|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
|||
|
|||
|
Những người Tiên phong trong nền Tin học Xô Viết Nhóm dự án ![]() Boris Nikolaevich Malinovsky Chủ nhiệm đề tài: Boris Nikolaevich Malinovsky, ông sinh ngày 24 tháng 8 năm 1921 tại Nga. Tháng 8 năm 1939 ông theo học tại trường cao đẳng mỏ Leningrad và sau đó ông được biệt phái vào quân đội Liên Xô, ông phục vụ trong quân đội liên tục cho đến tận năm 1945. Sau đó ông được giải ngũ và đã từng được trao tặng 6 huân chương cho các cống hiến trong cuộc Chiến tranh Ái quốc Vĩ đại (WWII). Ông là người thiết kế chính của hệ thống máy điện toán số hóa vạn năng đầu tiên của Liên Xô, và đã từng cho xuất bản hoặc đồng tác giả của hơn 200 bài báo về đề tài khoa học và 12 công trình nghiên cứu chuyên đề. Ông tững nắm giữ cương vị tiến sĩ khoa học kỹ thuật điện toán và là thành viên của học viện khoa học tự nhiên Ukraina. Ông từng được nhận phần thưởng quốc gia Ukraina và các giải thưởng khoa học V.I. Vernadsky, S.A. Lebedev, V.M. Glushkov. Hiện nay Malinovsky cùng gia đình đang cư trú tại Kiev ![]() Anne Fitzpatrick Lập trình soạn thảo: Tiến sĩ. Anne Fitzpatrick hiện là một nhà nghiên cứu khoa học công nghệ trong ban an ninh nguyên tử quốc tế tại Washington, DC. Năm 1998, bà còn giành được Ph.D. trong đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ tại trường đại học quốc gia và học viện bách khoa Virginia. Bà còn là một thành viên kỹ thuật cốt cán tại phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos trong chương trình vũ khí hạt nhân, chủ nhiệm các dự án hợp tác thí nghiệm nguyên tử của nước Nga và một số cơ quan khác trong nước Nga và Ukraina. Bà đã viết một số bài báo cũng như có rất nhiều bài diễn thuyết và chuyên đề nghiên cứu. Những người Tiên phong trong nền Tin học Xô Viết, là cuốn sách đầu tiên do bà biên tập. Hiện nay bà đang viết một bản thảo về tin học, công nghệ thông tin, và cuộc chạy đua vũ trang. ![]() Kate Maldonado Cố vấn biên tập: Kate Maldonado là một cố vấn biên tập của Những người Tiên phong trong nền Tin học Xô Viết. Hiện bà là kế toán viên tại Hội khoa học liên bang Mỹ tại Washington, DC. Trước đây, bà từng giữ cương vị thư ký nghiên cứu Dự án Chiến lược An ninh, và còn tại FAS. Sinh ra tại Moscow, Kate thông thạo cả hai ngôn ngữ Anh và Nga. Bà từng làm việc tại khối truyền thông Đông Tây. Bà đoạt được bằng cấp BS tài chính tại trường đại học Maryland và cũng đã từng là kế toán viên và nhân viên phân tích tài chính của Host Marriott, Inc. ![]() Emmanuel Aronie Dịch thuật: Emmanuel Aronie, ông sinh vào tháng 5 năm 1946 và lớn nên trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Ông từng học bốn năm tiếng Nga tại trường trung học ở Concord, Massachusetts. Năm 1992 ông có cơ hội đến Kiev Ukraine, để dạy tiếng Anh và đã quen biết với gia đình Malinovsky http://sovietcomputing.com |
| Được cảm ơn bởi: | ||
BelayaZima (19-12-2007) | ||
|
#2
|
|||
|
|||
|
Chương I: Con đường dẫn đến rạng danh Những người mở đường trong những người tiên phong: Những người sáng lập nền công nghệ điện toán của Xô Viết. ![]() Sergei Alexeevich Lebedev Giữa những năm 1940 và 1970, ngành công nghệ điện toán của Xô Viết được phát triển rất nhanh. Trong thời gian này, tất cả các trường khoa học điện toán danh tiếng nhất của Xô Viết được thành lập bởi Sergei Alexeevich Lebedev , Victor Mikhailevich Glushkov, Isador Semenovich Brook và Bashir Iskandarovich Rameev. Nhưng chỉ có Lebedev là người quan trọng nhất Từ năm 1948–1951, tại học viện khoa học tự nhiên Ukraine (ASU), Lebedev trực tiếp thiết kế và phát triển một chương trình kho dữ liệu máy điện toán đầu tiên trên lục địa châu Âu. Tuy Lebedev đã đặt tên cho chiếc máy là – Máy điện toán điện tử thu nhỏ, nhưng nó được cấu tạo bởi sáu ngàn chiếc bóng đèn điện tử và nó cũng khó có thể đặt vào được phía bên trái một ngôi nhà cũ của tu viện ở gần Kiev nơi mà nó đã được lắp ráp. Đó là vùng Feofania, ngoại ô của Kiev, một trạm của bệnh viện tâm thần Kiev đã sử dụng từ trước thời chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đến khi bọn quốc xã Đức đến chiếm đóng Feofania vào năm 1941, chúng đã tàn sát hết tất cả bệnh nhân ở đây và dựng lại làm một bệnh viện quân đội. Ngôi nhà đó bị thiệt hại nghiêm trọng trong thời gian giải phóng Kiev. Năm 1948, nó được sử dụng làm phòng thí nghiệm của học viện xây dựng khoa học kỹ thuật điện. Chẳng dễ dàng gì khi đến Feofania bằng xe buýt, bởi vì những con đường trong mùa xuân và mùa thu thực sự không thể vượt qua được. Vào mùa hè, tuy nhiên Feofania lại bị bao bọc bởi một khu rừng gỗ sồi và trở nên một chốn tuyệt đẹp đông đúc với những tiếng chim hót, thỏ con và ngập tràn những nấm cùng quả mọng rừng. Tôi gặp Sergei Alexeevich lần đầu tiên vào mùa thu năm 1950 tại một trong những cuộc hội nghị của hội đồng xây dựng kỹ thuật điện. Khi đó, diện mạo của ông không có gì gây ấn tượng và đặc biệt cả. Ông là một người có dáng thấp, gầy và đeo một cặp kính gọng đen nên nó đã làm cho khuôn mặt của ông trở nên thô ráp hơn so với thực tế. Giọng nói của ông rất lớn hơi khàn nhưng điềm đạm. Ông đã chủ tọa hội nghị một cách êm ả và có tổ chức, ông rất chăm chú lắng nghe diễn thuyết. Ông bình luận một cách gãy gọn và vắn tắt. Nếu như có một ai đó nói một câu đùa vui, ông liền cười vang thiện cảm. Khi nụ cười trùm lên khuôn mặt nghiêm nghị vốn có của Sergei Alexeevich, nó như bùng lên những tia nắng mặt trời làm lóe lên rực rỡ trong căn phòng u ám. Khuôn mặt ông trở nên ân cần và ngây thơ như trẻ nhỏ… Sergei Alexeevich Lebedev sinh ngày 2 tháng 11 năm 1902 tại Nizhniy Novgorod - nước Nga, trong một gia giáo. Cha mẹ ông thường khẳng định rằng, một giáo viên nhất định là phải là một khuôn mẫu cho các học sinh giống như con cái trong gia đình của anh ta. Nguyên tắc chính trong sự giáo dục của Sergei Alexeevich là tính lương thiện, chính trực, đạo đức nghề nghiệp không thể phạm sai lầm, không dung thứ cho những nhỏ nhen đê tiện và thái độ khúm núm. Những đức tính đó đã sớm ảnh hưởng tới nhân cách của Sergei Alexeevich và đứa con Lebedev Năm 1923, Lebedev theo học tại học viện kỹ thuật Baumann ở Moscow. Ở đây, ngay lập tức, ông đã mải mê chăm chú đến môn khoa học tự nhiên. Ông đã vào chuyên ngành trong trường của công nghệ điện áp cao và bảo vệ luận án "Tính ổn định của cách mắc song song trong các trạm phát điện". Đây là một bài luận văn quan trọng rất có tính khoa học và ứng dụng cao. Nhận bằng tốt nghiệp kỹ thuật điện vào tháng tư năm 1928, Lebedev lập tức giữ lại làm giảng viên của học viện Baumann và là một nhân viên nghiên cứu tại viện kỹ thuật điện quốc gia V. I. Lenin (VEI). Không lâu sau, ông nắm giữ cương vị lãnh đạo nhóm nghiên cứu của (VEI) và sau đó là phòng thí nghiệm hệ thống năng lượng điện. Năm 1933, cùng với A.S. Zhdanov, ông cho công bố một chuyên khảo mang tên – Tính ổn định của cách mắc song song trong hệ thống điện, chuyên khảo này vào năm 1934 được xem lại và tái bản. Một năm sau, ủy ban chứng chỉ cấp cao quốc gia đã công nhận nhà khoa học trẻ là giáo sư đại học. Năm 1939, Lebedev bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Sergei Alexeevich công tác tại Moscow hầu như trong 20 năm, trong mười năm cuối ông là giám sát của ban tự động hóa của (VEI). Trước khi xảy ra cuộc chiến tranh Ái quốc Vĩ đại, (VEI) là một trong những viện nghiên nghiên cứu khoa học nổi tiếng nhất và có rất nhiều các nhà khoa học lỗi lạc từng công tác tại đây. Ban tự động hóa chuyên nghiên cứu các hệ thống kiểm soát năng lượng, nguyên lý kiểm soát tự động, biện pháp mới của kỹ thuật tự động và cơ học từ xa. Viện đã kết hợp chặt chẽ các kết quả nghiên cứu để đưa ra ứng dụng trong thực tiễn http://sovietcomputing.com Thay đổi nội dung bởi: nthach, 02-04-2008 thời gian gửi bài 22:25 |
|
#3
|
|||
|
|||
![]() Đứa con – Trí tuệ đầu tiên của S.A.Lebrdev - MESM, L.N.Dashevsky(bên phải) và S.B.Pogrebinsky trên bàn điều khiển. ![]() V.V.Krainickyi trên bàn điều khiển. ![]() Shkabara Ekaterina, nhà nghiên cứu của viện kỹ thuật điện, tiến sĩ khoa học kỹ thuật. Bà là người khai triển hệ thống điều khiển tự động và thiết bị tồn trữ từ tính. Bà cũng là đồng tác giả của cuốn " Chiếc máy tính số điện tử loại nhỏ", 1952 Hầu như mỗi dự án trong trường kỹ thuật năng lượng được khai triển bởi các nhà khoa học của viện đều cần đến những điều kiện tin học phức tạp, để tính toán đến các dữ liệu của nó hoặc bao gồm chúng trong lĩnh vực của các thiết bị tin học. Do đó, các sự tính toán trên 9600 Megawatt, tuyến năng lượng điện áp kéo dài một ngàn kilomet– dự án thủy điện Kiubyshev-Moscow – đòi hỏi cần phải có thiết bị phần cảm điện tự động có tính năng cao cùng với những tụ điện để tái tạo chính xác mô hình tuyến. Những mẫu mô phỏng của tuyến được thiết dựng trong một ngôi nhà tại quảng trường Nogin ở Moscow và mẫu tiếp theo của mô hình được dựng tại Sverdlovsk. Một thiết bị chuyên dụng tương tự như thiết bị tin học để sử dụng cho các mô hình đó đã được các nhà khoa học lập đồ án thiết kế để tăng hiệu suất tính toán cho tuyến chuyền tải năng lượng điện này Trong thời gian nổ ra cuộc chiến tranh Ái quốc Vĩ đại, Lebedev đã phát triển một hệ thống định vị cho pháo tăng để trực tiếp thông qua trên chiến trường. Chưa có ai biết được đã có bao nhiêu biên đội tăng tăng đã được an toàn do hệ thống này bảo vệ, hệ thống ổn định cho phép pháo tăng nhắm bắn vào mục tiêu trong khi xe tăng đang di động. Điểm đặc trưng của hệ thống này đã làm giảm thiểu mức thương vong cho xe tăng của Nga, Lebedev đã được trao tặng huân chương Lao động Đỏ và huy chương "Anh hùng lao động trong thời kỳ Chiến tranh Ái quốc Vĩ đại, 1941-1945." Trong chiến tranh rất cần phát triển một thống tương tự các nguyên lý của hệ thống điện toán để thực hiện các phép tính số học cơ bản cũng như phép lấy vi phân và tính toán các phép tích phân cho hệ định vị pháo tăng và hệ thống điều khiển tên lửa tự động. Năm 1945, Lebedev đã phát minh ra một chiếc máy tính tỷ biến đơn giản để tìm đáp án tổng hợp thông thường của các phương trình vi phân trong các bài toán kỹ thuật năng lượng. Vợ của Lebedev, bà Alisa Grigorievna đã nhớ lại những tháng đầu trong cuộc chiến tranh, trong những đêm tối mù mịt của Moscow, chồng bà ngồi trong buồng tắm làm việc dười ánh sáng lờ mờ của chiếc đèn dầu viết vội vàng những con số 1 và 0 của các bài toán nhị phân. Bản phác thảo tài liệu liên quan đến MESM vẫn còn được giữ lại tại viện khoa học quốc gia Ukraina ở Kiev. Có rất nhiều tài liệu được chính Lebedev tự thảo ra. Một số người đã viết lên các tài liệu đó với dòng chữ - "Lưu giữ vĩnh viễn" – hơn bốn mươi năm trước. Một số trích dẫn cũng được lưu giữ tại đây. Trong một bức thư ngắn gửi cho hội hợp tác học viện khoa học Liên Xô vào đầu năm 1957, Lebedev đã viết: - Tôi đã bắt đầu thử nghiệm máy điện toán điện tử tốc độ cao vào cuối năm 1948. Giữa những năm 1948 và 1949, tôi đã cho phát triển những nguyên lý cơ bản của cấu tạo đồng dạng máy điện toán. Xét về đặc tính rất quan trọng của máy điện toán trong sự phát triển nền kinh tế của chúng ta, cùng với cơ hội để xây dựng nền điện toán ở Liên Xô, tôi quyết định cho chế tạo nhanh chóng chiếc máy điện toán điện tử loại nhỏ, nó sẽ trợ giúp cho nghiên cứu các nguyên lý cơ bản của ngành xây dựng máy tính, khảo sát các chiến lược để giải các bài toán kết hợp và tăng thêm kinh nghiệm trong thao tác máy tính. Chúng tôi đã lập kế hoạch ban đầu để thiết lập một phiên bản què của máy và sau đó phát triển nó vào chiếc máy tính điện tử loại nhỏ. Để ngăn chặn sự tải chậm, nó cần phải được thiết lập một ngân hàng bộ nhớ thông qua khối mạch lật, ngân hàng này sẽ có dung lượng bộ nhớ giới hạn. Sự triển khai các nguyên lý cơ bản đã được hoàn thành vào năm 1948. Các thành phần chủ yếu của máy tính và các biểu đồ mạch chính cho các thiết bị của nó cũng đã được hoàn thành vào cuối năm 1949. Cuối năm 1950, những sự hiệu chỉnh cuối cùng trên phiên bản què đã được hoàn tất và thành công tốt đẹp trước khi đi vào hoạt động. Còn tiếp http://sovietcomputing.com |
|
#4
|
|||
|
|||
![]() Dashevsky Lev, Nhà nghiên cứu thuộc viện Kỹ thuật Điện, tiến sĩ Khoa học Kỹ thuật. Ông là người khai triển và thực hiện gỡ rối cuối cùng của MESM . Ông cũng là tác giả của cuốn "Chiếc máy tính điện tử cỡ nhỏ" 1952 ![]() Rabinovich Zinoviy – Tham gia sáng tạo chiếc MESM (các bộ phận bên ngoài) ![]() Pogrebinsky Solomon - – Tham gia sáng tạo chiếc MESM (Biến thể cơ bản của thuật toán) Hai tháng sau khi thuyết minh mô hình, Lebedev đã làm một báo cáo tại một phiên họp khép kín của hội đồng khoa học kỹ thuật năng lượng nhiệt và điện. Biên bản của phiên họp được lưu trữ tại học viện khoa học Ukraina. Xét về tầm quan trọng lịch sử của tài liệu này, xin được giới thiệu dưới đây: Tối mật. Biên bản phiên họp khép kín số 1 của hội đồng khoa học thuộc Viện ASU Công nghệ Kỹ thuật Năng lượng Nhiệt và Điện ngày 8/1/1951 Thành phần tham dự: Các thành viên thuộc hội đồng khoa học: Các thành viên chủ động của ASU I.T. Shvetz, S.A. Lebedev, thông tin viên Teitelbaum, các tiến sĩ khoa học kỹ thuật A.D. Nesterenko, V.I. Tolubinsky, các ứng viên khoa học kỹ thuật, E.V. Kruschova, A.N. Miliakh, A.I. Petrov. Khách mời tham dự Chủ tịch cục OTN, quyền thành viên ASU, N.N. Dobrokhotov Viện toán: Giám đốc viện, quyền thành viên ASU, A.U. Ishlinsky, trưởng ban I.B. Pogrebisky, tiến sĩ khoa học kỹ thuật S.G. Krain. Viện Công nghệ Mạ điện: đổng sự phòng thí nghiệm biến cải và mô phỏng (Trưởng phòng thí nghiệm S.A. Lebedev), các ứng viên khoa học L.N. Dashevsky và E. A. Shkabara, trợ lý khoa học Z. L. Rabinovich, kỹ sư S. B. Pogrebinsky, đồng sự phòng thí nghiệm tự động hóa, ứng viên khoa học G.K. Nechaev. Chương trình nghị sự: Giải tính máy điện tử (Báo cáo của giám đốc viện ASU công nghệ điện tử, quyền thành viên ASU S.A. Lebedev) Chấp thuận: Báo cáo của quyền thành viên ASU S.A. Lebedev “Giải tính máy điện tử” Các nguyên lý thao tác của máy hiệu suất cao có các nguyên tắc số học. Mục tiêu căn bản của máy là làm gia tốc và tự động giải các phép tính. Phòng thí nghiệm đã được giao nhiệm vụ tạo dựng một nguyên mẫu hoạt động của một máy điện toán điện tử có hiệu suất cao. Trong sự phát triển nguyên mẫu, chúng ta có thể chấp nhận một vài hạn chế, tốc độ của máy điện toán có khả năng giải 100 phép tính trên giây, máy có giới hạn 5 bit trong hệ thống thập phân (16 bit trong hệ thống nhị phân) Máy có thể cộng, trừ, nhân, chia và thực hiện các hoạt động khác như, so sánh, dịch chuyển và dừng lại, nó còn cho phép những khả năng cải biến để làm tăng thêm những chức năng khác Nguyên tố cơ bản của máy là làm các phép tổng kết. Các Rơle điện tử cũng đã được sử dụng (các ngăn trigơ), trong các ngăn đó dòng điện được chuyển mạch từ một bóng đèn điện tử đến một bóng khác bằng đường dẫn xung lượng trên một khung lưới. Máy tính cũng cho các tổng từ các phép tính khác đã được thiết lập. Để thay thế cho hệ thống thập phân, một hệ thống nhị phân được cài đặt, hệ thống này được xác lập bởi các cấu phần của các ngăn trigơ (S.A. Lebedev đã sử dụng một lưu đồ để sàng lọc các hoạt động của máy tính). Để bổ sung thêm cho các nguyên tố cơ bản của tin học, chiếc máy cần phải có các nguyên tố khác chi phối qui trình tính toán như, cho quyền cài đặt thiết bị và các cơ sở dữ liệu của bộ nhớ. Năm 1951, phòng thí nghiệm được giao nhiệm vụ chuyển nguyên mẫu thành một chiếc máy hoạt động.Cho đến thời điểm này, sự trở ngại lớn nhất là thiếu các thiết bị tự động nạp và xuất dữ liệu của các kết quả nhận được. Sự tự động của các quá trình này được thực hiện bởi sự trợ giúp của băng từ do viện vật lý khai triển (Trong phòng thí nghiệm của ASU thông tin viên A.A. Kharkevich). Các câu hỏi được đặt ra: N.N. Dobrokhotov: Các máy tính khác sẽ được phát triển ở Liên Xô như thế nào và nếu như chúng đã được triển khai thì trên nguyên lý gì? A.I. Petrov: Lĩnh vực ứng dụng của tính như thế nào? A.U. Ishlinsky: 1) Thời gian hoạt động của các nguyên lý máy tính như thế nào? 2) Độ tin cậy máy tính như thế nào trong trường hợp phân tử gặp sự cố? 3) Các anh sẽ giải quyết ra sao khi sử dụng các tài liệu kỹ thuật nước ngoài? 4) Cần phải có đủ năng lực như thế nào cho những người sử dụng máy tính? G.K. Nechaev: Sự tương quan gì giữa thời gian tính toán và thao tác xuất (nhập dữ liệu) trong cơ cấu tự động của máy tính? I.T. Shvetz: 1) Tình trạng phát triển các máy tính điện tử như thế nào ở các viện khác? 2) Tình hình về vấn đề này như thế nào ở các nước khác và các tham số của họ được so sánh với chúng ta như thế nào? 3) Ai là người đã khai triển ra các ngăn Trigơ, đã được bao lâu rồi và hiện nay chúng đang được sử dụng ở đâu? 4) Viện ASU đang áp dụng thuật toán ra sao, Viện ASU vật lý và Học viện Khoa học Liên Xô đã xây dựng các qui tắc cho độ chính xác cơ học và công nghệ thông tin trong thành phần cấu tạo của tổ hợp này? L.I. Tsukernik: Những giải pháp gốc đã được viện ASU kết hợp chặt chẽ bằng công nghệ mạ điện trong máy tính như thế nào S.G. Krain: Những nhiệm vụ gì sẽ được tiến hành triển khai và máy tính có thể hoạt động tự động? S.A. Lebedev: Tôi đang tiến hành thực hiện các công việc tương tự như các câu hỏi trên. Hiện nay, tôi đang có số liệu của 18 chiếc máy tính do Mỹ chế tạo. Những số liệu này, chỉ mang tính chất quảng cáo, chứ nó không có bất kỳ một dữ liệu thông tin để chế tạo chiếc máy tính như thế nào. Về câu hỏi đến sự xây dựng nền tảng máy điện toán, chúng ta cần phải đuổi kịp những sự phát triển của nước ngoài và chúng ta cần phải tiến hành thực hiện một cách thật nhanh chóng. Như trong tài liệu của nước ngoài đã có, để thiết kế dự án và dựng lên được một chiếc máy tính thì cần phải mất từ 5 đến 10 để hoàn thành. Những tham số của những chiếc máy tính do Mỹ sản xuất là: Thời gian tính nhân trên ENIAC – 5.5 phần nghìn giây, trên EDVAC – 4 phần nghìn giây, còn của chúng ta là 8 – 9 phần nghìn giây Cùng sát cánh với Học viện Khoa học Kỹ thuật Công nghệ Mạ điện, chúng tôi đang đồng tiến hành để khai triển máy tính này tại: a) Bộ Xây dựng Máy và Công cụ SKB-245 ; ở đây họ bắt đầu đang phát triển một bộ phận sử dụng các Rơle cơ học, nhưng hiện nay họ đã chuyển sang sử dụng hệ thống điện tử; b) Viện năng lượng ASU, ở đây họ đang tiến hành phát triển các ngăn Trigơ; c) Viện Cơ khí Chính xác và Công nghệ Máy tính AS-USSR, họ cùng hoạt động chung với các công việc của chúng tôi. Chiếc mày này gần giống như chiếc MESM, nhưng trong dự định, nó có hiệu suất cao hơn cả những chiếc máy do Mỹ chế tạo hiện nay. Thời gian giải toán của chiếc máy tính này sẽ có giá trị bằng 0.2 phần nghìn giây Đó là là các ứng dụng cho chiếc máy tính của chúng ta. Trên lý thuyết, tất cả các luận đề có thể đơn giản hóa vào một định dạng số và có thể giải bằng chiếc máy này. Nó cũng có thể giải được các phương trình vi phân và tự thành lập các bảng tính. Các tiện ích khác của chiếc máy này là nó có khả năng thực hiện tương tự như giải các phép tính với dữ liệu nhập vào biến đổi (Thí dụ như: tính toán đường bắn của tên lửa điều khiển). Máy tính điện tử cũng cho phép áp dụng các phương pháp toán học mới để giải các bài toán vật lý. Rút ra kinh nghiệm từ những khó khăn ở nước ngoài đã gặp phải, khâu xuất bản tài liệu rất khan hiếm. Chúng ta cần phải chia nhân viên làm ba phân đoạn để tiến hành làm việc trên máy: Các nhà toán học (Lập trình mã hóa): những người thợ máy (để sử lý các sự cố của máy); và những người có thể làm được cả hai công việc trên Thời hạn nhập dữ liệu và thời gian xuất kết quả dữ liệu của máy tính ngang bằng với thời gian chu kỳ thao tác. Học viện Khoa học Kỹ thật Toán sẽ tham gia triển khai lập trình các thuật toán và viện Vật lý ASU sẽ tiến hành khai triển băng ghi từ tính Để tăng thêm độ tin cậy của máy, chúng ta sẽ thực hiện một thử nghiệm sơ bộ bóng đèn điện tử. Sự hỏng hóc của bất kỳ yếu tố nào trong máy cúng có thể dễ dàng phát hiện ra. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
cyxovi (28-12-2007) | ||
|
#5
|
|||
|
|||
|
Những phát biểu:
A.U. Ishlinsky: Tạo dựng nguyên mẫu chiếc máy tính, đó cũng là một trong những thành tựu ấn tượng nhất của ban khoa học công nghệ và của S.A. Lebedev. Ở đây không cần phải thảo luận về sự quan trọng của chiếc máy tính. Sự ra đời của chiếc máy điện toán sẽ gỡ bỏ các khó khăn và nó sẽ trợ giúp chúng ta đi bằng một con đường ngắn nhất để đạt kết quả nhanh chóng cho ứng dụng của các phương pháp tính toán hiện nay. Phải khẳng định là, những chiếc máy tính sẽ được sử dụng khắp nơi ở trong các lĩnh vực như công nghiệp quốc phòng cũng như trong lĩnh vực khoa học. Công trình thiết kế chiếc máy tính là một thành tựu vĩ đại trong khoa học. Trong tương lai, máy tính sẽ không còn là một chiếc máy tính toán thông thường cho các mục đích ứng dụng nữa. Trái lại, những công việc nghiên cứu khoa học sẽ được tiến hành thực hiện nhanh chóng bởi sự trợ giúp của những chiếc máy tính này. N.N. Dobrokhotov: Tầm quan trọng trong sự chỉ đạo nghiên cứu chiếc máy tính khá là hiển nhiên. Nhiệm vụ của ASU là cần phải thiết kế một chiếc máy tính tốt hơn những chiếc máy tính của nước ngoài hiện nay. để đảm bảo rằng, những điểm thiết yếu của nó sẽ làm thay đổi những dư luận, cũng như những tranh luận về các điểm chủ yếu trong thiết kế máy điện toán. Tình hình cấp bách hiện nay là cần thảo luận công việc này trên lĩnh vực toàn quốc gia. S.E. Teitelbaum: Cần phải mở rộng và tăng cường thêm nhân viên và nguyên vật liệu để đẩy nhanh tiến độ công trình quan trọng này. S.G. Krain: Sử dụng một chiếc máy tính sẽ cho phép chúng ta ứng dụng được các phương pháp công nghệ tiên tiến. Để thuận tiện cho vấn đề này, chúng ta cần phải tăng cường và nỗ lực trong nghiên cứu. I.T. Shvetz: Theo báo cáo của Lebedev đã giới thiệu, nó đã mang đến một cảm giác mãn nguyện và niềm hãnh diện trong Học viện Khoa học của chúng ta, công trính nghiên cứu máy điện toán có liên quan đến một số công trình quan trọng nhất của ASU. Cần phải trợ giúp sự phát triển công trình này và thúc đẩy sự thực thi chiếc máy tính ở mức độ cao nhất. Ở đây có một số thiếu sót như: 1) S.A. Lebedev không có chủ trương làm công trình này cho ASU. 2) Sự tương tác giữa các viện với nhau không được toàn diện và chúng cần bảo đảm rằng, viện ASU và viện Toán Lý cần sự cộng tác thật chặt chẽ. 3) Chúng ta sẽ không sử dụng giới hạn "Toán logic" đối với máy tính, bởi vì máy tính không thể thực hiện được các phép tính logic. Chúng ta sẽ thay thế giới hạn khác để hoàn thiện hơn. Dĩ nhiên tôi tin rằng, phạm vi của công việc sẽ tăng thêm, nhưng đây không phải là công việc quan trọng nhất tại ASU. Một điều nữa cần phải chú tâm là vấn đề tài chính được cấp cho ASU năm 1951 sẽ bị cắt giảm. S.A. Lebedev: Tôi cần nhấn mạnh tầm quan trọng của công trình thiết kế chiếc máy tính. Mọi người hãy lắng nghe một ví dụ sau đây: Chỉ có một phương pháp hiệu quả nhất để ngăn chặn tên lửa tầm xa là bắn lên một tên lửa chống – tên lửa. Để làm được vấn đề này, chúng ta phải xác định được điểm có khả năng đánh chặn. Sự ứng dụng máy tính sẽ cho phép chúng ta tính toán được đường bay của tên lửa và bảo đảm đường bắn vào mục tiêu chính xác. Phù hợp với chỉ thị của chính phủ, dự án thiết kế máy tính sẽ được hoàn thành vào quí một năm 1951. Dự án dạng biểu đồ này sẽ được đệ trình lên ban hội thẩm chuyên viên để định giá toàn diện. Tôi đồng ý rằng, sẽ thúc đẩy tính hợp tác chặt chẽ giữa Viện ASU với viện Toán Lý. Chúng ta có những mối liên kết Viện Cơ khí Chính xác và Công nghệ Máy tính không chỉ ở trong lĩnh vực tài chính (Tuy đây là vấn đề quan trọng bởi nó sẽ cung cấp khả năng để tạo dựng một chiếc máy nguyên mẫu) mà còn trong lĩnh vực khoa học. Nếu ai tôn trọng để sử dụng chiếc máy tính MESM này, thì nó sẽ rất khó từ chối với những ai cần đến nó; chúng ta rất khẩn thiết để phát triển công trình này bởi chiếc MESM là chiếc máy tính duy nhất đang hoạt động ở Liên Xô tại thời điểm này Giải quyết: 1) Công việc của viện công nghệ ASU – dưới sự giám sát của S.A. Lebedev – chiếc máy điện toán được hoàn thiên khá hiện đại, rất khoa học và đặc biệt thích hợp với nền quốc phòng của Liên Xô cũng như trong rất nhiều môn nghiên cứu khoa học khác. 2) Đề nghị S.A. Lebedev đưa ra yêu cầu chính thức đến đoàn chủ tịch ASU, đề nghị tài trợ để tiếp tục phát triển nền máy tính Xô Viết, để xúc tiến công việc và mở rộng cơ sở thí nghiệm ở Feofania, để chuẩn bị tăng cường nhân viên và để bảo đảm cho sự tham gia thiết yếu của các viện ASU khác trong công trình này. 3) Xét về đặc tính phức tạp trong công việc được thực hiện bởi Viện Công nghệ Mạ ASU cùng với Viện Cơ khí Chính xác và Công nghệ Máy tính và Viện Toán Lý ASU, cần phải sắp đặt một kế hoạch để cùng cộng tác nghiên cứu có hiệu quả cao nhất và sắp xếp công việc dựa trên sự tham gia của những cơ quan khoa học Ukraina và Xô Viết, cùng với bộ Chế tạo Máy và Công cụ của Liên Xô. Chủ tịch Hội đồng Khoa học, thành viên ASU - I.T. Shvetz. Thư ký khoa học — E. V. Krushchova ![]() Zorina-Rapota Zoya - Bộ nhớ trên trống từ Gladish Anna – Trống từ Okulova Ivetta – Bộ nhớ trên trống từ Chernjak Rostislav - Bộ nhớ trên trống từ |
|
#6
|
|||
|
|||
![]() Lidiya Abalishnikova – phần Số học Kondalev Andrei – Bộ nhớ thụ động Kraynitskiy Vladimir – Bàn điều khiển Pinevich Mikhail - -Biến thể thứ nhất của phần số học Dưới đây là một tài liệu rất quan trọng khác, Lebedev đã viết trong ghi chép hàng ngày của ông, tài liệu này có thể cho chúng ta thấy được niên đại những giai đoạn thiết kế của chiếc máy điện toán đầu tiên của Liên Xô – chiếc máy MESM. Bản nháp mật. Các giai đoạn phát triển của chiếc máy tính điện tử (cỡ nhỏ) đầu tiên. 1. Tháng 10 – 12 năm 1948: Phát triển các nguyên lý cấu tạo cơ bản cho một chiếc máy tính. 2. Tháng 1 – 3 năm 1949: Các nguyên tắc chung đã được thiết lập để triển khai các yếu tố phân tử tách rời. Hội thảo trên máy tính với các đại diện của viện toán, lý ASU 3. Tháng 3 – 4 năm 1949: Phát triển các Trigơ trên các đèn chân không 6N9M và 6N15 - Phát triển các Logic - Phát triển các máy phát xung - Phát triển các máy đếm trên các đèn chân không 6N15 4. Tháng 5 – 6 năm 1949: Phát triển các đơn vị số học trong các đèn chân không 6N15 (phiên bản 1). - Chuyển giao các vị trí mới và cơ cấu của phòng thí nghiệm 5. Tháng 7 – 9 năm 1949: phát triển các đơn vị số học cho các đèn chân không 6N9 (phiên bản 2) - Phát triển các nguyên lý bộ nhớ tĩnh. - Phát triển bảng chuyển mạch điện tử. 6. Tháng 10 – 12 năm 1949: Thiết lập các thiết kế chính cho máy nguyên mẫu - Phát triển thiết kế tổng thể cho máy tính. - Chuẩn bị và tạo dựng cấu trúc cho máy tính. 7. Tháng 1 – 3 năm 1950: Phát triển và chuẩn bị các tổ ngăn cách và gỡ rối của chúng - Phát triển và chuẩn bị bảng điểu khiển máy tính. 8. Tháng 4 – 7 năm 1950: Phát triển các điều kiện kỹ thuật của ổ nhớ từ tính. - Cài đặt các bộ phận vào khung máy và lẳp ráp các bộ phận kết nối chìm - Lắp ráp các phần kết nối giữa khung máy và bảng điều khiển. - Tu sửa giao diện giữa các bộ phận khung máy và các bộ phận nhóm. - Chế tạo ổ nhớ từ tính tại viện lý ASU. - Thành lạp chi nhánh của viện Cơ khí chính xác và Công nghệ máy tính tại kiev. 9. Tháng 8 – 11 năm 1950: Gỡ rối các các chương trình máy từ bảng điều khiển. - Thử nghiệm khởi động lần đầu tiên trên nguyên mẫu máy tính (6/11/1950). 10. Tháng 11 – 12 năm 1950: Tăng thêm các khối nhớ để mở rộng dung lượng bộ nhớ. - Sàng lọc các phép tính: Cộng, trừ, nhân và so sánh. 11. Tháng 1 – 2 năm 1951: - (4/1/1951) Thuyết minh sự vận hành của máy nguyên mẫu với ủy ban quốc gia. - Soạn thảo các hoạt động để hoàn thành công việc trên máy nguyên mẫu. Trong khi thuyết trình nguyên mẫu, đã giải quyết một trục trặc trên máy tính do phép toán số học của một chuỗi số lẻ giai thừa đã tăng lên một bậc. - Bắt đầu tiến hành chuyển máy nguyên mẫu thành một máy tính có thể hoạt động (MESM). 12. Tháng 3 – 5 năm 1951: Phát triển hệ thống lệnh và hằng số. - Giới thiệu các kết quả bản ghi hình ảnh. - Phát triển hệ thống kiểm soát bộ nhớ từ tính. - Khởi động hệ thống lệnh và hằng số - Trình bày các hoạt động của máy tính với hội đồng chính phủ và ủy ban chuyên môn. 13. Tháng 6 – 8 năm 1951: Lắp các thiết bị cho các thẻ tách rời của nguồn dữ liệu nhập ban đầu. - Lắp thiết bị cho các thẻ đục lỗ tách rời của dữ liệu đầu vào ban đầu. - Tích phân các nguyên số mới để thi hành các lệnh của phép tính tổng, nạp dữ liệu cho các chương trình phụ và kết nối với mã hóa của bản ghi tư tính. - Lắp ráp và gỡ rối các hệ thống kiểm soát ổ ghi từ tính. - Phát hành nghị quyết chính phủ (Số. 2759–1321 từ ngày 1 tháng bảy năm 1951), đưa chiếc máy tính điện tử (MESM) hòa mạng vào quí tư năm 1951. 14. Tháng 8 – 11 năm 1951: Rà soát và cải tiến phép chia và các phép tính khác. - Sửa đổi các bộ nhớ để tăng thêm độ tin cậy của chúng. - Hoàn thành sự biến đổi của chiếc máy tính nguyên mẫu và thử nghiệm tổng quát trước khi đưa vào hoạt động. 15. Khởi động máy MESM – ngày 25/12/1951. - Giải quyết một vấn đề thực tế trên máy tính: tính toán trên máy tính chức năng phân bố xác suất 16. Tháng 1 năm 1952: S.A. Lebedev - quyền thành viên ASU báo cáo (4/1/1952) tại đoàn chủ tịch Học viện Khoa học Liên Xô AS - USSR thông qua bản đề nghị đưa chiếc Máy tính Điện tử Cỡ nhỏ đi vào hoạt động. - S.A. Lebedev - quyền thành viên ASU (Học viện Khoa học Liên Xô) báo cáo (11/1/1952) tại đoàn chủ tịch ASU tiến hành đưa máy tính vào hoạt động. 17. Ngày 12 tháng giêng năm 1952: Hoàn thành các bậc của các phép tính trên MESM. Tính hàm: 2100 giá trị của X được tìm thấy với hơn một triệu phép tính 18. Ngày 25 tháng giêng năm 1952: Tính hàm: 850 giá trị của X đã đựoc tính toán và một triệu phép tính đã được xác lập. - Gỡ rối và đặt chương trình cho hệ thống nhớ từ tính - Hoàn thành các tính toán sự ổn định trên Hệ thống Truyền tải Mạ điện Cao thế Kiubyshev-Moscow 19. Ngày 18 tháng chín năm 1952: Tăng thêm các con số của máy tính từ 16 lên 20 để cải thiện độ chính xác của sự tính toán cho 6 vị trí thập phân 20. Ngày 19 tháng 10 năm 1952: Giải quyết vấn đề cân đối các máy phát điện năng lượng đồng bộ tại trạm thủy điện Kuibyshev theo yêu cầu của nàh máy thủy điện trung tâm Volga. - Lập trình các tính toán đồng dạng theo yêu cầu của các tổ chức quốc gia khác cho các dự án quan trọng của đảng. Người được ủy quyền xây dựng hệ thống máy tính điện tử Quyền thành viên ASU – S.A. Lebedev. http://sovietcomputing.com |
| Được cảm ơn bởi: | ||
virus (08-01-2008) | ||
|
#7
|
|||
|
|||
|
Chín ngày trong năm 1982 ![]() В.М. Глушков и разработчики ЭВМ "Промiнь". Слева направо: Н.А. Король, С.Б. Погребинский, Л.Н. Рогач, В.Д. Лосев, A.M. Дородницына, В.И. Журибеда, И.И. Попов, А.А. Стогний, А.И. Толстун Trong khi tôi chuẩn bị và bảo vệ luận văn tiến sĩ tại trường đại học tổng hợp Moscow, tôi sống cùng với một vài nghiên cứu sinh Ukraina, họ đã giới thiệu tôi với viện sĩ hàn lâm Boris Vladimirovich Gnedenko từ học viện Khoa học Ukraina. Vào thời gian đó, Gnedenko là giám đốc Viện Toán và là bí thư viện sĩ ban Toán Cơ. Vào tháng ba năm 1956, ông mời tôi đến Kiev; đây là chuyến chuyến đi đầu tiên của tôi đến đó. Sau khi đi dạo một đoạn trong trường đại học Kiev, Gnedenko đã cho tôi xem hồ sơ cá nhân của những chuyên gia trẻ, họ đã tốt nghiệp và được tuyển chọn vào làm việc tại Viện Toán trong phòng thí nghiệm Lebedev cũ. Phòng thí nghiệm này được tách khỏi Viện Kỹ thuật Điện. Mùa thu năm 1956, trong chuyến đi tiếp theo, tôi đã chuyển hẳn về Kiev. Tôi trở thành trưởng phòng thí nghiệm thiết bị máy tính tại Viện Toán. Phòng thí nghiệm này có nhiệm vụ cải tổ lại thành một trung tâm điện toán của Học viện Khoa học Ukraina, theo một nghị định 1955 để thành lập những trung tâm điện toán trong những học viện trên toàn Liên Xô Rabinovich nhớ lại: Vấn đề này đã làm cho Glushkov rất khó khăn để giải quyết trong vòng nửa năm — thay vì lĩnh vực đại số hình Tôpô mà ông đã giành được những thành quả rực rỡ, nay ông phải chuyển sang điều khiển học, lĩnh vực mà hiện nay đằng sau nó thường có những người có thẩm quyền lên tiêng chỉ trích. Những nhân viên cũ của phòng thí nghiệm do Lebedev đích thân tuyển chọn, nay họ là những người có bề dày kinh nghiệm và là một nhóm các nhà khoa học kết dính. Đó cũng có thể là một lý chính để trả lời vì sao họ lại chưa được hoan hỉ khi chào đón một nhà lý thuyết toán học Glushkov, tuy nhiên với tư cách cá nhân, ông cũng giống như bao người khác từ lúc ban đầu. Tài năng của Glushkov là không thể bác bỏ, sự hiểu biết khác thường, sức hấp dẫn, sự nhiệt tình của ông đã tác động đến người khác về các môn khoa học mới và sự cần mẫn riêng đã đem lại lợi ích để hỗ trợ cho các nhân viên phòng thí nghiệm và sự phát triển của ông trong ngành điều khiển học. Giá trị của nó đã được đề cập trong một vài nghiên cứu chuyên đề được tiến hành thực hiện trong phòng thí nghiệm đã được ứng dụng cho MESM. Cụ thể là, tiến hành nghiên cứu nguyên lý lập trình – do Vladimir Korolyuk Ekaterina Yushenko tạo lập địa chỉ chế độ ngôn ngữ, tiếp theo là chương trình các phương pháp giải quyết tối ưu các vấn đề được Gnedenko, Vladimir Semyenovich Mikhalevich và những người khác tạo lập, Dashevsky là người chỉ đạo của nhóm này và được sự giúp đỡ của Solomon B. Pogrebinsky, Alla Leonidovna Gladish cùng một số người khác. Những nhân viên này cũng tham gia vào các công trình thiết kế khác và cùng tiến hành nghiên cứu, thẻ nghiệm các nguyên lý thiết kế máy tính mới, cụ thể là các Diôt ferit và các dụng cụ bán dẫn. Trong thời gian này, chiếc máy tính SESM đã được thử nghiệm và đang hoạt động tại phòng thí nghiệm. Đây là chiếc máy tính đầu tiên của Liên Xô được hoạt động trên cơ sở bộ sử lý Vectơ Ma trận với cấu tạo đường ống dẫn của các phép tính và phối hợp với nhập và xuất dữ liệu các kết quả tính toán. Cấu trúc của chiếc SESM tương ứng với những ý tưởng của Lebedev, nhưng Glushkov không bác bỏ nó. Trái lại, ông còn rất quan tâm vào dự án này. Khắc phục sự thiếu thiện ý của những nhà thiết kế để làm một bản tổng kết về triết lý thiết kế máy tính SESM (chiếc máy tính đã được hoàn thành) Glushkov đã quyết định viết một cuốn sách về nó. Cuốn sách này được xuất bản tại Mỹ và hình như no là một trong những cuốn sách của Liên Xô được xuất bản tại nước ngoài. Có một dự án đặc biệt tại phòng thí nghiệm là chiếc máy tính Kiev. Dự án này do Gnedenko thành lập và trực tiếp giám sát, phần thiết kế do Dashevsky chịu trách nhiệm. Chiếc máy tính được dự định đem sử dụng tại trung tâm máy tính mới được thành lập ở phòng thí nghiệm trước đây của Lebedev và được cho là một biểu tượng của một dòng máy tính mới trong công nghệ. Nó còn được cho là chiếc máy tính có thêm nhiều thành phần: hệ thống điều chỉnh không đồng bộ (hệ thống đầu tiên của Liên Xô), bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên Ferit (RAM), bộ nhớ bên ngoài trên các trống từ trường, một hệ thống nhập/xuất thập phân (giống như đã được lắp trên chiếc SESM), bộ nhớ thụ động với một tập hợp hằng số và các chương trình con của các hàm sơ đẳng và một hệ thống toán tử nâng cao, bao gồm cả một nhóm các phép tính với các địa chỉ được sửa đổi, cho phép các phép tính được hoàn thành trên các cấu trúc dữ liệu phức tạp. Nhóm các nhà khoa học đã tạo dựng chiếc MESM cũng được kết nạp vào để thiết kế chiếc Kiev. Các nhà khoa học thuộc Viện Toán – Korolyuk, Pogrebinsky, và Yushenko họ thiết kế các phép tính chọn lọc. Glushkov cũng đã tham gia nỗ nực vào giai đoạn cuối về thiết kế kỹ thuật, hiệu chỉnh máy tính, và cùng đóng góp chỉ đạo dự án với Dashevsky và Yushenko. |
|
#8
|
|||
|
|||
![]() ЭВМ МИР-1 Một dự án chuyên đề khác được bắt đầu tiến hành trước khi Glushkov chuyển đến phòng thí nghiệm, nó đã được thiết kế là một hệ thống máy tính gấp đôi để theo dõi mục tiêu sóng rada trên không và các máy bay chiến đấu phản lực để ngăn chặn chúng. Malinovsky và Rabinovich đã lãnh đạo hai nhóm nhỏ để thực hiện dự án này. Malinovsky phụ trách mảng sử lý thông tin rada, còn Rabinovich chịu trách nhiệm thiết kế phần mục tiêu. Khi Glushkov đến, dự án được xắp đặt lại. Ông đặt tất cả mọi thứ vòa một cơ sở khoa học chặt chẽ và đưa vào thành một công thức lý thuyết toán học cho qui trình mục tiêu. Các kết quả công việc của ông được phê chuẩn và được sử dụng để sáng chế một hệ thống phòng thủ chống máy bay theo tiêu chuẩn của Liên Xô. Làm thế nào Glushkov đã khuất phục và thúc đẩy được các nhân viên phòng thí nghiệm một cách nhanh chóng? Điểm thứ nhất là, trí thông minh bẩm sinh của ông đã bao quát được những sự việc to lớn. Nó như là ông có thể bao quát được toàn thế giới trong mọi phương diện ở cùng một thời điểm. Ông có thể ấn định được toàn bộ những sự phức tạp trong sự phát triển nền công nghệ máy tính, để làm sáng tỏ công thức những ý tưởng cơ bản để thiết kế nó, phác thảo những mục đích của hiện tại và tương lai trong lĩnh vực. Cá nhân ông, không thể làm lung lay được sức thuyết phục trong các nhà khoa học của chúng ta. Hồi ký của Viktor Glushkov, ngày 3/1/1982 Những thiết kế máy tính vào thời gian đó được dữa trên trực giác kỹ thuật, xong tôi đã tự mình nghiên cứu các nguyên lý thiết kế máy tính. Với kết quả đó, tôi đã biết tận tường các hoạt động bên trong của một chiếc máy tính. Từ đó, lý thuyết của máy tính đã trở thành một trong những chuyên ngành của tôi, nó đã dẫn dắt tôi chuyển từ nghệ thuật thiết kế máy tính vào một môn khoa học. Đương nhiên, người Mỹ cũng đã làm một số vấn đề tương tự, nhưng sau đó họ cũng chỉ đạt được kết quả tương tự như chúng ta. Lý thuyết của máy tự động làm cơ sở cho sự thiết kế máy tính đã không đủ để phát triển trở lại vào khi đó. Hình như, người đầu tiên đưa ra ý tưởng áp dụng toán học lôgic vào thiết kế các thiết bị kỹ thuật là một người Mỹ tên là Claude Shannon và V.I. Shestakov và Mikhail Alexandrovich Gavrilov của Liên Xô. Họ ứng dụng hình thức đơn giản của toán học lôgic để thiết kế mạch chuyển trong điện thoại. Nó còn được áp dụng cho các mạch điện đơn giản. Do đó, trong những năm sau chiến tranh, nền công nghệ máy tính số bắt đầu phát triển, họ đã cố gắng đem ứng dụng toán lôgic vào giải quyết cho các thao tác trong mạch điện máy tính. Tôi cũng bắt đầu tiến hành làm việc trên vấn đề này và tổ chức một hội nghị chuyên đề về lý thuyết của máy tự động. Tính chất của dự án đầu tiên của tôi là khám phá ra nhiều hơn những phương diện đại số đơn giản và khái niệm hợp lý trên máy tự động của Kleene, và tôi đã thu được toàn bộ kết quả của Kleene. Nhưng điều quan trọng hơn, thậm trí ngoài các kết quả của Kleene, tôi đã phát triển ra những lý thuyết nhằm vào các tao tác thực tế của thiết kế máy móc. Tại hội nghị chuyên đề, chúng tôi cùng thảo luận về thiết kế chiếc Kiev và đã nhận ra những phần lý thuyết của tôi sẽ có khả thi hay không Alexander A. Letichevsky, một người đồng nghiệp của Glushkov nhớ lại: Julia Kapitonova trở thành "linh hồn của hội thảo chuyên đề" chị nguyên là sinh viên ruột của Glushkov. Còn Viktor Bondarchuk và tôi cũng là những người tham dự trung thành của hội thảo. Tôi từng có một thời kỳ lãng mạn: một môn khoa học mới được ra đời ngay trước mắt chúng ta và chúng tôi đã mở mang và phát triển lĩnh vực của nó bằng chính những đôi tay mình. Chúng tôi rất tự hào và hãnh diện khi chúng tôi đã giải được những bài tập mà giáo viên đã giao cho chúng tôi. Lý thuyết của máy tự động không phải ngẫu nhiên mà Glushkov đã chọn lựa. Nó là một kế hoạch tuyệt vời trong biện pháp kỹ thuật. Như một nhà đại số, Glushkov đã nhận ra rằng khái niệm của máy tự động, có từ Stephen Kleene và các tác giả khác trong cuốn Nghiên cứu Thiết bị Tự động (được xuất bản năm 1956, Princeton, N.J. dưới sự chủ bút của Shannon và McCarty; được dịch sang tiếng Nga vào cùng năm đó dưới sự chủ bút của Alexei A. Lyapunov) đã giới thiệu một mẫu toán học cho bộ sử lý thông tin riêng. Mẫu này có thể nghiên cứu bởi sự áp dụng của một ma trận toán học hiện đại. Khi đó, phần mở rộng của ứng dụng lý thuyết trên nền tảng của toán học hữu tỉ có thể thu hút sự chú ý của các kỹ sư, những người chưa am hiểu về lý thuyết toán học để thiết kế những thiết bị bao hàm các yếu tố bộ nhớ. Thêm nữa, lý thuyết của máy tự động có thể trở thành cơ sở cho thiết kế các mẫu hệ thống điều khiển học với những ứng dụng khác nhau. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
ac15101972 (01-04-2009) | ||
|
#9
|
|||
|
|||
![]() ЭВМ МИР-2 Hồi ký của Viktor Glushkov. Ngày 3 tháng giêng năm 1982 ... Trong ban năm, tôi đã vắt óc thử giải một định lý cơ bản trong bài toán suy thứ tư của Hilbert. Tiềm thức tôi luôn làm việc kể cả trong khi ngủ. Một vài lần trong đêm, tôi dường như đã giải được nó, nhưng khi tỉnh giấc vào sáng hôm sau, ra ngồi vào chiếc ghế thì than ôi; chẳng biết lý do gì, những điều đó trở thành một Lôgic sai lầm. Liên tục trong ba năm vắt óc, rồi cũng kết thúc vào năm 1955. Tôi và vợ cùng đi du lịch bộ hành ở Capcas. Khi đang leo trên một đồng băng ở Mt. Kazbek, tôi liền bật ra một ý tưởng có thể giải được bài toán của Hilbert.Tuy nhiên, tôi đã dùng phương pháp này rồi, nhưng trên thực tế tôi luôn sai lầm trong lập luận là bởi ban đầu tôi không tin rằng tôi đã giải được bài toán. Tôi tìm lại sai sót trong đáp án, nhưng không hề có. Trên đường trở về trên xe lửa, tôi nhanh chóng viết đáp án của bài toán và dùng thời gian trong sáu tháng tiếp theo để sửa lại cho hoàn chỉnh. Toàn bộ đáp án này dày 60 trang và được chứng minh chỉ bằng một định lý. Cho đến thời điểm đó, chưa có một ai trên thế giới nêu ra được một chứng minh ngắn gọn hơn cho bài toán. Công trình này đã mang lại cho tôi một danh dự là nhà toán học và một sự toại nguyện trong sáng tạo thật bao la không nói hết bằng lời… Hồi ký của Viktor Glushkov. Ngày 4 tháng giêng năm 1982. Tháng 12 năm 1957, chính phủ và đoàn chủ tịch Học viện Khoa học Ukraine đã ra một chỉ thị thành lập một Trung tâm Máy tính của Học viện. Vào thời gian đó, các nhân viên của chúng tôi gồm có hơn 100 người. Học viện Khoa học Ukraine đã bổ trợ tài chính để xây dựng trung tâm trên đường Lysogorskaya và một ngôi nhà căn hộ lớn cho nhân viên. Ngay từ khi mới bắt đầu, Trung tâm Máy tính được cung cấp ba chiếc máy tính; Kiev, MESM và một chiếc Ural-1. Trung tâm được thiết kế 400 khu vực làm việc và ba đại sảnh lớn để lắp đặt máy tính. Năm 1959, các nhân viên của chúng tôi được rời từ Feofania về Kiev, nhưng trung tâm vẫn chưa được xây dựng xong. Đây là một giai đoạn đáng lưu tâm trong lịch sử Trung tâm Máy tính. Theo yêu cầu kỹ thuật, nơi mà thiết bị máy tính được lắp đặt cần phải sạch sẽ và không khí phải được điều hòa. Vậy mà cho đến giờ này, chúng tôi đã kiểm tra khâu cuối cùng và bắt đầu khai trương lắp đặt chiếc Kiev thì tòa nhà chưa được đổ mái… Chiếc máy tính Kiev đã đóng một vai trò quan trọng trong công việc của chúng tôi, tuy thế nó vẫn chưa được sản xuất hàng loạt. Chiếc Kiev tiếp theo được bán cho viện nghiên cứu nguyên tử quốc tế ở Dubna gần Moscow. Trong những năm 1956 – 1957, nền nghiên cứu hạt nhân bùng nổ. Do đó, sự công tác với học viện đã mang lại những trợ giúp và sự truyền đạt kiến thức cho chúng tôi rất nhiều. Một mặt, chúng tôi đang mang một trọng trách làm đầu tàu trong khoa học; mặt khác chúng tôi cũng phải trau dồi để cùng hợp tác với các tổ chức công nghiệp. Trong thời gian này, nhiệm vụ chính của tôi là thiết lập những qui tắc cơ bản của lý thuyết máy điện toán, phần lý thuyết mà tôi đã thực hiện xong vào năm 1961. Công trình ngiên cứu quả là vô cùng nghiệt ngã và tốn khá nhiều thời gian. Cả ngày tôi lăn lộn với công việc trong viện, tối đến tôi lại vùi đầu vào viết sách và báo chí, tôi thường viết bài đến tận năm giờ sáng. Công việc thật căng thẳng và liên miên mà chẳng có thời gian nghỉ ngơi, nó đã làm tôi giảm sút sức khỏe quá nhiều. Vào đầu năm 1963, tôi bị tai biến mạch máu não và phải nhập viện một thời gian ngắn. Sau đó, tôi buộc phải thay đổi thói quen làm việc và phải giữ gìn sức khỏe. Vợ của Glushkov cũng đã cố can ngăn ông nên giảm mức độ công việc và khuyên chồng nên chú ý hơn đến sức khỏe của mình. Nhưng bà vẫn không thuyết phục được ông: Anh ấy làm việc mười tám đến hai mười giờ mỗi ngày. Suốt ngày chỉ vùi vào công việc mà quyên cả ăn uống. Khi vừa về đến nhà lại vội vàng ngồi vào bàn và làm việc cho đến tận sáng, đôi khi đến tận lúc mặt trời lên. Viktor chắng bao giờ nghe lời khuyên về sự nguy hiểm nếu làm việc quá sức, nhưng lý do của anh đưa ra thì có thể thông cảm được. Trong một thời gian ngắn, anh ấy đã phải nghiên cứu mọi xu hướng mới nhất trong lĩnh vực khoa học của mình. Hơn nữa, anh ấy còn phải có trách nhiệm với một đội ngũ đông đảo các nhà khoa học trong thời này, chứ không phải là riêng mình anh nữa. Rất nhiều khó khăn trong tổ chức lại đến và những vấn đề mới đòi hỏi phải nỗ lực giải quyết. Sau khi anh ấy đã được điều trị, ngay lập tức lại trở về làm việc và có thay đổi một chút về lịch làm việc, nhưng thời gian nghỉ ngơi vẫn còn ít. Anh ấy ghi lại một mảnh giấy, nó thường được nằm dưới một tấm kính trên bàn làm việc ở nhà: "Hôm nay là ngày nghỉ đầu tiên trong của đời của bạn. Đừng nên lãng phí nó" Hồi ký của Viktor Glushkov. Ngày 4/1/1982 Cuốn sách của tôi – Thiết Kế Máy Tự Động Số, được xuất bản vào năm 1961 nó đã trở thành nền tảng của xu hướng khoa học hiện đại trong Viện của chúng tôi và hầu như đóng một vai trò tuyệt đối trong quốc gia. Vào năm 1964, cuốn sách này đã danh dự được nhận phần thưởng Lenin. Tôi cũng còn viết một vài cuốn khác trong cùng thời gian này. Một cuốn giới thiệu về chuyên đề Điều khiển học cũng đã được tôi hoàn thành trong thời gian còn đang trong bệnh viện; cuốn sách này được xuất bản vào năm 1964. Cả hai cuốn sách này còn được xuất bản tại Mỹ và rất trên nhiều các quốc gia khác. Thời gian này, tôi còn viết các bài báo nói về cơ sở học thuyết, những bài báo này đã được đặt làm nền tảng cho rất nhiều công trình cùng thời điểm đó. Bài báo " Thuyết Trìu Tượng trong Máy Tự Động" được in trên tạp chí Thành Công của Toán Khoa Học, nó được coi là rất có giá trị trong khắp giới toán học. Bài báo này được Cộng hòa Dân chủ Đức và các nước khác in lại thành một cuốn sổ tay. Với sự ảnh hưởng của bài báo này, nhiều nhà đại số học của chúng ta đã trở nên bị thu hút vào học thuyết tự động. Tôi cũng lưu ý đến tương lai các trường học: Chúng ta nên cố gắng chú tâm đến thực tiến nhiều hơn là lý thuyết. Cùng với nghiên cứu lý thuyết, chúng tôi vẫn tiếp tục theo đuổi công việc sáng tạo và ứng dụng nền công nghệ máy tính ở Ukraine. Khi đó, các xí nghiệp sử dụng thiết bị tin học tương tự đơn giản để điều hành sản xuất bằng máy tính. Trên mỗi qui trình công nghệ, họ tạo ra một thiết bị riêng biệt, nhất là mỗi thiết bị đó có thể được mô tả bởi phương trình vi phân đơn giản. Vào năm 1958, tại hội thảo tin học ở Kiev, tôi đã đề xuất chế tạo một chiếc máy tính đa năng được lắp một bóng bán dẫn, nhưng đề xuất này bi phản đối. Các nhà khoa học Moscow, do viện sĩ Vadim Alexendrovich Trapeznikov lãnh đạo và rất nhiều chuyên gia kỹ thuật máy tính Xô Viết cùng đưa ra phủ quyết vấn đề này, họ vẫn còn cho rằng, các loại máy tính phải phụ thuộc vào đèn điện tử chân không. Những thiết bị này thì đòi hỏi phải có một khoảng không gian rộng lớn và điều kiện khí hậu thích hợp, chúng trái ngược với thực tế sản xuất và về mặt kiểm soát qui trình công nghệ. Khi này, Boris Malinovsky là một người đầu tiên tiến hành nghiên cứu chất bán dẫn, nó rất có ích cho chúng tôi trong đà phát triển chiếc máy tính điều khiển chung. Chúng tôi đã phác thảo ra những ý tưởng cơ bản, những ý tưởng mà rất có ảnh hưởng đến triết lý sống sau này: chiếc máy tính được lắp ráp bằng các dụng cụ bán dẫn, cần được sách tay, có độ bảo vệ đáng tin cậy, và một từ có độ dài 26 bits – đủ để kiểm soát đa số các qui trình công nghệ. Nhưng ý tưởng chính của chúng tôi là một giao diện đặc biệt có thể kết nối máy tính với các qui trình công nghệ. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
BelayaZima (24-03-2008) | ||
|
#10
|
|||
|
|||
![]() В.М. Глушков и С.Б. Погребинский Malinovsky đã từng là kỹ sư trưởng của chiếc máy tính này và tôi khi đó là cố vấn kỹ thuật. Từ khi ý tưởng này được công bố tại hội nghị vào tháng sáu năm 1958, nó chỉ mất có ba năm để được đưa vào sản xuất một loạt (tháng bảy năm 1961), Và sau đó một năm chúng được lắp đặt ở một số nhà máy. Chiếc máy tính Kiểm soát chung, sau này được mang tên Dnepr, đó là một sự nỗ lực cộng tác với một số xí nghiệp Ukraina để cùng kết hợp kiểm soát các qui trình công nghệ phức tạp. Cùng với nhà máy luyện kim Dzerzhinsky – thành phố Dneprodzerzhinsk – chúng tôi đã phân tích các vấn đề trong hệ thống kiểm soát qui trình vật đúc trong các lò chuyển Bessemer…Ngoài ra, tôi còn đề xướng một cuộc thử nghiệm – Cuộc thử nghiệm đầu tiên ở châu Âu – để kiểm soát một số qui trình đó trong vài ngày liên tục, chúng tôi đã chỉ đạo nghiên cứu các ứng dụng của chiếc Dnepr trên các qui trình hàn tự động được trợ giúp bởi máy tính trong nhà máy ở thành phố Nikolayev. Tận tình tham gia vào các dự án này có Malinovsky, Vladimir Illich Skurikhin, Gleb Alexandrovich Spinu và những người khác. Chúng tôi nghiên cứu dự án này sau khi các nhà khoa học Mỹ đã tiến hành phát triển chiếc máy tính điều khiển bán dẫn – cấu trúc tương tự như chiếc Dnepr, tuy họ triển khai sớm hơn, nhưng khi đưa ra sản xuất thì cùng một thời điểm với chúng tôi vào tháng 6 năm 1961. Đây là một dấu mốc quan trọng, vì chúng tôi đã bắt kịp người Mỹ trong lĩnh vực khoa học rất trọng yếu này. Nó cũng là chiếc máy tính lắp thiết bị bán dẫn đầu tiên của Xô Viết. Chiếc Dnepr trở nên là một chiếc máy tính rất mạnh mẽ, nó có thể chống lại với các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, những thử thách chấn động… Chiếc Dnepr được sản xuất liên tục trong vòng mười năm, từ năm 1961 đến năm 1971, trong khi đó, đặc thù thiết bị máy tính cần phải đổi mới theo chu kỳ chế tạo từ năm đến sáu năm một lần. Sau nhiều cuộc thảo luận trong một chương trình bay liên kết của Soyuz-Apollo vào vũ trụ giữa Xô Viết – Mỹ, loại máy tính Dnepr được chọn làm màn hình hiển thị tại trung tâm kiểm soát bay của chương trình. Dòng máy tính Dnepr còn được xuất khẩu sang nhiều quốc gia Xã hội Chủ nghĩa khác. Dòng máy tính này cũng được chính quyền chấp nhận, bởi kế hoạch - bảy năm phát triển nền công nghiệp Xô Viết – của Ukraina đã không cần đề cập đến việc phải phát triển thêm những dòng máy tính khác. Những chiếc Dnepr đầu tiên được chế tạo, chúng đã được lắp đặt cho nhà máy Radiopribor ở Kiev. Trong thời gian chiếc Dnepr còn đang được thiết kế, chúng tôi đã đề xướng ý tưởng cho xây dựng một nhà máy sản xuất máy tính (tiếng Nga: Zavod Vuichislitel'nikh i Upravlaushikh Mashin, hoặc VUM, ngày nay được mang tên là Electronmash) yêu cầu này đã được chính phủ tán thành. Do đó, gian đoạn oai hùng trong thời kỳ phát triển của chúng tôi đã đi đến hồi kết. Tôi gọi thời gian này là oai hùng bởi vì, chúng tôi đã phải làm việc trong những điều kiện cực kỳ khó khăn và chúng tôi thường mong đợi công trình của chúng tôi được phát huy hết khả năng vốn có nó. Hồi ký của Viktor Glushkov. Ngày 5/1/1982 Vào năm 1962, trung tâm máy tính của chúng tôi được tổ chức lại và đổi tên là Viện điều khiển Học viện Ukraina. Viện nhanh chóng phát triển và chúng tôi cũng đã tham gia vào nhiều lĩnh vực: xác suất tự động, độ tin cậy chức năng của các thiết bị tự động, tiết kiệm kinh tê và năng lượng… Nghiên cứu được tiến hành chuyển đổi từ các thiết bi tự động trong trạng thái hạn chế sang trạng thái vô hạn. Chúng tôi đã khám phá ra một mối liên quan giữa lý thuyết tự động hóa với lý thuyết ngữ pháp hình thức. Chúng tôi đã bổ xung thêm những phương pháp mới của các phân tích và thiết kế tự động; bên cạnh tôi còn có Letichevsky và Kapitonova cũng rất tích cực tham gia vào nghiên cứu này. Công trình của họ cũng đã được công nhận rộng rãi Năm 1959, tôi đã tiến hành thiết kế một chiếc máy tính có thể thực hiện được các phép tính kỹ thuật. Dự án này được khởi động bằng một phác thảo của thiết bị tính số tự động. Đến năm 1963, chúng tôi tiến hành sản xuất một loạt máy tính Promin. Vào thời gian đó, chúng tôi nhận ra là cần phải có một cục chuyên thiết kế, cục này được thành lập vào năm 1963, nhưng nguyên bản của nó đã được hình thành từ rất sớm tại Viện Điều khiển. Các nhân viên đã từng xây dựng chiếc máy tính Promin sau này được nhập vào cục thiết kế này. Dòng máy tính Promin được bắt đầu sản xuất tại xưởng chế tạo máy tính Severodonetsk, do nhà máy Kiev vẫn còn đang được xây dựng. Chính xác là dòng Promin đã được đổi mới, cụ thể là các thẻ nhớ được thêm môt lớp tráng kim loại. Nhưng quan trọng nhất, nó là một chiếc máy tính được lắp đặt một bộ vi điều khiển chương trình từng bước. Thật đáng tiếc, chúng tôi đã không giành được bằng sáng chế quốc tế về cấu hình điều khiển mới này. Hồi đó, Liên Xô không phải là thành viên Hiệp hội Bằng Sáng chế Quốc tế, do vậy chúng tôi không nhận được bản quyền tác giả. Sau này, bộ điều khiển chương trình từng bước được lắp trên chiếc máy tính Mir-1 để tính toán kỹ thuật. Năm 1967, tại một cuộc triển lãm máy tính quốc tế ở London, chiếc máy Mir-1 đã được bán cho IBM – một công ty máy tính lớn nhất tại Mỹ và là một nhà xuất khẩu đến 80 phần trăm thiết bị máy tính cho các nước phương Tây. Đây là công ty đầu tiên – thật đáng tiếc cũng là một công ty Mỹ cuối cùng – đã đặt mua máy tính Liên Xô. Loại máy tính mới và được nâng cấp toàn diện, chiếc Mir-2, được đưa vào sản xuất năm 1969, tiếp theo là loại Mir-3. Những chiếc máy tính này là loại siêu việt với tốc độ chuyển đổi phép phân tích của chúng khá cao. Ví dụ, loại Mir-2 đã thành công trong cuộc cạnh tranh, chúng là những chiếc máy tính đa năng có kết cấu đạt tiêu chuẩn cao. Có những khác biệt gì giữa dòng máy tính Mir và các loại máy tính khác? - Chúng tôi đã nâng cấp toàn bộ ngôn ngữ lập trình máy tính.Trong thiết kế của chiếc Mir, chúng tôi đã xử lý một vấn đề táo bạo – khớp ngôn ngữ lập trình của máy tính sát với ngôn ngữ con người. |
|
#11
|
|||
|
|||
![]() В.М. Глушков и М.А. Лаврентьев Năm 1966, Glushkov và Rabinovich cho đăng một bài báo trên thế giới viết về cải tiến hiệu suất máy tính tương tác giữa con người và máy tính: " Một vài luận đề về kết cấu thuật toán trong hệ thống máy tính" . Vào thời điểm đó, đây là " cuộc cách mạng những quan niệm" được thừa nhận rằng, phương diện phát triển nền công nghệ máy tính đã được thay đổi. Cuộc tranh luận đầu tiên trong tư tưởng mới này đã nổ ra (năm 1962) tại một hội nghị quốc tế về phát triển máy tính được tổ chức tại Kiev. Những thành phần tham dự đến từ các nước như; Bulgaria, Hungary, Balan và Tiệp Khắc. Glushkov được bố trí phát biểu, nhưng đột nhiên ông lại bị ốm. Bất chấp cơn sốt vẫn còn cao, ông vẫn quyết định làm bản tóm tắt của mình, bởi ông biết rằng hội nghị này rất quan trọng. Đáng tiếc, cơn sốt đã gây khó khăn cho bài phát biểu của ông, trong những trường hợp khác, nó rất dễ gây phấn trấn cử tọa bằng giọng phát biểu đầy nhiệt huyết rất đặc trưng của mình. Sau lời giới thiệu, ông đã dồn dập đưa ra hàng trăm câu hỏi đầy thử thách. Tầm quan trọng của hệ thông minh nhân tạo cùng kết hợp trong máy tính đã được công nhận vào năm 1963, tại một hội thảo chuyên đề do Viện Điều khiển và trường đại học Uzhgorod tổ chức. Trong cuộc hội thảo, Lebedev, Glushkov, Mikhail Sulim – tổng quản trị ngành công nghệ máy tính thuộc bộ chế tạo truyền thông, cùng một số người khác tham dự. Nói chung, trong hội thảo chúng tôi đã thảo luận về những đề xuất cho các cấu trúc máy tính với một bầu không khí rất thân thiện, và những người thường chỉ trích chúng tôi thì nay cũng tỏ ra rất rộng lượng. Quay trở lại Kiev, Glushkov bắt đầu tiến hành thiết kế chiếc Mir-1 với một sinh lực mới. Trong vòng hai tuần, ông đã phác thảo ra những kế hoạch sơ bộ. Một mối quan hệ công tác thật gần gũi giữa các đồng nghiệp khoa học với nhau tại Viện Điều khiển với các nhà khoa học và kỹ sư của SKB-245 đã dẫn đến những kết quả rực rỡ - chiếc máy tính dòng Mir đã nhanh chóng được phát triển và đưa vào sản xuất một loạt và được người sử dụng đánh giá rất cao. Sự sáng tạo trong chiếc máy tính này là một bước nhảy vọt phi thường trong nền phát triển hệ thông minh nhân tạo cho dòng máy tính cỡ nhỏ. Vào cuối những năm 1960, Glushkov đã đứng ra giám sát một dự án phát triển chiếc máy tính Ukraina và ông bổ nhiệm Rabinovich làm trưởng thiết kế trong dự án này. Những trợ lý chính của Rabinovich gồm có Alexander Stogny và Ivan N. Molchanov. Dự án này là bước khởi động kế tiếp trong những nguyên lý của von Neumann theo tiêu chí kết hợp bộ thông minh nhân tạo vào máy tính. Dự án phát triển chiếc máy tính Ukraina là một bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực khoa học của Glushkov. Những ý tưởng tiêu biểu để sáng tạo nên chiếc máy tính Ukraina đã vượt trội hơn rất nhiều so với những chiếc máy tính cùng loại của Mỹ trong thập niên 70. ![]() "Рука" робота, управляемая ЭВМ - "Cánh tay" máy, do EVM điều khiển Glushkov đã nêu ra nguyên lý macro-conveyer dựa trên ý tưởng, mỗi bộ sử lý sẽ nhận một nhiệm vụ riêng trong mỗi bước của qui trình tính toán, nhiệm vụ này cho phép nó được làm việc độc lập trong một thời gian dài mà không cần sự giao thoa từ các bộ sử lý khác. Năm 1959, Tại hội nghị toàn liên bang Xô Viết bàn về vấn đề công nghệ máy tính, được tổ chức ở Kiev, Glushkov đã phát biểu về ý tưởng cho bộ não thông minh của máy tính có thể nhận thức được khi những người thiết kế đã có đủ năng lực để tích hợp không chỉ hàng ngàn, mà hàng tỉ nguyên tố bằng cách kết nối tất cả chúng vào trong một hệ thống. Tại đại hội liên đoàn quốc tế về sử lý thông tin vào năm 1974, Glushkov đã giới thiệu một bài thuyết trình về loại máy tính đệ qui, dựa trên những nguyên lý mới của hệ thống cấu tạo máy tính. Ông biện luận rằng, chỉ có triển khai giải pháp non -Von Neumann kiểu mới trên cấu trúc máy tính, dựa theo cấp độ hiện tại của công nghệ máy tính, thì sẽ giải quyết được vấn đề chế tạo ra một siêu máy tính với sự phát triển cho sản xuất là vô hạn và mức độ tinh xảo hơn của phần cứng sẽ ngày một tăng. Tiếc rằng, cuộc nghiên cứu tiếp tục về sau đã chỉ ra rằng, sự thực hiện toàn diện của các nguyên lý dựng hình trong máy tính đệ qui và các cấu trúc thông minh đã vượt khỏi giới hạn của nền công nghệ điện tử ở thời điểm đó. Vào năm 1979, Glushkov đã phát biểu tại hội nghị Novosibirsk: "Đó là một luận đề rất cấp bách nhằm tìm ra một giải pháp hợp lý để chuyển đổi từ thiết kế máy tính mang các nguyên lý Von Newman sang cấu trúc máy tính thông minh trong tương lai". Glushkov đã xúc tiến ý tưởng này như là một nền tảng của cấu trúc nguyên bản cho loại máy tính macro-conveyer có tính thực thi cao, ông vẫn tục theo đuổi ý tưởng này ngay cả khi ông đã lên nắm chức vụ phó chủ tịch đoàn chủ tịch Học viện Khoa học Ukraina. Năm 1981, một nhà thiết kế vũ khí hạt nhân nổi tiếng, viện sĩ hàn lâm Yuli Borisevich Khariton, đã đến thăm Viện Điều khiển tại Học viện Khoa học Ukraina, ông ta rất quan tâm đến loại máy tính có đường dẫn macro đặc biệt này, cũng bởi do tốc độ của nó nhanh hơn bất kỳ một loại máy tính nào khác và nó giảm tối thiểu thời gian sử lý cho nhiều dự án quan trọng. Glushkov cũng hiểu được tầm quan trọng trong cuộc viếng thăm của Khariton cho tương lai của dòng máy tính có đường dẫn macro và tương lai cho viện của ông. Vào thời gian này, Glushkov đã ở vào giai đoạn cuối của căn bệnh ung thư não, nó đã làm cho ông trở nên khó khăn hơn trong giao tiếp. Tuy nhiên, ông vẫn tự đứng ra tiếp đón Khariton. Glushkov vẫn tràn đầy sự hăng hái cho ý tưởng siêu máy tính Xô Viết. Ông rất tin tưởng rằng khi hoàn thành dự án này, nó sẽ là công cụ trợ giúp đắc lực cho các nhà vật lý của chúng ta. Tiếc rằng, Glushkov đã không còn được sống để nhìn thấy ý tưởng của ông được thực hiện trong các loại máy tính khoa học có dòng dẫn macro ES-2701 và ES-1766. Theo như hội đồng chính phủ Xô Viết đã đánh giá về dự án thì, các dòng máy tính này là loại hàng đầu trên thế giới. Với một tổ hợp gồm 256 bộ xử lý, chiếc ES-1766 có thể thực hiện được nửa tỉ phép tính trong 1 giây. Đồ án thiết kế của ES-2701 và ES-1766 ngay lập tức được chuyển giao cho xí nghiệp máy tính điện tử ở Penza, nước Nga, để sản xuất hàng loạt vào những năm 1984 và 1987. Những chiếc máy tính này còn là đối thủ đáng gờm nhất của nền công nghiệp máy tính Mỹ. Đến thời điểm đó, Liên Xô đã đưa rất nhiều loại máy tính vào sản xuất thông qua Viện Điều khiển tại Học viện Khoa học Ukraina và SKB. Trong đó gồm có cả hàng loạt máy tính Mini, máy tính chuyên dụng và các dòng máy tính chương trình mã khóa: SOU-1, Neva, Iskra-125, Mria, Chaika, Moscow, Scorpion, Romb, Orion, Express, Pirs, và nhiều dòng khác. Viện Điều khiển cùng với công ty sản phẩm khoa học S. P. Korolev, đã tạo dựng ra các loại máy tính vi sử lý: Các hệ thống Neuron cùng với hệ thống gỡ rối mang tên SO-01 và SO-04 do Malinovsky, Palagin, và Valery Iosifovich Sigalov phát triển. Họ còn tham gia vào thiết kế chiếc máy vi tính đầu tiên mang tên Elektronika-S5 của Liên Xô, loại này được sản xuất tại nhà máy Điện tử Svetlana ở Leningrad. Khó có thể xây dựng được những dòng máy tính hiện đại mà không có một hệ thống thiết kế được trợ giúp bằng máy tính. Viện đã tiến hành một cuộc nghiên cứu rất qui mô để cho phép nó tạo dựng lên hàng loạt các hệ thống: dòng Proekt - 1, Proekt-ES, Proekt-MIM, và Proekt-MVK - cho phép thiết kế bằng máy tính các phần cứng và phần mềm. Chiếc máy tính Kiev ngay từ đầu đã được thiết kế bằng qui trình này và sau đó, là những chiếc M-20, M-220, BESM-6. Proekt-1 là một hệ thống chuyên về thiết bị chương trình với hệ điều hành, Glushkov, Letichevsky cùng với Kapitonova là những người khai phá ra trình tự động thiết kế thuật toán cho nó. Hệ thống Proekt-1 được dùng trong tự động thiết kế dự án BIS (Tiếng Nga là: Bolshiye Integralniye Skhemii), với sự trợ giúp của công nghệ mạ ion đặc biệt. Ở bộ phận của Vitaly Pavlovich Derkatch tại Viện Điều khiển, những chiếc máy tính Kiev-67 và Kiev-70 cũng được ứng dụng các công nghệ này. Hệ thống thiết kế được trợ giúp bằng máy tính của Proekt có một giao diện truyền thông trong những chiếc Kiev-67 và Kiev-70, nó đã kiểm soát được chùm electron trong khi con chip đang sử lý trong thời gian thực. Năm 1977, Glushkov, Derkatch và Kapitonova đã được nhận phần thưởng Quốc gia của Liên Xô về công trìng này của họ Lập trình bằng máy tính là một trong những sự quan tâm nhất của Glushkov, ông đã quan niệm sự phát triển đại số cho ngôn ngữ thuật toán là một hướng đi lý tưởng cho nền công nghệ này. Trong nghiên cứu vấn đề này, ông đã tính đến không chỉ các yếu tố toán học tổng quát mà còn về cả các khái niệm triết học. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
BelayaZima (24-03-2008) | ||
|
#12
|
|||
|
|||
|
Tương lai dựa trên thí nghiệm khoa học Hồi ký của Viktor Glushkov 7/1/1982 Cuộc nghiên cứu về tự động hóa được bắt đầu với đề tài vi tính hóa hệ thống xử lý các số đo và dữ liệu. Vào đầu những năm 1960, chúng tôi thường xử lý các dữ liệu từ Đại tây dương bằng thiết bị điều khiển từ xa từ tàu nghiên cứu của trường đại học Vernadsky. Chiếc máy tính Dnepr có chức năng kiểm soát được ra đời với mục đích truyền thông tin, nó đã cho phép chúng tôi làm thí nghiệm tự động ngay tại Học viện Khoa học Ukraina, trước cả thời gian người Mỹ làm được vấn đề này. Người Mỹ họ sử dụng hệ thống CAMAC, nó được sản xuất vào năm 1967 và được cải tiến nhiều về mặt kỹ thuật, trong khi đó, chiếc Dnepr đã được thiết kế trước vào năm 1961. Năm 1972, một hội đồng chuyên nghiên cứu tự động hóa được thành lập tại Đoàn chủ tịch của học viện do Malinovsky làm chủ tịch. Khi đó tôi là phó chủ tịch Học viện kiêm giám sát hội đồng này, cùng với hai hội đồng khác là: hội đồng công nghệ máy tính do Stogny chủ trì và hội đồng chế tạo bằng máy tính do Vladimir Sergeevich Mikhailevich dẫn dắt. Sự vi tính hóa nghiên cứu khoa học vật lý có kết nối chặt chẽ với sự thử nghiệm kỹ thuật tự động tổ hợp máy công nghiệp, công trình này đã được hoàn thành cho lực lượng hải quân và bên nghiên cứu hàng không. Khi chủ tịch học viện khoa học Liên Xô, ông Anatoly Petrovich Alexandrov nhìn thấy kết quả của chúng tôi, ông ta còn không thể tin nổi vào mắt mình nữa, và chúng tôi đã cho ông ta xem lại một hệ thống được lắp đặt trên một trong những chiếc tàu thủy của chúng ta, hệ thống này bao gồm 1200 kênh đưa dữ liệu thông tin đầu vào. Bước tiếp theo, tôi đã hình dung để xây dựng thiết kế thuật toán, khi một chiếc máy tính không chỉ có thể xử lý các kết quả, mà nó còn phải kiểm tra được các giả thuyết và xây dựng thành lý thuyết dựa trên các cơ sở dữ liệu đã có sẵn. Đây là một công trình tương lai cho nghiên cứu khoa học bằng máy điện toán. Các nghiên cứu của chúng tôi thường nhằm thúc đẩy những xu hướng mới trong các mạng lưới máy tính và các cơ sở dữ liệu. Chúng tôi tin chắc rằng, chúng tôi là những người đầu tiên trên thế giới đưa ra ý tưởng hòa mạng máy tính, cũng như truyền dẫn thông tin cho máy tính xử lý vượt đường dài. Bất kể rằng, nếu chúng tôi không phải là những người đầu tiên trên thế giới khám phá ra mạng máy tính, thì chúng tôi cũng là người đầu tiên thiết lập nên các thiết bị đầu cuối ở vị trí xa, khi mà chiếc Kiev đã có thể xử lý thông tin nhận được từ tàu nghiên cứu khoa học ở Đại Tây Dương. Chúng tôi là người đầu tiên hoàn thành phác thảo dự án của một mạng lưới máy tính - Mạng Trung tâm Máy tính Liên Chính phủ. N. Fedorenko và tôi đã hoàn thành phác thảo này vào giữa những năm 1962 và 1964, dự án này do đích thân Kosygin – thủ tướng chính phủ Xô Viết ra chỉ thị. Khi mạng máy tính này được hoàn thành, nó sẽ cho phép chúng ta điều hành có hiệu quả các nền kinh tế, khoa học kỹ thuật và bất kỳ một thông tin nào khác Hồi ký của Viktor Glushkov 8/1/1982 Tiến triển của bước nghiên cứu kế tiếp diễn ra có phần chậm chạp, mặc dù nó được thai nghén đã từ lâu: đây là bước lý thuyết của hệ thống kiểm soát kinh tế cho các ngành công nghiệp và hệ thống kiểm soát tự động các phương tiện kỹ thuật. Công trình nghiên cứu được tiến hành từ năm 1962, với việc tạo kế hoạch dự án cho các trung tâm máy tính toàn chính phủ, cho hệ thống trợ giúp bằng máy điện toán và cho các hệ thống kiểm soát công nghiệp, các dự án này được khởi đầu vào những năm 1963-1964. Sau đó, vào năm 1965, chúng tôi bắt đầu lập công thức cho hệ thống Lvov, một hệ thống có qui mô sản xuất vô tuyến rất lớn tại nhà máy TV Lvov. Skurikhin và Morozov chịu trách nhiệm về dự án này. Vào năm 1970, sau khi hệ thống được đưa vào hoạt động thành công, những người tạo lập ra nó được nhận Phần thưởng của Chính phủ Ukraina Mùa hè năm 1965, Glushkov đến Lvov phát biểu tại một hội nghị được đỡ đầu bởi Lvov Sovnarkhoz (nhóm điều hành của chính quyền địa phương). Trong bài thuyết trình của mình, ông đã nhấn mạnh sự cần thiết đưa vào sử dụng các hệ thống kiểm soát xí nghiệp bằng máy tính. Giám đốc nhà máy vô tuyến Lvov, ông Stephan Ostapovich Petrovsky, trình bày trong bài diễn văn của mình đã đề xuất Glushkov cần xây dựng một hệ thống kiểm soát công nghệ tại nhà máy của mình và hứa sẽ trợ giúp đề này án ở mức tối đa. Glushkov rất rạng rỡ sau khi nắm được cơ hội này - ở thời gian đó, chưa có một hệ thống nào như vậy được xây dựng. Sau đó, Glushkov đã cử Skurikhin đến Lvov cùng với một đội ngũ gồm 15 người. Sau hai năm, hệ thống được hoàn thành. Skurikhin cùng với người phụ tá thân cận của mình đã sống tại Lvov hầu như toàn bộ thời gian đó, đôi khi còn làm việc hơn 12 giờ một ngày và híem khi được nghỉ ngơi. Nhớ về những ngày không thể quên đó, Skurikhin đã hồi tưởng lại buổi đón năm mới 1965: "Sau một ngày rất căng thẳng, tôi không quay trở về khách sạn, mà ngủ quên đi ngay trên bàn làm việc của mình. Vâng, tôi đã ngủ suốt đêm giao thừa sang đến buổi bình minh năm 1966." Thay đổi nội dung bởi: nthach, 31-03-2008 thời gian gửi bài 14:08 |
|
#13
|
|||
|
|||
|
Hồi ký của Viktor Glushkov 8/1/1982
Vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970, chúng tôi đã hoàn thành hệ thống Kuntzev, hệ thống này đã giúp chúng tôi đạt được hầu hết những nhiệm vụ trong trong ngành công nghiệp máy và công cụ xây dựng. Lúc này chúng tôi có thể đã có thể tiếp tục ký ủy thác với chín bộ ngành để tiếp tục phát triển 600 hệ thống dựa theo qui chuẩn của hệ thống Kuntzev. Tuy vậy, những chính sách tiêu chuẩn hóa được thực hiện chủ yếu tại Bộ chế tạo máy và một cấp độ nhỏ tại Bộ công nghiệp truyền thông. Còn các bộ ngành khác, đều có hệ thống riêng nên họ không muốn ép vào tiêu chuẩn. Song, Bộ chế tạo máy còn yêu cầu lắp đặt thêm hơn 50 hệ thống CAD/CAM tại các xí nghiệp quan trọng khác của họ nữa. Vào đầu những năm 1960, Anatoly Kitov được cử làm đại diện cho Glushkov để điều hành công việc của Viện với các khu vực quốc phòng Xô Viết ở Moscova. Ông chịu trách nhiệm xây dựng các hệ thống kiểm soát bằng máy tính cho các kho quân sự quốc phòng. Ngoài ra vào thời gian này, Kitov còn cho xuất bản một cuốn sách giáo khoa đầu tiên viết về kỹ thuật máy tính ở Liên Xô, cuốn - Máy tính Số (Moscova: Soviet Radio, 1956). Kitov là cựu chiến binh của Cuộc chiến tranh Ái quốc Vĩ đại, và cũng là một trong số ít những chàng lính trẻ còn sống sót trong cuộc chiến đầy gian khổ này. Năm 1950, Kitov tốt nghiệp cùng với chiếc huy chương vàng tại Học viện Pháo binh Dzerzhinsky ở Moscova. Sau đó, ông được cử đến công tác tại Học viện Kỹ thuật Pháo binh, ở đây ông được phân công xây dựng chiếc SKB-245 để nghiên cứu công nghệ máy tính điện tử và các ứng dụng của nó trong Bộ Quốc phòng. Năm 1952, Kitov có được một bản sao chép về điều khiển học: cuốn Sự Điều khiển và Thông tin trong Động vật và Máy (1948) của Norbert Weiner. Ông liền chuẩn bị một bài báo phác thảo ra lý thuyết nghiên cứu kỹ thuật mới. Trong vòng ba năm, bài báo này đã được đem ra thảo luận tại các hội nghị và hội thảo chuyên đề. Cuối cùng, sau khi Lyapunov và Sobolev chỉnh sửa nhiều lần bài báo được đem in vào tháng 8/1955 với tựa đề "Những khái niêm cơ bản của Điều khiển học", cùng với bài "Điều khiển học là gì?" trong cuốn Các vấn đề Triết học của E. Coleman. Những bài giới thiệu này đã dẫn đường cho nền phát triển ngành điều khiển học trong tương lai của Liên Xô. Năm 1954, Kitov được bổ nhiệm làm giám đốc trung tâm máy tính thuộc Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong lúc còn đang làm việc trên hệ thống điều khiển bằng máy tính trong khu quân sự, ông đã cân nhắc đến khả năng có thể vi tính hóa và tổ chức hợp lý hóa cho nền kinh tế Xô Viết. Tháng 1/1959, ông gửi một bức thư trực tiếp đến Nikita Khrushchev, trong thư ông đã nhấn mạnh sự cần thiết phải phát triển nền công nghệ máy tính. Sau khi lá thư được chuyển tiếp đến Brezhnev, nó đã làm xôn xao dư luận. Một ủy ban liên bộ do Axel I. Berg làm chủ tọa, đã nhanh chóng soạn thảo một nghị quyết gửi đến Ủy ban Trung ương, yêu cầu tán thành đẩy nhanh tiến độ thiết kế máy tính để đưa vào sản xuất hàng loạt và đem ứng dụng chúng vào nền kinh tế quốc gia. Bản đề xuất đã được chấp thuận. Cuối năm 1959, Kitov đưa ra ý tưởng hợp nhất hệ thống kiểm soát bằng máy tính cho quân sự và cho nền kinh tế quốc gia. Hệ thống này được nối với mạng lưới của các trung tâm máy tính, nó sẽ được Bộ Quốc phòng xây dựng và quản lý. Trong vài tháng, ông tiến hành triển khai nghiên cứu để chứng minh ý tưởng của mình, sau đó ông đã trình một bản báo cáo dày lên Ủy ban Trung ương. Một hội đồng của Bộ Quốc phòng, do Konstantin K. Rokosovsky làm chủ tịch đã được thành lập để xem xét lại tài liệu này. Bản báo cáo đã nêu nên những phê phán rất sắc bén về sự thiếu quan tâm của Bộ Quốc phòng trong việc trợ giúp cho nền phát triển máy tính, những lời phê phán này đã làm cho các viên chức chính phủ không hài lòng. Các quan chức trong Ủy ban Trung ương và trong ủy ban hành chính cấp cao, đặc biệt là ở Bộ Quốc phòng cảm thấy rằng, nếu cơ cấu lại tổ chức bằng vi tính hóa thì họ sẽ phần nào bị mất đi quyền lực. Do vậy họ không đồng ý. Những gì đã viết trong báo cáo là kết quả làm cho ông bị khai trừ khỏi đảng và mất vị trí công tác Glushkov biết được hoàn cảnh của Kitov và rất hiểu số phận sẽ xảy ra trên con đường mà ông đã tự chọn. Nhưng bản chất của Glushkov là luôn nhìn lên phía trước, ông vẫn hăng hái phát triển và ủng hộ đề án hệ thống kiểm soát phức hợp bằng máy tính Hồi ký của Viktor Glushkov 8/1/1982 (tiếp theo) Một giai đoạn mới trong sự phát triển hệ thống kiểm soát xí nghiệp bằng máy tính (CACS) được bắt đầu vào nửa cuối những năm 1970. Tổ hợp này nhằm kết hợp các mục đích của các thiết kế dự án hỗ trợ bằng máy tính , kiểm soát công nghệ máy tính, thử nghiệm tự động các thành phẩm và điều khiển quản lý. Một tổ hợp CACS được xây dựng tại xí nghiệp Hàng không Ulyanovsk do Skurikhin làm chủ dự án. Skurikhin là một cộng sự rất th của Glushkov và sự đóng góp của ông là rất then chốt cho công cuộc tạo dựng nên hệ thống kiểm soát được hỗ trợ bằng máy tính, hệ thống thiết kế và tự động thử nghiệm sản phẩm. Từ năm 1959 đến năm 1963, Skurikhin rất tích cực tham gia vào việc xây dựng hệ thống Avangard tại nhà máy đóng tàu Chiến Sĩ Công Xã Sáu Mốt ở Nikolaev. Đây là một hệ thống đóng tàu được trợ giúp bằng máy tính đầu tiên được xây dựng ở Ukraina và trên toàn Liên Xô. Hệ thống này được gọi là Công việc plazovy (boong tàu) – để điều khiển các robot cắt thân tàu từ các tấm thép. Ý tưởng cho hệ thống Avangard được tiếp tục bổ sung trong hệ thống thiết kế bằng máy tính cho tàu ngầm từ năm 1968 đến năm 1978: hệ thống Chertezh – một hệ thống sản xuất có qui mô đã rút ngắn thời gian thiết kế dự án với hệ số 20 đến 25. Một phiên bản sử lý kỹ thuật có qui mô lớn hơn của hệ thống này được thiết lập tại một viện thiết kế mật về hàng hải ở Leningrad cũng đã phát huy tác dụng mạnh mẽ |
|
#14
|
|||
|
|||
|
Hồi ký của Viktor Glushkov 9/1/1982 Tôi yêu cầu tất cả các đồng nghiệp, những người đã đến công tác tại Ukraine nên đến các trường cao đẳng nói chuyện và tham khảo để họ được gần gũi hơn với các sinh viên và thu hút những người có khả năng đến làm việc tại Viện của chúng tôi. Các nhà khoa học ở Viện – Vào lúc ban ban đầu thì chỉ có mình tôi, sau đó thì có nhiều người khác đến giúp đỡ - đến diễn thuyết tại các trụ sở tuyên truyền khoa học kỹ thuật với các kỹ sư và các kỹ thuật viên ở Kiev. Chúng tôi soạn chương trình giảng dạy cho các trường cao đẳng. Chúng tôi còn đào tạo cho những người điều hành máy tính kỹ thuật và nhiều các vị trí khác hiện còn thiếu. Trong nền giáo dục đại học – Các tiến sĩ và các ứng viên khoa học – đây là tầm quan trọng trong nền giáo dục và họ là động lực thúc đẩy đào tạo thêm các tiến sĩ khoa học, do hiện viện đang rất cần các nhân viên được đào tạo toàn diện để điều khiển và cố vấn cho các sinh viên sau đại học. Sau mười năm viện được thành lập, nhân viên ở viện đã có 60 tiến sĩ khoa học và gần 100 ứng viên khoa học. Những đội ngũ chuyên viên có khả năng cao về tin học, công nghệ máy tính và điều khiển học, được tiếp tục được đào tạo tại các trường cao hơn và tại các học viện chuyên ngành, họ được làm việc trong rất nhiều các tổ chức nghiên cứu khoa học và các xí nghiệp trên toàn Ukraina. Đây vốn là một phần di sản của Glushkov – các công việc của ông là để cống hiến cho tương lai của Ukraina. Glushkov rất gần gũi với các sinh viên và đồng nghiệp của mình, ông đối xử với họ như những người bạn chân tình. "Bất cứ lúc nào chúng tôi cũng đến với nhau như những người bạn hoặc các đồng nghiệp, ông ấy như là linh hồn của cả đội" bà Valentina vợ của Glushkov nhớ lại: Tính cách hóm hỉnh nổi bật đã tạo ra cho anh có một sức hấp dẫn đặc biệt. Anh ấy thích ca hát, đặc biệt là các bài dân ca Ukraina " Tôi là người kỳ diệu trên bầu trời", "Hai sắc màu"…Anh ấy có thể đọc các bài thơ làu làu hàng giờ liền. Chỉ có điều, anh không bao giờ chịu học khiêu vũ, vì anh ấy rất nhát về khoản này. Anh rất thích đi câu bên dòng sông Dnepr. Khi đến khu nghỉ mát, chỉ ngày hôm sau là anh đi tìm giấy bút và lại làm việc. Cán bộ, sinh viên và các nhà khoa học trẻ - những người đã cùng anh đến với lĩnh vực mới trong nền công nghệ máy tính, nay lại thường cùng anh đi câu trên sông Dnepr. Các bà vợ hiếm khi đến thăm, vậy nên họ thường trao đổi với nhau những câu chuyện bông đùa, về chuyện câu cá, về những giai thoại…Những bài hát của họ vang lên dọc theo suốt dòng sông. Anh chẳng bao giờ cảm thấy vui khi chỉ có một mình. Nếu anh đọc được hoặc tìm ra điều gì lý thú, anh lập tức chia sẻ cùng mọi người. Anh thường xuyên đọc các tác phẩm văn học kinh điển, cho dù có bận rộn đến đâu đi nữa. Anh cho rằng nếu thiếu nó, anh sẽ chẳng bao giờ giành được gì từ nó như anh từng giành được trong khoa học, đặc biệt là trong toán học. Anh cảm thấy, đọc được những gì trong các tác phẩm văn học kinh điển, là những điều dạy cho người ta luôn vươn tới những tương lai, luôn phát triển khả năng sáng tạo, những điều đọc được trong đó là rất cần thiết để trở thành một nhà toán học giỏi. Anh đã nhiều lần cố dành thời gian với hai đứa con gái Olga và Vera của chúng tôi, nhất là khi chúng bắt đầu lớn và đang thời kỳ phát triển nhân cách. Những khoảng thời gian đó thật vất vả, vì anh khó có thể thực hành những điều con nít cùng với chúng, nhưng anh thường cho chúng những lời khuyên rất bổ ích… Hồi ký của Viktor Glushkov 10-11/1/1982 Tháng 11 năm 1962, phó thứ trưởng Kosygin đã chỉ thị cho tôi bắt đầu triển khai công việc trên một hệ thống kiểm soát nền kinh tế bằng máy tính, do tôi đã trình ý tưởng của tôi lên giám đốc Học viện khoa học Xô Viết, Mstislav Keldysh, người mà đã tiến cử tôi với ông ta. Tôi tóm tắt bản phác thảo cho Kosygin nghe những điều cần phải làm trong thời gian tới; ông ấy chấp nhận; hội đồng bộ trưởng Liên Xô sau đó đã ban hành chỉ thị thành lập ra một ủy ban đặc biệt (tôi là chủ nhiệm) để chuẩn bị tài liệu làm nghị quyết cho chính phủ. Trong Ủy ban này gồm có các nhà kinh tế học, đặc biệt có cả viện sĩ hàn lâm N.N. Federenko, chủ nhiệm ban thống kê trung ương Vadim Nikitovich Starovsky, phó bộ trưởng thông tin A.I. Sergeichuk và một số người thuộc các ban hành chính khác. Ủy ban này được ban rất nhiều đặc quyền. Điều này đã cho phép tôi tiếp xúc được với tất cả các thành phần nội các, bộ trưởng hoặc kể cả chủ tịch ủy ban kế hoạch nhà nước và có thể yêu cầu thông tin hoặc ngồi ở trong một góc phòng để theo dõi ông ta làm quyết định và thủ tục… Vào thời gian đó, chúng tôi đã có khái niệm cho hệ thống hợp nhất các trung tâm máy tính để xử lý thông tin kinh tế trên toàn liên bang. Kinh tế gia nổi tiếng Vasily Sergeevich Nemchinov và các sinh viên của ông cũng đề xuất cho sử dụng máy tính đang hoạt động tại các trung tâm máy tính, nhưng không phải trong cách thức truy cập từ xa. Cả các nhà kinh tế lẫn các chuyên viên công nghệ máy tính rất quan tâm đến dự án này vào thời gian đó. Dự án cơ bản là được sao chép lại bản đề xuất năm 1955 của Học viện Khoa học Liên Xô đề nghị tạo dựng nên một hệ thống cho các trung tâm máy tính trong học viện để tính toán các ngiên cứu khao học, đề xuất này đã mở đường cho sự thành lập trung tâm máy tính tại Học viện Khoa học Ukraina. Họ còn đề nghị nên thành lập một hệ thống như vậy cho nền kinh tế: thành lập các trung tâm máy tính quốc gia có qui mô ở Moscova, , Kiev, Novosibirsk, Riga, Kharkov và các thành phố khác. Các nhân viên từ các tổ chức kinh tế khác, sẽ mang những vấn đề của họ đến các trung tâm này để tiến hành tính toán và nhận kết quả rồi trở về. Tất nhiên, vấn đề này tôi không tán thành, do vào thời gian đó chúng tôi đã vận dụng các dữ liệu từ xa và có thể gửi, nhận cùng với xử lý các dữ liệu từ Đại Tây Dương ngay tại trung tâm máy tính ở Kiev. |
|
#15
|
|||
|
|||
|
Hồi ký của Viktor Glushkov 10-11/1/1982 (tiếp theo)
Năm 1965, người Mỹ đã triển khai làm việc trên hai tuyến : máy tính (scientific high-capacity binary floating-point) và các thiết bị (business-oriented sequential binary-decimal) được trang bị các bộ nhớ cao cấp. Tập đoàn IBM là công ty đầu tiên sản xuất ra những thiết bị máy tính này. Vào thời điểm đó, chúng tôi mới chỉ có những chiếc máy dành cho tính khoa học và chưa có những chiếc được sản xuất để dùng vào mục đích kinh tế. Bởi vậy, điều đầu tiên là tôi cố gắng khuyến khích mọi người tập chung để phát triển dòng máy tính ứng dụng cho nền kinh tế, vấn đề này hiện rất cấp bách. Tôi quay lại với các nhà thiết kế máy tính, chủ yếu là Bashir I. Rameev, một thiết kế gia của những chiếc Ural-1 và Ural-2 cùng với Victor V. Przhyakovsky, kỹ sư thiết kế dòng máy Minsk, tôi thuyết phục họ tham gia làm việc cho dự án này. Tôi thành lập một đội làm việc tại Viện và mình tôi gánh vác nhiệm vụ phác thảo chương trình như Kosygin đã chỉ định. Tôi dành trọn một tuần túc trực tại Ban Thống kê Trung ương để nghiên cứu chi tiết từng công việc của họ; tôi khảo sát mọi đường liên kết giữa họ với các trạm địa phương. Tôi còn dành thêm một khoảng thời gian khá lớn tại bộ Kế hoạch Nhà nước, các nhân viên ở đây giúp đỡ tôi rất nhiệt tình, nhất là Vasily Mikhailovich Ryabikov phó bộ trưởng thứ nhất bộ Kế hoạch Nhà nước. Ở cả hai nơi này, họ có rất nhiều kinh nghiệm trong ngành kinh tế quân sự và tất nhiên, họ hiểu rất rõ về kế hoạch của nhà nước. Với những sự giúp đỡ của họ, tôi có thể thực hiện được nhiệm vụ của mình cùng với các bước của dự án và qua đây tôi cũng đã thấy trước được mọi khó khăn có thể xảy ra. Năm 1963, tôi đi kiểm tra ít nhất là 100 địa điểm khác nhau, từ các xí nghiệp đến các nông trường tập thể quốc doanh. Hơn mười năm tiếp sau đó, các điểm tôi đến kiểm tra này đã tăng lên đến hàng ngàn. Do đó, tôi biết rất chi tiết hơn bất kỳ ai về nền kinh tế quốc gia và lại càng hiểu rõ những nét riêng biệt trong hệ thống quản lý hiện hành. Những điều này đã cho tôi dự đoán được những trắc trở có thể xảy ra và phải làm thế nào để đưa được lên bàn tính. Tôi nhận ra ngay là phải cần đến công nghệ. Đã từ lâu, tôi nhận thấy được phạm vi rộng lớn của dự án, tôi cân nhắc không chỉ riêng dự án các trung tâm chính phủ, mà là toàn bộ mạng lưới các trung tâm máy tính có khả năng truy cập từ xa. Phác thảo đầu tiên của dự án cho hợp nhất mạng lưới quốc gia của các trung tâm máy tính, gồm gần một trăm trung tâm trong các thành phố công nghiệp lớn, được kết nối thông qua các kênh thông tin băng rộng. Các trung tâm này, được trải rộng khắp các quốc gia sẽ liên kết với các trung tâm khu vực nhỏ để xử lý thông tin kinh tế. Chúng tôi ước lượng sẽ có khoảng hai mươi ngàn trung tâm như vậy, gồm có các xí nghiệp lớn, các bộ ngành, và các trung tâm chủ chốt sẽ kiểm soát các doanh nghiệp nhỏ. Một đặc điểm quan trọng của hệ thống là về ngân hàng dữ liệu của nó, và khả năng truy cập vào hệ thống từ bất kỳ nơi đâu trên mạng sau khi được kiểm tra nhận dạng tự động. Chúng tôi đã phát triển được một số phần mềm bảo mật thông tin. Thêm nữa, trong hệ thống hai bậc, các trung tâm chính được phép trao đổi thông tin với nhau không chỉ thông qua dòng kênh, mà còn qua thư điện tín, vấn đề này cho đến ngày nay vẫn còn đang sử dụng rộng rãi. Trong kết cấu của mạng lưới, tôi phát triển một hệ thống thuật toán để quản lý kinh tế, và để nhận được đầy đủ các nguồn thông tin. Do đó, tôi trình bày kế hoạch này của chúng tôi lên Keldysh, ông ta đã phê chuẩn ngoại trừ hệ thống tiền tệ điện tử. Mô hình sẽ vẫn hoạt động mà không cần hệ thống này. Theo Keldysh, hệ thống này sẽ không chỉ làm quấy lên tranh luận mà còn được xem như là một vấn đề riêng biệt của kế hoạch kinh tế. Tôi đồng ý với ông ta và không đưa hệ số này vào dự án. Tôi viết một lá thư riêng về vấn đề này gửi lên Ủy ban Trung ương; nó được đem ra thảo luận vài lần nhưng cuối cùng đi vào yên lặng và họ không giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc xây dựng một hệ thống tiền tệ điện tử nữa. Khi chúng tôi hoàn thành phác thảo của toàn dự án, chúng tôi đã đệ trình lên ủy ban xem xét lại một lần nữa. Hồi ký của Viktor Glushkov 10-11/1/1982 (tiếp theo) Thật đáng tiếc, sau khi ủy ban xem xét lại bản đề xuất dự án, họ đã bỏ qua gần như hầu hết dự án. Toàn bộ phần dự án kinh tế bị cắt bỏ và chỉ còn lại các kế hoạch xây dựng mạng lưới là được tồn tại. Phần đề xuất dự án kinh tế bị cắt bỏ bởi đó là những vấn đề tối mật của chính phủ. Chúng tôi thậm trí không được phép giữ lại các bản sao của nó trong Viện, tiếc rằng chúng tôi không thể tái tạo lại dự án này. Trưởng ban thống kê trung ương, ông Starovsky là người kịch liệt phản đối dự án này. Những chỉ trích của ông ta hoàn toàn mang tính mị dân. Chúng tôi lại đề xuất xây dựng một hệ thống thanh toán mới, hệ thống này cho phép truy cập đến bất kỳ thông tin nào ở ở mọi địa điểm. Starovsky lại biện luận rằng, ban thống kê trung ương đã được tổ chức do sáng kiến của Lenin và hiện đang được quản lý rất tốt. Ông ta đã thuyết phục Kosygin rằng các thông tin của ban thống kê trung ương có đủ khả năng để kiểm soát quốc gia và không cần thêm một hệ thống mới nào nữa. |
|
#16
|
|||
|
|||
|
Hồi ký của Viktor Glushkov 10-11/1/1982 (tiếp theo)
Tháng 6 năm 1964, chúng tôi trình dự án lên chính phủ phê duyệt, và trong tháng 11, tôi trình bày một bài giới thiệu về dự án này tại một kỳ họp của Đoàn chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tất nhiên là tôi có đề cập đến sự phản đối của Ban thống kê Trung ương. Sau đó liền có một quyết định được ban hành, trao dự án cho Ban thống kê Trung ương để thực hiện lại, và được Bộ Công nghệ Truyền thông trợ giúp. Trong hai năm, chúng tôi đã làm xong: không chỉ từ những tư tưởng là phải xây dựng dự án thật tốt cho mai sau, mà còn từ những vấn đề hiện đang tồn tại. Các nhân viên địa phương trực thuộc Ban thống kê Trung ương ở vùng Archangelsk và thành phố Nukus thuộc nước cộng hòa tự trị Karakalpaksky (hai trong số các địa điểm cách xa thành phố Moscova nhất) được chỉ định làm nghiên cứu luồng thông tin. Họ được cho là các địa điểm để xác định có bao nhiêu tài liệu, báo cáo thống kê và thư tín nhận được từ các văn phòng địa phương của họ từ các tổ chức, xí nghiệp… Một ủy ban mới được thành lập để phê duyệt dự án. Họ yêu cầu tôi làm chủ nhiệm cho nó, nhưng tôi đã từ chối. Sau khi các ủy viên của ủy ban xem sét lại dư án, họ tuyên bố rằng, mặc dù họ không đồng ý với tất cả các ý tưởng của tôi, ít ra đề xuất của tôi cũng đã có một phương diện lập kế hoạch, trong khi đó thì Ban thống kê Trung ương chỉ có số liệu thống kê. Ngoại trừ tôi, toàn bộ ủy ban đồng lòng cho hủy bỏ dự án. Xét về tầm quan trọng của dự án cho quốc gia chúng ta, tôi đề xuất nên đánh dấu dự án là chưa thỏa đáng, nhưng chuyển sang hướng phát triển dự án kỹ thuật do bộ Công nghệ Truyền thông, Học viện Khoa học Liên Xô và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đảm nhận thực hiện dự án. Đề nghị của tôi một lần nữa bị bác bỏ, nhưng kế hoạch đó được ghi lại thành quan điểm quan trọng và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước đã có chỉ thị cho tiến hành dự án. Ủy ban Kế hoạch Nhà nước yêu cầu làm dự án trong hai năm, và đến năm 1966 dự án đã được hoàn thành. Họ còn kéo dài thêm đến tận năm 1968, mà cuối cùng cũng chẳng làm được gì. Hơn nữa, thay vì chuẩn bị vạch ra dự án, họ lại thảo ra một nghị định trình lên hội đồng bộ trưởng Liên Xô đề nghị khôi phục lại nhánh hệ thống kiểm soát cũ. Do đó, họ sẽ không còn có trách nhiệm gì đối với dự án nữa. Hồi ký của Viktor Glushkov 10-11/1/1982 (tiếp theo) Đầu năm 1964, khi dự án của tôi được lần đầu công bố, đã có rất nhiều người bắt đầu công khai phản đối, trong số đó có các nhà kinh tế Lieberman, Belkin, Birman cùng nhiều người khác; nhiều người trong số họ sau này chuần sang địng cư ở Mỹ và Israel. Kosygin, ông luôn là một người rất thực tế và ông đã bắt đầu quan tâm đến dự toán trong dự án của chúng tôi. Theo ngân sách sơ bộ, được dự trù khoảng 20 tỉ rúp. Phần chính của dự án có thể hoàn thành trong ba giai đoạn kế hoạch 5 năm, nhưng chỉ nếu như dự án được thiết lập và tài trợ giống như các chương trình vũ trụ và hạt nhân. Tôi nói thẳng với Kosygin rằng dự án của chúng tôi sẽ vô cùng phức tạp hơn cả các chương trình trụ và hạt nhân cùng gộp lại. Thêm nữa, dự án cũng sẽ rất khó khăn trong sự phối hợp, bởi nó sẽ liên quan đến công nghiệp, thương nghiệp, các cơ quan qui hoạch, chính quyền và quyền lực. Mô hình công việc được trù liệu rằng, sau khi đầu tư 5 tỉ rúp lần thứ nhất trong giai đoạn 5 năm đầu tiên, đến lần đầu tư kế tiếp sẽ vượt hơn con số 5 tỉ rúp, bởi chúng tôi đã dự kiến cho chương trình tự thanh toán. Và sau ba giai đoạn kế hoạch 5 năm, toàn bộ chương chình sẽ mang lại không dưới 100 tỉ lợi nhuận Nhưng "tòa tháp ngà" các nhà kinh tế đã thuyết phục Kosygin rằng sự cải cách lại nền kinh tế sẽ chẳng có một giá trị nào, ngoại trừ chi phí mua giấy để in các nghị định cho Hội đồng Bộ trưởng, do đó để mang lại mức thu nhập cao hơn là không thể. Các ý tưởng của chúng tôi lại bị đẩy sang một bên thêm một lần nữa, vả lại chúng tôi cũng ngờ rằng; Kosygin không được vui lòng. Trong rất nhiều chuyên khảo và các bài báo khoa học của mình, Glushkov đã đề xuất và đưa ra nhiều ý tưởng để nhằm nâng cao hệ thống hành chính của chính phủ.Trong đó bao gồm những vấn đề về; chỉnh đốn sản xuất và những tiến triển của xã hội, công nghệ thiết lập các tiêu chuẩn, một nền tảng kỹ thuật để phối hợp các chương trình sản phẩm trên qui mô toàn quốc, thi hành một hệ thống phân phối công bằng hơn, xây dựng một hệ thống ngăn chặn hối lộ và quĩ đen, và trình làng một hệ tiền tệ điện tử. Rất nhiều những ý tưởng đó trong thời đại của Glushkov được xem như những cuộc cách mạng, nhưng đến ngày nay vẫn còn đang áp dụng |
|
#17
|
|||
|
|||
|
giữ chỗ
Cuối những năm 1960, Cả Ủy ban Trung ưong và Hội đồng bộ trương Liên Xô |
|
#18
|
|||
|
|||
|
Giữ chỗ
nhận được tin người Mỹ đã hoàn thành kế hoạch xây dựng một số mạng lưới thông tin |
|
#19
|
|||
|
|||
|
Chương ba: Bộ ba vinh quang
"Không ai đặt sẵn cọc tiêu cho những người mở đường, trong sử sách cũng không có tấm gương nào cho họ" E.Asadov I.S Bruk người đội viên tiên phong của kỹ thuật máy tính. Năm 1939, trong một cuộc họp của Đoàn chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Liên Xô người ta được nghe báo cáo của tiến sỹ khoa học kỹ thuật 37 tuổi Ysak Semenovich Bruk về bộ tích phân cơ khí cho phép giải phương trình vi phân đến bậc 6. Bộ tích phân này đựợc tạo ra trong phòng thí nghiệm hệ thống điện của Viện năng lượng thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô dưới sự hướng dẫn của vị tiến sỹ này. Báo cáo thu hút sự quan tâm đặc biệt bởi vì cái máy như vậy chưa hề có ở Liên Xô mà chỉ có ở Mỹ và Anh theo cùng một khuôn mẫu. Nhà bác học đã giải quyết được một vấn đề kỹ thuật phức tạp - độc số bánh răng trong bộ tích phân này cũng đến nhiều nghìn chiếc. Khung máy với vô số thanh ngang và lỗ trục bánh răng chiếm trọn căn phòng diện tích 60 mét vuông. Việc lắp ráp bánh răng vào đúng chỗ mất từ vài ngày đến vài tuần. Theo cách phân loại hiện nay thì Máy tích phân của Y.S Bruk thuộc loại máy tính analog (tương tự). Cũngtrong năm đó Bruk được bầu làm Viện sỹ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Có lẽ là bản báo cáo đã góp một phần quan trọng vào sự kiện này. Tuy nhiên những công trình chính của ông ta lúc đó là những nghiên cứu suất sắc trong lĩnh vực điện năng. Không phải ngẫu nhiên mà Y.S.Bruk quan tâm tới việc tự động hóa công việc tính toán. Khi nghiên cứu vấn đề điện năng ông và S.A. Lebedev cảm nhận sâu sắc sự cần thiết của một chiếc máy tính dùng cho những nghiên cứu vốn đòi hỏi những phép tính phức tạp của họ. Tiểu sử của hai nhà bác học này cũng giống nhau đến kỳ lạ. Cả hai cùng năm sinh, cùng học trong một trường đại học, "đi trên đôi chân của mình" trong cùng một cơ quan khoa học, cả hai cùng nghiên cứu vấn đề năng lượng để rồi dẫn đến kỹ thuật tính toán, cả hai đều trở thành lãnh đạo của những trường hàng đầu trong lĩnh vực máy tính. Tính tiên phong là nét đặc trung nhất trong các công trình của Y.S. Bruk trong lĩnh vực kỹ thuật tính toán. Ông là người đầu tiên ở Liên Xô (cùng với B.I. Ramev) triển khai dự án máy tính điện tử kỹ thuật số điều khiển lập trình cứng (tháng 8 - 1948). Thời gian này máy tính như vậy chỉ có ở Mỹ ("Eniac" - 1946). Chính họ đã được cấp bằng sáng chế máy tính kỹ thuật số vào năm 1948, thật tiếc là sáng chế không được áp dụng trong thực tế đúng lúc. Y.S Bruk là người đầu tiên đề xuất và thực hiện ý tưởng tạo ra máy tính nhỏ dùng trong phòng thí nghiệm. Dưới sự hướng dẫn của ông, trong những năm 1950- 1951 đã chế tạo được máy tính điện tử kỹ thuật số đầu tiên của Liên bang Nga M-I lưu được chương trình. Máy tính M-I có 730 bóng điện tử, trong khi máy MESM có 6000 bóng điện tử. Sau khi được khai thác thử nghiêm vào đầu năm 1952, nó dường như là chiếc máy tính điện tử duy nhất của LB Nga được vận hành. Trong máy M-1V M-I người ta thay bóng điện tử (diode) bằng chỉnh lưu bán dẫn, máy điện báo kiểu cuộn (teletype) để in những dòng dài và lần đầu tiên áp dụng hệ thống lệnh hai địa chỉ. Chính những khát khao đi trước thời đại, luôn đạt được những kết quả nghiên cứu mới và mới hơn đã cản trở nhà bác học đưa công trình đến đích. Không phải ngẫu nhiên mà chỉ có một phần ba máy tính của ông được sản xuất theo lối công nghiệp. Ông nghiên cứu máy tính điện tử cũng xuất phát từ nguyện vọng được thể hiện năng lực sáng tạo vượt trội của mình trong một lĩnh vực khoa học kỹ thuật mới và cấp thiết. "Việc nghiên cứu máy tính M - I trong phòng thí nghiệm hệ thống điện Viện hàn lâm khoa học được tiến hành "nửa hợp pháp", ngày nay người ta gọi đó là thú vui của các nhà lãnh đạo." (Trích hồi ký của cựu cộng tác viên khoa học A.B. Zankind). Cũng trong những năm đó Bruk vẫn tích cực tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực năng lượng, ông đề xuất vấn đề máy điều khiển và làm rất nhiều để ứng dụng trong các trạm điện, ông cũng quan tâm cả vấn đề quản lý kinh tế và các lĩnh vực khác. Ông giao cho các học trò xuất sắc của mình là Nikolai Yakovlevits Matiukhin và Mikhain Aleksandrovits Kasev tiếp tục phát triển kỹ thuật máy tính. Tuy nhiên nhìn tổng thể thì sự đóng góp của cả thầy và trò đều rất đáng kể, thực tế sau này đã chứng tỏ điều đó. Sự ganh đua âm thầm của hai trường phái khoa học của S.A. Lebedev và Y.S. Bruk đã khuyến khích các tập thể khoa học, thật khó yên lòng trước thành tích của "đối phương", cũng thật khó so sánh kết quả và xác định người "chiến thắng". Chỉ có một điều rõ ràng: khoa học đã thắng, đó chính là tiến bộ khoa học kỹ thuật. |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (02-05-2008), hungmgmi (08-04-2008) | ||
|
#20
|
|||
|
|||
|
(tiếp theo)
Y.S Bruk sinh ngày 8 tháng Mười một năm 1902 trong một gia đình Do thái nghèo là công nhân nhà máy thuốc lá ở Minsk. Năm 1920 ông tốt nghiệp trường kỹ nghệ thực hành, năm 1925 - khoa Kỹ thuật điện trường МВТУ mang tên Bauman ở Matscova. Ông tham gia các hoạt động khoa học ngay từ khi còn là sinh viên, luận án tốt nghiệp của ông làm nghiên cứu phương pháp mới điều khiển động cơ không đồng bộ. Sau khi tốt nghiệp đại học ông được cử đến công tác tại Viện kỹ thuật điện Liên bang mang tên Lê nin, ở đay ông tiếp thu được nhiều kinh nghiệm thực tế, tham gia xử lý hàng loạt động cơ dị bộ mới, chuyển đến vùng Đôn bát để điều chủnh hoạt động của các trạm điện. Anh ấy thừa hưởng từ bố năng lực và lòng say mê khoa học kỹ thuật - bà Mira Semenovits (phó tiến sỹ nghệ thuật, sống ở Matxcova), chị gái ông nhớ lại. Khi còn học ở trường kỹ nghệ thực hành ông đặc biệt bị cuốn hút bởi các môn khoa học chính xác - toán, vật lý và kỹ thuật. Trong phòng thí nghiệm nhà trường đôi khi người ta cho ông những dụng cụ cũ kỹ không còn dùng đến nữa. Ở nhà máy "Energya" nơi ông bắt đầu đến làm việc, những người thợ cả nhân thấy lòng say mê đặc biệt của cậu bé đã tận tình chỉ dẫn cho ông về cấu trúc máy, cho ông một số chi tiết cũ. Anh tôi đọc rất nhiều, anh ấy thích các tác phẩm của Jule Verner, Jake London, Fenimor Kuper. Bị lôi cuốn bởi thiên văn học, anh ấy đưa cho tôi đọc cuốn ".." của Flamarion. Anh ấy vẽ rất đẹp và đã có rất nhiều tranh chép được nhiều bức tranh. Trong các buổi diễn thử của tôi (tôi học trương nhạc) anh ấy thích nghe các tác phẩm của Bethoven, Traikovsky và Grig Năm 1930 Bruk chuyển đến Kharkov tại đây ông lãnh đạo nghiên cứu chế tạo một số máy điện cấu trúc kiểu mới trong số đó có động cơ dị bộ an toàn cháy nổ..Năm 1935 ông quay trở lại Matxcova làm việc ở Viện năng lượng thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (từ nay được gọi là viện Krgyzanovsky). Trong hồ sơ của ông vẫn còn lưu đựoc thư giới thiệu ông với giám đốc Viên là viện sỹ G.M Krgyzanovsky do viện sỹ K.Y.Shenfer , chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực máy điện. Khi biết bruk đến làm việc ở Viện năng lượng, Shenfer đã giới thiệu ông ta như " một nhà thực nghiêm xuất sắc, một kỹ sư và nhà khoa học tài năng". Trong đơn xin việc, Bruk viết ông muốn được nghiên cứu vấn đề cân bằng công suất trong truyền tải điện. Trong phòng thí nghiệm ông triển khai nghiên cứu tính toán các chế độ của các hệ thống năng lượng lớn. Họ đã tạo ra bàn tính dòng xoay chiều - một thiết bị tính toán chuyên dụng của mình để mô phỏng các mạng điện phức tạp. Nhờ những công trình này, tháng 5 năm 1936 ông được phong hàm phó tiến sỹkhoa học kỹ thuật mà không cần bảo vệ luận án, tháng 10 năm đó ông bảo vệ luận án tiến sỹ đề tài "Sự cân bằng dọc của đường dây tải điện". Trong những năm trước chiến tranh ông chú tâm vào chế tạo bộ tích phân cơ khí. Nhờ những kết quả của việc này mà ông được bầu làm viện sỹ thông tấn Viện hàn lâm khoa học Liên Xô như chúng ta đã nhắc đến trên đây. Trong những năm Chiến tranh vệ quốc vĩ đại trong khi vẫn tiếp tục nghiên cứu trong lĩnh vực năng lượng ông nghiên cứu thành công vấn đề điều khiển hệ thống phòng không, đặc biệt là đòng bộ được hỏa lực máy bay, cho phép bắn qua cánh quạt máy bay. Năm 1947 ông được bầu làm viện sỹ học viện pháo binh.Trong những năm đầu sau chiến tranh ông chỉ đạo nghiên cứu vấn đề ổn định tĩnh của hệ thống năng lương. Thiết bị điều khiển tần số và công suất phản kháng dùng cho các trạm điện lớn nhất của đất nước đã được hoàn thiện. Việc nghiên cứu thiết bị tính toán theo công nghệ analog vẫn được tiếp tục. Ông đã chế tạo bộ phân tích vi phân điện tử EDA (thiết kế chính N.N. Lenov) dùng để tích phân những phương trình đến bậc 20. |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (02-05-2008), hungmgmi (08-04-2008) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Thế giới công nghệ thông tin | BelayaZima | Công nghệ thông tin | 24 | 24-11-2012 12:55 |
| Đề nghị tìm giúp bài hát | phucanh | Nhạc Nga - Xô viết | 189 | 05-01-2012 00:51 |
| Bí mật của công nghệ | perets | Vũ khí của Hồng Quân | 3 | 11-09-2009 15:14 |
| học công nghệ Môi Trường ở Nga | omertachinno | Trao đổi kinh nghiệm du học | 11 | 13-04-2009 23:57 |
| Nước Nga-nơi tôi học chữ-học nghề và học làm người | phambakhoa | Sinh sống tại Nga | 5 | 16-11-2008 08:45 |