|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
||||
|
||||
|
Nhân ngày 08/03/2009, Tuntin xin trân trọng giới thiệu với các bác thành viên NNN:
NHÀ VĂN, LIỆT SĨ DƯƠNG THỊ XUÂN QUÝ – ÁNH SAO BĂNG SÁNG MÃI Ngày 6/3/2009. Cập nhật lúc 20h 29' Nguồn: Báo Điện tử Đảng Công sản Việt Nam. http://www.cpv.org.vn/print_preview.asp?id=BT630973630 (ĐCSVN) – Sáng 6-3 tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam, Tạp chí Văn hiến và Đài phát thanh truyền hình Hà Nội đã tổ chức Lễ kỷ niệm 40 năm ngày hi sinh của nhà văn - liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý. Sinh năm 1941 tại Hà Hội trong một gia đình trí thức yêu nước, ngay từ nhỏ, cô bé Dương Thị Xuân Quý đã tỏ ra có năng khiếu và say mê văn chương, đặc biệt là thích ghi nhật ký. Sau khi tốt nghiệp khoá học báo chí do Ban Tuyên huấn Trung ương tổ chức, Dương Thị Xuân Quý về công tác ở báo Phụ Nữ Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1968, trở thành một phóng viên xông xáo và năng nổ. Năm 1968, chị tập hợp các sáng tác gồm bút ký và truyện ngắn của mình thành tập "Chỗ đứng" và gửi đến nhà xuất bản, chỉ ít ít ngày trước khi vào chiến trường miền Nam chiến đấu, rời xa đứa con thơ mới 16 tháng tuổi. Suốt 3 tháng hành quân ròng rã vượt Trường Sơn, tháng 7 năm 1968, chị có mặt tại chiến trường, nhận nhiệm vụ phóng viên tạp chí Văn Nghệ Giải Phóng trung Trung bộ (Khu 5). Tháng 12-1968 chị đi công tác xuống vùng khói lửa ác liệt Quảng Đà để viết và đã anh dũng hi sinh tại đây. Toàn bộ các truyện ngắn và bút ký chị viết trong thời gian này đã được tập hợp thành tập “Hoa rừng”. Dương Thị Xuân Quý đã đi vào lịch sử chống Mỹ với văn phong chân chất mà trang nghiêm. Những trang viết của chị, từng chữ, từng dòng, giản dị mà sâu sắc gợi mở nơi cảm xúc người đọc những trăn trở, nghĩ suy để rồi có thể tìm ra cho mình lời giải đáp sâu sắc cho những câu hỏi: Thế nào là chiến tranh, thế nào là hy sinh, thế nào thử thách và thế nào là tình yêu và hy vọng… Giải thưởng Nhà nước cho hai tác phẩm “Chỗ đứng” và “Hoa rừng” của chị chính là sự tri ân với người nghệ sĩ đã dâng hiến cả cuộc đời mình cho khát vọng sống và khát vọng sáng tạo cao đẹp, đó là lý tưởng độc lập tự do. 40 năm trôi qua từ ngày chị hi sinh trên chiến trường, nhưng hình ảnh của nhà văn, liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý luôn luôn hiện hữu trong đời sống văn học của chúng ta, lung linh như hình ảnh như một ánh sao băng – câu thơ của nhà thơ Tố Hữu đã được chị ghi lại trong nhật ký ngày đầu vượt Trường Sơn: “Ta đi làm ánh sao băng giữa đời”. Viết về chị, nhà báo Nguyễn Thế Khoa - một đồng đội thế hệ sau của chị ở chiến trường khu V đã khẳng định: “Cuộc đời của Dương Thị Xuân Quý rất ngắn ngủi, chỉ vỏn vẹn 28 năm. Tác phẩm của chị cũng ít, chỉ có hai tập Truyện ký “Chỗ đứng” và “Hoa rừng”. Nhưng di sản tinh thần mà chị để lại cho chúng ta thì thật lớn lao, vĩnh cửu. Đó là một trong những nhân cách nghệ sĩ lớn nhất, một trong những người phụ nữ Việt Nam đẹp nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của dân tộc”. Thương Huyền Ghi Chú: Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19 tháng 4 năm 1941 tại Hà Hội, quê quán thôn Phú Thị xã Mễ Sở huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên trong một dòng tộc trí thức, nghệ sĩ yêu nước chống thực dân Pháp, hy sinh ngày 08/03/1969tại chiến trường Duy Xuyên, Quảng Đà. Ông nội Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý, cụ Dương Trọng Phổ, từ rất sớm đã vận động cho Đông Kinh Nghĩa Thục, bị thực dân Pháp đày ra Côn Lôn. Phụ thân Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý, ông Dương Tụ Quán là một nhà giáo sau chuyển sang làm báo, chủ trương tờ Văn Học tạp chí, rồi tạp chí Tri Tân. Bác ruột Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý, ông cử Dương Bá Trạc vừa tham gia tích cực trong Đông Kinh Nghĩa Thục vừa viết báo viết văn.Sau khi đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, thực dân Pháp mời ông làm tri huyện nhưng ông từ chối và tiếp tục hoạt động chống Pháp, bị chúng đày ra đảo Côn Lôn trước cụ Dương Trọng Phổ ít ngày. Một người bác ruột nữa của Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý là nhà nghiên cứu nổi tiếng Dương Quảng Hàm. Anh ruột của Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý là giáo sư tiến sĩ Dương Học Hải. Những người anh chị khác con bác ruột của Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý là các giáo sư Dương Thị Cương, Dương Trọng Bái, hoạ sĩ Dương Bích Liên, Dương Cẩm Chương… Chồng của Liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý là nhà thơ Bùi Minh Quốc (Dương Hương Ly), đồng đội, đồng nghiệp trên chiến trường Khu V lúc đó. |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn tuntin cho bài viết trên: | ||
chaika (09-03-2009), Hoa May (09-03-2009), hungmgmi (09-03-2009), Thao vietnam (08-03-2009), USY (09-03-2009) | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
Ánh sao băng không bao giờ tắt
Nguyễn Anh Tuấn ( 3/5/2009 12:59:30 PM ) Nguồn: Hội Nhà văn Việt nam. http://hoinhavanvietnam.vn/News.Asp?Cat=5&SCat=&Id=1068 ![]() Có lần, trên đường lang thang vào khu thánh địa Champa Mỹ Sơn, dừng chân ở một quán nghèo, tôi được biết mình đang ở huyện Duy Xuyên…Bất chợt, mấy câu thơ cũ của Dương Hương Ly vụt hiện trong tâm trí tôi: Thôi em nằm lại Với đất lành Duy Xuyên Trên mồ em có mùa xuân ở mãi… Cái tên Dương Thị Xuân Quý, gắn liền với thiên truyện ngắn đặc sắc “Hoa rừng” tôi đã được biết đến từ thời cắp sách ở phổ thông trung học…Gần mười năm sau, là một anh giáo khổ từ Tây Bắc về nghỉ hè tại Hà Nội, tôi đến thăm vợ chồng hai nhà thơ Thi Nhị-Phan Thị Thanh Nhàn. Trong khi anh Nhị kể cho chị Nhàn nghe những chuyện vui ngày anh đi thực tế ở Sơn La và tình cờ gặp tôi ra sao, một cô bé khoảng 8-9 tuổi bước ra chào. Khi tôi hỏi, chị Nhàn bảo: “Em không biết à? Bé Ly, con chị Dương Thị Xuân Quý đấy!”...Tôi được biết thêm: chị Quý đã hy sinh tại mặt trận Quảng Đà chỉ sau một năm vào chiến trường…Đó là lần thứ hai tôi được “tiếp xúc” với nhà văn DTXQ…Tới lần thứ ba, ở chính nơi DTXQ nằm xuống, tên của chị đã gây cho tôi một nỗi xúc động khó tả…Nhưng, chỉ đến khi được đọc toàn bộ di cảo của chị - cuốn “DTXQ- Nhật ký- Tác phẩm”*, trong tôi mới ào ạt biết bao cảm nghĩ về nhà văn có thân phận đặc biệt này! Và cũng lần đầu tiên, tôi được “ nhìn thấy” chị- không phải qua di ảnh, mà qua miêu tả của người bạn đời đã xót xa quan sát chị ở giữa mặt trận: “…Quý lúc thúc chạy theo cho kịp mấy bạn đồng hành, vẫn cái dáng lúi chúi tất tưởi quen thuộc- cái dáng của một số phận long đong” ( tr.440) Thời gian thấm thoắt, bé Ly mà chị Quý rời xa khi mới 16 tháng tuổi giờ đã là một nhà báo chững chạc ở thành phố Hồ Chí Minh… Không hiểu sao, tôi chợt hình dung ra cảnh nữ nhà báo Bùi Hương Ly dẫn tôi đi thăm lại ngôi nhà nhỏ của cô ở quê ngoại- nơi người mẹ đã tạm biệt cô lần cuối để ra đi mãi mãi. Đôi mắt cô đẫm ướt vì thương nhớ, và tự hào… Năm tháng qua đi, nhưng những gì mà chị để lại cho cuộc đời tựa một ánh sao băng- như hình ảnh một câu thơ của chị ngày đầu vượt Trường Sơn: “Ta đi làm ánh sao băng giữa đời”. Và ánh sao băng ấy, giữa những ngày tháng này, dường như càng toả sáng cô đơn hơn bao giờ hết…Nhưng có lẽ, càng cô đơn, chị càng hiển hiện lên trước tôi như một người phụ nữ mà “nhìn vào đôi mắt ấy, anh bỗng hiểu rằng trước mặt anh là một con người có thể lặng lẽ suốt đời đi đến mục đích đã tự khẳng định của mình, bất chấp tất cả, không gì ngăn trở được…” ( Nguyên Ngọc- tr.9) Cái mục đích sống ấy là gì? Nhiều thế hệ đã và đang tìm kiếm, rồi chứng thực nó bằng cả tuổi xuân, hạnh phúc gia đình, bằng cả sinh mệnh của mình. Chồng chị- một nhà thơ, người vào chiến trường trước chị một năm, khi hồi tưởng về vợ đã nói hộ không ít người: “ Thế hệ chúng tôi còn có sự lựa chọn nào khác hơn là chọn niềm vui trong sự dấn thân vì đại nghĩa của dân tộc và con người?” ( tr.446). Ngôi nhà nhỏ mà nhà văn DTXQ trở về lần cuối để chia tay đứa con gái nhỏ nằm gần bờ đê làng Phú Thị ( huyện Văn Giang- Hưng Yên ) Đó là một làng quê có dòng sông Hồng bồi đắp phù sa tạo nên những doi cát trắng phau, những bãi mật trù phú, có đền Đa Hoà danh tiếng thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung- đôi trai tài gái sắc trong thiên tình sử huyền thoại vào loại hay nhất của nước Nam ta. Bên cây đàn của thần Hộ đền- quan án sát thi sĩ Chu Mạnh Trinh đặt dưới chân bài vị thờ ông, tôi như nghe được tâm tình, niềm khát khao thanh bình thầm kín của bao thế hệ người VN qua những thăng trầm máu lửa dầu sôi của lịch sử dân tộc…Từ ngôi đền thiêng, tôi đi vào làng của "ông nghè Phú Thị" Chu Mạnh Trinh, tìm đến một dòng họ nổi tiếng cống hiến nhiều trí thức lớn cho đất nước - dòng họ Dương. Ngôi nhà thờ họ "Văn nhã hãng" được xây hơn trăm năm còn nguyên vẹn bàn thờ, bài vị cùng các hoành phi câu đối giàu sức giáo dục nền nếp gia phong và tư chất làm người: "Tìm đức cho đời" - "Dìu dắt hiếu đễ làm người" - "Vâng mệnh nổi gió nhân" - "Trăm dặm biển thấm nhuần" - "Nơi nguồn sâu chảy ra dòng trung hiếu. Cành tươi tốt hoàn toàn nhờ cậy vào rễ hiếu nghĩa”… Đây còn là nơi thờ cụ Dương Trọng Phổ- ông nội DTXQ, người từ rất sớm đã vận động cho Đông Kinh Nghĩa Thục, bị thực dân Pháp đày ra Côn Lôn. Thân phụ DTXQ là cụ Dương Tụ Quán, một nhà giáo tận tâm, có những học trò nổi tiếng như nhà văn Nguyễn Huy Tưởng… Từ dạy học , cụ Quán chuyển sang làm báo, chủ trương tờ “ Văn học tạp chí”, rồi tạp chí “ Tri tân”. Bác ruột DTXQ là ông cử Dương Bá Trạc, một trí thức Duy tân yêu nước chống Pháp, bị đày ra đảo Côn Lôn. Một người bác ruột nữa của DTXQ là học giả Dương Quảng Hàm với nhiều tác phẩm nổi danh, tiêu biểu nhất là “ VN văn học sử yếu”. Những người anh, người chị con bác ruột của DTXQ đều là các trí thức, văn nghệ sĩ tên tuổi: Nhà giáo nhân dân-GS.Dương Ngọc Bái, GS. Dương Thị Cương, hoạ sĩ Dương Cẩm Chương, hoạ sĩ Dương Bích Liên, v.v. Truyền thống văn hoá, nghĩa khí và tâm linh cao quý của cả dòng họ đáng kính trọng ấy dường như được đúc kết trong hai câu đối do cụ Dương Bá Trạc viết bằng chữ Hán trên hai cột trụ ở khu nghĩa địa gia đình: Tìm huyệt sẵn để chôn nhất định có sinh thời có hoá Đậy quan tài rồi mới biết, nghìn năm mai cốt chẳng mai danh ( Dịch nghĩa) Ở Hà Nội, ngôi nhà 195 Hàng Bông- nơi DTXQ sống những năm tháng ấu thơ, cũng là Báo quán tạp chí Tri Tân, nơi qua lại của nhiều trí thức tên tuổi: Nguyễn Văn Tố, Trần Văn Giáp, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Thiên,v.v từ năm 1941 đến 1945. Trứơc đó, các năm 1932-1934, đây cũng là trụ sở của tờ “Văn học tạp chí”…Dòng họ danh giá bởi tri thức, tài năng và tinh thần trượng nghĩa ấy đã sản sinh ra DTXQ và nuôi dưỡng cho tâm hồn, năng khiếu của nhà văn tương lai. Và chắc chắn rằng: truyền thống gia tộc đó cũng in hằn trong cá tính, tâm hồn, bản lĩnh DTXQ lòng tự tôn, tự trọng, không muốn mình là đối tượng để bất cứ ai thương hại, ban ơn, chiếu cố! Chị đã tự lực bất chấp khó khăn thử thách để khẳng định bản thân mình. Đặc biệt hơn cả, đó là khát vọng sáng tạo trong nghệ thuật ngôn từ, quyết chí trở thành một “thư ký thời đại”. Điều này thể hiện rõ nét trong rất nhiều trang nhật ký của chị, cũng như trong nhiều thiên truyện ký.. Sự thật là chị đã lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ, giữa bom đạn và những thử thách luôn luôn vượt trội sức vóc cùng khả năng chịu đựng của chị. Giữa hai cơn đau, em ngồi ghi chép Con sông Giằng gầm réo miên man Nước lũ về…trang giấy nhỏ mưa chan Em vẫn viết, lòng dạt dào cảm xúc ( D.H.L ) Nhà văn đã bộc lộ trong Nhật Ký bao niềm xúc động tuôn trào khi được ngụp lặn trong thực tế chiến tranh gian khổ, mà ở đó, chị bắt gặp biết bao tình người chân thật và cao cả. Chị đã viết về mảnh đất mơ ước của một đời cầm bút- mảnh đất Khu 5 ác liệt: “ Thế đấy, mảnh đất mà mình đang sống nó giống hệt con người mình: vất vả, cực nhọc. Mình sung sướng có mặt ở đây đúng vào giai đoạn gay go quyết liệt nhất của cuộc chiến đấu. Mình sung sướng được chịu đựng và vượt qua tất cả gian khổ vì đã gặp một mảnh đất đồng điệu với tâm hồn mình” (tr. 86 ) Trên đường vào tuyến sau, nhìn thấy một đám rau ven suối, chị đã nghĩ đến một em gái thầm lặng trồng nó cho các đoàn bộ đội hành quân qua, và nhà văn thốt lên: “ Cô gái ơi, tôi sẽ đưa cô vào sáng tác của tôi nhé!” (tr. 45 ) Những dòng chị viết khi lần đầu tiên dầm chân xuống dòng sông Thu Bồn đầy rung động “…Thật kỳ lạ quá đỗi. Những lúc này mình thấy yêu đời quá và sự ra đi của mình nó lý thú quá. Dù sự ra đi ấy mình có phải trả một giá rất đắt, thậm chí có phải hy sinh, phải đau đớn…” (tr. 104 ) Trước khi ngã xuống tại chiến trường, DTXQ đã kịp hoàn thành những thiên truyện ký còn nóng hổi sự sống của bản thân mình, của đồng đội và đồng bào vùng tạm chiếm, và chị đã tìm cách gửi bản thảo ra miền Bắc như những bảo vật ( Tiếng hát trong hang đá, Hoa rừng, Niềm vui thầm lặng, Gương mặt thách thức ). Chính cuộc đời, tâm tư và những trang văn của DTXQ- cùng sự hy sinh của nhiều nhà văn nhà báo nhà điện ảnh chiến trường trong những năm tháng ấy đã góp phần tạo ra một quan niệm tuyệt đẹp, và có lẽ sẽ không bao giờ cũ về Hạnh Phúc. Dương Hương Ly (Bùi Minh Quốc) - người bạn đời, cũng là một đồng nghiệp, một đồng đội của chị ở chiến trường đã sinh động hoá điều này một cách thấm thía trong “Bài thơ về hạnh phúc” sau khi chị hy sinh: Em đã thấy những tâm hồn trong trẻo Những con người như ánh sáng lung linh Mỗi đêm ra đi giản dị hiến mình Để làm nên buổi mai đầy nắng Em bối rối, em sững sờ đứng lặng Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên Thức dậy bao điều mới mẻ trong em Thức dậy bao điều cao quý trong em Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc Và em gọi đó là hạnh phúc Là một người phụ nữ VN điển hình, lại mang ý thức rõ rệt về sứ mệnh của người cầm bút, DTXQ đã say sưa miêu tả người phụ nữ trong các trang sách của mình- như chính chị được hiện thân trong họ. Và họ đã thực sự là nguồn cảm hứng, là chất liệu dồi dào nhất, được chị dành cho những tình cảm đằm thắm nhất, những quan sát tinh tế nhất- trong tất cả những truyện ký khi viết ở miền Bắc cũng như khi ở miền Nam. Hơn bất kỳ một người phụ nữ nào khác trong thời kỳ đó, DTXQ- với tư cách là nhà văn, nhà báo- hiểu được cái nghị lực sống lắm khi não lòng của người phụ nữ ở hậu phương hay ở chiến trường, dù ở nơi “ Đất cằn” khắc nghiệt hoặc ở chốn bom đạn hiểm nguy luôn cần đến những “ Gương mặt thách thức” ( tr. 285 và tr.387 ) ... Trong những hoàn cảnh riêng, vượt lên trên sự kỳ thị coi thường nữ giới, các nhân vật phụ nữ của chị bao giờ cũng toả sáng một nhân cách cao thượng, đậm đà nhân nghĩa VN ( Không coi thường việc nhỏ, Đi nông trường, Chuyện cô Duyên, Đứng vững, Chỗ đứng, v.v) Và, những người phụ nữ ấy, ở nơi đối diện với sự sống chết trong gang tấc, phơi mặt với lửa đạn, đã bộc lộ rõ hơn bao giờ hết lẽ sống vì đại nghĩa, nhưng vẫn giữ nguyên vẻ đẹp mong manh tinh khiết và thầm kín thực đáng yêu: “ Trên đường hành quân ngàn dặm của chúng ta…có biết bao những bông hoa rừng mọc xuyên lên từ khe đá khắc khổ, lẩn khuất thầm lặng dưới những gốc cây rễ nổi xù xì. Những bông hoa nom rất đỗi mảnh mai nhưng chẳng có bão mưa nào làm vùi dập nổi.” ( Hoa rừng- tr.363) Các nhân vật nữ của DTXQ cũng là bản thân chị được phân thân, được nhào nặn bằng tâm hồn, nhân cách và trải nghiệm của chị! Những trang văn viết về phụ nữ của DTXQ bao giờ cũng long lanh, đẹp như thơ, và xứng đáng là những viên ngọc quý trong kho tàng văn học VN hiện đại! Là một người mẹ giàu tình cảm, DTXQ đã dành cho con gái nhỏ mà chị gửi lại hậu phương biết bao trang viết xúc động tâm can, đôi lúc xé lòng xé ruột- và chính điều đó càng làm nổi bật lên nghị lực phi thường và hành động cao quý vì nghĩa lớn của chị! Ba bài thơ của DTXQ còn lưu giữ lại được đều dành viết về con, cho con: Ôi tiếng con bập bẹ Biết gọi mẹ lần đầu Lại là ngày tạm biệt Ngày mẹ con xa nhau! Chị hiểu rõ: “ con đã phải chịu cái điều bất hạnh lớn nhất trong đời con là phải xa bố và mẹ quá sớm” (tr. 56 ) Và rất chân thực, rất con người, giữa gian khổ buổi vượt sông Sê-pôn, chị đã thấm thía: “ Có đi mới thấy hết tất cả những sợi dây níu kéo người ta lại…Bây giờ mình mới thấy xa Ly khó làm sao” ( tr.44 ) Nhưng điều đáng quý nhất, đáng kính trọng nhất ở DTXQ là, ngay trong đỉnh điểm nỗi nhớ thương quặn thắt của người mẹ trẻ phải xa con, chị đã biết vượt lên chính mình để “ Lúc nào mẹ cũng nghĩ về con với một niềm tự hào vô hạn” (tr.56 ) Người mẹ có tâm hồn cao cả ấy luôn mong: “ Ly ơi, con hãy đẹp một cách thầm lặng như cây trúc kia” (trg.54 ) Và nhà giáo dục trong chị đã trăn trở khi gặp những em bé thông minh có tâm hồn quả cảm ở nơi giành giật giữa cái sống và cái chết: “ phải làm việc thế nào cho những đứa con của ta đây?” (tr. 97 ) Hầu như trang Nhật ký nào của chị cũng ướt đầm giọt lệ nhớ con, đồng thời hé lộ cái cội nguồn sâu thẳm của nghị lực nằm trong tình mẫu tử từng được khái quát trong khổ thơ: Bao mưa nắng dãi dầu Con thân yêu có biết Mẹ vượt qua được hết Khi có con trên đời Nỗi nhớ ấy, kỳ diệu thay, lại là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn giúp chị đứng vững và vượt qua biết bao thử thách khốc liệt. Hôm nay, những dòng tâm sự của một đồng đội của chị ở chiến trường Khu 5 lại như càng trở nên thấm thía, tựa một lời kêu gọi: “ Tôi không biết có gì lại dẫn dắt những người còn sống chúng tôi tới gần bản chất sự sống bằng cái chết của những người như chị” ( nhà văn Thanh Quế- tr.460) Tâm sự ở di bút của DTXQ chắc sẽ còn ám ảnh chúng ta trong nhiều năm tháng về sau nữa: “Ta đi làm ánh sao băng giữa đời”… Ánh sao băng DTXQ chắc chắn sẽ không bao giờ phải cô đơn, bởi chị đã sống một cuộc đời thật đẹp, đã viết nên những trang văn thật đẹp thấm đẫm sự sống của một dân tộc trong những năm tháng gian nan nhất…Nhà báo Nguyễn Thế Khoa- một đồng đội thế hệ sau của chị ở chiến trường Khu 5, khi làm chủ biên toàn tập di cảo “DTXQ - Nhật Ký- Tác Phẩm” đã vô tình thay mặt được nhiều cây bút của nền văn chương- báo chí đương đại khẳng định một cách công bằng: “ Cuộc đời của DTXQ rất ngắn ngủi…Tác phẩm của chị cũng ít… Nhưng di sản tinh thần mà chị để lại cho chúng ta thì thật lớn lao, vĩnh cửu. Đó là một trong những nhân cách nghệ sĩ lớn nhất, một trong những người phụ nữ Việt Nam đẹp nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của dân tộc.”( tr.460) Tôi bỗng chạnh nghĩ: chính niềm tin ngây thơ, trong trẻo và ngời sáng của một nữ văn sĩ trong giai đoạn đẹp nhất của cuộc đời phải thử thách không ít qua máu và lửa ấy đã khiến “cái dáng của một số phận long đong” nhiều lúc phải nhạt nhoà đi…Nhưng không có nghĩa là nó đã biến mất. Hôm nay đây, sự “long đong vất vưởng” của chị mà chị không thể lường tới lại chính là sự thờ ơ, nguội lạnh, vị kỷ, lãng quên của nhiều người, là sự đổi trắng thay đen của không ít quan niệm về Giá trị…Chị có biết không: cuộc sống và những trăn trở sáng tạo văn chương của chị- bất chấp mọi biến thiên của lẽ đời, cho đến giờ vẫn còn là một bài học vô cùng thấm thía, xúc động - đặc biệt đối với các nhà văn nhà thơ, nhà báo trẻ trong cơn lốc xoáy thị trường. Và sẽ là một tội ác không thể dung thứ, nếu cố tình hoặc chỉ là vô tình phản bội lại những gì cao quý thiêng liêng mà vì chúng, biết bao người Việt Nam ưu tú- trong đó có DTXQ- đã ngã xuống… Hà nội, đầu năm 2009 * “Dương Thị Xuân Quý- Nhật Ký- Tác Phẩm”- nxb Hội nhà văn, Hà Nội- 2007 ( Do Tạp chí Văn Hiến Việt Nam tổ chức, thực hiện ) |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn tuntin cho bài viết trên: | ||
chaika (09-03-2009), hongducanh (09-03-2009), Nina (09-03-2009), Thao vietnam (09-03-2009), USY (09-03-2009) | ||
|
#3
|
||||
|
||||
|
Nhấn cảm ơn thôi chưa đủ, em muốn viết lời cảm ơn bác tuntin đã cho bạn đọc 3N hiểu thêm về nhà văn, liệt sĩ Dương Thi Xuân Quý, người đã để lại cho đời một tấm gương sáng mãi về cách sống và cách viết.
Em tin chắc rằng nhiều thành viên diễn đàn NNN hết sức trân trọng và yêu mến những tác phẩm của nhà văn Dương Thị Xuân Quý và những bài thơ của nhà thơ Bùi Minh Quốc - Dương Hương Ly. Bài viết của bác có một ý nghĩa đặc biệt, là món quà quý cho chị em chúng em nhân ngày 8-3, bác ạ.
__________________
"Дело ведь совсем не в месте. Дело в том, что все мы - вместе!" |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn USY cho bài viết trên: | ||
|
#4
|
||||
|
||||
|
"Thôi em nằm lại
Với đất lành Duy Xuyên" Báo An ninh thủ đô vừa qua đăng loạt bài rất xúc động "Tôi đi tìm Quý" của nhà thơ Bùi Minh Quốc, mời các bác đọc ở đây: http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/In...0&ChannelID=92 (Em nghe nói gia đình liệt sỹ Dương Thị Xuân Quý trước ở 13 Hàng Bông - chỗ bây giờ là cà phê Phố Cũ, mà không biết bây giờ có phải không??
__________________
có khi tựa lá cỏ |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn anonymous cho bài viết trên: | ||
tuntin (13-03-2009) | ||
|
#5
|
||||
|
||||
|
Lễ kỷ niệm 40 năm ngày hi sinh của nhà văn - liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý mà bác chồng Bùi Minh Quốc,nhà thơ (phương Tây gọi là nhà dân chủ) không đến được. Bác ấy có viết sẵn bài này gửi đến, xin copy ra đây:
PHÁT BIỂU TẠI LỄ KỶ NIỆM 40 NĂM NGÀY DƯƠNG THỊ XUÂN QUÝ HY SINH (8.3.1969 - 8.3.2009) BÙI MINH QUỐC Kính thưa Ban tổ chức Kính thưa các chị, các anh và các bạn trẻ Tôi trân trọng cám ơn ban tổ chức đã dành cho tôi thời gian để phát biểu trong buổi lễ kỷ niệm trọng thể và xúc động này. Tiếp nối những gì mình đã viết trước đây, hôm nay ngoài phần ôn lại tiểu sử, tôi xin được bày tỏ thêm một số hiểu biết và chiêm nghiệm về những trang đời, trang viết ngắn ngủi cùng tấm gương hy sinh cao cả của người vợ, người bạn đời, người đồng nghiệp vô cùng thân thiết của tôi - nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý. Trước hết, xin cho phép tôi kể một chuyện riêng trong gia đình. Dương Thị Xuân Quý hy sinh ngày 8 tháng 3 năm 1969 tại chiến trường Duy Xuyên, Quảng Nam.Nỗi bàng hoàng trước sự ra đi của Quý chưa nguôi thì tại chiến trường tôi lại được tin gia đình báo cho biết vào cuối tháng 3 đau đớn ấy, thân phụ Quý cũng qua đời vì bệnh.Trong vòng không đầy 1 tháng, gia đình chịu hai cái tang lớn.Các anh chị của Quý phải cùng nhau thực hiện một quyết định hết sức khó khăn : giữ bí mật không cho mẹ biết việc Quý hy sinh.Tôn trọng quyết định đó của gia đình nên ở Hà Nội ngày ấy các cơ quan như Hội Nhà văn Việt Nam, báo Phụ Nữ Việt Nam,Tiểu ban văn nghệ miền Nam cùng thống nhất tổ chức lễ truy điệu Quý chỉ do Tiểu ban văn nghệ miền Nam thuộc Đảng đoàn Văn nghệ trung ương tiến hành lặng lẽ trong phạm vi hẹp.Hơn sáu năm sau, nghĩa là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các anh các chị mới chính thức báo tin với mẹ rằng con gái út Xuân Quý thân yêu của mẹ không còn nữa.Mẹ đón nhận tin đau một cách bình tĩnh.Một thời gian khá lâu sau này, Hương Ly con gái tôi mới kể : thực ra bà đã đoán biết rất sớm, bà đã đặt bát hương thờ ông, thờ mẹ Ly trên chùa Bà Đá, bà cứ âm thầm chịu đựng một mình không cho các bác biết để các bác khỏi bận tâm lo lắng về bà mà yên tâm công tác. Xin cho phép tôi, nhân lễ kỷ niệm này, một lần nữa thắp nén hương tưởng niệm mẹ, người mẹ vô cùng yêu quý của Quý, của tôi, người bà vô cùng yêu quý của con gái chúng tôi, Người là Hoàng Thị Tín, Người là nguồn cội thiêng liêng đã sinh thành, giáo dưỡng và hiến dâng cho đất nước người con gái anh hùng, người nữ nghệ sĩ - chiến sĩ hiếm có trong văn học cách mạng mà giờ đây chúng ta họp mặt để cùng nhau nhìn nhận rõ hơn giá trị cuộc đời và trang viết. Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19 tháng 4 năm 1941 tại Hà Hội, quê quán thôn Phú Thị xã Mễ Sở huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên trong một dòng tộc trí thức, nghệ sĩ yêu nước chống thực dân Pháp. Ông nội Quý, cụ Dương Trọng Phổ, từ rất sớm đã vận động cho Đông Kinh Nghĩa Thục, bị thực dân Pháp đày ra Côn Lôn.Phụ thân Quý, ông Dương Tụ Quán là một nhà giáo sau chuyển sang làm báo, chủ trương tờ Văn Học tạp chí, rồi tạp chí Tri Tân.Bác ruột Quý, ông cử Dương Bá Trạc vừa tham gia tích cực trong Đông Kinh Nghĩa Thục vừa viết báo viết văn.Sau khi đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, thực dân Pháp mời ông làm tri huyện nhưng ông từ chối và tiếp tục hoạt động chống Pháp, bị chúng đày ra đảo Côn Lôn trước cụ Dương Trọng Phổ ít ngày.Một người bác ruột nữa của Dương Thị Xuân Quý là nhà nghiên cứu nổi tiếng Dương Quảng Hàm.Hai người anh con bác ruột của Quý là các hoạ sĩ Dương Bích Liên, Dương Cẩm Chương. Từ cái nôi văn hóa ấy Quý đã lớn lên, và đến lượt mình, một cách tự nhiên, cũng theo nghiệp cầm bút. Có năng khiếu và say mê văn chương, cô bé Dương Thị Xuân Quý đã thích ghi nhật ký từ 7 tuổi, khi đang sống với gia đình tại Thái Nguyên thuộc chiến khu Việt Bắc.Sau ngày giải phóng thủ đô, Dương Thị Xuân Quý về Hà Nội học trường phổ thông cấp 2 Trưng Vương, rồi ra Quảng Ninh học trường trung cấp mỏ, sau đó về học khoá báo chí do Ban Tuyên huấn trung ưong mở.Tốt nghiệp khoá học, Quý về làm phóng viên báo Phụ Nữ Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1968, năm nào cũng đạt danh hiệu lao động tiên tiến, đồng thời theo học tại lớp ban đêm chương trình ngữ văn của đại học sư phạm.Là một phóng viên năng nổ và xông xáo, Dương Thị Xuân Quý đã có mặt ở nhiều vùng nông thôn trên miền Bắc.Mang thai con đến tháng thứ sáu, Quý vẫn về Quảng Nạp (Thái Bình), đi cấy đi gặt với bà con xã viên để vừa viết báo vừa viết văn.Khi giặc Mỹ ném bom miền Bắc, Dương Thị Xuân Quý đã có mặt ngay tại các vùng trọng điểm tuyến lửa Nghệ An Hà Tĩnh năm 1965.Cùng năm ấy, Dương Thị Xuân Quý viết đơn tình nguyện xin được vào chiến trường miền Nam chiến đấu.Tháng 2 năm 1966, Dương Thị Xuân Quý lập gia đình, thành hôn với Bùi Minh Quốc, người bạn thân và đồng nghiệp mà trước đó một thời gian dài hai người chỉ làm quen và hiểu nhau quý mến nhau qua sáng tác và thư từ.Tháng 12 năm 1966, Dương Thị Xuân Quý sinh con gái đầu lòng và cũng là duy nhất Bùi Dương Hương Ly.Trước khi sinh Bé Ly một ngày, Dương Thị Xuân Quý đã kịp tập hợp các sáng tác gồm bút ký và truyện ngắn mang tên "Chỗ đứng" gửi đến nhà xuất bản, nhưng khi sách in xong gửi vào tới chiến trường thì Quý đã không còn được nhìn thấy mặt đứa con tinh thần của mình.Khi Bé Ly được 5 tháng, chồng Quý lên đường vào chiến trường miền Nam.Một năm sau, tháng 4 năm 1968, Quý gửi Bé Ly mới 16 tháng tuổi cho thân mẫu trông nom, lên đường đi chiến trường.Sau 3 tháng hành quân vượt Trường Sơn, tháng 7 năm 1968, Dương Thị Xuân Quý có mặt tại chiến trường, nhận nhiệm vụ phóng viên tạp chí Văn Nghệ Giải Phóng trung Trung bộ (Khu 5).Từ 11 tháng 7 năm 1968 đến 18 tháng 12 năm 1968 là những tháng ngày liên tiếp di chuyển cơ quan và gùi cõng, liên tiếp thiếu đói và sốt rét, mưa lũ và bom đạn, có trận B52 rải bom ngay giữa đội hình cả cơ quan trên đường di chuyển, nhưng Quý không hề vắng mặt một chuyến gùi cõng nào, và vẫn tranh thủ ghi chép, sáng tác.Chính tại bến Giằng, giữa trời mưa tầm tã nước lũ sông Giằng cuồn cuộn dâng cao, có đêm phải trèo lên cây ngồi, Quý đã hoàn thành truyện ngắn "Hoa rừng", sáng tác đầu tiên khi đặt chân tới chiến trường gửi ra miền Bắc với bút danh Dương Thị Minh Hương.Ngày 19 tháng 12 năm 1968 Dương Thị Xuân Quý rời căn cứ A7 đi chuyến công tác đầu tiên, và cũng là cuối cùng, xuống chiến trường đồng bằng.Ngày 5 tháng 1.1969, Dương Thị Xuân Quý cùng nhóm công tác do nhà văn Chu Cẩm Phong (tức Trần Tiến) phụ trách vượt đường số 1 xuống vùng đông Thăng Bình (thuộc Quảng Nam).Quý về sống và làm việc giữa bà con thôn 5 và thôn 6, một thôn trọng điểm của xã Bình Dương, một xã anh hùng, và viết bút ký "Gương mặt thách thức"(đây cũng là những trang viết cuối cùng gửi về tòa soạn ).Đầu tháng 2.1969, từ Bình Dương (Thăng Bình) Quý ra vùng tây Duy Xuyên (thuộc Quảng Đà), sống và làm việc cùng bà con xã Xuyên Hòa, dưới chân cụm cứ điểm Kiểm Lâm. Rạng sáng 2 tháng 3.1969, Quý vượt đường số 1 xuống vùng đông Duy Xuyên, làm việc tại cơ quan tuyên huấn huyện đóng ở thôn 2 xã Xuyên Tân.Đêm 8 tháng 3 năm 1969, Dương Thị Xuân Quý anh dũng hy sinh tại thôn Thi Thại xã Xuyên Tân (nay là Duy Thành) huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam trong một trận càn quét ác liệt của giặc Nam Triều Tiên khi cùng các chiến sĩ du kích và đội viên vũ trang tuyên truyền từ dưới hầm bí mật bò lên cố tìm cách thoát ra khỏi vòng càn. Địch chốt giữ dài ngày và cày ủi khắp xóm, không thể nào xác định được thi thể Quý đã bị vùi lấp nơi đâu. Tháng giêng năm 1996, sau nhiều công phu tìm kiếm hài cốt không kết quả, tôi và con gái Bùi Dương Hương Ly cùng gia đình bên ngoại cháu, với sự trợ giúp của một số bạn hữu, cơ quan, đơn vị, đã dựng bia tưởng niệm tại nơi Quý bị địch bắn. Thế rồi, ngày 3 tháng 8 năm 2006, nhờ một cơ duyên kỳ lạ, tôi đã tìm được hài cốt Quý cách nơi bị địch bắn khoảng trên 20m.Cùng với hài cốt là một chiếc cặp tóc bằng đuya-ra có khắc dòng chữ "Tặng chị X.Quý" - "E1". Đầu năm 2007, Dương Thị Xuân Quý được truy tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Cuộc đời và tác phẩm của Dương Thị Xuân Quý đã được tập hợp giới thiệu trong công trình "Dương Thị Xuân Quý - Nhật ký & tác phẩm" do tạp chí Văn Hiến Việt Nam hợp tác với nhà xuất bản Hội Nhà văn thực hiện tháng 7 năm 2007. Thưa các chị, các anh và các bạn trẻ Đối với tôi, Quý mãi mãi là tấm gương của một nhà văn - chiến sĩ đã dâng trọn cuộc đời 28 tuổi xuân vì sự nghiệp chiến đấu giành độc lập cho dân tộc và tự do cho mỗi con người. Trong nhật ký của Quý, có hai câu thơ của đại thi hào Nga Puskin luôn được nhắc đi nhắc lại như một khắc khoải, một lời nguyền : "Trong hy vọng dày vò ta trông ngóng Những phút giây giải phóng thiêng liêng" (Gửi Sa-đa-ép) Ở Quý, khát vọng giải phóng dân tộc và giải phóng con người luôn hòa quyện mãnh liệt, mà giải phóng con người là cái đích dù còn xa vời lắm nhưng Quý không ngừng hướng tới trong từng ngày sống, từng giờ sống, từng hành động sống.Giải phóng con người phải bắt đầu từ từng người, từng người phải tự giành lấy quyền tự do phát triển mọi khả năng mình có. "Sự phát triển tự do của mỗi cá nhân là điều kiện tất yếu cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người" - điều mà hàng trăm năm trước Các Mác nêu lên như một nguyên lý đã đến với Quý, cũng là với cả thế hệ chúng tôi, như một lý tưởng, một lẽ sống, và Quý đã sống trọn vẹn, sống mãnh liệt theo lý tưởng ấy, lẽ sống ấy.Truyện ngắn "Chỗ đứng" - mà Quý lấy để đặt tên cho cuốn sách đầu tay của mình - chính là sự ký thác nỗi niềm riêng, mà cũng là khát vọng chung của cả một thế hệ lớn lên trong hòa bình ở miền Bắc thời ấy đòi hỏi phải được tự do phát huy mọi khả năng của mình và họ phải có chỗ đứng xứng đáng trong xã hội, họ dứt khoát không chấp nhận cái chỗ ngồi dẫu là được đề bạt đề cao nhưng chỉ để làm chân sai vặt.Cái lý tưởng xã hội và cũng là lý tưởng thẩm mỹ ấy khi gắn bó với cuộc sống lao động chiến đấu đầy cực nhọc mất mát và hy sinh của nhân dân đã cho Quý một nghị lực phi thường để đương đầu và vượt qua những trở lực tưởng chừng không thể vượt qua, những trói buộc, hữu hình và vô hình dựng nên ngay tại cơ quan ngay khi mới chập chững bước vào nghiệp cầm bút trong cái thời còn tương đối bình yên, những trói buộc ghê gớm đến nỗi Quý thấy khi xông pha giữa bão lửa chiến trường lại có được cảm giác của con người tự do. Nhật ký của Quý ghi, lúc chuẩn bị đi Quảng Đà :"Sống giữa không khí mặt trận.Đầy nguy hiểm nhưng cảm giác của mình là say mê và thú vị.Biết là nguy hiểm lắm nhưng sẵn sàng lao vào, dù có hy sinh.Đời người ai chả chết...", "Lo, mình lo chứ.Nhưng mình quyết tâm".Thư của Quý gửi cho Chu Cẩm Phong (Trần Tiến) có những câu này :"Xuyên Hòa kiên cường lắm ! Tôi bắt gặp nhiều điều rất xúc động.Ở Xuyên Phú , địch phản ứng gay gắt hơn.Cũng hoảng anh Tiến ạ, nhưng vui tuyệt diệu. Chuyến này tôi gặp nhiều nguy hiểm nhưng vui kỳ lạ".Thư viết ngày 2 tháng 3.1969.Đó là những dòng cuối cùng trong cuộc đời cầm bút của Quý. Cái giá trị nhân văn cơ bản nhất quán xuyến nhất mà tôi hiểu, tôi tiếp nhận từ những trang đời, những trang viết chân thực, mộc mạc và nhân hậu của Quý là như thế, có thể cô đúc lại đơn giản trong 2 tiếng "chỗ đứng" - nó là chỗ đứng, là thế đứng của con người tự do, con người rất đỗi mảnh mai như một đóa hoa rừng nhưng chẳng có bão mưa nào vùi dập nổi - đúng như Quý đã viết trong đoạn kết truyện ngắn "Hoa rừng". Quý vắng bóng trên cõi đời này đã 40 năm, nhưng với tôi, Quý không lúc nào không hiện hữu.Xin được chia sẻ cùng các chị, các anh và các bạn trẻ niềm tâm cảm này trong giờ phút này qua những vần thơ này : EM VẪN ĐÂY Em vẫn đây Em vẫn đây Khối linh hồn mãnh liệt Tràn đầy anh Từng trang viết Từng ngày sống Từng ngày Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do! Ta vượt Trường Sơn cùng tiếng gọi Bác Hồ Ta dấn bước như chính lòng ta gọi Trăm dốc nghìn đèo không rời đích Tự do Em vẫn đây Em vẫn đây Giữa cuộc đời bộn bề và bầu trời đầy mây(1) Vụt quắc lên tia chớp Khi sự thật thiêng liêng bị đánh tráo dối lừa(2) Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do! Mái đầu ta suy nghĩ chẳng ai cho Anh nói tiếp những gì em chưa kịp nói Dứt bung hết những gì buộc trói Cho mỗi con người chỗ đứng* tự do Em vẫn đây Em vẫn đây Viết hay Sống đẹp Em trong anh thành tâm nguyện vĩnh hằng Anh đang sống những ngày em chưa kịp sống Đẹp nào bằng Đứng vững* Tự mình Giành lấy Tự do. Đà Lạt 04.03.20009
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Сáс ngôi sao trên sân băng | tykva | Thể thao | 76 | 23-05-2013 18:07 |
| Khởi tranh giải VĐTG về khúc côn cầu trên băng - хоккей | nhatha | Thể thao | 133 | 10-05-2011 11:01 |
| Ý tưởng với dải băng Georgi | Jan | Mỹ thuật - Nhiếp ảnh | 16 | 09-11-2009 00:19 |
| Các tác phẩm và các nhà văn đã được giới thiệu ở box Văn học | BelayaZima | Văn học | 2 | 08-02-2009 21:01 |
| Cuộc hành quân vượt qua eo biển Kerch băng giá | nthach | Các trận đánh lớn | 1 | 03-03-2008 15:48 |