn tán, nàng lo sợ chạy tới vừa khóc vừa kể cho Đa-ni-lô biết những lời dị nghị. - Thôi được - chàng nói - không làm gì thêm nữa. Có lẽ anh cũng chỉ làm được như thế là hết khả năng của mình rồi. Anh không có khả năng lột tả được vẻ đẹp của đá, đành vậy. Chúng ta chuẩn bị làm lễ cưới đi. Nào có gì phải vội. Cô dâu đã sẵn sàng từ lâu, chỉ còn việc chọn ngày lành tháng tốt nữa thôi. Đa-ni-lô trở nên vui vẻ. Chàng chạy đi báo cho viên đốc công biết chàng đã làm xong chiếc chén theo lệnh của hắn. Hắn chạy ngay tới xem và tỏ ra rất hài lòng. Chiếc chén đẹp biết bao. Hắn muốn gửi ngay cho lão chủ, nhưng Đa-ni-lô ngăn hắn lại: - Đợi một chút tôi còn phải sửa lại một vài họa tiết cho hoàn hảo. Mùa thu đã tới. Và như mọi khi, đó là mùa cưới ở gần núi Rắn. Không biết tự bao giờ và do ai truyền lại rằng, cứ vào thời gian đó là bầy rắn tụ tập tại núi Rắn làm lễ cưới và những bông hoa đá cũng nở vào thời gian này. Đa-ni-lô lại nhớ đến chuyện về những bông hoa đá. Chàng nghĩ: "Hay ta cứ thử đến núi Rắn xem sao?" Và chàng sực nhớ tới giọng nói của người đàn bà ở Núi Đồng mách chàng chỗ lấy đá cũng hình như vọng từ núi Rắn thì phải. Và thế là Đa-ni-lô tới núi Rắn vào đúng ngày Lễ Rắn. Lúc đó mặt đất giá băng, tuyết bắt đầu rơi lất phất. Đa-ni-lô tới chỗ lần trước đã nhặt được phiến đá. Ở đó có một lỗ hổng lớn, dường như đá bị nứt ra. Nhìn thấy tảng đá xám giống chiếc ghế, chàng bèn ngồi lên đó và lại nhớ tới những bông hoa đá. Bỗng nhiên trời trở nên ấm như đang vào hè. Đa-ni-lô ngẩng đầu lên thì thấy Bà Chủ Núi Đồng ngồi ngay ở tảng đá đối diện với chàng. Chàng nhận ngay ra bà qua vẻ đẹp và trang phục của bà: "Ta tưởng tượng ra chăng. Chắc chẳng có ai đâu". Và chàng cứ nhìn sang tảng đá bà ta ngồi, im lặng như không thấy gì. Bà Chủ Núi Đồng cũng im lặng như đang suy nghĩ điều gì, sau đó cất tiếng hỏi chàng: - Thế nào, Đa-ni-lô vẫn không nghĩ ra chiếc chén hình bông cà độc dược à? - Chưa nghĩ ra. - Chàng hãy làm cái khác đi, tôi sẽ cho chàng tấm đá khác theo mong ước của chàng. - Không, tôi không thể làm được nhiều hơn nữa. Tốt hơn hết, bà hãy chỉ cho tôi xem những bông hoa đá của bà. - Cho anh xem thì dễ thôi, nhưng chỉ sợ sau đó anh sẽ phải hối tiếc. - Không cho tôi ra khỏi núi này à? - Việc gì tôi phải không thả cho anh về. Mọi con đường đều rộng mở, duy con đường dẫn đến chỗ tôi thì không có. - Thôi, hãy chỉ cho tôi xem đi, bà chủ thân mến ơi. Bà ta còn cố thuyết phục chàng từ bỏ ý nghĩ dại dột đó, nhưng chàng không chịu nghe. Bà khuyên chàng hãy cố gắng tự nghĩ ra cách đạt nguyện vọng của mình và khuyên chàng hãy thương lấy ông già Prô-cô-pích, người đã thương chàng như con đẻ, hãy nghĩ đến Kachia, người đã khóc hết nước mắt vì chàng. - Tôi biết. Tôi biết tất cả những điều đó - Đa-ni-lô tuyệt vọng kêu lên - Nhưng thiếu những bông hoa đá thì tôi không sống nổi. Hãy cho tôi xem chúng đi. - Thôi được, đã như vậy thì anh hãy đi theo tôi vào trong vườn. Bà Chủ Núi Đồng nói vậy rồi đứng lên. Trời bỗng ầm ầm rung chuyển, Đa-ni-lô nhìn ra, không còn thấy vách núi xám nữa. Cây cối trong vườn xum xuê, nhưng không giống cây bình thường mà toàn là cây bằng đá. Cây thì bằng đá cẩm thạch, cây thì bằng đá rắn.... nhưng cây nào cây nấy từ chiếc lá cho đến những cành nhỏ đều bằng đá. Đá đỏ, đá xanh da trời muôn màu muôn vẻ. Tuy không có ánh mặt trời nhưng mọi vật vẫn sáng lấp lánh như trong buổi bình minh. Giữa những vòm cây, vô vàn rắn vàng đung đưa như nhảy múa, nhả ra những tia sáng lóa mắt. Bà Chủ Núi Đồng dẫn Đa-ni-lô đến một cánh đồng nhỏ. Đất ở đây giống như đất sét trắng, nhưng phủ lên chúng là những bụi cây đen mượt như nhung. Từ những bụi cây nở ra những bông hoa chuông màu xanh lớn, mỗi bông lại được tô điểm thêm những ngôi sao đen viền ngòai cánh hoa. Ánh sáng xanh từ những bông hoa phát ra xuyên thủng bóng đêm, còn những ngôi sao nhấp nháy như nhảy múa, như ca hát - Nào Đa-ni-lô, anh đã nhìn thấy rồi chứ? - Bà Chủ Núi Đồng hỏi chàng - Tôi không có loại đá khả dĩ có thể làm ra được những bông hoa giống như những bông hoa của bà. - Giá như anh chịu nghe lời tôi, chịu khó suy nghĩ để tìm ra kiểu hoa đá thì bây giờ tôi có thể cho anh phiến đá để từ đó anh làm ra bông hoa đá vừa ý rồi không? Tiếc là bây giờ tôi không thể giúp anh được nữa. Bà Chủ Núi đồng buồn rầu nói vậy rồi vỗ tay. Trời lại rung chuyển ầm ầm. Khi mở mắt ra, Đa-ni-lô đã thấy mình ngồi trên tảng đá xám như trước. Trời trở lạnh, rừng cây trút lá ào ào. Đa-ni-lô trở về nhà. Tối hôm đó chàng đến nhà Kachia chơi như mọi bữa. Thoạt tiên chàng rất vui vẻ trò chuyện ca hát, khiêu vũ, nhưng bỗng nhiên chàng trở nên rầu rĩ đến nối nàng phát hoảng: - Trông anh như đi đưa đám ấy. Có chuyện gì đã xảy ra với anh vậy? - Anh thấy đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, chẳng còn nhìn thấy gì nữa. Cuộc hò hẹn của cặp tình nhân bất hạnh đã tan. Theo tục lệ lúc bấy giờ, vợ chưa cưới phải đưa tiễn vị hôn phu của mình về nhà. Có nhiều cô bạn gái của Kachia đi qua quãng đường trước cửa nhà Kachia và rủ họ: - Nào hãy cùng đi với chúng tớ tới E-an-xkôi rồi hãy quay về. Kachia nghĩ thầm: "Phải tìm cách gì để chàng vui vẻ lên." Nàng rỉ tai điều gì đó với các bạn nàng, thế là các cô này trở nên vui nhộn, nhao nhao nói: - Cần phải đưa tiễn chàng về nhà, dù chàng chỉ ở gần đây thôi. Chúng ta hãy hát những bài hát thật hay để tiễn biệt chàng rể tương lai chứ. Đêm thật yên tĩnh, tuyết rơi trắng xóa, thời tiết thật thích hợp cho các cuộc dạo chơi. Họ bắt đầu đi. Các cặp vợ chồng chưa cưới thì khoác tay nhau đi sánh vai, còn các cô gái độc thân thì ngày càng ít đi, và các cô nàng tinh nghịch hát bài phàn nàn về điều này. Các cô cất giọng hát ê a như trong buổi đưa đám, nghe đến nẫu cả ruột. Kachia bực mình nghĩ: "Thật không ngờ lũ bạn quỷ sứ lại vô tâm đến như vậy. Chàng đã buồn đến nẫu ruột, mà chúng nó lại hát rên rỉ nỉ non". Nàng tìm cách lôi kéo Đa-ni-lô ra khỏi tâm trạng ủ dột nên nói lảng sang những chuyện khác. Nhưng Kachia đã phí công vô ích. Từ đó đến hết buổi Đa-ni-lô không tài nào vui trở lại được. Các cô gái đã kết thúc bài vãn ca, lại đùa nghịch như quỷ. Chỉ có Đa-ni-lô vẫn im lặng đi cạnh Kachia, mặc dù nàng đã tìm hết cách làm cho chàng khuây khỏa. Họ đã tới trước nhà Đa-ni-lô, mọi người ai giải tán về nhà người ấy. Còn Đa-ni-lô quên cả hôn từ biệt Kachia, cứ thế bước vào nhà. Ông Prô-cô-pích đã đi ngủ từ lâu. Đa-ni-lô rón rén nhóm lửa lên rồi lôi những chiếc chén của chàng ra giữa nhà. Chàng cứ đứng ngây người ra mà nhìn ngắm chúng. Vừa lúc ấy ông Prô-cô-pích lại ho. Những năm gần đây, ông cảm thấy trong người không được khỏe lắm. Tiếng ho của ông như nhát dao găm đâm vào tim Đa-ni-lô, chàng cảm thấy thương ông vô hạn và thấy mình phần nào có lỗi. Ông Prô-cô-pích lại ho nữa. Chợt thức giấc, thấy Đa-ni-lô đứng giữa nhà, ông bèn hỏi: - Sao cháu còn chưa đi ngủ, đứng đây làm gì vậy? - Cháu xem đã đến lúc mang cái của nợ này đi nộp chưa? - Lẽ ra phải đem chiếc chén đi nộp từ lâu lắm rồi mới phải. Để mãi chẳng có ích lợi gì. Cháu chẳng thể làm tốt hơn được nữa đâu Ông còn lẩm bẩm điều gì đó rồi lại ngủ thiếp đi. Đa-ni-lô cũng đi nằm, nhưng chàng cứ trằn trọc mãi không ngủ được. Chàng lại dậy, thắp nến lên, nhìn hết chiếc chén này đến chiếc chén khác rồi lại nhìn ông. Chàng lại bên ông một lúc lâu, thở dài. Rồi chàng cầm chiếc búa, lại gần mấy chiếc chén, vung tay đập nát chúng. Trong nháy mắt, chỉ có chiếc chén chạm trổ theo mô hình bông cà độc dược của chàng là vỡ vụn ra, còn mấy chiếc chén làm theo mô hình của lão chủ lại không hề sứt mẻ. Chàng đành để mặc chúng trong tình trạng ngổn ngang như vậy, bỏ chạy ra khỏi nhà. Từ đó không còn ai tìm thấy chàng nữa. Có người nói chàng đã hóa điên, lang thang trong rừng, có người lại bảo chàng đã bị Bà Chủ Núi Đồng bắt về làm công cho bà ở trên núi. Nhưng câu chuyện xảy ra tiếp lại khác hẳn với những lời đồn đại. Mời các bạn xem tiếp ở những truyện sau. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#17
|
|||
|
|||
|
4. Người thợ núi Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Rốt cuộc là Kachia - vợ chưa cưới của Đa-ni-lô ấy mà - vẫn là gái chưa chồng. Hai hay ba năm đã trôi qua kể từ khi Đa-ni-lô mất tích, thế là cô ấy đã không còn ở độ tuổi kén chồng nữa. Ở làng thợ của chúng tôi, ngòai hai mươi tuổi đã bị coi là gái già, gái ế rồi. Các chàng trai chẳng mấy khi còn hỏi cưới những cô như vậy, thường chỉ có những người góa vợ mà thôi. Nhưng có lẽ vì Kachia là một cô gái nết na xinh đẹp nên các chàng trai tơ cứ quấy rầy, còn cô ấy thì chỉ nói: - Tôi đã hứa hôn với Đa-ni-lô rồi. Họ thuyết phục: - Làm thế nào được! Cô đã lỡ hứa, nhưng chưa lấy. Mà bây giờ thì nhắc đến chuyện đó làm gì. Anh ấy đã mất lâu rồi. Kachia không chịu: - Tôi đã hứa với Đa-ni-lô rồi. Chắc chắn là anh ấy sẽ về. Họ nói với cô: - Anh ấy đâu còn trên thế gian này nữa. Chắc chắn là như vậy. Cô vẫn trước sau như một: - Không ai nhìn thấy xác anh ấy cả và tôi chắc anh ấy còn sống. Thấy cô gái không thể lay chuyển được, họ đành chịu. Có kẻ còn mang cô ấy ra làm trò cười nữa chứ, chúng gọi cô ấy là Vợ chưa cưới của ma. Cái biệt hiệu ấy dính chặt lấy cô. Cứ Kachia - vợ chưa cưới của ma, Kachia - vợ chưa cưới của ma, làm như đã hết tên để gọi không bằng. Rồi một lần, nạn dịch xảy ra. Cả cha lẫn mẹ Kachia đều không còn. Gia đình cô có khá đông anh chị em, ba anh trai đã có vợ, và cũng chừng ấy chị gái đã có chồng.Thế là xảy ra chuyện cãi cọ xem ai được sống trong nhà của cha mẹ . Kachia liền nói: - Tôi sẽ sang nhà Đa-ni-lô ở. Bác Prô-cô-pích đã già yếu lắm rồi. Tôi sẽ chăm nom bác ấy. Tất nhiên là các anh chị cô ngăn lại: - Làm thế không coi được đâu Kachia. Bác Prô-cô-pích tuy già yếu thật, nhưng thiếu gì điều thiên hạ có thể bịa đặt cho cô. Kachia trả lời: - Tôi chẳng sợ gì cả. Miễn tôi không làm điều gì không phải là được. Hơn nữa bác Prô-cô-pích với tôi đâu phải người ngòai. Chẳng gì bác ấy cũng là cha nuôi Đa-ni-lô của tôi. Tôi sẽ kêu bác ấy là cha. Thế rồi cô bỏ đi. Mà cũng phải thôi, anh chị em nhà ấy không mấy gắn bó với nhau. Họ vốn nghĩ thầm trong bụng, bớt được người nào thì đỡ ầm ĩ được chừng ấy. Còn bác Prô-cô-pích thì thích là đằng khác. Bác ấy nói: - Cám ơn con đã nghĩ đến cha. Vậy là họ bắt đầu chung sống. Bác Prô-cô-pích ngồi làm đá, còn Kachia lo việc nội trợ - chăm nom vườn tược, nấu nướng giặt giũ và những việc lặt vặt khác. Nhà chỉ còn có hai người nên công việc cũng chẳng còn là mấy. Kachia lại là cô gái nhanh nhẹn, thành ra thoáng cái là cô đã xong. Hết việc, cô đâu có chịu ngồi không, lại quay sang đan lát, thêu thùa, may vá. Thời gian đầu, cuộc sống của hai người khá là êm ả, chỉ có điều sức khỏe của bác Prô-cô-pích ngày càng xấu hơn. Ngồi được một ngày thì nằm hai ngày. Già cả rồi, sức lực đâu có còn lại bao nhiêu. Kachia bắt đầu phải suy nghĩ xem họ sẽ sống tiếp bằng cách gì. "May vá và thêu thùa thì sống không nổi, mà mình lại không biết nghề nào khác cả" Một hôm, cô nói với bác Prô-cô-pích: - Cha ơi! Dạy con làm đá đi. Việc đơn giản nhất thôi cũng được. Bác Prô-cô-pích thậm chí phải phì cười: - Con nói gì vậy! Làm đồ ngọc thạch đâu phải việc đàn bà con gái. Xưa nay chưa có chuyện ấy bao giờ. Tuy thế, cô gái cũng vẫn để ý quan sát công việc của người cha nuôi. Đỡ đần việc này, việc khác, cắt đá, đánh bóng. Bác Prô-cô-pích cũng bắt đầu dạy cô làm cái nọ, cái kia. Tất nhiên không phải là những món đồ thực thụ. Mài mấy cái mặt đá dẹt làm cán dao, cán dĩa và vài ba thứ mà khách hàng thường đặt. Nói chung là những thứ lặt vặt, rẻ tiền ấy mà cũng thỉnh thoảng thôi. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#18
|
|||
|
|||
|
Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Chẳng bao lâu, bác Prô-cô-pích qua đời. Mấy người anh chị lại ép Kachia: - Giờ thì cô nhất thiết phải lấy chồng. Làm sao cô sống một mình được. Kachia gạt phắt đi : - Đó không phải là việc của các anh chị. Tôi không cần ai khác cả. Đa-ni-lu-scô sẽ về. Anh ấy học xong ở trong núi và sẽ về. Các anh chị cô nhao nhao cả lên : - Cô có điên không đấy hả Kachia. Sao lại nói những điều như vậy. Người chết đã lâu rồi thế mà cô còn chờ. Liệu đấy, không khéo lại bị ma ám cho mà xem. - Tôi chẳng sợ - Cô gái đáp Khi đó, các anh chị cô bèn hỏi : - Thế nhưng cô lấy gì mà sống? - Điều này - cô gái trả lời - các anh chị cũng khỏi phải quan tâm. Một mình tôi cũng sống được. Tưởng là bác Prô-cô-pích còn để tiền lại, các anh chị cô lại thuyết phục: - Thật ngu đến thế là cùng. Nếu có tiền thì trong nhà nhất thiết phải có đàn ông. Nhỡ không may gặp bọn tham tiền thì làm sao. Chúng sẽ vặt cổ cô như một con gà và thế là hết đời. Cô gái đáp: - Việc gì phải lo trước. Đời tôi được bao lâu thì tôi sẽ sống bấy lâu. Mấy anh chị cô còn làm ầm ĩ hồi lâu. Người thì quát mắng, người thì khuyên giải, người thì khóc lóc, còn Kachia trước sau vẫn như một nói: - Một mình tôi cũng sống được. Tôi chẳng cần chàng rể nào của các anh chị cả. Tôi có người của tôi từ lâu rồi. Khuyên răn mãi không được, các anh chị cô bực mình nói: - Có chuyện gì thì đừng có vác mặt đến nhà chúng tao nữa. Cô gái vừa cười vừa trả lời: - Cám ơn các anh chị đã có lòng thương. Tôi sẽ ghi nhớ. Còn các anh chị đừng quên thỉnh thoảng ghé qua nhà tôi nhé. Mấy người anh chị tức giận sập cửa đánh rầm một tiếng và bỏ về. Kachia còn lại một mình côi cút trong căn nhà trống trải. Đầu tiên cô nức nở khóc, nhưng sau đó cứng cỏi thốt lên: - Đừng hòng, tôi không chịu đâu. Lau sạch nước mắt, cô quay ra dọn dẹp trong nhà. Lau chùi cọ rửa mọi thứ sạch sẽ. Xong xuôi, cô ngồi vào bàn làm đá. Ở đó cô cũng sắp xếp mọi việc theo ý mình. Cái gì không cần, cô cất sang một bên, còn những thứ thường xuyên phải dùng đến, cô để ngay bên cạnh. Thu vén xong đâu vào đấy, cô bỗng thấy muốn làm việc. "Mình thử tự làm một cái mặt đá dẹt xem sao" Cô định bắt tay vào làm việc nhưng lại chẳng có miếng đá nào thích hợp cả. Mảnh chiếc chiến hình hoa cà độc dược của Đa-ni-lô vẫn còn, nhưng Kachia giữ gìn không động tới. Chúng được gói riêng cẩn thận trong một tấm vải. Đá của bác Prô-cô-pích tất nhiên là còn nhiều. Chỉ có cái là cho đến lúc chết bác ấy chuyên làm đồ lớn, nên đá cũng toàn phiến to cả. Những mảnh vụn và những miếng bé đều nhặt nhạnh làm đồ nhỏ hết rồi. Kachia nghĩ bụng: "Có lẽ phải ra mỏ đá kiếm vậy. May ra thì có hòn như mình cần" Nhớ là Đa-ni-lô và bác Prô-cô-pích nói rằng họ thường lấy đá trên núi Rắn, cô bèn đi tới đó. Ở phía Gu-me-scơ bao giờ cũng đông đúc: người lấy đá, người chuyên chở. Thấy Kachia xách giỏ qua, họ ngó xem cô đi đâu. Kachia không thích bị nhìn như vậy. Cô bỏ ý định kiếm đá ở mỏ đá và vòng ra phía sau núi. Phía bên ấy là một khu rừng rậm rạp. Kachia đi qua rừng, lần lên đỉnh núi Rắn và ngồi xuống nghỉ chân. Cô chợt nhớ tới Đa-ni-lô và buồn rầu bất giác lại trào lên. Cô ngồi trên tảng đá, nước mắt chảy ròng ròng. Xung quanh chỉ có rừng, không một bóng người nào nên cô không sợ bị ai nhìn thấy. Những giọt nước mắt rơi lã chã trên mặt đất. Khóc một hồi, cô bỗng nhìn thấy một tảng đá khổng tước nằm ngập trong đất ngay bên cạnh chân. Làm sao đào được khi cả cuốc chim lẫn xà beng đều không có? Dù vậy, Kachia vẫn dùng tay lắc thử và cảm thấy hòn đá khẽ lung lay. Thế là cô vội dùng cành cây bới đất xung quanh. Khi hòn đá lộ hẳn ra cô bèn lay thật mạnh. Nó xiêu đi và phía dưới bỗng vang lên tiếng rắc nhỏ như tiếng cành khô gãy. Miếng đá không lớn lắm, trông khá vuông vắn. Bề dày độ ba ngón tay, rộng bằng lòng bàn tay và dài gần nửa ác-sin. Kachia thậm chí sửng sốt: - Thật đúng với ý mình. Xẻ ra sẽ được vô số khối mặt đá dẹt. Mà hầu như chẳng phải bỏ đi tí nào cả. Cô mang miếng đá về nhà và lập tức đem ra xẻ. Đó là một công việc tốn khá nhiều thời gian, mà Kachia còn phải lo làm việc nhà. Cứ thế, cả ngày trôi qua trong sự bận rộn và chẳng có lúc nào để buồn chán. Hễ cứ ngồi vào bàn làm đá là cô lại nghĩ đến Đa-ni-lô: - Giá mà anh ấy nhìn được cô thợ mới này nhỉ. Lại còn ngồi ngay ở chỗ anh ấy và bác Prô-cô-pích nữa chứ. |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (09-04-2011), Siren (08-03-2011) | ||
|
#19
|
|||
|
|||
|
Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Tuy nhiên, những kẻ ong bướm đâu có chịu ngồi yên. Làm sao mà chúng bỏ qua cô cho được… Vào một buổi tối ngày lễ, khi Kachia say sưa ngồi làm việc tới tận khuya, có ba tên trai làng leo qua hàng rào vào nhà cô. Chúng muốn dọa cô hay còn định làm gì nữa thì chỉ chúng mới biết được, có điều là cả ba đều đã chếnh choáng hơi men. Mải mê với lưỡi cưa, Kachia không còn hay biết là trong buồng chứa cỏ có người lạ. Đến khi nghe tiếng đập cửa ầm ầm cô mới ngửng mặt lên.
- Mở cửa ra, vợ chưa cưới của ma. Đón khách trần gian đi nào Đầu tiên Kachia nhỏ nhẹ: - Thôi, về đi các anh! Nhưng chúng nào đâu có chịu. Cánh cửa rung lên bần bật và xem chừng sắp bung ra đến nơi. Thấy vậy Kachia bật then cài, mở toang cửa và quát lên: - Nào, vào đi! Đứa nào muốn vỡ đầu trước ? Mấy tên trai làng ngước nhìn và thấy trong tay cô lăm lăm chiếc rìu. - Này, đừng có đùa thế cô em. - Chúng nói - Đùa cái gì! - Cô đáp - Đứa nào bước qua ngưỡng cửa là thủng trán. Dù đang say, ba tên trai làng cũng phải hiểu rằng đó không phải là lời nói đùa. Cô gái đứng sừng sững, điềm tĩnh, đôi vai căng tròn lực lưỡng, ánh mắt gan lỳ và chiếc rìu rõ ràng đang nằm trong một bàn tay thành thục. Rốt cuộc là chẳng tên nào dám bước vào. Chúng lè nhè vài ba câu rồi chuồn thẳng. Đã thế lại còn đem chuyện ấy ra kể nữa chứ và bị mọi người nhạo báng, tiếng rằng ba đấng mày râu lại để một cô gái dọa cho phải bỏ chạy. Hiển nhiên điều đó làm cả lũ bẽ mặt, và chúng lại bịa thêm, rằng Kachia không phải chỉ có một mình, mà đứng sau lưng cô còn có cả một con ma. - Trời ơi, trông nó khủng khiếp đến nỗi ai mà dám đứng lại Mọi người nửa tin nửa ngờ, nhưng từ đó dân làng thì thầm với nhau: - Đúng là nhà ấy có ma. Đâu phải ngẫu nhiên mà con bé sống cô độc một mình. Những lời đồn đại lan đến tai Kachia, nhưng cô chẳng lấy thế làm buồn rầu. Cô nghĩ bụng: "Kệ cho họ bịa đặt. Nếu họ sợ thì càng tốt cho mình, lần sau chẳng đứa nào dám trèo qua rào nữa." Hàng xóm rất đỗi ngạc nhiên khi nhìn thấy Kachia ngồi ngồi bên bàn làm đá. Họ giễu cô: - Chà, lại còn tập tành theo đòi nghề của đàn ông nữa chứ. Cô ta mà làm nổi cái gì! Nhận xét này làm Kachia nản lòng hơn. Bản thân cô cũng đã từng nghĩ: "Chẳng biết một mình mình có làm được cái gì không?" Nhưng rồi cô tự nhủ: "Hàng chợ ấy mà! Đâu có gì khó! Chỉ cần nhẵn nhụi là được. Không lẽ cái đó chính mình cũng không làm nổi sao?" Rồi Kachia cũng xẻ xong hòn đá. Trước mắt cô, vân đá hiện lên thật tuyệt vời, đúng ngang theo chiều cưa. Rõ là cầu được ước thấy. Chính cô cũng phải kinh ngạc trước sự may mắn ấy. Tính toán xong xuôi, Kachia bắt đầu mài bóng. Công việc không khó lắm, nhưng chưa quen tay thì cũng chẳng dễ gì làm được. Đầu tiên Kachia loay hoay mãi, sau đó thành thạo dần. Đầu tiên Kachia loay hoay mãi, sau đó thành thạo dần. Những chiếc mặt đá dẹt tuyệt đẹp thành hình mà mất mát thì hầu như không đáng kể, trừ những phần phải mài bỏ. Nhìn chỗ mặt đá làm xong, Kachia ngỡ ngàng, không ngờ từ một miếng đá có thể được nhiều như vậy. Cô bắt đầu suy nghĩ xem nên đem bán ở đâu. Trước kia, đôi khi bác Prô-cô-pích mang những món đồ lặt vặt thuộc loại này ra thành phố và giao cho một cửa hiệu. Kachia đã nhiều lần được nghe về cửa hiệu này, và thế là cô quyết định ra thành phố. Kachia khóa nhà và lên dường đi ra thành phố. Cả làng Pê-lê-va-ja chẳng ai để ý đến chuyến đi của cô. Hỏi thăm được nhà ông chủ vẫn thường mua hàng của bác Prô-cô-pích, Kachia đển thẳng cửa hiệu. Cô bước vào và thấy trong tủ kính không biết cơ man nào là đồ ngọc thạch, riêng các mặt đá dẹt bằng đá khổng tước đã xếp đầy cả một ngăn tủ. Cửa hiệu khá đông, người mua, người bán tấp nập. Chủ hiệu trông hết sức nghiêm trang và bệ vệ. Lúc đầu, Kachia thậm chí không dám bước lại gần y, nhưng sau đó, cô lấy hết can đảm và hỏi: - Ông có cần các mặt đá dẹt bằng đá khổng tước không? Chủ cửa hiệu chỉ tay vào cửa kính: - Thứ đó ta đã có bao nhiêu rồi, cô không thấy sao? Những người thợ đến bán hàng nói với y: - Chà, dạo này ở đâu ra mà lắm thợ làm mặt đá dẹt đến thế. Chỉ uổng đá đi thôi. Họ chẳng thèm hiểu, để làm mặt dẹt thì đá phải có vân rất đẹp. Trong số thợ ấy có một người cũng ở làng Pô-le-va-ja. Hắn thì thầm với cửa hiệu: - Con bé ấy hơi mát. Hàng xóm thấy nó làm đá hẳn hoi. Chắc là đã kỳ cạch được một mớ đây. Nghe vậy chủ hiệu bèn nói: - Nào, cho xem cô mang gì tới đây nào? Kachia đưa cho y một chiếc mặt đá dẹt. Chủ hiệu ngắm nghía một hồi rồi trợn mắt nhìn cô và nói: - Cô ăn trộm của ai vật này? Kachia giận sôi lên và quát thẳng vào mặt chủ hiệu: - Ông có quyền gì mà nói với người chưa quen biết những điều như vậy. Nếu mắt ông còn sáng thì hãy nhìn đây. Liệu ăn trộm được của ai được chừng này chiếc mặt dẹt cùng một kiểu vân đá hả? Sao? - Cô ném lên mặt quầy số mặt đá mình làm được. Chủ hiệu và mấy người thợ thấy đây đúng là mặt đá cùng một kiểu vân thật, và đường vân thuộc loại cực kỳ hiếm có. Ở giữa trông giống như một cây cổ thụ với đôi chim, một con đậu trên cành và một con ở dưới gốc. Đường vân hiện lên rõ mồn một và mặt đá làm rất khéo. Nghe thấy câu chuyện khách mua hàng xúm lại xem nhưng chủ hiệu đã gom ngay chỗ mặt đá lại. Y thoái thác: - Để một đống thế này thì xem làm sao được. Chờ một chút, tôi xếp xuống dưới mặt kính rồi ai thich gì thì tha hồ chọn - Quay về phía Kachia y nói - Cô vào buồng kia đi. Ta sẽ tính tiền liền. Kachia bước đi, viên chủ hiệu đi theo sau. Khép cửa lại, y hỏi: - Cô tính bao nhiêu đây? Đã từng nghe bác Prô-cô-pích nói giá, Kachia cứ thế nhắc lại. Chủ hiệu lăn ra cười: - Trời ơi! Cô nói gì ghê vậy! Giá ấy ta chỉ trả cho mỗi mình ông thợ Prô-cô-pích ở làng Prô-cô-pích với Đa-ni-lô - con nuôi của ông ta thôi. Thợ như họ mới là thợ chứ. Cô gái trả lời: - Tôi cũng thuộc gia đình ấy đấy và giá cũng theo đó mà tính. - Vậy hả! - Chủ hiệu ngạc nhiên thốt lên - Thế ra đây là đồ của Đa-ni-lô còn lại ư? - Không - Kachia trả lời - đây là đồ tôi làm. - Hay là đá do cậu ấy để lại? - Cả đá cũng tự tôi kiếm. Chủ hiệu rõ ràng không tin, nhưng chắc chẳng muốn nói đi nói lại lôi thôi. Y thanh toán mọi thứ sòng phẳng và còn nói thêm: - Lần sau mà cô còn làm được những thứ như thế này thì cứ mang tới nhé. Ta sẽ mua hết, còn giá cả thì cứ yên tâm. Kachia về, lòng rộn ràng vui sướng - Chà được nhiều tiền quá! Trong khi ấy chủ hiệu bày các mặt đá vào tủ kính. Người mua quay lại: - Bao nhiêu? Tất nhiên là y không chịu hớ rồi, chẳng những nói giá cao gấp mười giá mua vào mà lại còn gióng: - Đường vân như thế này chưa bao giờ có đâu. Đồ của Đa-ni-lô - thợ ở làng Pô-lê-va-ja đấy. Đố ai làm đẹp hơn anh ta được. Kachia về đến nhà mà vẫn chưa hết ngạc nhiên: - Hay thật, hóa ra mặt dẹt của mình đẹp hơn hết thảy! Nhờ được hòn đá tốt. Chắc mình gặp vận may. - Vừa nghĩ tới đây, cô bỗng sững người: - Hay là Đa-ni-lu-scô nhắn tin cho mình. Chẳng do dự thêm, cô vòng lại và chạy thẳng lên núi Rắn. Tên thợ đá từng định bêu xấu Kachia trước người thương gia ở thành phố cũng đã trở về nhà. Hắn ghen tức với Kachia vì những viên đá đẹp hiếm thấy. Hắn nghĩ bụng: “Phải xem con bé ấy lấy đá ở đâu mới được. Hay là Prô-cô-Pích hoặc Đa-ni-lô đã chỉ cho nó chỗ lấy mới không biết?” Thoáng thấy Kachia chạy đi đâu đó, hắn liền theo sau và bắt gặp cô vòng qua Gu-me-scơ rồi đi lên núi Rắn. Tên thợ bám riết, trong bụng thầm nghĩ: “Phía ấy toàn là rừng, mà trong rừng thì mình sẽ lần đến tận nơi cho nó biết”. |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (09-04-2011), Siren (08-03-2011) | ||
|
#20
|
|||
|
|||
|
Người dịch : Nguyễn Mạnh Chí Đánh máy: Lam Anh và A Thanh Họ vào rừng, Kachia đi cách tên thợ không xa và chẳng hề nghĩ ngợi, không nhìn lại mà cũng chẳng dừng chân nghe ngóng. Tên thợ mừng thầm là hắn biết được mỏ đá mới quá dễ dàng. Đột nhiên có tiếng gì đó, vang lên bên cạnh hắn. Tiếng động lạ lùng đến mức làm cho tên thợ hốt hoảng. Hắn dừng lại xem đó là cái gì. Trong khi hắn ngó nghiêng, nghe ngóng, Kachia đã biến mất từ hồi nào. Chạy dọc chạy ngang trong rừng, tìm kiếm hồi lâu, cuối cùng hắn mệt mỏi lê ra ở gần ao Bắc, quá Gu-me-scơ có lẽ đến hai dặm. Ngay trong mơ Kachia cũng không tưởng tượng nổi là có người theo dõi. Cô leo lên núi, tìm tới chỗ lấy được miếng đá đầu tiên. Cái hố cũ dường như rộng thêm ra và bên cạnh lại thấy một tảng đá y như vậy. Kachia lắc thử và tảng đá lung lay và gãy đánh rắc như một cành cây khô. Cầm miếng đá trong tay, Kachia bật lên nức nở. Cô kể lể như các bá các cô khóc người chếr. - Anh yêu ơi, anh bỏ đi để em lại cho ai… Khóc lóc hồi lâu, Kachia thấy nỗi đau khổ dường như đã vơi bớt. Cô thẫn thờ đứng nhìn mỏ đá của mình. Nơi ấy là một khoảng rừng thưa. Xung quanh toàn là rừng rậm cao lớn, còn gần mỏ đá thì cây cối thưa và nhỏ hơn. Đột nhiên, ánh nắng rọi thẳng vào mỏ đá và nó chợt như bốc lửa, những tảng đá bắt lên muôn vàn tia sáng lóng lánh. Kachia lấy làm ngạc nhiên và tò mò muốn lại gần để xem. Cô tiến lên một bước và dưới chân bỗng vang lên tiếng răng rắc. Cô vội rụt chân lại và nhìn xuống thì… Trời ơi, dưới chân cô đâu có phải là mặt đất. Cô đang đứng trên ngọn một cây gì đó cao ngất, xung quanh cũng nhấp nhô những ngọn cây như vậy. Qua kẽ lá, cô nhìn thấy bãi cỏ và những bông hoa mọc ở phía dưới, nhưng sao chúng không giống như hoa cỏ quen thuộc. Ở vào chỗ ấy, các cô khác hẳn đã hoảng hốt và kêu cứu ầm ĩ, còn cô thì lại nghĩ: “Đúng núi mở cửa ra đây rồi! Giá mà thấy được Đa-ni-lu-scô nhỉ!” Cô vừa thoáng nghĩ, bỗng thấy trên bãi trống phía dưới có người trông giống hệt Đa-ni-lô đang đi, hai tay giơ lên như muốn nói điều gì đó. Quên hết mọi chuyện, kể cả việc đang ở trên ngọn cây, Kachia nhào thẳng xuống và… ngã lăn ra trên mặt đất, ngay chỗ cô vừa đứng. Khi đã tỉnh trí lại, cô tự nhỉ: “Đúng là mình bị ma ám rồi. Phải mau mau về nhà thôi”. Đang nghĩ như vậy, nhưng cô vẫn tiếp tục ngồi yên, chờ đợi xem cửa núi có mở ra lại không, xem Đa-ni-lô có xuất hiện nữa không. Cứ như vậy cô ngồi cho đến khi tối mịt và chỉ khi đó mới chịu ra về. Cô vừa đi vừa nghĩ: “Dù sao mình cũng đã gặp Đa-ni-lu-scô”. Tên thợ đá theo dõi Kachia lúc ấy cũng đã về đến làng. Chạy lại nhà Kachia và thấy cửa vẫn còn đóng im ỉm, hắn bèn nấp vào một chỗ để rình xem cô gái mang gì về nhà. Lát sau, khi Kachia xuất hiện, hắn liền nhảy ra chặn ngang đường và hỏi: - Cô đi đâu về thế? - Tôi lên núi Rắn, - cô gái trả lời. - Tối mịt thế này mà lên trên đó làm gì? - Để gặp Đa-ni-lô… Nghe đến đây, tên thợ hoảng hốt quay mình chạy mất và ngày hôm sau, người trong làng thì thầm với nhau: - Này, con bé vợ chưa cưới của ma điên thật rồi. Đêm đêm, nó lên núi Rắn chờ chồng. Không khéo lên cơn nó sẽ đốt cả làng nữa cho mà xem. Các anh chị nghe thấy và lại chạy đến nhà Kachia để canh chừng và khuyên giải cô. Không để cho họ kịp nói, Kachia giơ tiền cho họ xem và hỏi: - Thế cái này các anh các chị nghĩ là ở đâu ra? Hàng của thợ giỏi người ta còn chưa nhận, vậy mà tôi thì ngay món đồ đầu tiên đã được trả bao nhiêu đây này! Các anh các chị có biết tại sao không? Đã được nghe đồn về sự may mắn của cô, họ đáp: - Cô đã gặp may đấy thôi. Có gì đâu. - Xưa nay, - cô gái nói, - chưa bao giờ có chuyện đó. Đây chính là Đa-ni-lu-scô đã gửi cho tôi miếng đá và khiến cho đường vân đẹp như vậy đấy. Các anh trai phá ra cười nhạo báng, còn các chị gái thì đưa tay lên trời tuyệt vọng: - Đúng là nó điên thật rồi! Phải báo cho ông quản lý biết thôi. Không có nó đốt làng thật mất! Nói thế thôi chứ tất nhiên là họ không đi đâyu cả. Ai nỡ làm như vậy với em gái. Ra khỏi nhà ka, họ thống nhất với nhau: - Phải canh chừng Ca-tê-ri-na mới được. Hễ nó đi đâu là phải theo ngay. Còn Kachia sau khi tiễn các anh chị ra về, cô khoá cửa và bắt tay vào xẻ miếng đá mới. Cô vừa cưa vừa nguyện: - Nếu đường vân giống như trước thì có nghĩa là không phải mình bị ma ám mà đúng là đã gặp Đa-ni-lu-scô. Cô vội đến cuống cả tay, chỉ muốn mau mau nhìn thấy đường vân trên đá. Đêm đã khuya mà Kachia vẫn ngồi mải miết làm việc. Một người chị lúc đó tỉnh giấc, thấy trong nhà vẫn còn ánh lửa liền chạy sang, ngó qua khe cửa và sững sờ: - Đến ngủ nó cũng không chịu nữa! Thật khổ sở với nó! Rồi miếng đá cũng đã cưa xong. Đường vân hiện lên rõ mồn một và còn đẹp hơn cả lần trước. Con chim đậu trên cây giờ đây xoè cánh bay xuống, còn con ở dưới đang bay lên đó. Năm nhát cưa và cả năm lần trên mặt đá hiện lên đường vân như nhau, không xê xích một ly. Chẳng kịp nghĩ ngợi gì nữa, Kachia mở cửa lao ra ngoài. Người chị gái cũng chạy theo và dọc đường đập cửa báo cho mấy người anh biết. Mấy người anh chạy ra ngay và một số người làng cũng theo họ. Trời lúc đó đã tờ mờ sáng, mọi người nhìn thấy Kachia chạy ngang qua Gu-me-scơ và lao cả đến đó. Cô gái xem chừng vẫn chưa biết có người theo sau. Cô chạy ngang qua mỏ; chậm bước khi vòng ra sau núi Rắn. Mọi người cũng ghìm chân, họ muốn xem cô làm gì ở đó. Kachia tiến thẳng lên núi theo con đường quen thuộc. Cô nhìn quanh và bỗng nhận ra mình đang ở trong một khu rừng lạ. Cầm tay vào cành cây, cô thấy nó lạnh giá và nhẵn nhụi như bằng đá đánh bóng, cỏ ở dưới chân cũng là đá nốt. Cả khu rừng vẫn còn chìm trong màn đêm. Kachia thầm nghĩ: “Chắc là mình lọt vào núi rồi”. Trong lúc đó, họ hàng của cô và dân làng nhớn nhác tìm kiếm: - Cô ta biến đâu rồi? Rõ ràng vừa mới ở ngay trước mặt thế mà thoáng cái đã không thấy! |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Về sự tham gia chiến đấu của Liên Xô ở Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ | Gấu Misa | Hồ sơ chiến tranh thế giới | 206 | 18-11-2014 06:58 |
| Blitzkrieg – Game chiến thuật hay nhất về Chiến tranh thế giới lần thứ 2 | phuongnn | Các chủ đề khác | 98 | 18-02-2012 12:55 |