|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
||||
|
||||
|
Vẻ đẹp của truyện ngắn Tchekhov
Berna Shaw (nhà văn Anh, 1856 - 1950) từng nói: "Trong đội ngũ danh nhân, Tchekhov hiện ra chói lọi như một ngôi sao lớn bậc nhất có thể sánh ngang hàng với L.Tolstoi và Turgenev. Do ảnh hưởng của Tchekhov mà tôi đã viết được vở kịch: Ngôi nhà của những trái tim tan vỡ ". A.P. Tchekhov trưởng thành từ một nền văn học cổ điển Nga đồ sộ với bao tên tuổi lẫy lừng với Puskin, Gogol đến Dostoievsky, L.Tolstoi, nhưng ông vẫn bộc lộ nhiều sáng tạo độc đáo. Các nhà văn lớp trước thường bàn đến bao vấn đề lớn lao với tầm "núi cao biển rộng", còn ngòi bút Tchekhov dường như chỉ chú ý vào những "chuyện đời vặt vãnh" trong cuộc sống hằng ngày, song lại chở nặng ý nghĩa thức tỉnh phẩm giá con người. Đó chính là điểm ngời sáng khác biệt đầu tiên và cơ bản trong thế giới quan cũng như trong thi pháp của Tchekhov. Em bé Valka (trong truyện Valka) mới lên 9 tuổi, mồ côi bố mẹ, ông nội cũng phải đi làm thuê, nên đành gửi cháu tới Moskva học đóng giày, nhưng thực chất là đi ở. Muốn thoát khỏi cảnh khổ, lợi dụng đêm Noel ông bà chủ đi lễ vắng, Valka viết thư van nài ông đón cháu về quê. Không rõ địa chỉ, Valka viết vu vơ: "Gửi ông nội ở nhà quê", rồi nghe theo lời mấy bà hàng thịt đem thư nhét vào khe hộp thư ngoài phố, liền về nhà ngủ thiếp đi "mơ theo những hy vọng ngọt ngào...". Hình ảnh lớp viên chức, thị dân, nông dân, địa chủ... thường ta hay gặp ngoài đường phố, trong các rạp hát, bệnh viện, trường học hoặc trên các trại ấp đều được ngòi bút nhà văn khắc hoạ hết sức đậm nét. Không phải qua các chi tiết bề ngoài, mà đậm nét ở tâm trạng các nhân vật muôn hình nghìn vẻ. Bên cạnh hình ảnh Cái chết của một viên chức thì chuyện Anh béo anh gầy thật gần gũi với bao người, tạo nên tiếng cười hài hước không sao ngăn nổi đối với bạn đọc xuyên suốt hai thế kỷ. Không chỉ nỗ lực "nặn cho hết những giọt nô lệ trong bản thân mình", mà nhà văn mang ước nguyện cháy bỏng là làm sao cho "con người Nga trong tương lai đều phải đẹp, từ diện mạo, áo quần đến tâm hồn, tư tưởng". Không bị ràng buộc vào các giáo điều cũ kỹ, truyện ngắn Tchekhov chứa bao điều lạ lẫm lấy từ sinh hoạt hàng ngày, kể cả "nước mắt mà người đời không thấy", nhằm nhắn nhủ "Hãy nhìn lại mình, hãy nhìn xem chúng ta đang sống tồi, sống tẻ như thế nào?". Tchekhov biết rõ: "Ở đâu không có hiểu biết về tâm hồn con người thì ở đấy không có nghệ thuật". (Sernưsevxky). Ông không sơ lược cũng không lắt léo, trầm bổng theo kiểu bút pháp Tolstoi, Dostoievsky..., mà chú trọng vào hành động của nhân vật qua các chi tiết chính xác. Ông cho rằng "tốt hơn cả là tránh miêu tả tâm trạng các nhân vật mà cố gắng làm cho tâm trạng bộc lộ qua hành động", gắn liền với các "mạch ngầm của tâm trạng". Ngòi bút sắc sảo của tác giả luồn lách khắp mọi nẻo đường đất nước Nga. Người đọc bốn phương đều cảm thấy thú vị ở tầm phong phú đồ sộ của hệ thống nhân vật. Có đến tám nghìn nhân vật thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội xuyên suốt 588 truyện được chọn lọc. Cá tính sáng tạo nổi bật của nhà văn là ở phương thức chọn lựa chất liệu từ sự thật đời thường, gắn liền với nguyên tắc ngẫu nhiên, đã đưa ông đạt tới tầm cỡ bậc thầy của thế giới nghệ thuật. Nhà văn M.Gorky khẳng định: "Trong truyện ngắn Tchekhov, không có gì là không xảy ra trong đời sống. Sức mạnh của tài năng ông, chính là ở chỗ ông không bao giờ bịa đặt ra một điều gì, không mô tả những gì không có trên đời này, những cái gì có thể là tốt đẹp, có thể là đang mong ước. Ông không nói thêm điều gì mới, nhưng điều ông nói được diễn đạt một cách giản dị, thật hùng hồn sáng rõ, giản dị đến mức đáng kinh ngạc chân xác đến không thể nào phủ nhận được... Xét về mặt bút pháp viết văn, Tchekhov là người khó ai vượt qua được...". *** Em rất yêu thích truyện ngắn Tchekhov, dưới đây trong những truyện ngắn ở giai đoạn sáng tác đầu tiên của A. Chekhov, lần đầu tiên được dịch ra tiếng Việt, trân trọng giới thiệu với các bác NNN: Dấu chấm than Yefim Formich Perekladin, một viên chức khả kính đi nằm với một tâm trạng vô cùng bực tức, thậm chí ông như phát khùng lên khi vợ ông hỏi có chuyện gì mà lại khó chịu đến vậy, ông gầm lên, hét thẳng vào mặt vợ: “Giời ạ, đừng có mà ầm lên như thế, đồ quỉ già!”. Sự thể là ông vừa mới trở về từ một buổi tiệc ồn ào mà ở đó, mọi chuyện cứ như chỉ nhằm vào có mỗi một mình ông, làm ông vô cùng ấm ức mà chẳng thể làm gì! Lúc đầu, họ ngồi với nhau trò chuyện chung chung về vấn đề giáo dục. Nhưng dần dần họ chuyển sang bàn tán về chất lượng đào tạo của các viên chức hành chính trong bộ, mà cũng như ông, chẳng được bài bản cho lắm. Từ đó, họ đưa ra những nhận xét châm chọc, mỉa mai, rồi họ cười khẩy đầy vẻ chế nhạo. Thế rồi, vẫn như người Nga thường làm khi nói chuyện về những chủ đề như vậy, họ mào đầu bằng những chuyện vô thưởng vô phạt để rồi ngay sau đó nhằm thẳng ngay vào một cá nhân cụ thể! Một anh trẻ tuổi quay sang Yefim Formich Perekladin nói: “Còn bác thì sao, bác Yefim Formich Perekladin? Bác đúng là một ví dụ đấy, bác cũng giữ một vị trí kha khá đấy chứ, phải không nào? một vị trí cũng khá quan trọng đúng không? nhưng bằng cấp của bác thì sao nhỉ?”. “Ồ, không nhiều!”, ông trả lời cộc lốc. “Nhưng cậu biết đấy, chúng tôi đâu có cần bằng này bằng nọ, công việc của chúng tôi là làm sao viết cho đúng chính tả là được, chỉ cần có thế!” “Nhưng ở đâu dạy cho bác viết đúng chính tả, viết đúng ngữ pháp nào?”, anh trẻ tiếp tục. “Ồ, cậu biết đấy, tôi vẫn học theo cách thông thường ấy mà, sau 40 năm làm một công việc gì đó thì chính cậu cũng sẽ trở thành một chuyên gia ngay thôi mà! Dĩ nhiên, lúc đầu cũng sẽ có khó khăn đấy, tôi cũng vậy, nhưng sau đó thì sẽ tìm ra một bí quyết nào đó, ai chả thế!”, ông đáp. “Thế bác sử dụng dấu chấm câu như thế nào?”, anh trẻ hỏi. “Dấu chấm câu ư? Chẳng có vấn đề gì cả, tôi dùng chúng một cách thuần thục!” “Hừ...”, anh trẻ tuổi im lặng một lát rồi tiếp tục: “Nhưng làm mãi mới tìm ra một cách nào đó thì không phải do bằng cấp đúng không nào! Bác có thể chấm các dấu chấm câu rất đúng chỗ nhưng thế thì chưa đủ, bác phải hiểu tại sao bác lại làm như vậy. Nếu bác muốn đánh một dấu phẩy thì chí ít bác cũng phải biết tại sao lại là dấu phẩy mà không phải một dấu nào khác. Thưa bác, việc đánh dấu với bác chỉ là bản năng, chỉ là thói quen không hơn không kém, còn đâu là nguyên tắc của nó thì... đó chỉ là một hành động máy móc, bản năng!”. Yefim Formich Perekladin chẳng nói được câu nào, cố mở ra một nụ cười gượng gạo (bởi vì anh trẻ lại là con trai một của một vị kha khá trong bộ, và chính anh cũng đang giữ một vị trí chắc chắn trong bộ giáo dục!). Nhưng giờ đây, khi đã về nhà mìmh, càng cố ngủ thì ông lại càng ấm ức, trằn trọc mà không tài nào ngủ được. “Mình đã làm việc được 40 năm - ông nghĩ - cho đến giờ vẫn chưa ai bảo mình là người ngốc ngếch, thế mà cái thằng nhóc này lại dám bảo mình như vậy, mình mà lại chỉ làm theo thói quen ư?, chỉ là “phản ứng có điều kiện” là “ hành động máy móc” thôi ư? Ôi! Quỷ tha ma bắt anh đi! Đồ trứng khôn hơn vịt!.. Tôi biết những điều tôi làm hơn anh chứ, rõ ràng là như vậy mặc dù tôi chưa bao giờ thèm học ở cái trường chính quy của anh cả!” Giờ đây, trong hơi ấm của chăn bông và sau khi đã rủa thầm cái anh chàng trẻ tuổi thích xoi mói bằng những lời lẽ thậm tệ nhất mà ông biết, ông cũng thấy hả giận phần nào và thấy như dễ chịu hơn. Ông vừa nghĩ ngợi vừa lẩm bẩm trong khi đã cảm thấy buồn ngủ: “Tôi biết.... tôi hiểu chứ... tôi không bao giờ đặt một dấu hai chấm ở chỗ của dấu phẩy, đúng không nào... vì thế là tôi biết tôi đang làm gì chứ! Còn anh đấy, anh bạn trẻ, hãy cứ làm đi... hãy cứ sống thêm một ít nữa đi rồi anh sẽ tha hồ mà cạnh khóe lão già này...!” Ông thấy bay ngang qua đôi mắt nhắm nghiền của mình trong bóng tối những cái dấu phẩy và cả những cái cười mỉa mai bay chập chờn trong một đám mây bụi, chúng lóe sáng như những vệt sao băng rồi bốc cháy. Cái thứ nhất... cái thứ hai... cứ thế hiện ra vô số những chiếc dấu phẩy nhấp nháy nhấp nháy, chập chờn bay lượn... “Cút hết đi, đồ chết tiệt”, Yefim Formich Perekladin rủa thầm trong đầu khi ông cảm thấy tay chân trở nên nặng nề, ông sắp chìm vào một giấc ngủ mỏi mệt... “Tôi biết quá đi chứ về những con dấu... tôi biết quá rõ về những con dấu... tôi sẽ nói cho anh rõ các con dấu khác nhau chỗ nào nếu anh muốn, tôi biết mình đang làm gì chứ chẳng phải ngẫu nhiên mà làm đâu! Kiểm tra đi, rồi anh sẽ thấy!.. Này nhé... dấu phẩy được đặt ở nhiều chỗ khác nhau, đôi khi chúng cần thiết, đôi khi không. Một tài liệu mà càng phức tạp thì anh lại phải dùng đến chúng càng nhiều. Chúng luôn đứng trước các đại từ chỉ định những khi ta không muốn nhắc lại trong câu những chữ như: “cái mà” “người mà”, v.v. và nếu anh có một danh sách các quan chức cần phải kể ra thì anh phải phân biệt người này với người kia bằng những dấu phẩy... tôi biết rõ như vậy đấy!” Lại một con dấu phẩy vàng rực, hiện ra lượn lờ xoay tít rồi lại biến mất nhưng ngay lập tức, một con dấu chấm câu sáng lấp lánh hiện ngay ra... “Dấu chấm câu ư... anh phải đặt nó vào khi muốn kết thúc hoặc muốn một khoảng thời gian ngắn để ngừng lại lấy hơi và ngước lên nhìn vào những người đang nghe anh đọc. Sau tất cả các đoạn dài dài một tí, anh cũng phải dùng một dấu chấm, để khi cô thư ký đọc, cô ta sẽ không bị hụt hơi và nói lắp! Đấy, cách dùng dấu chấm câu chỉ đơn giản có thế!” Những dấu phẩy như mạ vàng lại xuất hiện trở lại, chúng nhập vào với những dấu chấm rồi xoay tít mù, chập chờn, chập chờn... rồi sau đó Yefim Formich Perekladin lại nhìn thấy một lũ những dấu chấm phẩy và dấu hai chấm... “Tôi biết rõ những con dấu này”, ông nghĩ, “khi mà dấu phẩy không thể dùng được mà dấu chấm đã quá nhiều thì người ta sẽ dùng đến dấu chấm phẩy, mình luôn đặt dấu chấm phẩy trước “nhưng” và “vì thế”. Còn dấu hai chấm thì sao? Thì chúng luôn được đặt trước những từ đại loại như một quyết định hay một mệnh lệnh nào đó...” Những dấu chấm phẩy và hai chấm nhạt dần rồi hiện ra một loạt các dấu chấm hỏi. Chúng như thoát ra khỏi bóng tối và cứ như đang nhảy theo điệu cancan của người Pháp. “Nào, bây giờ đến dấu hỏi chấm đây, có hàng nghìn dấu hỏi chấm chứ gì? Được rồi, ta sẽ tìm ra chỗ đứng cho chúng mày. Người ta thường đặt chúng vào cuối những câu hỏi hoặc yêu cầu gì đó ví dụ như: “Trong quỹ của bộ còn bao nhiêu tiền?” hoặc “Bên công an chắc sẽ không tìm ra đâu nhỉ?”, còn khi mà các dấu chấm hỏi đứng thẳng lên trong trường hợp dùng cho các câu có tính chất phê chuẩn hoặc mệnh lệnh thì chúng lại trở thành các dấu chấm than... Hừ... bây giờ đến cái dấu luôn được dùng khi bắt đầu những lá thư, khi “Kính thưa ngài!” hoặc khi “Thưa đức ông cao quý, người đỡ đầu của tôi!”... Nhưng đối với một bản báo cáo thì sao nhỉ? Dấu chấm than thường đứng cao hơn so với các con chữ, chúng có tính chất chờ đợi, mong chờ một điều gì đó xảy ra, v.v trong một báo cáo, chúng được dùng khi... khi mà... khi nào nhỉ???.. Khi... thực ra là... khi nào nhỉ... xem nào, nghĩ một tí xem nào... hừ!..” Yefim Formich Perekladin trở mình, mở mắt ra, nhưng khi vừa mới nhắm mắt lại thì những chiếc dấu chấm than lại hiện ngay ra trong bóng tối rõ mồn một. “Ôi quỷ tha ma bắt chúng đi! Mà khi nào thì dùng dấu chấm than nhỉ?”, ông tự hỏi rồi cố quên đi những vị khách không mời mà đến đang lởn vởn trong đầu. “Có phải mình đã thực sự quên cách dùng dấu chấm than không nhỉ? Hay là mình chưa bao giờ phải dùng đến chúng cả?” Yefim Formich Perekladin cố nhớ lại tất cả các báo cáo mà mình đã viết trong suốt 40 năm qua ở công sở. Nhưng càng suy nghĩ, cân nhắc, ông lại càng không tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Ông không thể nào tìm ra một lần nào trong suốt thời gian qua đã dùng đến dấu chấm than cả. “Hãy tưởng tượng xem, một nhân viên hành chính sự nghiệp mà trong suốt bốn mươi năm phục vụ chưa một lần dùng đến dấu chấm than! Chúng biến đi đâu hết cả nhỉ, cái con quỷ gầy gò dài ngoằng ấy!” Từ phía sau hàng dấu chấm than nhấp nháy như lửa cháy ấy lấp ló bộ mặt của cái anh trẻ tuổi, khuôn mặt ấy như đang cười cợt một cách đầy ác cảm và đắc thắng, những cái dấu cũng như cười cợt theo rồi chúng họp nhau lại thành một cái dấu chấm than to đùng trong bóng tối. Yefim Formich Perekladin lắc đầu rồi mở mắt ra, “Ôi đồ quỷ sứ”, ông nghĩ, “mình phải dậy thật sớm ngày mai mà những điều đáng nguyền rủa này lại không để mình yên, cứ bám riết lấy mình...đồ chết tiệt!” “Nhưng chúng biến đi đâu được nhỉ, suốt bao năm làm việc mới rút ra được kinh nghiệm mà bỗng dưng với cái dấu chấm than này mình lại trở thành người vỡ nợ, một kẻ ngã ngựa giữa đường! Bốn mươi năm mà chưa một lần dùng dấu chấm than, thật kỳ lạ!” Yefim Formich Perekladin làm dấu, nhắm mắt lại rồi lại mở ngay ra nhưng cái dấu chấm than to tướng đó vẫn hiện ra rõ mồn một. “Sao thế, không ngủ được à?”, Mafusa, vợ ông hỏi. “Đúng rồi, thử hỏi bà ấy xem,” ông quay sang phía vợ, “bà ấy vẫn luôn luôn khoe khoang là học sinh của một trường nổi tiếng dành cho nữ sinh cơ mà”. Ông liền hỏi: “Bà nó này, bà có biết là dấu chấm than được dùng như thế nào không?”. “Tất nhiên rồi”, bà trả lời. “Thế ông nghĩ là tôi đã bỏ phí bảy năm để học trong một trường chuyên à! Tôi thuộc lòng cách dùng của tất cả các loại dấu, dấu chấm than thì dùng cho những câu cảm thán, chào hỏi, sự bột phát, bùng nổ, khi vui sương thích thú hoặc tức giận và những cảm giác đại loại như thế.” “Vậy à...” Yefim Formich Perekladin nghĩ ngợi.... “Vui sướng, giận hờn hoặc những cảm giác đại loại như thế...” Yefim Formich Perekladin lại chìm vào suy nghĩ.... “Trong bốn mươi năm qua mình đã từng viết báo cáo, hàng nghìn, hàng chục nghìn cái báo cáo nhưng không thể nhớ lại một dòng nào có cái tâm trạng đại loại như vui sướng, giận dữ hoặc tâm trạng tương tự như vậy trong các báo cáo của mình cả!.. “Và những tâm trạng đại loại như vậy...” Ông phân vân, tự hỏi: “Nhưng có cần tâm trạng, cảm xúc gì không trong công việc của một viên chức thư ký hành chính như mình? Thật ra viết báo cáo thì chẳng cần có cảm xúc gì với chúng đâu!” Khuôn mặt khó chịu của cái anh trẻ lại ló ra, thập thò hé nhìn từ phía sau cái dấu chấm than đỏ rực ấy, cười cười như thương hại...Yefim Formich Perekladin ngồi dậy, cảm thấy đầu đau như búa bổ, mồ hôi rịn ra trên trán... ngọn đèn nhỏ mập mờ, le lói... vẫn những đồ đạc được xếp đặt ngăn nắp, sạch sẽ và luôn bóng bẩy vì luôn được một bàn tay phụ nữ mềm mại dịu dàng chăm sóc. Nhưng Yefim Formich Perekladin, viên chức hành chính sự nghiệp mẫn cán vẫn cảm thấy ảm đạm, lạnh lẽo cứ như là người đang lên cơn sốt phát ban làm ông mệt mỏi, chán chường! Cái dấu chấm than không còn ở trong bóng tối, phía sau mí mắt ông nữa mà như hiện ra hẳn trước mắt ông, gần ngay bàn trang điểm của vợ ông luôn nhấp nháy, nhấp nháy một cách ác độc. “Một cái máy viết”, nó lầm rầm y như một con ma, “một cái máy viết” rồi như thở ra một luồng hơi lạnh lẽo bao trùm lên ông: “Một tên làm khoán cục mịch đần độn”. Ông liền kéo cái chăn trùm kín mít lên đầu nhưng cái con ma chết tiệt ấy vẫn chẳng chịu rời. Ông úp mặt vào vai vợ nhưng cái bóng ma quái ác vẫn không chịu biến mất mà lại hiện ra ngay trước mắt ông phía bên kia vai bà Mafusa. Thế là suốt cả đêm Yefim Formich Perekladin tội nghiệp bị những bóng ma con dấu ám ảnh. Thậm chí cả lúc ban ngày những bóng ma ấy cũng không chịu rời khỏi ông. Ông thấy chúng ở khắp mọi nơi, ở trong giày khi ông xỏ giày, ở trong chén trà khi ông uống nhằm tỉnh táo hơn, thậm chí cả trên chiếc huy chương đeo lủng lẳng trên ngực áo ông. “Những cảm xúc tương tự...”, ông nghĩ, sự thật là như vậy, mình không có cảm xúc, mình sẽ đến để nói với ông giám đốc. Nhưng ông ta biết làm gì đây với những cảm xúc? Không, chẳng để làm gì cả, ông ta cũng chỉ là một cái máy. Một viên chức máy! Khi Yefim Formich Perekladin đi ra đến đường, gọi một anh đánh xe, trông anh ta cũng như một chiếc dấu chấm than đang đánh xe vậy, cả cái anh vẫn đứng gác ở cổng lối ra vào phòng ông giám đốc nữa, cũng giống y một cái dấu chấm than nốt... tất cả như đang thể hiện với ông về niềm vui, tức giận và cả căm hờn... Cả cái cán bút và cái ngòi bút của ông trông cũng y xì như một cái dấu chấm than! Yefim Formich Perekladin cầm nó lên, hờ hững viết ra cái tên và chức danh của mình: “Yefim Formich Perekladin, thư ký bộ giáo dục!!!”. Khi ông đánh ba dấu chấm than ấy, trong ông dâng lên một cảm xúc thật kỳ lạ, vừa vui vẻ, vừa tức giận lại như vừa có chút gì như sung sướng trào lên trong lòng. “Đây! hãy giữ lấy, giữ lấy!”, ông lầm bầm, nhấn mạnh vào cây bút trong tay ông. Cái dấu chấm than đỏ rực như đã mãn nguyện vụt biến mất. 1885 Thái Đức Khải dịch từ bản tiếng Anh (Theo Tuổi trẻ) |
| Có 7 thành viên gửi lời cảm ơn tranhientrang cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (17-10-2009), Flamingo (30-10-2009), htienkenzo (18-10-2009), hungmgmi (17-10-2009), Nguyễn Nguyên Hải (02-11-2009), Rowens (12-08-2011), vhnga (18-10-2009) | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
Trích:
Không biết bạn có cuốn "Truyện ngắn Chekhov" chưa? Trong cuốn này có 27 truyện ngắn của Chekhov. Có vẻ là cuốn sách có đẩy đủ các tác phẩm của Chekhov nhất trong số rất nhiều các cuốn đã được xuất bản. Tớ cũng nghe nói cuốn "Truyện ngắn Chekhov" này được ở trong danh sách "10 tác phẩm lớn nhất mọi thời đại".
__________________
Take It Easy |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn BelayaZima cho bài viết trên: | ||
Flamingo (30-10-2009), tranhientrang (17-10-2009) | ||
|
#3
|
||||
|
||||
|
Tchekhov, với lối viết trào lộng và châm biếm, thiện cảm của ông hoàn toàn dành cho người nghèo. Valka là một truyện cảm động, em đã đọc cách đây tương đối lâu qua tuyển Truyện ngắn gồm 27 truyện của Nhà XB Cầu vồng Moscow 1988.Truyện tuy ngắn, nhưng lòng mình cảm thương sâu sắc với những tâm hồn cùng cực như trải dài trong mùa đông lạnh lẽo Nga…Ngoài ra còn nhiều truyện hay chưa có trong tuyển tập này như: Phòng số 6, Người ăn mày, Gặp gỡ, cây vĩ cầm cho ROTHSCHILD…Đúng là mỗi truyện đều để lại dấu ấn đượm buồn, đôi khi rất bi thương bác nhỉ!
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
Flamingo (30-10-2009) | ||
|
#4
|
|||
|
|||
|
phong cách viết truyện ngắn của Chekov có cái gì đó giống với Nam Cao của chúng ta. Mỗi câu từ đọc lên như có hàng ngàn mũi tên đâm vào trái tim ta. Những vét đam ấy cứ hàng ngày rỉ máu vào khó có thể lành hẳn. Mình thích điều đó
Mình đã đọc nhiều truyện của Chekov và đều có chung một cảm giác buồn, cái buồn nhức nhối như khi thấy Chí Phèo tự mình đâm chết bản thân mình vậy. Phải chăng con người tồn tại được cần đến rất nhiều những yếu tố khác của cuộc đời mà khong phải ai cũng dễ dàng thoát ra được. mình đọc được bài viết của một ai đó không nhớ rõ tên cho rằng với Chekov Phòng số 6 là đỉnh cao nhất. Nhưng học sinh mình cho rằng đấy là tác phẩm khó nếu đưa vào chương trình phổ thông vì "Ngươi trong bao" cũng đã làm đau đầu lắm rồi. Các bạn nghĩ sao? |
|
#5
|
||||
|
||||
|
Trích:
Phong cách viết truyện ngắn của Chekhov có lẽ gần gũi với Nguyễn Công Hoan . Kịch tính trong mọi truyện dều được đẩy cao, mâu thuẫn gay gắt giống giọng văn nhuần nhuyễn phong cách trào phúng của Nguyễn Công Hoan hơn là Nam Cao. Sao ta không cho tất cả các thể loại tác phẩm của Chekhov vào đây ? Bốn vở kịch của Chekhov đều đặc sắc. Thể loại kịch nhiều người ngại đọc, nhưng các bạn thử đọc xem, chúng sẽ lôi cuốn các bạn từ lúc mở màn đến khi hạ màn. Có lẽ tất cả bốn vở kịch của ông nghiêng về bi kịch. Những tác phẩm của ông phần lớn phủ một màu xám , không hẳn là màu đen, tối. Đọc xong nó để lại trong người đọc nỗi xót xa day dứt... Bốn vở kịch Chim Hải Âu, Cậu Vanhia, Ba chị em, Vườn anh đào đều đáng để đọc... |
| Có 7 thành viên gửi lời cảm ơn Flamingo cho bài viết trên: | ||
chaika (30-10-2009), Nguyễn Nguyên Hải (02-11-2009), Nina (30-10-2009), Thien Nga (15-11-2012), tranhientrang (03-11-2009), USY (30-10-2009), vhnga (02-11-2009) | ||
|
#6
|
||||
|
||||
|
Ở Nga, bên cạnh Tchekhov, người ta có đưa thêm Maupassant (Pháp) và Vũ Trọng Phụng vào hàng bậc thầy truyện ngắn. Những truyện ảm đạm trào phúng của Tchekhov đúng như bạn nói “là tác phẩm khó”, tuy thường được viết ra dễ dàng: truyện này viết ngoài bãi tắm, truyện kia viết chưa đầy 1 giờ…có kết cấu đơn giản nhưng lại mang nội dung xã hội sâu sắc, trau truốt, ngắn gọn về ngôn ngữ; tính tâm lý, trữ tình, sau hành động là các làn sóng tâm lý đầy kịch tính đan xen: Qua tiếng cười ta vẫn nghe rõ nỗi đau của con người_để lại những thương cảm về số phận ngèo hèn đâu đó trên con đường giá lạnh Nga TK 19…
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
Flamingo (30-10-2009) | ||
|
#7
|
|||
|
|||
|
Hình như Tchekhov đâu chỉ viết những truyện ngắn ảm đạm bác tranhientrang ơi? Ví dụ như truyện "Ngôi nhà có căn gác nhỏ" chẳng hạn - tuy buồn, nhưng không hề ảm đạm. Em thích truyện ngắn ngày - một nỗi đau trong cuộc đời một họa sĩ lớn, nhưng nỗi buồn không làm cho người họa sĩ gục ngã, mà giúp người nghệ sĩ trưởng thành hơn, trải nghiệm hơn. Tất nhiên, có rất nhiều khả năng là Tchekhov đã dùng bạn mình, họa sĩ Isaak Levitan làm nguyên mẫu cho nhân vật họa sĩ trong truyện này.
Người Nga cũng đọc Maupassant khá nhiều, nhưng em hơi nghi ngờ về việc độc giả Nga biết và khâm phục Vũ Trọng Phụng bác ạ. |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
Flamingo (30-10-2009), tranhientrang (18-10-2009) | ||
|
#8
|
||||
|
||||
|
Cám ơn bác Nina đã “nhắc nhở”. Đúng là ngoài “đề tài ảm đạm” mà đỉnh cao là Phòng số 6(1892), thì Một bà xốc nổi(1891) thể hiện lý tưởng nhân đạo và xã hội; Đồng cỏ(1888) là những cảm nghĩ của ông về cuộc đời, đất nước và nhân dân...Trong các tác phẩm ông còn có "truyện ngắn vui" là bức thư trong đó thể hiện tình yêu văn chương: Nhà văn viết: "Y học như là người vợ trung thành, còn văn học lại giống một tình nhân nhỏ của tôi. Khi tôi chán "vợ", ban đêm tôi đến với "tình nhân". Mặc dù điều này không xảy ra thường xuyên như một thói quen nhưng nó giúp tôi giũ bỏ sự nhàm chán và "vợ" cũng như "tình nhân", không ai quá sức chịu đựng vì sự bội phản của tôi". Ngôi nhà có căn gác nhỏ (hay Câu chuyện người họa sỹ), Chuyện của phu nhân N.N…là những truyện trữ tình đặc sắc.
Guy de Maupassant (Pháp), O. Henry (Mỹ) và Tchekhov được xem là ba nhà văn viết truyện ngắn hay nhất mọi thời đại. Có một tài liệu nào đó in đã lâu có nói Vũ Trọng Phụng được biết đến nhiều và đánh giá cao ở Nga mà em không nhớ nổi để trích dẫn ra đây, và có lẽ nó chỉ mang tính tham khảo. Thay đổi nội dung bởi: tranhientrang, 19-10-2009 thời gian gửi bài 05:35 Lý do: Lược và thêm |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Flamingo (30-10-2009) | ||
|
#9
|
||||
|
||||
|
Tchekhov theo hoc y khoa tại Đại học Quốc gia Moskva. Ở đây, ông bắt đầu vẽ biếm họa cho một số tạp chí hài để hỗ trợ gia đình. Sau khi tốt nghiệp năm 1884, Chekhov hành nghề y nhưng vẫn tiếp tục tâm huyết với sáng tác và thành công như các bác NNN đã biết. Ông có những quan điểm về sáng tác truyện ngắn thú vị, em xin trích giới thiệu:
NHẬN XÉT TẢN MẠN Cần phải viết về những gì anh thấy những gì anh cảm thấy, viết một cách chân thực. Người ta hỏi tôi muốn nói gì qua truyện ngắn này hay truyện ngắn khác. Gặp những câu hỏi đó, thường tôi không trả lời. Bởi công việc của tôi là viết. Dường như tôi có thể viết mọi điều anh muốn. Giả sử anh bảo tôi viết về cái chai này. Thế là sẽ có truyện ngắn với nhan đề Cái chai. Hình ảnh sinh động làm nên tư tưởng, chứ không phải tư tưởng tạo ra hình ảnh. Tôi không nhớ có truyện nào tôi phải viết quá một ngày một đêm, và cái truyện ngắn Người xạ thủ mà ông thích đó thì tôi viết ngay trong buồng tắm... Giống y như một phóng viên viết phóng sự về đám cháy, tôi đã phải viết như một cái máy, viết trong tình trạng nửa tỉnh nửa mê, không cần biết độc giả như thế nào. Sao lại nói là không có cốt truyện? Không đúng. Cốt truyện có ở mọi nơi mọi chỗ. Anh hãy nhìn vào bức tường này. Ai cũng biết ở đấy chẳng có gì cả. Nhưng anh hãy nhìn kỹ vào đó, hãy tìm trong đó một cái gì của mình, một cái gì không ai thấy được. Và anh hãy viết ra. Xin cứ tin điều tôi nói, bấy giờ thế nào cũng có một truyện ngắn. Cũng như anh có thể viết rất hay về một chủ đề đã cũ mèm như viết về ánh trăng, miễn là biết nhìn ra trong ánh trăng một cái gì của mình mà không phải một cái gì khác đã quá nhàm. Truyện vừa, cũng như một màn kịch, có những điều kiện của nó. Cảm giác của tôi báo với tôi rằng ở đoạn cuối của thiên truyện, tôi cần phải tìm cách tập trung sao để làm nổi bật trong tâm trí độc giả cái ấn tượng đã thấp thoáng trong toàn truyện. Để làm được việc này, cần phải ít nhiều gợi lại những gì ở các đoạn trên đã nhắc tới. Để viết về bọn ăn cắp ngựa, trong vòng bảy trăm dòng, tôi buộc mình phải luôn luôn nói và nghĩ bằng cái giọng của chúng, cảm thấy mình sống trong không khí của chúng. Nếu làm khác đi, tức thêm vào đấy những yếu tố chủ quan, các hình ảnh sẽ trở nên mơ hồ, và thiên truyện sẽ không thể cô đúc như các truyện ngắn đòi hỏi. Khi viết, tôi luôn tính tới bạn đọc, tôi hiểu những yếu tố chủ quan còn thiếu, trong thiên truyện sẽ được họ bổ sung. Theo ý tôi, những đoạn miêu tả thiên nhiên cần luôn luôn ngắn gọn và phải xuất hiện cho đúng lúc. Những câu đại loại “Vầng mặt trời sắp lặn đùa nghịch mãi trong lớp sóng đang trở nên sẫm lại, trông như một lớp vàng đỏ thắm..." nói chúng nên quăng bớt đi. Trong việc miêu tả thiên nhiên, cần biết chọn lấy những chi tiết có vẻ bé nhỏ, nhưng gộp chúng nó lại sao cho sau khi đọc, có thể hình dung ra cả bức tranh. Cần phải làm việc thật nhiều. Cần phải không ngừng làm việc ngày ngày. Hồi trẻ, tôi viết mỗi ngày một truyện ngắn. Sau đó thành thói quen. Anh hãy quan sát kỹ cuộc sống, quan sát kỹ mọi người. Sau đó, có khi đang đi chơi bên bờ biển Yalta chẳng hạn, bất thình lình cái lò so của truyện chợt bật ra trong đầu óc và thế là một truyện ngắn đã có sẵn. Anh hỏi cần viết thế nào, để có một truyện thật tốt. Trong truyện đó, không có cái gì được thừa cũng y như trên boong tàu quân sự, ở đó tất cả phải đâu vào đấy, không cái gì được thừa. Truyện ngắn cũng vậy. Nghệ thuật viết, nói cho đúng ra, không phải ở chỗ viết như thế nào, mà là nghệ thuật vứt bớt đi những gì dở, kém như thế nào. Theo tôi, viết truyện ngắn, cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và kết luận. Với cách viết văn xuôi chúng ta, lôi thôi nhất là vấn đề thời gian. Sau những đỉnh cao mà Maupassant bằng trình độ nghề nghiệp rất cao của ông, đã đạt tới, thì thật là khó làm việc. Nhưng vẫn cần phải làm, nhất là những nhà văn Nga, trong công việc, chúng ta phải dũng cảm. Có những con chó lớn, nhưng lại có những con chó nhỏ, có điều tiếng chó nhỏ đừng có lẫn vào tiếng chó lớn mới được. Mỗi bên phải sủa bằng tiếng của mình, bằng cái giọng trời cho của mình. Một lần nào đó, tôi đã nói với anh cần phải tạo ra thản nhiên, khi viết những truyện thương tâm, và anh đã không hiểu tôi. Nhà văn có thể khóc lóc, rên rỉ, có thể đau khổ với các nhân vật của mình, nhưng theo tôi, cần phải làm sao để độc giả khỏi nhận thấy những cái đó. Càng khách quan càng có thể tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ. Đó, tôi muốn vậy. Không việc gì phải lo tìm bằng được những cất truyện cho thật lắt léo. Trong cuộc sống, tất cả cứ lẫn lộn với nhau, cái sâu sắc với tầm thường, cái vĩ đai với cái bé nhỏ, cái bi thảm với cái hài hước. Những truyện ngắn mà anh gửi cho tôi toát ra một vé giả dối ghê gớm. Cốt truyện không thể có được. Anh hãy tự kính trọng, đừng cố viết khi óc lười nghĩ. Hãy chỉ viết không quá hai truyện ngắn trong một tuần rồi tìm cách thu bớt nó lại, làm lại, cho lao động thực sự là lao động. Đừng viết về những đau khổ mà anh chưa từng trải qua, đừng vẽ nên những khung cảnh mà anh chưa nhìn thấy, vì trong truyện sự giả dối hiện ra còn tẻ nhạt hơn nhiều, so với khi trò chuyện. Truyện ngắn của anh tôi rất thích. Đây là một truyện tốt, thông minh, đáng yêu. Nhưng cũng như mọi khi, anh có phần uể oải trong dắt dẫn, nên chi câu chuyện đâm ra oặt oẹo không vững. Anh hãy tưởng tượng một cái ao lớn, nước chỉ lăn tăn, mắt thường không sao có thể nhìn thấy sóng. Trên mặt ao có đủ những thứ khác nhau: dăm bào, thùng phuy, bảng gỗ. Do nước chỉ lăn tăn, tất cả những thứ đó cùng như đứng nguyên, bất động và lẫn vào nhau. Truyện của anh cũng vậy, quá ít vận động và quá nhiều chi tiết, tới mức cái nọ chồng chất lên cái kia. Truyện ngắn của anh rất tốt, chỉ hiềm nó dài quá, trong đó có quá nhiều chi tiết vô bổ. Cái giọng điệu chung của truyện bị phá vỡ bởi đoạn nhân vật chính cãi nhau với vợ, một cuộc cãi nhau không cần thiết. Tôi hình dung nó giống như giữa bức tranh vẽ cảnh biển cả rất êm đềm bỗng có những ngọn sóng quá cao, nó làm cho kích thước bị xô đẩy, ấn tượng bị vụn ra, mất đi sự nhất quán đáng lẽ phải có. Anh có biết không, muốn đánh giá một nhà văn mới vào nghề, hãy xem ngôn ngữ của anh ta. Nếu văn anh ta không có cái giọng riêng, anh ta khó lòng có thể trở thành một nhà văn thực thụ. Còn khi đã có giọng riêng, có tiếng nói của mình, với tư cách một nhà văn, anh ta đáng để ta hy vọng. Khi ấy ta có thể xem xét các mặt khác trong những gì anh ta đã viết. A.Tchekhov (Theo Tchekov bàn về văn học, M. 1955) *** CÂU CHUYỆN CỦA PHU NHÂN N.N A.Tchekhov Khoảng 9 năm trước, một buổi chiều vào kỳ cắt rạ, tôi và piotr Xecgeits, lúc ấy làm dự thẩm ở một toà án, cùng cưỡi ngựa ra ga lấy thư về. Hôm ấy trời rất đẹp, nhưng trên đuờng về bỗng có tiếng sấm ầm ì, và chúng tôi nhận thấy một đám mây đen hung dữ đang lừ lừ tiên tới gần chúng tôi. Nổi lên trên nền mây đen xám ngắt thấp thoáng màu trăng trắng của ngôi nhà chúng tôi, những cây phong cao óng ánh bạc.Không khí thoang thoảng mùi mưa và mùi rạ mới cắt. Anh bạn của tôi đang cao hưng lắm. Anh ta cười như nắc nẻ và nói đủ chuyện vu vơ. Anh ta bảo là ví thử bây giờ trên đường đi của chúng tôi thoáng hiện lên một toà lâu đài trung cổ với những ngọn tháp răng cưa có rêu phủ, có cú đêm, thì hay quá, chúng tôi sẽ trú mưa và rồi sẽ bị sét đánh chết. Nhưng kìa trên đám lúa mì đen trên cánh đồng đại mạch đã tràn qua đợt sóng đầu tiên của giông tố. Gió đã nổi và cuốn bụi lên thành từng cột xoáy tít. Piotr cười vang và cựa giầy thúc ngựa. - Thích thật - anh reo lên- thích quá ! Tôi cũng vui lây. Và khi nghĩ rằng chỉ lát nữa tôi sẽ bị ướt như chuột lột và rất có thể bị sét đánh chết, tôi cũng cười phá lên. Gió bấc xoáy rất mạnh. Hai con ngựa phi vun vút, khiến cho người ta có cảm giác khó thở, trong lồng ngực chúng tôi thấy hồi hộp, nôn nao. Khi chúng tôi cưỡi ngựa về đén sân nhà, gió đã lặng, những chùm mưa lớn đổ rào rào xuống đám cỏ và mái nhà. Quanh chuồng ngựa không có lấy một bóng người . Piotr tự tay tháo yên cương cho hai con ngựa, dắt chúng vào tàu, trong khi chờ anh xong việc, tôi đứng ở ngưỡng cửa nhìn những làn mưa chênh chếch đổ xuống, cái mùi rạ ngòn ngọt hăng hăng ở đây như thể nồng đượm hơn ở ngoài đồng; mây đen và làn mưa làm cho trời tối mờ đi. - Sét đánh dữ quá ! Piotr vừa nói vừa đến cạnh tôi sau một tiếng sét rất dữ dội, mở đầu cho một đợt sấm đổ hồi. Lúc bấy giờ có thể tưởng tượng như trời đã nứt làm đôi. Anh đứng cạnh tôi trên ngưỡng cửa chuồng ngựa, vẫn còn thở mạnh vì chuyến phi ngựa rất nhanh vừa rồi. Tôi nhận thấy anh đang nhìn tôi mê mải. - Natalya Vladimirovna ạ, - anh nói - tôi sẵn sàng hiến dâng tất cả chỉ để được đứng thế này lâu hơn nữa và nhìn cô. Hôm nay cô đẹp quá. Mắt anh hân hoan và van vỉ, mặt anh tái xanh, trên bộ râu anh có những giọt nước mưa lóng lánh, và hình như mấy giọt mưa ấy cũng âu yếm nhìn tôi.- Tôi yêu cô- anh nói - Tôi yêu cô, và tôi sung sướng được nhìn thấy cô. Tôi biết cô không thể thành vợ tôi đuợc. Nhưng tôi không muốn gì hết, tôi không cần gì hết, chỉ xin cô biết một điều rằng tôi yêu cô. Cô đừng nói, đừng lưu ý làm gì, cô chỉ cần biết là tôi rất quý cô, hãy cho phép tôi, được nhìn cô ! Tâm trạng hân hoan của anh cũng chuyển sang tôi. Tôi nhìn gương mặt phấn khích của anh, lắng nghe giọng nói của anh hoà lẫn với tiếng mưa, mà như bị thôi miên, không sao cử động được. Tôi muốn nhìn mãi đoi mắt sáng long lanh ấy, nghe mãi giọng nói ấy, muốn vô cùng. - Cô im lặng- như thế là rất hay ! - Piotr nói - Cô cứ im lặng như thế đi. Tôi thấy thích quá. Tôi cười to lên vì sung sướng và chạy ra giữa cơn mưa đang đổ xuống như trút để vào nhà; Piotr cũng cười phá lên và nhảy nhót chạy theo tôi. Hai chúng tôi, như hai đứa trẻ, ồn ào, ướt át, thở hổn hển, nện gót ầm ầm trên thang gác và chạy ùa vào trong nhà. Cha tôi, vốn không quen thấy tôi vui cười như thế, kinh ngạc nhìn tôi rồi cũng cười phá lên. Những đám mây giông tố đã kéo đi hết, tiếng sấm đã lặng nhưng trên râu của Piotr vẫn còn long lanh mấy giọt mưa. Suốt buổi chiều hôm ấy, mãi đến bữa ăn tối, anh ca hát, huýt sáo, đùa nghịch ầm ĩ với con chó, đuổi theo nó chạy khắp các phòng, thành thử có lúc suýt xô phải một người nhà đang bưng ấm lò đi ra. Trong bữa tối, anh ăn rất nhiều, nói toàn những chuyên ngớ ngẩn và quả quyết hễ mùa đông mà ăn dưa chuột trươi thì trong miệng sẽ sực nức huơng bị mùa xuân. Khi đi ngủ, tôi thắp đèn nến lên và mở toang cửa sổ, và một cảm giác mơ hồ khó hiểu tràn ngập tâm hồn tôi. Tôi nhớ ra răng tôi tự do, khoẻ mạnh, quyền quý, giàu sang - quyền quý và giàu sang - trời ơi, thích biết chừng nào ! .. Sau đó, người co ro trong giường vì hơi lạnh thoang thoảng từ vườn đưa vào phòng cùng với sương đêm, tôi cố tìm hiểu xem mình có yêu Piotr Xecgeits không... Rồi không hiểu được chút gì, tôi ngủ thiếp đi. Và sang hôm sau, khi trông thấy những vệt nắng rung rinh và bóng những cành bồ đề chờn vờn trên đệm, trong ký ức tôi sống dậy những cảnh hôm qua. Tôi thấy cuộc sống sao phong phú, muôn màu muôn vẻ, tràn đầy một vẻ đẹp diệu kì. Tôi vừa hát vừa khe khẽ nhanh nhẹn mặc áo quần và chạy ra vườn..... Rồi sau đó chuyện gì đã xảy ra ? Sau đó chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Mùa đông, gia đình tôi ở trong thành phố, Piotr Xecgeits vẫn thỉnh thoảng đến chơi. Những người quen ở nông thôn chỉ thú vị khi mình ở nông thôn, vào mùa hè, nhưng ở thành phố, vào mùa đông thì họ mất hẳn đi một nửa phần thú vị. Ở thành phố, khi dọn trà cho họ uống, người ta cứ có cảm giác như chiếc áo họ đang mặc trên người là áo đi mượn của ai, và họ dùng thìa khuấy trà quá lâu. Dạo ở thành phố đôi khi Piotr cũng có nói chuyện yêu đương, nhưng lời lẽ của anh gây một ấn tượng khác hẳn.hồi ở nông thôn. Ở thành phố chúng tôi cảm thấy rõ rệt hơn bức tường ngăn cách chúng tôi : tôi thì con nhà quyền quý và giàu sang, anh ấy thì nghèo ; anh là con một ông thầy giúp lễ, đảm đương chức vụ dự thảm ở một tòa án, và chỉ có thể thôi. Hai chúng tôi - tôi thì vì tuổi trẻ quá, còn anh ấy chẳng biết tại sao - đều cho rằng bức tường ấy quá cao và dày. Cho nên những khi đến chơi nhà chúng tôi, anh thường mỉm cười gượng gạo, và hay lên tiếng phê phán giới thượng lưu hay quý tộc. Và nếu trong phòng có khách, ngoài anh ra còn có một người nào khác, anh thường im lặng và lầm lì. Không làm gì có được bức tường nào không thể đập thủng được, nhưng các nhân vật trong tiểu thuyết ngày nay, vốn quá rụt rè, nhu nhược, lười biếng và dễ chạnh lòng, họ quá nhanh chóng cam tâm chấp nhận cai ý nghĩ cho mình là kẻ bất đắc chí, mình bị cuộc đời riêng lường gạt; đáng lẽ đứng dậy đấu tranh thì họ chỉ bình phẩm phê phán, gọi xã hội thượng lưu là tầm thường dung tục, và quên mất ràng chính những lời phê phán của họ cũng dần dần chuyển sang tầm thường dung tục. Tôi được yêu, hạnh phúc đến với tôi rất gần gũi, tưởng như đang sống vai kề vai bên tôi; tôi sống trong tiếng hát giọng cười, không cố gắng hiểu mình, không biết mình chờ đợi gì và ước mong gì ở cuộc sống, trong khi đó, thời gian cứ trôi đi, trôi đi.... Đã bao nhiêu người đã qua cuộc đời tôi với mối tình của họ, những ngày quang đãng và những đêm ấm áp tiếp theo nhau lướt nhanh qua trong tiếng hót củ chim họa mi và trong mùi hương của rơm rạ, và tất cả những hình ảnh, những chuỗi ngày đã để lại bao nhiêu kỷ niệm đáng yêu, huyền diệu ấy, ở tôi cũng như ở mọi người khác, đều trôi qua rất nhanh, không để lại dấu tích gì, không được quý trọng và đều tan biến đi trong sương mù. Những chuỗi ngày êm đẹo ấy nay còn đâu....... Cha tôi mất, tôi già đi; tất cả những gì đã làm cho tôi yêu thích, đã mơn trớn tôi, đã cho tôi hi vọng - tiếng mưa rơi, tiếng sấm rền, những ý nghĩ về hạnh phúc, những câu chuyện về tình yêu - tất cả đềi chỉ còn là kỉ niệm. Và trước mắt tôi là một khoảng không gian xa tắp, phẳng lặng, vắng vẻ; trên đồng bằng không có lấy một sinh linh, và ở chân trời sao tối tăm, khủng khiếp quá. Có tiếng chuông reo ngoài cổng ... Ấy là Piotr đến chơi. Mùa đông, cứ mỗi khi tôi nhìn bóng cây và nhớ lại màu xanh rờn của nó dạo hè, tôi lại thì thầm : - Ôi, người bạn yêu dấu của tôi ! Và mỗi khi tôi gặp lại những người đã ở bên tôi, hồi tôi đang sống qua mùa xuân của đời mình, tôi lại thấy buồn buồn và âm ấm trong lòng, và tôi lại thì thầm câu ấy. Từ lâu nhờ sự che chở của cha tôi, anh ấy đã được đổi về thành phố. Anh hơi già đi, dáng người như hơi trĩu xuống.Anh đã từ lâu không bày tỏ tình cảm, không nói chuyện lẩn thẩn nữa, anh không ưa thích gì công việc ở sở, sức khoẻ anh sút giảm vì một chứng bệnh gì đấy, anh thất vọng về một nỗi gì không rõ, anh đã khoát tay phó mặc đời và sống một cách miễn cưỡng. Giờ đây anh ngồi bên lò sưởi, im lặng nhìn ngọn lửa bập bùng. Không biết nói chuyện gì, tôi hỏi anh : - Có chuyện gì không? - Chẳng có gì... Anh đáp. Lại im lặng. Ánh lửa đỏ rực chập chờn trên gương mặt rầu rầu của anh. Tôi nhớ lại dĩ vãng, và vai tôi chợt run lên, đầu tôi cứ gục xuống và tôi khóc òa lên cay đắng. Tôi thấy xót xa không sao chịu nổi, xót cho mình, xót cho người ấy, và tôi thấy thèm khát vô cùng những gì đã qua mà giờ đây cuộc sống đã khước từ không chịu trả cho chúng tôi. Và bây giờ tôi không còn nghĩ đến chuyện mình quyền quý và giàu sang nữa. Tôi khóc nức nở, hai bàn tay ép lên thái dương và lẩm bẩm : - Trời ơi, trời ơi, còn gì là đời nữa... Anh ngồi yên, lặng thinh, không nói vói tôi : " Cô đừng khóc." Anh hiểu rằng tôi cần khóc và bây giờ đã đến lúc phải khóc như vậy. Nhìn mắt anh tôi thấy rõ anh thương tôi; tôi cũng thấy thương anh, và cũng giận con người rụt rè kia, đã không biết cách thu xếp cho đời tôi mà cũng chẳng biết cách thu xếp cho đời mình. Khi tôi tiễn anh về, ra đến phòng ngoài tôi có cảm giác như anh cố ý mặc áo khoác rất lâu. Anh im lặng hôn tay tôi hai ba lần và hồi lâu nhìn đăm đăm vào khuôn mặt ướt đẫm nước mắt của tôi. Tôi chắc lúc ấy anh nhớ lại cơn giông, những làn mưa chênh chếch, tiếng cười của hai đứa chúng tôi, khuôn mặt tôi hồi ấy.Anh muốn nói với tôi một điều gì, mà giá nói được chắc anh sẽ mừng lắm, nhưng rồi anh chẳng nói gì, chỉ lắc đầu và xiết chặt tay tôi. Thôi, cầu Chúa phù hộ cho anh ấy ! Tiễn anh về rồi, tôi trở vào phòng sách và lại ngồi xuống tấm thảm trải trước lò sưởi. Những súc than đỏ đã phủ tro và bắt đàu toàn lụi dần. Băng giá kêu răng rắc trên cửa sổ càng giận dữ hơn, và gió hát một giai điệu mơ hồ trong ống khói lò sưởi. Người hầu gái bước vào, tưởng tôi đã ngủ thiếp đi, liền cất giọng gọi. 1887 ( Cao Xuân Hạo dịch ) Thay đổi nội dung bởi: tranhientrang, 19-10-2009 thời gian gửi bài 12:53 Lý do: Bổ sung. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn tranhientrang cho bài viết trên: | ||
|
#10
|
|||
|
|||
|
Xin hỏi bạn Tranhientrang co link truyện ngắn "Ngôi nhà có căn gác nhỏ" cho mình xin với. Mình chỉ mới tiếp xúc với Chekhov qua những câu chuyện "ảm đạm" thôi, chưa đọc những tác phẩm về đề tài khác.
Cám ơn bạn đã cung cấp thông tin |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Flamingo (30-10-2009) | ||
|
#11
|
||||
|
||||
|
Mong bạn thông cảm: Mình có link tiếng Anh truyện này (THE HOUSE WITH THE MEZZANINE: http://www.bookrix.com/book.php?book...56801596&zoom=) post trước lên để bạn ngâm cứu. Còn link bản dịch tiếng Việt mình sẽ cố gắng nhớ lại, post lên sau bạn nhé!
__________________
|
|
#12
|
||||
|
||||
|
Tôi vẫn nhớ lần đầu đọc ông là bộ tuyển tập do hai bác Phan Hồng Giang và Cao Xuân Hạo dịch, nhà XB Văn học in bằng giấy đen, chữ nhỏ li ti, cách đây gần ba chục năm. Lưu dấu ấn nhất với tôi có lẽ là những chuyện tuy xảy ra ở Nga từ 2 thế kỷ trước mà nay có thể gặp lại tại xã hội Việt Nam như "Con kỳ nhông", với hình ảnh quan chức 'gió chiều nào xoay chiều ấy', "phòng số 6" với những suy nghĩ dằn vặt của một bác sĩ thần kinh và những mưu mô xảo quyệt của các đồng nghiệp đối với ông. Ngoài ra, "Đêm Noel" với dòng cuối cùng day dứt:"Đêm Noel ấy, nàng đã yêu chồng ...." cũng là một truyện ngắn chứa đựng nhiều điều khiến ta phải suy ngẫm.
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
Flamingo (30-10-2009) | ||
|
#13
|
|||
|
|||
|
nếu bạn đã đọc kĩ truyện của Nam Cao và hiểu sâu sắc về truyện của ông, hẳn bạn sẽ có cái nhìn khác hơn. Tất nhiên, văn học là để cho mỗi người có một cách cảm nhận khác nhau. Vì thế, bạn cho rằng truyện của Chekhov giống với Nguyễn Công Hoan hơn. Mình không phản đối điều này, có điều, với mình, truyện Nguyễn Công Hoan còn nhạt lắm, khó có thể so sánh với "đại lão gia" Chekhov được. Bạn cho rằng văn Chekhov "Kịch tính trong mọi truyện dều được đẩy cao, mâu thuẫn gay gắt' và bạn đã đọc nguyên tác truyện của ông chắc hẳn bạn sẽ hiểu những nhận xét trên chỉ có thể có được từ Nam Cao chứ không phải là của Nguyễn Công Hoan. Với Nguyễn Công Hoan, chất trào phúng, châm biếm sâu cay của ông nổi rõ hơn chất kịch tính. Những mẫu thuẫn chồng chéo, những tâm trạng của con người như hằn trên từng con chữ khiến người đọc không những cảm nhận được đằng sau đó là tiếng khóc nỉ non rỉ ra từ trái tim, tâm hồn nhân vật mà còn xót xa, cay đắng cho chính bản thân mình. Điều này chỉ có thể có được từ Nam Cao và Chekhov mà thôi.
Mình nghĩ vậy, đừng giận nhé! |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Flamingo (02-11-2009) | ||
|
#14
|
|||
|
|||
|
Mình thì chẳng am hiểu sâu sắc ai trong số 3 nhà văn được kể ra ở đây. Nhưng mình nghĩ rằng tầm ảnh hưởng đến văn học, văn hóa thế giới của Chekhov với Nguyễn Công Hoan và Nam Cao là hoàn toàn khác nhau (mong những ai hâm mộ Nguyễn Công Hoan và Nam Cao đừng cho rằng mình vọng ngoại, xúc phạm niềm tin của các bạn, hay gì gì tương tự nhé, hình như mình cũng có thể nói lên ý kiến của mình mà). Do đó có lẽ chúng ta không nên so sánh chăng?
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
Flamingo (02-11-2009) | ||
|
#15
|
|||
|
|||
|
Tôi cảm ơn những bạn thảo luận về Anton Paplovik TChekhop để tôi lại có dịp đọc,nghĩ tới Ông.Tôi có dịp được đọc tác phẩm của ông từ 1957do NXB Hội nhà văn hoặc NXB Văn
nghệ,có lời Bạt của Nguyễn Tuân và các bản dịch của nhiều người,Tôi được nghe nhiều buổi chuyên đề về TChekhop,truyên ngắn của TChekhop do GS Hoàng Xuân Nhị trình bày đam mê đọc những vở kịch của Ông như Chim Hải âu;Ba chị em;Cậu Vanhia;Vườn Anh đào;Cầu hôn;Con gấu.đọc mấy tâp chuyên khảo các tác phâm kich của Ông do Ermilop viết.Bản thân tôi đã trực tiếp dàn dựng cho học sinh trung học các tác phẩm Cầu hôn; Con gấu và Cậu Vanhia.Khi có dip làm việc Giao lưu Sân khấu Việt - Mỹ tôi lại thấy Họ thừa nhận và bằng thực tế kịch bản&vở diễn Những con giống bằng thủy tinh-đã viết theo phương pháp của TChekhop. TChekhop;Tchekhop-vĩ đại.Theo tôi,không xêp Ông với ai măc dù ngoài Ông , ta còn Yêu quý Mopaxsang,Dôdde;O.Henry;Gorky;Nguyễn công Hoan hoặc ai,ai nữa.Con người Ông;Phong cách của Ông;Sự nghiệp của Ông.Những con đường từ Yanta-Moscow-Xakhalin để có Phòng số6;từ nguyên mẫu con hải âu đên Hình tượng Nhina-Traica-Hải âu cùng các Hình tượng Nhà văn Trepolep,Tregrin trong vở Chim Hải âu.Cậu Vanhia,Sonhia,Helen,Xerebryacop,Bác sỹ Astrop trong Cậu Vanhia.đến các hình tượng Cái chết của môt viên công chức,Anh chàng làm xiếc đêm tân hôn,Anh chàng đưa vợ tới nhà Bác sỹ tuyết không tan trên mặt người vợ , Một Bà Xốp nổi,Chiêc huân chương Thánh Jook và v.v.. TCHEKHOP của Mỗi người |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Nguyễn Nguyên Hải cho bài viết trên: | ||
|
#16
|
||||
|
||||
|
Trích:
Đọc kỹ và hiểu sâu sắc??? Do đâu mà vhnga nghĩ là FL đọc không kỹ và hiểu không sâu sắc??? FL không giận gì ở đây vì cảm nhận văn học mỗi người một khác. Thứ nhất khối lượng tác phẩm chủa Nguyễn Công Hoan lớn hơn Nam Cao. Đề cập đến nhiều vấn dề hơn. Viết nhiều có đôi truyện còn sạn. Nhưng chỉ truyện ngắn. Truyện vừa và dài của ông không đặc sắc, rất cà kê. Thứ hai hành văn của NCH gần với Chekhov hơn. Trích:
Văn hóa sống khác nhau thì cách hành văn, phân tích, thể hiện tâm trạng nhân vật khác nhau. Ở đây đơn giản là vhnga muốn giới thiệu nhà văn Việt trong mảng Hiện thực phê phán . Theo FL NCH có vai trò trong thời gian này tại VN gần như Chekhov tại Nga. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Thien Nga (15-11-2012) | ||
|
#17
|
||||
|
||||
|
Mới rồi tôi có dịp đến thăm Nhà bảo tàng Chekhov ở Yalta, nguyên là căn nhà của chính nhà văn sống cho đến cuối đời. Hiện Giám đốc bảo tàng là hậu duệ của nhà văn Chekhov.
![]() Vé tham quan Khi ra về, bà giám đốc bảo tàng có nhờ tôi nhắn tới tất cả các bạn Việt nam yêu nhà văn Chekhov là nếu các bạn có bất cứ tài liệu gì liên quan đến nhà văn ở VN như:Áp phích phim, vé xem nghệ thuật, các truyện của Chekhov dịch sang tiếng Việt (tờ bìa), các bài báo nói về Chekhov... xin làm ơn chuyển cho Nhà bảo tàng theo địa chỉ sau: ![]() Trân trọng cám ơn. TrungDN |
| Có 12 thành viên gửi lời cảm ơn TrungDN cho bài viết trên: | ||
Cartograph (17-11-2009), chaika (17-11-2009), hongducanh (17-11-2009), hungmgmi (17-11-2009), Nguyễn Nguyên Hải (20-11-2009), nn? (21-11-2009), Rowens (12-08-2011), Siren (17-11-2009), tranhientrang (17-11-2009), USY (22-12-2009), Vania (17-11-2009), vhnga (21-11-2009) | ||
|
#18
|
||||
|
||||
|
ЗЛОЙ МАЛЬЧИК Слушать здесь Чехов А. П. Иван Иваныч Лапкин, молодой человек приятной наружности, и Анна Семеновна Замблицкая, молодая девушка со вздернутым носиком, спустились вниз по крутому берегу и уселись на скамеечке. Скамеечка стояла у самой воды, между густыми кустами молодого ивняка. Чудное местечко! Сели вы тут, и вы скрыты от мира — видят вас одни только рыбы да пауки-плауны, молнией бегающие по воде. Молодые люди были вооружены удочками, сачками, банками с червями и прочими рыболовными принадлежностями. Усевшись, они тотчас же принялись за рыбную ловлю. — Я рад, что мы наконец одни, — начал Лапкин, оглядываясь. — Я должен сказать вам многое, Анна Семеновна... Очень многое... Когда я увидел вас в первый раз... У вас клюет... Я понял тогда, для чего я живу, понял, где мой кумир, которому я должен посвятить свою честную, трудовую жизнь... Это, должно быть, большая клюет... Увидя вас, я полюбил впервые, полюбил страстно! Подождите дергать... пусть лучше клюнет... Скажите мне, моя дорогая, заклинаю вас, могу ли я рассчитывать — не на взаимность, нет! — этого я не сто́ю, я не смею даже помыслить об этом, — могу ли я рассчитывать на... Тащите! Анна Семеновна подняла вверх руку с удилищем, рванула и вскрикнула. В воздухе блеснула серебристо-зеленая рыбка. — Боже мой, окунь! Ай, ах... Скорей! Сорвался! Окунь сорвался с крючка, запрыгал по травке к родной стихии и... бултых в воду! В погоне за рыбой Лапкин, вместо рыбы, как-то нечаянно схватил руку Анны Семеновны, нечаянно прижал ее к губам... Та отдернула, но уже было поздно: уста нечаянно слились в поцелуй. Это вышло как-то нечаянно. За поцелуем следовал другой поцелуй, затем 180 клятвы, уверения... Счастливые минуты! Впрочем, в этой земной жизни нет ничего абсолютно счастливого. Счастливое обыкновенно носит отраву в себе самом или же отравляется чем-нибудь извне. Так и на этот раз. Когда молодые люди целовались, вдруг послышался смех. Они взглянули на реку и обомлели: в воде по пояс стоял голый мальчик. Это был Коля, гимназист, брат Анны Семеновны. Он стоял в воде, глядел на молодых людей и ехидно улыбался. — А-а-а... вы целуетесь? — сказал он. — Хорошо же! Я скажу мамаше. — Надеюсь, что вы, как честный человек... — забормотал Лапкин, краснея. — Подсматривать подло, а пересказывать низко, гнусно и мерзко... Полагаю, что вы, как честный и благородный человек... — Дайте рубль, тогда не скажу! — сказал благородный человек. — А то скажу. Лапкин вынул из кармана рубль и подал его Коле. Тот сжал рубль в мокром кулаке, свистнул и поплыл. И молодые люди на этот раз уже больше не целовались. На другой день Лапкин привез Коле из города краски и мячик, а сестра подарила ему все свои коробочки из-под пилюль. Потом пришлось подарить и запонки с собачьими мордочками. Злому мальчику, очевидно, всё это очень нравилось, и, чтобы получить еще больше, он стал наблюдать. Куда Лапкин с Анной Семеновной, туда и он. Ни на минуту не оставлял их одних. — Подлец! — скрежетал зубами Лапкин. — Как мал, и какой уже большой подлец! Что же из него дальше будет?! Весь июнь Коля не давал житья бедным влюбленным. Он грозил доносом, наблюдал и требовал подарков; и ему всё было мало, и в конце концов он стал поговаривать о карманных часах. И что же? Пришлось пообещать часы. Как-то раз за обедом, когда подали вафли, он вдруг захохотал, подмигнул одним глазом и спросил у Лапкина: — Сказать? А? Лапкин страшно покраснел и зажевал вместо вафли салфетку. Анна Семеновна вскочила из-за стола и убежала в другую комнату. 181 И в таком положении молодые люди находились до конца августа, до того самого дня, когда, наконец, Лапкин сделал Анне Семеновне предложение. О, какой это был счастливый день! Поговоривши с родителями невесты и получив согласие, Лапкин прежде всего побежал в сад и принялся искать Колю. Найдя его, он чуть не зарыдал от восторга и схватил злого мальчика за ухо. Подбежала Анна Семеновна, тоже искавшая Колю, и схватила за другое ухо. И нужно было видеть, какое наслаждение было написано на лицах у влюбленных, когда Коля плакал и умолял их: — Миленькие, славненькие, голубчики, не буду! Ай, ай, простите! И потом оба они сознавались, что за всё время, пока были влюблены друг в друга, они ни разу не испытывали такого счастья, такого захватывающего блаженства, как в те минуты, когда драли злого мальчика за уши.
__________________
Phiên dịch là một nghề đòi hỏi trí tuệ, tài năng, thể lực và tự nghiêm khắc với chính mình. |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Trans-Over cho bài viết trên: | ||
nguyenminhtuan (22-12-2009), USY (22-12-2009) | ||
|
#19
|
|||
|
|||
|
Tiếc là không tham dự các thảo luận của các bác sớm hơn được. Theo cảm nhận của cá nhân, cả Nguyễn Công Hoan lẫn Nam Cao đều thành công ở khía cạnh phản ánh thâm thúy hiện thực xã hội, dưới dạng bi hay bi hài kịch như Chí Phèo, Kép Tư Bền, Một bữa no, Trẻ con không được ăn thịt chó...Nhưng ở khía cạnh nhẹ nhàng, trầm lắng và thâm thúy thì Sêkhốp hơn hẳn (Người trong bao, Anh béo anh gầy, Chuyện trẻ con..). Hơn nữa bi kịch người trí thức của Nam Cao chỉ thường tập trung vào cái vòng luẩn quẩn cơm áo gạo tiền của chính gia đình anh ta, còn người trí thức của Sêkhốp ôm ấp gánh nặng của cả thời đại: họ mong muốn có thể cải tạo xã hội (Ngôi nhà có căn gác nhỏ, Con bệnh) hoặc muốn xé bỏ cuộc sống tẻ nhạt giáo điều để vươn tới những điều tốt đẹp hơn (Người đàn bà có con chó nhỏ).
Một khía cạnh nữa trong truyện nhắn của Sêkhốp là sự tinh tế trong trẻo đầy chất thơ trong những chuyện ngắn lãng mạn - điều hoàn toàn thiếu vắng trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan (tất nhiên đây là do nguyên nhân khách quan như hoàn cảnh sống...). Đó là những truyện không có cốt chuyện nhưng nhờ vào tài năng ngôn ngữ bậc thầy của Sêkhốp mà chúng sống mãi tới bây giờ như Thảo nguyên, Một chuyện đùa nho nhỏ, Vera... |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Thien Nga (15-11-2012) | ||
|
#20
|
|||
|
|||
|
Trích:
Trong trường hợp là có liên quan, thì hoàn toàn kết luận được, quan điểm (chưa phải là luận điểm) của bác về cả ba nhà văn này cùng nghệ thuật truyện ngắn của họ là rất phiến diện, thậm chí có phần nghiêng lệch quá đáng. Có vẻ như - theo cảm nhận của riêng em - bác quá tôn sùng văn học Nga thế kỷ XIX, và không biết nhiều lắm (chưa nói là hiểu) về tiến trình cũng như hệ thống các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại (lấy dấu mốc là 1925 khi tiểu thuyết “Tố Tâm” của Song An Hoàng Ngọc Phách ra đời). Mà có lẽ, bác cũng không hiểu lắm, “lãng mạn” là gì. Thực tế, ba nhà văn này đều có điểm chung : Viết văn để kiếm tiền - cũng như nhiều tác gia khác. Nhưng có điều, đó là công việc gần như duy nhất để tồn tại của họ. Tuy rằng, trong số đó chỉ Nam Cao là mang gánh nặng gia đình quá lớn, nên đôi khi có người tưởng chất văn của ông… chẳng biết thế nào là lãng mạn. Nhưng hãy đọc “Một đám cưới”, “Giăng sáng”, “Đời thừa”, và nhất là “Chí Phèo” – những tác phẩm dễ tìm thấy nhất. Tạm gọi đó là bút pháp lãng mạn, nhưng được ẩn giấu dưới vỏ bọc hiện thực. Cái lãng mạn, cái bay bổng chịu sự chi phối của hiện thực cuộc sống, nhưng nó vẫn phát lộ qua cách nghĩ và hành động của nhân vật. Tuy rằng không chấp nhận hiện thực, nhưng cái lãng mạn có thể xem là chất xúc tác để xoa dịu hiện thực quá tàn nhẫn. Có thể nhắc đến những tâm niệm của Điền về nghệ thuật, hay là mối tình của Chí Phèo - Thị Nở. Cái mối tình vừa bi vừa hài đó có thể gây liên tưởng tới Quasimodo và Esmeranda, hay Carmen và Don José… Trước khi bước vào nghề văn, Nam Cao đã từng lang bạt khắp đất nước, nếm trải đủ mọi khổ nhục của thân phận trí thức trong một xã hội kim tiền (tài cao phận thấp chí khí uất), điểm đặc biệt là Nam Cao rất đam mê sách, có lẽ ông đến với văn chương nhiều phần cũng vì quá mê sách. Tác phẩm của Nam Cao có thể thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của văn học lãng mạn Pháp thế kỷ XIX, và một chút văn học cổ điển Trung Hoa - rõ nhất là “Tam quốc diễn nghĩa”, một tác phẩm đậm chất anh hùng ca. Nó thể hiện qua cách Nam Cao mô tả cử chỉ, hành vi nhân vật, đó là cái cười của Bá Kiến, hay thú chơi sách cổ điển, thích bình phẩm thiên hạ của nhà văn Hoàng… Còn Nguyễn Công Hoan có biết thế nào là lãng mạn không ư ? “Kiếp hồng nhan”, “Tắt lửa lòng”, “Lá ngọc cành vàng”… liệu còn thiếu ? Nếu như nói “Một khía cạnh nữa trong truyện ngắn của Sêkhốp là sự tinh tế trong trẻo đầy chất thơ trong những chuyện ngắn lãng mạn - điều hoàn toàn thiếu vắng trong truyện ngắn của Nam Cao và Nguyễn Công Hoan (tất nhiên đây là do nguyên nhân khách quan như hoàn cảnh sống...)”, điều này thật quá bất công với những nhà văn luôn trăn trở với hiện thực đời sống. Bởi vì chất lãng mạn trong văn chương Nam Cao, Nguyễn Công Hoan hoàn toàn là cái lãng mạn ẩn giấu, không lộ liễu, cũng không phô trương - đây có thể xem là sự ảnh hưởng rõ ràng nhất của phong cách Tự lực văn đoàn, nhóm bút đã phủ bóng cả một thời đại văn học đỉnh cao. Chất lãng mạn của các nhà văn Việt Nam trước 1945 là sự tiếp nhận có độ dày văn học lãng mạn Pháp cổ điển, trong khi đó, chất lãng mạn trong tác phẩm của A.Chekhov, có vẻ như gần gũi với Charles Dicken hơn, cái bi ở đằng sau cái hài, cái kệch cỡm, nhưng cái lãng mạn thì phát lộ ở cường độ mạnh, gần như không có sự ẩn sâu. Trong khi với Nam Cao và Nguyễn Công Hoan, cái hài và cái bi lại đan xen nhau, tương hỗ nhau. Điểm cuối, càng không thể nói rằng, “bi kịch người trí thức của Nam Cao chỉ thường tập trung vào cái vòng luẩn quẩn cơm áo gạo tiền của chính gia đình anh ta, còn người trí thức của Sêkhốp ôm ấp gánh nặng của cả thời đại: họ mong muốn có thể cải tạo xã hội (Ngôi nhà có căn gác nhỏ, Con bệnh) hoặc muốn xé bỏ cuộc sống tẻ nhạt giáo điều để vươn tới những điều tốt đẹp hơn (Người đàn bà có con chó nhỏ)”, đó lại càng phiến diện hơn. Bởi về căn bản, xã hội Nga thế kỷ XIX và xã hội Việt Nam trước 1945 không có sự khác nhau bao nhiêu, ngoại trừ Việt Nam là một nước nửa thuộc địa, còn đế quốc Nga là một nước độc lập. Xã hội đế quốc Nga và Việt Nam đều là kiểu xã hội phong kiến đang chuyển mình trên con đường tư bản hóa, sự chênh lệch địa vị, vật chất giữa các tầng lớp, giữa thành thị với nông thôn đều rõ rệt. Tác phẩm của cả ba nhà văn này đều không tập trung vào một hình tượng đơn nhất, mà mở rộng ra với toàn xã hội - thượng vàng hạ cám – có ông quan chức, mụ nông dân, thằng phu xe, thậm chí là những cô gái làng chơi… Tác phẩm của Chekhov đa phần là nhân vật có nguồn gốc thành thị, sống ở nơi thành thị, còn Nam Cao thì các nhân vật đa phần ở nông thôn, riêng Nguyễn Công Hoan thì đồng đều hơn cả. Đó có thể xem là do hoàn cảnh sống chi phối sáng tác. Nói riêng về hình tượng người trí thức, thì Nguyễn Công Hoan không chủ trương viết về loại nhân vật này, nhưng Chekhov và Nam Cao thì có, có nhiều. Nhưng : \\\ họ mong muốn có thể cải tạo xã hội - Nếu Chekhov có “Ngôi nhà có căn gác nhỏ”, “Con bệnh”, thì Nam Cao cũng có “Đời thừa”, “Giăng sáng”, “Đôi mắt”, “Truyện biên giới”… \\\ muốn xé bỏ cuộc sống tẻ nhạt giáo điều để vươn tới những điều tốt đẹp hơn – Luận điểm này thực sự không rõ ràng, bởi luận điểm trên đã hàm chứa mất rồi. Những phát ngôn có vẻ như bốc đồng của Hộ (Đời thừa) về công việc sáng tác của mình, tuyên ngôn nghệ thuật của Điền (Giăng sáng), hay quan điểm trái ngược nhau của Hoàng và Độ (Đôi mắt), đó có phải là tiếng nói của người tri thức đứng giữa thời đại không ? Thay đổi nội dung bởi: Vania, 12-08-2011 thời gian gửi bài 21:53 |
![]() |
| Bookmarks |
|
|