|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
|||
|
|||
|
РАСУЛ ГАМЗАТОВ(1923-2003)
![]() Nói về Расул Гамзатов (Raxun Gamzatov) có nghĩa là nói về Đaghextan, xứ sở trên vùng núi Capcadơ, nơi có 36 dân tộc đang chung sống, trong đó có dân tộc Avar. Расул Гамзатович Гамзатов sinh ngày 8/9/1923 tại ngôi làng Avar thuộc vùng Tsada, phía Đông Bắc Capcadơ. Cha của ông, nhà thơ nhân dân Gamzar Tsada, người kế thừa nghệ thuật hát rong truyền thống của ông cha mà cho đến nay vẫn còn thịnh hành tại các vùng núi. Những thi sĩ hát rong khi ấy rất được đề cao và trọng vọng. Khi Makhmud, nhà thơ nổi tiếng của thế hệ trước, cất tiếng hát tại một nơi hội họp đông người, vừa kéo căng dây đàn pandura làm nhạc đệm thì dường như từ những em bé đến những người già đều nín thở và hồi hộp lắng nghe: thậm chí người ta còn có thể nghe thấy cả tiếng vỗ cánh của một con ong. Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, khi những người thầy giáo Xôviết đầu tiên đặt chân tới ngôi làng Avar, những người phụ nữ thường ngồi quay lưng lại khi các thầy giáo giảng bài và họ không bao giờ để lộ khuôn mặt của mình trước người lạ. Nhưng khi một nhà thơ hát rong đi ngang qua cùng với những bài tình ca thì họ lại ngước nhìn anh với vẻ ngưỡng mộ pha chút sùng bái và thậm chí còn vén cả mạng che mặt lên. Chàng trai trẻ Raxun, vốn không thể chịu đựng được bất kỳ sự ngắt lời nào, có thể ngồi hàng giờ để nghe cho đến hết những câu chuyện của người Avar, những huyền thoại và truyện ngụ ngôn mà người cha kể cho nghe. Ông nhớ lại: “Khi tôi còn nhỏ xíu, cha tôi thường bọc tôi trong tấm áo choàng bằng da cừu của ông và đọc những bài thơ của ông cho tôi nghe, vì thế tôi đã học thuộc lòng những bài thơ ấy ngay cả trước khi biết cưỡi ngựa hay buộc thắt lưng”. Từ khung cửa sổ nhỏ bé trong ngôi nhà mái bằng bằng đá vững chắc của mình, Raxun có thể nhìn thấy cánh đồng xanh bao la như một tấm khăn trải bàn trùm lên khắp ngôi làng và ở phía trên nhô ra những tảng đá lớn. Những con đường ngoằn ngoèo ngập nước bẩn, những hang động há miệng rộng như hàm của những con thú hoang. Những đỉnh núi nối nhau liên tiếp uốn cong và ghồ ghề như tấm lưng con lạc đà vậy. Khi còn nhỏ, Raxun thường đi chăn con ngựa của nhà hàng xóm trong 3 ngày với phần thưởng là được kể cho nghe 1 câu chuyện nào đó. Cậu bé Raxun mất nửa ngày để trèo lên núi nhập bọn với những chú bé chăn cừu và đi bộ mất nửa ngày nữa để quay trở về, chỉ để được nghe có 1 bài thơ! Năm học lớp 2, Raxun đã đi bộ 12 dặm đường để tới gặp một ông già, bạn của người cha mình, một người thuộc rất nhiều bài hát, bài thơ và những câu chuyện huyền thoại. Ông lão đã hát và kể cho cậu bé Raxun nghe trong 4 ngày liền, suốt từ sáng đến tối. Raxun viết lại những gì đã nghe và sung sướng trở về nhà với chiếc túi đựng đầy những bài thơ. Khi viết những vần thơ đầu tiên của mình, Raxun mới 11 tuổi. Lúc đó, cậu bé nằm giấu mình trên ban công của ngôi nhà. Bài thơ đầu tiên của cậu kể về những cậu bé miền núi đã chạy như bay từ trên núi xuống khoảng đất trống, nơi có một chiếc máy bay đã hạ cánh xuống đó lần đầu tiên vào năm 1934. Cha của Raxun là người thầy đầu tiên của ông trong nghệ thuật thơ ca. “Về những bài thơ đầu tiên của tôi, cha tôi nói rằng, nếu con chịu khó lục lọi trong đống tro tàn thì rồi thế nào con cũng sẽ tìm thấy một cục than hồng đang rực cháy”- Raxun hồi tưởng lại. Nhan đề của tập thơ đầu tiên của ông là “Love Inspired and Fiery Wrath”(không biết dịch sang tiếng Việt như thế nào cho đúng! ). Ông tỏ ra vui mừng khôn xiết khi những cô gái ở miền núi đã đọc tập thơ đó cho ông nghe và cho đến giờ, ông vẫn không thể quên được nỗi đau đớn của mình khi nhìn một người chăn cứu dùng giấy để cuốn một điếu thuốc lá. Đó là vào năm 1943. Năm 1945, cùng với vài tập thơ riêng ở Avar cặp dưới cánh tay và một ít tiền trong túi, ông đã tới Matxcơva để vào Viện nghiên cứu Văn học Gorky. Ở đó, trong nhóm các nhà thơ trẻ và dưới sự dìu dắt của các nhà văn kỳ cựu, ông đã nghiên cứu nền văn học Nga và văn học thế giới, đồng thời sáng tác thơ ca. Lần lượt, ông đã say mê các nhà thơ Blok, Mayakovsky, Êxênhin, Pastenak, Tsvetayeva, Bagritsky, nhà thơ người Avar Makhmud và nhà thơ Đức Henric Heine. Nhưng Puskin và Lermontov mới là tình yêu vĩnh hằng của ông. Trong hơn 50 năm, Raxun Gamzatov là một trong những nhà thơ Xôviết viết nhiều nhất. Bằng ngòi bút của mình, ông đã cho ra đời những bài thơ tình lãng mạn, những bài thơ tự thuật dài, những bản ballad, những vần thơ trào phúng và những bài thơ 8 câu có tính triết lý sâu xa và ông đã có được hàng triệu độc giả trung thành. Gia đình Raxun sống tại Makhachkala, thủ phủ của Đaghextan trên bờ biển Caspian. Vợ ông là bà Patimat (mất năm 2000), ông có 3 cô con gái là Zarema, Patimat và Salikhat, cùng 4 đứa cháu. Ngôi nhà của ông luôn mở cửa cho tất cả mọi người. Ngôi nhà của ông luôn mở cửa cho tất cả mọi người. Với niềm tự hào, ông giới thiệu với bạn bè bộ sưu tập những thanh kiếm sáng bóng, những tấm áo choàng khi cưỡi ngựa, những hũ rượu và bình gốm màu đất vốn là sản phẩm nổi tiếng của vùng Đaghextan. Về mảnh đất nơi ông đã sinh ra, về những người dân và những nhà thơ của mảnh đất ấy, ông đã vẽ nên một bức chân dung hấp dẫn, gần gũi và giàu tính nhân văn trong tuyển tập văn xuôi hồi ký “Đaghextan của tôi” (Мой Дагестан). Ông đã giành được giải thưởng Lênin cho những đóng góp về thơ ca và vinh dự nhận danh hiệu “nhà thơ của nhân dân” Đaghextan, Raxun Gamzatov là một nhân vật nổi tiếng, chủ tịch Hội nhà văn Đaghextan. Ông đã đi nhiều nơi trên thế giới, ở châu Âu, châu Á và châu Mỹ. Ông đã tới thăm nhiều nguyên thuỷ quốc gia nổi tiếng, các vị vua chúa, các tổng thống, nhà văn và hoạ sĩ. Ngôi nhà của ông cũng được nhiều vị khách nổi tiếng thế giới tới thăm. Raxun Gamzatov đã sáng tác bằng tiếng Avar địa phương, một ngôn ngữ chỉ có hơn 500.000 người sử dụng. Những người Avar cùng với người Darghin, Lezghin và Kumyk là những nhóm dân tộc thiểu số lớn nhất trong tổng số 2 triệu cư dân của Đaghextan, nơi người ta nói 36 thứ tiếng khác nhau. Truyền thuyết xưa kể lại, có người kỵ sĩ cưỡi ngựa khắp thế giới, phân phát các loại ngôn ngữ và đã ném cả một túi chứa đầy ngôn ngữ vào các hẻm núi rồi nói với người dân: “Các người hãy chọn lấy cho mình!”. Do vậy, vấn đề dịch thuật đã trở thành một rào cản quen thuộc đối với người dân Đaghextan, ở đó những cuốn sách được viết và xuất bản bằng 9 loại ngôn ngữ khác nhau. Raxun Gamzatov đã có may mắn khi gặp được những dịch giả tiếng Nga của mình là Naum Grebnev và Yakov Kozlovsky. Nhiều bản dịch của 2 dịch giả này đã trở thành kinh điển trong nền thi ca Nga. Đến mức mà ngay bản thân Raxun, khi đọc những bài thơ của mình trước công chúng bằng giọng Avar với nhịp điệu mạnh mẽ, vẫn thường kèm theo sự êm ái và ngẫu hứng nhờ bản dịch tiếng Nga mà ông đã thuộc lòng. Ngày 3/11/2003, trái tim của nhà thơ nhân dân Đaghextan Raxun Gamzatov đã ngừng đập. Con đại bàng của Đaghextan đã ngừng bay. Ông được chôn cất ở ngọn núi Tarki- Tai, bên cạnh ngôi mộ của người vợ yêu quí Patimat. Tác giả: Conghedoinghieng (NNN) |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Moskva84 (25-03-2010) | ||
|
#2
|
|||
|
|||
|
Raxun Gamzatov có toàn quyền để nói với bạn đọc và người nghe của mình về bản thân ông: “Thế là cũng giống như bạn, người đồng thời của tôi, tôi đã sống giữa lòng thế kỷ, ở trung tâm của thế giới, ở sự biến đổi không ngừng của các sự kiện lớn. Mỗi chấn động- có thể nói đó là rung động trái tim đối với nhà văn. Nỗi buồn và niềm vui của các sự kiện không thể lướt qua nhà nghệ sĩ. Chúng không phải dấu vết in trên tuyết mà là nét chạm trổ trên đá. Và thế là tôi thu thập thành một khối tất cả những bằng chứng về quá khứ, những suy nghĩ về tương lai và tôi đến với bạn, tôi gõ vào cánh cửa nhà bạn mà nói: anh bạn nhân hậu của tôi ơi, tôi đây mà. Cho phép tôi vào nhà chứ” . Hỡi bạn đọc! Xin các bạn làm theo lời mời ấy đi- các bạn hãy mở cửa ra, hãy bước từng bước vào thế giới của những rặng núi cao, của những thung lũng nở hoam của những bản làng xa xôi và tình cảm gần gũi. “Đaghextan của tôi” đó là tác phẩm văn xuôi của một nhà thơ. (Trích lời giới thiệu cuốn sách "Đaghextan của tôi", NXB Cầu Vồng, Matxcơva, 1984, Phan Hồng Giang dịch phần văn xuôi, Bằng Việt dịch phần thơ)
Conghedoinghieng xin chép lại một số bài thơ trích trong cuốn sách này. Mới hôm qua còn trèo cây bắt chim Kéo bè bạn lên chơi từng mỏm đá Tình yêu đến, mắt trong xanh, kỳ lạ Và bỗng dưng tôi khôn lớn, trưởng thành. Nhưng nếu hôm qua, tôi đã tự coi mình Chín chắn, khôn ngoan, chưa già- đầu đã bạc... Tình yêu đến, chỉ mỉm cười đơn giản Thì trước tình yêu, tôi lại hoá trẻ thơ. Đất quê tôi, làm sao tôi kể nổi Cho cả trăm miền bát ngát dưới trăng sao Giống như tôi đeo đầy mình báu vật Nhưng tháo cởi ra thì không biết cách nào! Đến một bài ca ngân vang trong tiếng mẹ Tôi cũng không sao biết hát ở trăm miền! Như trên vai, gánh hòm rương quý giá Gánh mà không thể mở để ai xem! Đợi một chút, ngựa ta ơi, hãy đợi! Ta còn chưa kịp ngoái lại đằng sau Phía sau đó- những gì ta để lại Một làng quê- Nơi cắt rốn chôn rau Giờ hãy lao đi, lao như bay, ngựa hỡi! Khỏi cần chi ngoái lại mãi đằng sau... Làng phía trước, cũng làng quê chờ đợi Đâu chẳng anh em thân thuộc, bạn bầu... ****** ![]() Những chiếc bình đẹp nhất Nặn từ đất bình thường Như câu thơ đẹp nhất Từ những chữ bình thường Tác giả: Conghedoinghieng (NNN) |
|
#3
|
|||
|
|||
![]() Người bộ hành lên đường Anh mang theo gì đó? Rượu vang, bánh mì chăng? Nhưng, khách ơi, hãy nhớ: Anh cần chi hành lý Có dân núi đón rồi! Cô gái thì nướng bánh Chàng trai rót rượu mời. Người bộ hành lên đường Anh mang theo gì đó? Con dao mài sắc chăng? Nhưng khách ơi, hãy nhớ: Nếu kử thù lẩn quất Khi anh được mời chào Chúng tôi sẵn gươm dao Che chở anh yên ổn. Người bộ hành lên đường Anh mang theo gì đó? Anh mang theo bài hát, Ôi, người bạn thân yêu! Bài hát lạ bao nhiêu Rừng núi này chẳng có? Nhưng nó không nặng gì Anh cứ mang dự trữ! Đứa trẻ khóc và cười Nhưng còn chưa biết nói Rồi đến lúc nó kể Đến thế giới này vì sao. Người dịch: Bằng Việt Bản dịch tiếng Nga cuốn "Đaghextan của tôi": http://www.gamzatov.ru/daghestan.html Tác giả: Conghedoinghieng (NNN) |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Tiếng mẹ đẻ
Raxun Gamzatov Thật vô lý lạ lùng, tất cả ở trong mơ Tôi chiêm bao thấy mình đã chết Trong thung lũng Đaghextan, giữa ban trưa nóng bức Tôi nằm yên. Ngực xuyên vết đạn chì. Sông réo trôi, không một chướng ngại gì Còn tôi bị lãng ưuên, không ai cần đến nữa Tôi nằm duỗi trên quê hương xứ sở Trước lúc hoà chung vào đất mà thôi. Không ai biết hôm nay tôi chết Không ai phút này có mặt bên tôi Chỉ cao tít là tiếng bầy chim ó Con nai kêu từ đâu đó xa xôi. Sẽ không một ai khóc trước mồ tôi Thương tôi mất lúc đang còn tuổi trẻ Không bè bạn, không người yêu, không cả hình bóng mẹ Cho đến mọt người khóc mướn cũng không! Tôi cứ thế thiếp dần trong bất lực Thì đột nhiên, nghe thấy, cũng không xa Tiếng hai người vừa đi vừa trò chuyện Bằng tiếng mẹ yêu thương- thứ ngôn ngữ Avar. Trong thung lũng Đaghextan, giữa ban trưa nóng bức Tôi chết giữa bao chuyện gần kề Chuyện nói đến chàng Gaxan ranh mãnh Chuyện kể về hành động của Ali. Mơ hồ thấm từng âm thanh tiếng mẹ Tôi bỗng tỉnh ra. Tới giây phút lạ lùng Tôi chợt hiểu, người chữa tôi khỏi bệnh Chẳng thể là ai, ngoài tiếng mẹ đẻ thân thương. Những tiếng khác dành cho dân tộc khác Cũng sẽ khiến cho lành bệnh bao người! Tôi chỉ biết nếu tiếng tôi biến mất Thì tôi sẵn sàng nhắm mắt, buông xuôi. Tôi luôn mê say với cả tâm hồn Dù ai bảo tiếng tôi nghèo đến mấy! Thứ tiếng không được dùng giữa diễn đàn trọng đại Vẫn thân thuộc cùng tôi, trọng đại với hồn tôi. Thế hệ tiếp sau tôi, để hiểu Makhơmút Chẳng lẽ lại cần bản dịch hay sao? Và chẳng lẽ tôi là nhà văn sau chót Được viết, được ca bằng tiếng mẹ đẻ tự hào? Tôi yêu cuộc đời, yêu hành tinh tôi ở Yêu đến từng góc nhỏ khắp gần xa Mà trên hết là quê hương Xôviết Tôi muốn ngợi ca bằng chính tiếng Avar. Cả đất nước tự do đang nở rộ Từ Bantích đến Xakhalin- tôi thân quý vô vàn Tôi có thể hy sinh vì nơi nào cũng vậy Nhưng hãy chôn tôi vào lòng đất Đaghextan. Có thể ngay đầu làng, đã gần kề mộ chí, Để những người Avar, bằng tiếng mẹ đẻ Avar, Thỉnh thoảng nhắc: Raxun, chàng đồng hương thuở trước Họ nhà Gamzat đây, người gốc Xađa. (Trích từ “Đaghextan của tôi”) Bằng Việt dịch ![]() Trong thung lũng Đaghextan РОДНОЙ ЯЗЫК Всегда во сне нелепо все и странно. Приснилась мне сегодня смерть моя. В полдневный жар в долине Дагестана С свинцом в груди лежал недвижим я. Звенит река, бежит неукротимо. Забытый и не нужный никому, Я распластался на земле родимой Пред тем, как стать землею самому. Я умираю, но никто про это Не знает и не явится ко мне, Лишь в вышине орлы клекочут где-то, И стонут лани где-то в стороне. И, чтобы плакать над моей могилой О том, что я погиб во цвете лет, Ни матери, ни друга нет, ни милой, Чего уж там — и плакальщицы нет. Так я лежал и умирал в бессилье. И вдруг услышал, как невдалеке Два человека шли и говорили На мне родном аварском языке. В полдневный жар в долине Дагестана Я умирал, а люди речь вели О хитрости какого-то Гасана, О выходках какого-то Али. И, смутно слыша звук родимой речи, Я оживал, и наступил тот миг, Когда я понял, что меня излечит Не врач, не знахарь, а родной язык. Кого-то исцеляет от болезней Другой язык, но мне на нем не петь, И если завтра мой язык исчезнет, То я готов сегодня умереть. Я за него всегда душой болею, Пусть говорят, что беден мой язык, Пусть не звучит с трибуны ассамблеи, Но, мне родной, он для меня велик. И чтоб понять Махмуда, мой наследник Ужели прочитает перевод? Ужели я писатель из последних, Кто по-аварски пишет и поет? Я жизнь люблю, люблю я всю планету, В ней каждый, даже малый уголок, А более всего Страну Советов, О ней я по-аварски пел, как мог. Мне дорог край цветущий и свободный От Балтики до Сахалина — весь. Я за него погибну где угодно, Но пусть меня зароют в землю здесь! Чтоб у плиты могильной близ аула Аварцы вспоминали иногда Аварским словом земляка Расула — Преемника Гамзата из Цада. Tác giả: Conghedoinghieng (NNN) |
|
#5
|
|||
|
|||
|
R.GAMZATOV
TRÊN ĐỜI NÀY... Trên đời này tôi chẳng tốt hơn ai, Nhưng ngày xưa, em yêu tôi, vì thế Em tưởng tôi siêu thường, như thể Trên đời này tốt nhất là tôi. Trên đời này tổi chẳng xấu hơn ai. Nhưng bây giờ em không tin điều ấy. Em chỉ thấy tôi sai, vì vậy TRên đời này xấu nhất là tôi. (Thái Bá Tân dịch) Nếu một ngàn đàn ông trên thế gian Gửi mối manh tìm đến cổng nhà em, Thì trong số một ngàn đàn ông đó Có cả anh, Gamzatov Raxul Nếu một trăm đàn ông, suốt tháng năm Say đắm em, máu rừng rực con tim, Chẳng ngạc nhiên nếu thấy trong số đó Có anh chàng miền núi Raxul Nếu mười anh đàn ông đáng đàn ông Say đắm em không giấu nổi lửa tình, Trong số đó, khi vui khi đau khổ Có cả anh, Gamzatov Raxul. Nếu chỉ có một chàng mất trí khôn Chỉ vì em, mà chẳng được ngó ngàng. Em hiểu đó, dời đỉnh non mây phủ Chính là anh, dân miền núi Raxul. Nếu chẳng còn ai nữa phải lòng em, Và em sầu hơn cả bóng hoàng hôn Thì có nghĩa trên cao nguyên miền núi Yên dưới mồ Gamzatov Raxul. ![]() Cây tùng Từ đỉnh núi thác không còn nghiêng đổ, Đầu thác trời mây lạnh đỏ thịt da Nhưng ngay cả giữa mùa đông lạnh giá Kiêu hãnh tùng vẫn xanh áo xuân to Vai trắng tuyết, còn thân đồng nâu thẫm Tôi yêu tùng: tùng gợi nhớ mùa xuân, Lúc mặt trời lửa không còn toả ấm Tùng gợi ta nhớ tới nắng phương nam. Nhớ tới nguồn suối nước reo chân núi, Nhớ dạ oanh kỳ diệu của rừng, Nhớ tới hoa đôi khi còn lộng lẫy Hơn cả người được sánh với hoa xuân Tùng đứng đó, còn cây sồi trăm tuổi Buồn ở bên, ghen tị mãi với tùng, Với màu xanh không gì át nổi Tùng gợi hoài, nhớ tuổi trẻ xa xăm. Không đề .............. Nếu em muốn anh thắp sao em ngắm Anh sẽ xua cơn gió lạnh ngoài đồng Sẽ đốt lửa chờ em về sưởi ấm Che bốn bề em đỡ rét mùa đông Và hai ta ngồi trong đêm thanh vắng Xích lại gần nhau, không lý sự, hiền lành Cái buồn khổ trên vai em mang nặng Anh sẵn sàng cho hết cả sang anh Anh sẽ cúi bên giường em lặng lẽ Và để em không thức giấc, che đèn Anh sẽ hát những lời ru của mẹ Ngăn mọi điều bất hạnh đến với em Và lúc ấy em sẽ tin trên trái đất Toàn người tốt, không có buồn, nước mắt. (Thái Bá Tân dịch) Tác giả: Conghedoinghieng (NNN) |
|
#6
|
|||
|
|||
|
Lăng xê trang web này cái
http://www.gamzatov.ru/ Và bài này, hình như tiếng Việt gọi là "Gửi người phụ nữ" http://www.litera.ru/stixiya/authors...ml#esli-v-mire ЕСЛИ В МИРЕ ТЫСЯЧА МУЖЧИН... Если в мире тысяча мужчин Снарядить к тебе готова сватов, Знай, что в этой тысяче мужчин Нахожусь и я - Расул Гамзатов. Если пленены тобой давно Сто мужчин, чья кровь несется с гулом, Разглядеть меж них не мудрено Горца, нареченного Расулом. Если десять влюблены в тебя Истинных мужей - огня не спрятав, Среди них, ликуя и скорбя, Нахожусь и я - Расул Гамзатов. Если без ума всего один От тебя, не склонная к посулам, Знай, что это с облачных вершин Горец, именуемый Расулом. Если не влюблен в тебя никто И грустней ты сумрачных закатов, Значит, на базальтовом плато Погребен в горах Расул Гамзатов. Пер. Я.Козловского |
|
#7
|
|||
|
|||
|
http://www.litera.ru/stixiya/authors...t-pomedli-kuda
- Радость, помедли, куда ты летишь? - В сердце, которое любит! - Юность, куда ты вернуться спешишь? - В сердце, которое любит! - Сила и смелость, куда вы, куда? - В сердце, которое любит! - А вы-то куда, печаль да беда? - В сердце, которое любит! Пер. Н.Гребнева Расул Гамзатов. Четки лет. Изд-во ЦК ВЛКСМ "Молодая Гвардия", 1969. Còn bản tiếng Việt thì Nina không nhớ lắm, mà cũng chẳng thấy đâu trên mạng (ai thấy mách dùm nhé), nên chép tạm ra, cứ coi như là Nina dịch nhé - Hãy chậm lại, niềm vui, bay đi đâu thế? - Đến trái tim đang yêu! - Tuổi trẻ ơi, vội quay lại đâu thế? - Đến trái tim đang yêu! - Ơi sức mạnh với lòng dũng cảm, các anh đi đâu? - Đến trái tim đang yêu! - Thế các anh đi đâu, hỡi nỗi buồn và bất hạnh? - Đến trái tim đang yêu! |
|
#8
|
|||
|
|||
|
Cắt dán vào đây một bài ở báo Văn nghệ luôn
http://sacmauvanhoa.vdcmedia.com/Quo...sp?PostID=3813 Raxul Gamzatov- Lòng nhân ái là cốt lõi của văn học (2004-12-03T18:15:13) (Nhà thơ Xô Viết Ra-xul Gam-za-tôv, người Avar nước cộng hoà Đa-ghe-xtăng (thuộc Nga) được mệnh danh là nhà thơ cho mọi thời đại. Ông thuộc lớp người được trưởng thành từ Cách mạng tháng Mười Nga 1917. Người con của dân tộc Avar lớn lên trong đại gia đình hòa thuận các dân tộc của Liên Bang Xô Viết và đã trở thành nghệ sĩ ngôn từ nổi tiếng thế giới. Ông là tấm gương chói lọi về lòng yêu nước. Thơ của ông đậm bản sắc dân tộc và trữ tình, thấm đẫm truyền thống fol-klor vùng Kav-kaz và giàu chất nhân văn. Ông qua đời ngày 3-11-2003, hưởng thọ 81 tuổi. Khi còn sống, về Việt Nam, ông đã nói một câu với đại ý là: Nếu như có một lịch sử về những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của các dân tộc trên thế giới, thì đầu tiên là phải ca ngợi tinh thần anh dũng của nhân dân Việt Nam. Trong một cuộc gặp gỡ với các đồng nghiệp Việt Nam sang thăm Nga vào năm 1994, ông đã tỏ ý tiếc không được đến Việt Nam trong những năm khi Việt Nam đấu tranh gian khổ chống xâm lược. Còn bây giờ đến thăm nước này khi đã hoà bình, thì có một cái gì đó không phải đạo. Trước khi đi xa, nhà thơ đã kịp dành cho báo “Nước Nga văn học” cuộc trả lời phỏng vấn cuối cùng đề cập tới nhiều vấn đề. Dưới đây chúng tôi xin trích phần ông bày tỏ suy nghĩ của mình về văn học) Người ta thường gọi văn học là nhân học. Tôi công nhận điều này. Những với riêng tôi, văn học không chỉ là môn khoa học nghiên cứu con người. Cái cốt lõi của nó là lòng nhân ái. Nhân học đòi hỏi chân lí. Nhưng một chân lí chưa đủ. Cần phải biểu hiện nó bằng tài năng và lòng yêu thương con người. Nói chung mỗi nhà văn đều có định nghĩa riêng của mình về văn học. Riêng tôi cho rằng lòng nhân ái phải là hàng đầu. Đó là cơ sở để lựa chọn hình thức và thể loại. Một người không thể đưa ra định nghĩa về văn học. Có những quan điểm khác nhau: Giống nhau và không giống nhau. Những quan điểm đó bổ sung nhau và tất cả đều đúng. Cần phải nói về những tác phẩm cụ thể, chứ không phải về khái niệm đã bị quên lãng. Một số người này cho rằng văn học có ý nghĩa giáo dục, còn những người khác thì cho văn học có ý nghĩa nhận thức. Theo tôi, trong văn học cần phải hội đủ 3 yếu tố: Giáo dục, nhận thức và thẩm mĩ. Nhưng không nên bị quá câu nệ vào điều này. Một nhà văn chân chính không bao giờ dạy đời, mà thường bắt người ta phải suy ngẫm. Vì thế, nền tảng của bất kì tác phẩm nào phải là chân lí được khắc hoạ bằng tất cả tài nghệ của nhà văn. Cần phải hát đúng giai điệu của thời đại mình và phải miêu tả nó một cách trung thực bằng những hình ảnh hấp dẫn, không chút giả tạo. Người ta thường nói về những nhiệm vụ mà văn học cần phải giải quyết. Nhưng nếu như nhà văn đặt ra cho mình nhiệm vụ phải viết một tác phẩm nhằm mục đích giáo dục và nhận thức, thì anh ta sẽ thất bại. Nhà văn không bao giờ được nghĩ tới điều đó. Anh ta thường trăn trở một điều gì đó và thể hiện nó. Nỗi băn khoăn và trăn trở là cái nghiệp của nhà văn. Nếu chỉ có một điều trăn trở thì chưa đủ, cần phải biết thể hiện suy nghĩ và tình cảm để trong tác phẩm xuất hiện hạt nhân duy lí. Hoà quyện tình cảm với duy lí là điều không đơn giản. Tuy nhiên, nhà văn không chỉ cần phải biểu hiện những cảm xúc của mình, mà hơn thế, phải biết khơi dạy ở người đọc những cảm xúc đó. Hiện nay, trong thời buổi của tiến bộ khoa học kĩ thuật thường vang lên những tiếng nói cho rằng văn học không có tầm quan trọng lớn lao như trước đây nữa, mà người ta sớm vứt bỏ nó khỏi con tàu hiện đại. Nhưng thời gian đã chứng minh văn học là cần thiết. Toàn bộ lịch sử loài người được chia ra làm hai thời kì: Trước và sau khi xuất hiện văn học. Mỗi người phải có trách nhiệm học tập ở những người khác. Nhà văn cũng vậy. Cần phải lấy bài học ở thời đại, ở những thế hệ trước. Không được bắt chước, mà phải kế tục cái mà những con người vĩ đại trước chúng ta đã khai mở. Còn đối với tôi, nhiệm vụ chính là sáng tác mà tôi đã và đang tiếp tục dâng hiến cho bạn đọc và mọi người. Tôi sinh ra ở làng Txe-đa tại vùng Đa-ghe-xtăng nhỏ bé và rất đỗi yêu quí của tôi, nhưng tôi đã được nhìn thấy cả thế giới và tìm cho mình những người bạn ở khắp các châu lục. Số phận đã ban tặng cho tôi ba lứa tuổi: Tuổi trẻ, tuổi chín chắn và tuổi già. Nhưng nhà thơ cần phải có thêm một lứa tuổi thứ tư. Nhà thơ là người đồng niên không chỉ với những người đang sống hôm nay, mà cả với những ai đã khuất và thậm chí với cả những đứa trẻ đang nằm trong bụng mẹ chuẩn bị cất tiếng khóc chào đời. Điều cốt yếu với chúng ta là nhận biết ngày hôm nay. Ngày hôm nay là kết quả của ngày hôm qua và của toàn bộ lịch sử nói chung. Nhưng trong lòng của hôm nay có chứa đựng cả dự báo cho ngày mai và nhiều năm tiếp theo. Bao giờ cũng có nhiều vị thủ trưởng nêu ra định nghĩa văn học, coi mình là “người chỉ huy văn học” đặt ra trước các nhà văn những nhiệm vụ. Dù họ có cố gắng đến đâu, thì họ cũng chẳng được gì cả. Các nhà xuất bản, các quan chức và nhà khoa học cũng không thể đưa ra đánh giá về văn học, mà chỉ có nhân dân và thời gian mới có thể làm được điều này. Tôi quả không muốn lợi dụng những từ ngữ này, nhưng chẳng có cách nào khác, mà chỉ đứng từ xa mới có thể bao quát rõ điều lớn lao. Chỉ có qua một thế kỉ mới có thể nói về tầm vĩ đại của nhà văn này hay khác, bởi vì hiện nay qua một thiên niên kỉ chúng ta mới nói được về sự vĩ đại vĩnh cửu của Ô-ma-ra Hai-a-ma. Trong văn học không có và không thể có những người lãnh đạo và bị lãnh đạo. Đã từng có nền văn học của đảng, của đoàn thanh niên Côm-xô-môn, của nông dân và v.v... Những điều đó không đúng. Văn học cao hơn mọi cấp bậc. Không nên dồn văn học vào những sơ đồ mang tính khuôn mẫu đã đặt ra trong nhiều thập niên. Khi còn sống, có một lần Khơ-rut-sôv đã gọi các nhà văn là người có tài tưởng tượng và hư cấu. Thực ra, hoàn toàn không phải như vậy. Nhà văn là người thể hiện nỗi đau của thời đại. Lev Đa-vi-đô-vich Trôt-ski khi là Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga cũng đã quyết định chống lại những người theo chủ nghĩa vị lai trong văn học. Hồi đó một trong những người theo chủ nghĩa vị lai đã đến gặp vị Bộ trưởng này và nói: “Này đồng chí Lev Đa-vi-đô-vich, chúng tôi gồm 11 người theo chủ nghĩa vị lai đáng đói làm sao có thể địch nổi được không quân, bộ binh và pháo hạng nặng đang dưới quyền điều khiển của đồng chí. Đây là một cuộc chiến đấu rất không cân sức.” Nhưng rốt cục, những người theo chủ nghĩa vị lai đã chiến thắng. Trước đây cả tỉnh uỷ, cả huyện uỷ và cả chi bộ đều đặt ra trước các nhà văn những nhiệm vụ. Họ muốn dạy viết những câu thơ của Pas-tec-năc và Ê-xê-nhin. Trôt-xki chống lại những người theo chủ nghĩa vị lai, Bu-kha-rin chống lại Ê-xê-nhin, Khơ-rut-sôv chống lại những người đi tiên phong. Nhưng văn học không có và không thể có những lãnh tụ. Người ta thường gọi nhà văn là kĩ sư tâm hồn. Có thể đồng ý với định nghĩa này. Khi Khơ-rut-sôv đi Mĩ, ông ta đã quyết định đưa theo Sô-lô-khôv như một tấp danh thiếp của nền văn học Xô Viết. Còn khi Ai-sen-hao thăm đáp lễ Liên Xô cũng muốn đưa theo Hê-minh-uê. Nhưng nhà văn này từ chối lời đề nghị của ngài Tổng thống Mĩ. Ngay từ lúc đầu Hê-minh-uê đã nghĩ rằng đây chỉ là trò đùa. “Tôi đi tháp tùng Ai-sen-hao để làm gì? - Hê-minh-uê nói, - Tốt hơn là để người đứng đầu nước Mĩ đi tháp tùng tôi.” Hê-minh-uê mới đúng là một nhà văn đích thực. Còn những nhà văn bé nhỏ của chúng ta, rất buồn là, lại không biết là mình bé nhỏ. Vì thế, những đòi hỏi của họ lại lớn. Nói chung, không nên chỉ thị cho các nhà văn: Các anh phải viết nhiều về cái này hay phải viết ít về cái kia. Nếu như vậy, thì không thể có văn học. Vào những năm 30 của thế kỉ trước đã có một nhà thơ nổi tiếng của đoàn thanh niên Côm-xô-môn tên là A-lec-xăng-đrơ Bê-zư-men-xki. Từ đại hội nhà văn đầu tiên tiến hành năm 1934 ông bố tôi đã cùng với nhiều người khác mang cả ảnh chân dung nhà thơ này. Lúc đó chỉ một chút nữa là nhà thơ này đã là nhà kinh điển. Thế nhưng, nhà thơ đó đã không còn tồn tại trong nền văn học lớn. Các nhà thơ cần phải thuộc về của dân tộc. Sáng tác của họ cần phải thấm đẫm cài hồn quê hương. Qua những thi phẩm của Ê-xê-nhin mà có thể biết, tác giả xuất sứ từ đâu, ai là mẹ, là chị gái, là người vợ yêu quí của thi sĩ. Ê-xê-nhin không giấu giếm bạn đọc gì hết. Phơi bày toàn bộ thế giới nội tâm của mình trước bạn đọc. Chính là phải như thế. Nếu không như thế, thì tất cả chỉ là giả tạo. Chúng ta đều biết đến những câu chuyện tình của Pus-kin, của Mai-a-côv-xki. Những người thầy thuốc viết bệnh sử của con người, còn nhà văn viết bệnh sử của nhân loại. Các bạn hãy xem nền văn học Nga của thế kỉ 19: Pus-kin, Ler-môn-tôv, Đôx-tôi-ev-xki, Tôl-xtôi, những tác phẩm của họ đều viết lịch sử những căn bệnh của đất nước. Trong thời kì Xô Viết người ta đã ép buộc văn phải làm những điều vốn rất xa lạ với nó là huênh hoang, nói trạng, thậm chí là nói dỗi nữa. Vì thế, nền văn học của thế kỉ XIX có tầm cỡ hơn nhiều. Những vấn đề do nền văn học thế kỉ XIX đặt ra cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, mà tôi cho rằng nó mãi mãi mang tính thời sự. Nói chung văn học là một công việc nặng nhọc. Khoa học văn học đã chấp nhận việc phân kì văn học: văn học của thời kì chiến tranh giữ nước vĩ đại, văn học của thời kì xây dựng hoà bình và v.v... Nhưng theo tôi, điều này không đúng. Than ôi, chúng ta phải xác định các thời kì trong nền văn học của chúng ta bằng những ngày tháng buồn. Hiện thời ở phương Tây người ta viết như sau: Văn học Nga trước cái chết của Hu-mi-li-ôv, trước cái chết của E-xê-nhin, trước cái chết của Mai-a-côv-xki. Điều này đúng. Chính mỗi một nhà văn này là một thời đại. Không ai được phép đặt nhiệm vụ cho các nhà văn. Chính các nhà văn phải đặt nhiệm vụ ra cho toàn thế giới. Đã từng như vậy và sẽ vẫn như vậy. Thời đại Sênh-pia đã làm cho thế giới phải bối rối trước câu hỏi “Tồn tại hay không tồn tại?”. Làm gì? Ai có lỗi? Ngày mai đang chuẩn bị gì cho chúng ta? Số phận của những sự kiện dẫn chúng ta tới đâu? Ai ở nước Nga được sống hạnh phúc? Quốc hội nào, Chính phủ nào nếu ra những vấn đề bức xúc một cách chính xác và rộng lớn hơn trên phạm vi toàn thế giới? Đây, chính những câu hỏi này do văn học nêu ra. Còn những đề tài mang tính chất vĩnh cửu về chiến tranh và hoà bình, về tội ác và trừng phạt – không phải là theo đơn đặt hàng của bộ quốc phòng hay bộ ngoại giao. Tôl-xtôi và Đôx-tôi-ev-xki đã nêu lên những đề tài này. Than ôi, các thời đại đã bị biến đổi. Ngày nay người ta đang đi tìm những câu trả lời mới cho những câu hỏi muôn thuở. Trước đây chỉ phạm một tội nhỏ là bị chặt đầu, còn bây giờ phạm tội lớn đôi khi còn được thưởng. Trước đây cha nói với con: tao đẻ ra mày, tao có quyền bắt mày phải chết. Còn bây giờ thì ngược lại. Trước đây cả thế giới đều biết đến một lời nói thầm của nhà thơ, còn giờ đây chẳng ai thèm nghe gì dù người ta có hét trên đài hoặc trên màn ảnh tivi. Điều ghê sợ nhất là chúng ta đã mất bạn đọc, bạn nghe và bạn xem. Nhưng tôi tin rằng văn học đích thực sẽ không bao giờ bị chết. Bởi văn học hướng và khuyến thiện con người mà thiếu điều này thế giới trở nên vô nghĩa. Niềm hi vọng về những điều tốt đẹp mãi mãi bừng sáng và tồn tại. Mới đây tôi đã có cuộc gặp gỡ với anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa Na-ri-man A-li-ev, giám đốc nông trường trồng nho và được anh kể cho nghe một câu chuyện buồn của những người trồng nho Đa-ghe-xtăng. Trong thời kì chiến dịch cấm uống rượu của những năm 1980 họ đã bị ra lệnh phải chặt hết nho đi. Bây giờ lại phải đầu tư bạc triệu để phục hồi lại những vùng trồng nho mà trước đây đã bị phá trụi. Văn học cũng bị lâm vào tình trạng như vậy. Trước đây văn học là đứng ở hàng đầu trong đội ngũ trí thức. Đã có 7 nhà văn là đại biểu Xô Viết tối cao Liên Xô, còn bây giờ chẳng có một ai trong quốc hội Nga của chúng ta. Đã có một số năm dường như Nhà nước không để tâm tới văn học. Rất may, hiện nay đang hồi sinh sự quan tâm tới ngành nghiên cứu con người mà cái lõi của nó là lòng nhân ái. Hi vọng sẽ xuất hiện những tên tuổi mới và những tác phẩm mới. (Báo Văn nghệ) |
|
#9
|
|||
|
|||
|
Thêm một bài thơ của Расул Гамзатов, khá quen với người Việt song Nina không nhớ ai dịch
http://www.gamzatov.ru/vosmi/vosmi2.htm Сердце джигита – горящий костер. Девушка, будь осторожна: Можно огонь погасить, разорить, Искрой обжечься можно. Сердце джигита – острый кинжал. Девушка, будь осторожна: Можно кинжал уронить, затупить, Руку поранить можно Trái tim chàng trai như ngọn lửa Cô gái ơi nên nhớ điều này Có thể làm lửa tàn, lửa tắt Nhưng coi chừng cô bị cháy không hay Trái tim chàng trai như dao sắc Cô gái ơi nên nhớ điều này Có thể làm con dao cùn, dao rơi xuống đất Nhưng cũng xem chừng cô có thể đứt tay |
|
#10
|
|||
|
|||
|
Trích:
THI CA Có công việc làm, hẳn có lúc ngừng tay Có cuộc hành trình, phải có mươi phút nghỉ Thơ vừa là nghỉ ngơi, vừa là việc đầy lao lực Thơ vừa chỗ dừng chân, vừa là cuộc hành trình. Thơ như bài hát ru ngây ngất đầu giường thơ bé Như mơ ước mùa xuân, như khát vọng chiến công Tôi yêu thơ và thơ liền hiển hiện, Thơ đã sinh ra, tình yêu cũng đến cùng. Khi tôi nhỏ, thơ giống như bà mẹ Tôi lớn lên, thơ lại giống người yêu, Chăm sóc tuối già, thơ sẽ là con gái Lúc từ giã cõi đời; kỷ niệm hóa thơ lưu. Có lúc thơ như trái núi cao không thể tới, Có lúc thành cánh chim sà đậu xuống lòng tay. Thơ như đôi cánh nâng tôi bay Thơ là vũ khí trong trận đánh Là tất cả, thơ ơi, chỉ trừ không chịu là yên tĩnh! Tôi nguyện suốt đời trung thực sống cho thơ… Là công việc tận cùng? Là rãnh rỗi bắt đầu? Là cuộc hành trình ư? Hay chỉ là chỗ nghỉ? Tôi chỉ biết với tôi, thơ vẫn là hai vế: Rãnh rỗi và việc làm; chỗ nghỉ với hành trình… (Trích từ "Ðaghextan của tôi", quyển 1, NXB Cầu Vồng, Matxcơva, 1984, tr.149; Bằng Việt dịch) Cô bé và cơn mưa Cô bé đợi chờ cơn mưa Một ngày thứ năm và một người sẽ đến Người đó đến không ? Tôi chẳng biết Chỉ biết rằng cô bé cười vui để rồi khóc trong đêm Cô bé ngồi phía lan can Một quán cà phê nhỏ Tôi vẫn thường ngồi đó Nhìn cô bé cười để dấu đi những giọt nước mắt tuôn rơi Cô bé ơi, cô đừng khóc nhé Cứ cười đi để góc nhỏ vẫn đầy hoa Hãy dấu đi đừng cho ai biết nhé Cho dù người đó vẫn mãi xa ... Tình Yêu I Trên trái đất đường đi không kể xiết Ðường dài lâu, gian khổ cũng rất nhiều. Nhưng anh hiểu: khó và dài hơn hết Là con đường ta vẫn gọi tình yêu. ừ thì biết là đường tình không ngắn, Nhưng không ai thiếu nó sống yên lành. ừ thì biết là khó khăn vô tận, Nhưng lại đầy cám dỗ, cuốn lòng anh. Anh cứ nghĩ rằng anh, thật lạ, Chỉ trẻ khi đi trên vĩnh cửu đường này. Anh từng vấp, đã, đang và sẽ ngã, Nhưng ngã rồi lại dậy, bước đi ngay. Và anh chắc không bao giờ lạc lối, Vì phía trước là em, là tay em vẫy gọi. II Có thể nói tình yêu là trường học, Nơi không phải ai muốn học, cứ vào, Nơi thầy giáo là nụ cười, tiếng khóc, Bắt học trò làm việc khắt khe sao ! Tôi đã học nhiều sách hay và hiếm, Học càng lâu, càng thấy rõ một điều: Khó có thể thành công nhờ kinh nghiệm. Của những người thất bại với tình yêu. Tôi cố học nhưng không vào, trầy trật, Thường rất đau, thi trượt, nợ bài, Thường phạm những sai lầm nghiêm trọng nhất, Lý luận, thực hành không sắc sảo, thường sai... Thành ra tôi hầu như không tiến bộ Dù đã học suốt đời trong nhà trường đó. |
|
#11
|
|||
|
|||
|
Còn bài này của Rasul Gamzatov, cũng vui lắm, conghedoinghieng có bản dịch tiếng Việt không, hình như chương 7 của cuốn "Ðaghextan của tôi", Nina không nhớ chính xác, chỉ nhớ là tiếng Việt dịch thành 8 câu, hình như là dịch giả dịch 4 câu cuối như thế này
Anh đòi bản thảo, họ không chịu trả, Họ giữ làm gì, thơ chỉ để riêng em Đồng chí biên tập mỉm cười hóm hỉnh - Mình sẽ đem về cho vợ mình xem Bản tiếng Nga thì như thế này (http://gamzatov.ru/book/mydag7.htm) В журнале о тебе стихов не приняли опять, Сказал редактор, что народ не станет их читать. Но, между прочим, тех стихов не возвратили мне, Сказал редактор, что возьмет их почитать жене. Nội dung thì đại khái là Rasul Gamzatov đem thơ tình viết về vợ đến một tạp chí, nhưng không được nhận vì biên tập nói là nhân dân không cần "thơ chỉ để riêng em". Đoạn sau thì như trên, mà chắc là Bằng Việt dịch quá. |
|
#12
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
|
#13
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
|
#14
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
|
#15
|
||||
|
||||
|
Trích:
<table><tr><td valign="top"><font color="scarlet"> Моя любовь — чинара — два ствола, Один зачах, другой покрыт листвою. Моя любовь — орлица — два крыла, Одно взлетает, падает другое. Болят две раны у меня в груди. В крови одна, рубцуется другая. И так всегда: то радость впереди, То вновь печаль спешит, ее сменяя. Расул Гамзатов </td><td valign="top"> Tình yêu tôi - một cây hoa - hai nhánh Một nhánh héo khô, một nhánh đâm chồi Tình yêu tôi -chim đại bàng-hai cánh Một cánh bay lên, một cánh rơi Hai vết thương đau đớn trong tim tôi Một đã liền da, một còn rỉ máu Và cứ thế, trong suốt cả cuộc đời Buồn và vui vội vã nối đuôi nhau </td></tr></table> Thay đổi nội dung bởi: butgai, 12-06-2008 thời gian gửi bài 18:23 |
|
#16
|
|||
|
|||
|
Hình như bài này các bạc chưa đăng
http://sacmauvanhoa.vdcmedia.com/van...sp?PostID=2793 Đàn sếu Tôi cảm thấy đôi khi, người lính Tử thương rồi không nằm lại đồng xa Không yên nghỉ như xưa trong đất Tự hoá thành đàn sếu trắng bay đi. Từ buổi ấy và đến ngàn sau nữa Đàn sếu bay cất giọng gọi chúng ta Có phải vì nỗi buồn mùa ly biệt Ta ngẩng nhìn lặng ngắm sếu bay qua. Bay bay mãi đến cuối ngày mệt lả Trong sương chiều bảng lảng ánh hoàng hôn Giữa đàn sếu bỗng lộ ra khoảng nhỏ Có thể là một chỗ đợi tôi chăng! Ban mai đến và tôi cùng đàn sếu Cất cánh bay trong sương khói xám nhoà Từ trên cao vừa bay vừa cất tiếng Gọi mọi người dưới mặt đất bao la. Tôi cảm thấy đôi khi, người lính Tử thương rồi không nằm lại đồng xa Không yên nghỉ như xưa trong đất Tự hoá thành đàn sếu trắng bay đi. Đoàn Tuấn dịch (Phụ bản Thơ – Báo Văn nghệ) http://www.litera.ru/stixiya/authors...ya-poroyu.html Расул Гамзатов ЖУРАВЛИ Мне кажется порою, что солдаты, С кровавых не пришедшие полей, Не в землю эту полегли когда-то, А превратились в белых журавлей. Они до сей поры с времен тех дальних Летят и подают нам голоса. Не потому ль так часто и печально Мы замолкаем, глядя в небеса? Сегодня, предвечернею порою, Я вижу, как в тумане журавли Летят своим определенным строем, Как по полям людьми они брели. Они летят, свершают путь свой длинный И выкликают чьи-то имена. Не потому ли с кличем журавлиным От века речь аварская сходна? Летит, летит по небу клин усталый - Летит в тумане на исходе дня, И в том строю есть промежуток малый - Быть может, это место для меня! Настанет день, и с журавлиной стаей Я поплыву в такой же сизой мгле, Из-под небес по-птичьи окликая Всех вас, кого оставил на земле. |
|
#17
|
|||
|
|||
|
Raxul Gamzatov
Tình yêu với tôi Tình yêu với tôi như cây đàn Tình yêu là dây; tôi là hộp gỗ Tôi không biết vui mừng, đau khổ Khi dây đàn không rung. Tình yêu với tôi như con dao: Tôi - vỏ đựng; tình yêu - lưỡi thép. Thiếu tình yêu, chẳng bao giờ tôi đẹp. Không ai cần đến tôi. Thái Bá Tân dịch Không đề Nếu em muốn anh thắp sao em ngắm Anh sẽ xua cơn gió lạnh ngoài đồng Sẽ đốt lửa chờ em về sưởi ấm Che bốn bề em đỡ rét mùa đông Và hai ta ngồi trong đêm thanh vắng Xích lại gần nhau, không lý sự, hiền lành Cái buồn khổ trên vai em mang nặng Anh sẵn sàng cho hết cả sang anh Anh sẽ cúi bên giường em lặng lẽ Và để em không thức giấc, che đèn Anh sẽ hát những lời ru của mẹ Ngăn mọi điều bất hạnh đến với em Và lúc ấy em sẽ tin trên trái đất Toàn người tốt, không có buồn, nước mắt. (Thái Bá Tân dịch) |
|
#18
|
|||
|
|||
|
Khi em chào đời anh đã lớn,
Đã thuộc từng vườn cây trong bản Và bắt đầu cắp sách tới trường. Nhà anh ở kề cạnh nhà em Nên đôi lúc mẹ em bận việc Lại gọi anh nhờ anh trông em giúp Thưởng công anh mẹ em tặng anh quà. Nhưng mà anh còn nhớ đến tận giờ Ngồi bên nôi trông em, thú thực, Anh chán ngán tưởng là chết được… Rồi tháng năm vùn vụt trôi qua Anh lại về thân thiết bản xưa! Ôi mái tóc ai dài tết bím! Hai đứa mình giờ đều khôn lớn. Như ngày xưa anh lại đợi chờ Có thể mẹ em lại sẽ ghé qua: Để nhờ anh sang trông em giúp! Giờ thì tự anh mong sao mình được Đem quà sang biếu lại mẹ em… Anh đợi chờ, cửa sẵn mở toang… Ô, anh hẳn sẽ làm tròn phận sự Khác ngày xưa trông em bên đó… ***** Anh với em trong cái vòng luẩn quẩn Ta cùng quay tròn kẻ chậm người nhanh. Em là cái kim chỉ giờ nhỏ nhắn, Chiếc kim dài chỉ phút là anh. Ta bươn trải con đường dài thường nhật Suốt bao ngày, bao tháng, bao năm Anh hối hả lúc vượt em lên trước, Rồi lại long tong cố đuổi theo em! Con đường dài mà cũng không dài lắm, Hết một vòng lại tiếp đến một vòng. Những cuộc gặp nhau chỉ trong giây thoáng, Rồi lại chia tay đằng đẵng khôn cùng. Ta đã sống ngay từ đầu như vậy, Biết rõ ràng cái chức phận của mình; Vốn thư thái - tính em đó mãi, Cứ hối hả vội vàng - bản tính anh. Thời gian đè xuống vai ta trĩu nặng, Nhưng đường dài ta đều đặn đưa chân, Hồi tưởng lại chuyện đã vào dĩ vãng Và đợi chờ gặp nhau lại trên đường. (Văn nghệ trẻ số 45) (Không biết ai dịch ???) Trích:
|
|
#19
|
||||
|
||||
|
Anh chị em ơi,các pác ơi ới ời
Hôm nọ trong topic nhạc Nga tôi mới viết vài dòng về Valêry Lêônchép,tự nhiên lại nhớ đến bài rất nổi của gã:ИСЧЕЗЛИ СОЛНЕЧНЫЕ ДНИ,thơ của cụ Gamzatov nhà ta,nhạc của Raimond Paul. Hình như chưa có ai dịch bài này ra tiếng Việt thì phải?Hay là có rồi mà tớ chẳng hay? Tôi có lời đề nghị thé này: bác nào có bản dịch thì cho xin.Nếu không,bác nào đó(hoặc rất nhiều bác nào đó) xung phong dịch giúp bài thơ này,ta mở một công -cua dịch thơ nho nhỏ trên này xem sao,forum ta cũng nhiều anh hào lắm chứ bộ. Ý tưởng thi dịch thơ là tôi "chôm" cuă NINA trên này đấy,xin nói rõ để bà con hay. Kính gửi các mod duyệt nhé. Расул Гамзатов ИСЧЕЗЛИ СОЛНЕЧНЫЕ ДНИ Исчезли солнечные дни, И птицы улетели, И вот одни проводим мы Неделю за неделей. Вдвоём с тобой, вдвоём с тобой Остались ты да я. Любимая, любимая, Бесценная моя! Вдвоём с тобой, вдвоём с тобой Остались ты да я. Любимая, любимая, Бесценная моя! На косы вновь твои смотрю, Не налюбуюсь за день. Птиц улетевших белый пух Пристал к отдельным прядям. Пусть у меня на волосах Лежит, не тая, снег... Но ты, моя бесценная, Как прежде, лучше всех. Пусть у меня на волосах Лежит, не тая, снег... Но ты, моя бесценная, Как прежде, лучше всех. Все краски вешние неся, Вернутся снова птицы, Но цвет волос, но цвет волос С весной не возвратится. И солнцу улыбнёмся мы, Печали не тая. Любимая, любимая, Бесценная моя! И солнцу улыбнёмся мы, Печали не тая. Любимая, любимая, Бесценная моя!
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#20
|
|||
|
|||
|
Cũng một bài báo cũ, khi Raxul Gamzatốp còn sống ...
Raxul Gamzatốp và “Hiến pháp” của riêng ông http://www.hrono.ru/img/portrety/gamzatov_r.jpg ![]() Bạn đến Mkhatrcala hỏi bất cứ người dân nào họ đều chỉ cho bạn ngôi nhà của nhà thơ nổi tiếng Raxul Gamzatốp ở đâu. Ngôi nhà hai tầng xinh xắn ấm cúng này từ lâu đã trở thành một thắng cảnh nổi tiếng của thành phố. Nó thân thuộc với mỗi người dân đến mức khi nói tới các vị trí khác trong thành phố họ vẫn quen miệng nói: “… phố ấy, phố nọ… đi qua nhà Raxul…” hoặc “chỗ này cách nhà Raxul một trăm mét”. Ngôi nhà của nhà thơ giống như một bảo tàng sống mang tên ông. Ngày nay nền thi ca Xôviết đã đi vào lịch sử, những khách đến tham quan phải đăng ký trước một tuần lễ. Chủ nhà đón khách niềm nở, thân mật theo kiểu phương Đông. Ông tiếp chuyện cởi mở, chân thành. Nhưng thật tiếc, tiếc đến se lòng Raxul Gamzatốp của chúng ta không còn được khoẻ. May thay trí tuệ ông vẫn minh mẫn như xưa, nhà thơ vốn có biệt tài ứng đáp nhanh, dí dỏm, hài hước. Ông nói: “…ý nghĩ thì vẫn chạy, còn mắt và tay thì lần chần”. - Các sĩ quan biên phòng vừa rời khỏi đây, - chủ nhà vừa nói vừa bước từng bước khó nhọc trên chiếc cầu thang dẫn lên phòng làm việc của ông. – Họ đã kể cho tôi nghe về những chiến công hiển hách trong việc bảo vệ cuộc sống bình yên của vùng rừng núi này. Chúng tôi ngồi nói chuyện thoải mái bên chiếc lò sưởi. Cạnh đó là chiếc bàn ăn với những thức ăn, đồ uống còn lại mà nhà thơ vừa tiếp đãi khách biên phòng. - Nay ra lệnh hồi phục lại nền “kinh tế” đã bị thâm hụt, - nhà thơ ra lệnh một cách hài hước cho cô con gái khi Xalikhát đang bước vào phòng để giúp bố tiếp khách. Trong khi cô con gái tiến hành “quá trình hồi phục” bàn ăn thì Raxul Gamzatốp đưa mắt nhìn buồn rầu sang phía góc tường trên lò sưởi rồi nói: - ở đây vốn vẫn treo một bộ sưu tập độc nhất vô nhị những loại dao găm cổ. Giữa ban ngày ban mặt tên trộm đã lẻn vào nhà không lấy gì hết, ngoài số dao găm này. Tôi khẩn khoản đề nghị công an thành phố thôi không truy tìm lại báu vật nữa. Có lẽ một người nào đó trước đây đã có mặt trong căn nhà này lấy trộm! Nghĩa là người đó đã cùng chia xẻ “bánh mì - muối” với tôi rồi đó. Đã thế thì thôi không còn thiết biết người đó là ai mà lại hèn hạ thế. Nếu bán bộ sưu tập đi, người đó sẽ giàu có. Thôi, hãy để hắn ta được sung sướng bởi sự giàu có này. - Thưa Raxul Gamzatốp, vậy là kẻ đó đã cùng lúc vi phạm nhiều điều trong “Những lời thề nguyện của một người dân vùng núi” do ông soạn ra phải không ạ? - Đúng, kẻ đó đã vi phạm thô bạo toàn bộ “Những lời thề nguyện – “Hiến pháp” gồm bảy điều của tôi rồi đó. Nhân đây xin nói thêm là điều một trong “Hiến pháp” nói rằng “là dao găm thì phải sắc bén, là đàn ông thì phải dũng cảm”. Trong đó còn có các điều về tình bạn, về lòng mến khách. Theo cách hiểu của người dân vùng núi chúng tôi thì kẻ đó là một người sống ngoài vòng pháp luật. - Luật pháp ngày nay soạn ra không thể áp đặt cho tất cả mọi người. Phải chăng do sự tự tôn, do lòng yêu thương quê hương bản quán quá mạnh mẽ? Ví như Đagextan của ta chẳng hạn, vốn là một nước cộng hoà tự trị trong Liên Xô trước đây, nơi có nhiều tôn giáo bắt rễ rất mạnh mẽ, trong những năm gần đây lại ủng hộ những người cộng sản… - Theo tôi thì điều đó rõ như ban ngày. Thời Xôviết luật pháp, an ninh, trật tự được mọi người dân thực hiện răm rắp, xã hội không có người nghèo đói, không có người mù chữ. Giờ thì số người nghèo đó, mù chữ xuất hiện rất nhiều. Trước kia luật pháp nghiêm minh, giờ thì hoàn toàn buông lỏng. Có những điều trước kia ai cũng cho là đê mạt, hèn hạ giờ bỗng thành hiển hách lẫy lừng. Trong chúng ta xuất hiện nỗi sợ hãi âm ỉ, kéo dài trước thực trạng hiện nay và tương lai. - Ngày nay khi mà cuộc chiến ở Tresnhia kề bên nước cộng hoà tự trị đa sắc tộc đagextan vẫn đang tiếp diễn, người ta có còn lắng nghe ý kiến của ông không? - Có những lúc tôi giận trào nước mắt bởi người ta bóp méo những lời của tôi. Thí dụ trên một kênh truyền hình có uy tín người ta nói rằng, Gamzatốp gọi Samil Baxaep là kẻ hèn nhát. Không, tôi nói nó là kẻ tội phạm. Hèn nhát là từ quá xúc phạm đến người vùng núi. Mà xúc phạm đến nhân phẩm con người là điều cấm kỵ trong “Hiến pháp” của tôi. - Về cuộc chiến ở Tresnhia nhà thơ là người phát biểu khá quyết liệt? - Làm sao có thể im lặng được trước những hành động điên rồ mất trí khôn ấy. Tôi chưa hề biết một cuộc chiến nào ngu ngốc hơn cuộc chiến của những phần tử ly khai Tresnhia. Những kẻ chỉ huy đầu sỏ Tresnhia thề nguyền bảo vệ độc lập của xứ sở mình. Thử hỏi, vậy thì họ không muốn phụ thuộc vào ai? Vào chính những người già cả và trẻ em vẫn đang bị họ giết hại? Cái độc lập ấy chẳng để làm gì cả. Mười năm về trước tôi đã nói những điều đại loại như thế với Đuđaep khi hắn ta dẫn đầu một đoàn đại biểu đến chúc mừng tôi 70 tuổi. Hắn đã giận tôi về những nhận xét ấy. Đuđaep một mực cho rằng người dân Tresnhia đã có một sự lựa chọn tự giác, đúng đắn. Hoá ra đó là sự tự giác bước vào vực thẳm. - Thưa ông, điều gì đem lại hoà bình? - Tình yêu. Buổi sớm khi thức dậy, tôi nhìn thấy tia nắng mặt trời, thế là tôi hy vọng rằng chính nguồn sáng ấy sẽ chữa lành bệnh cho trái đất. Trái đất giống như người phụ nữ muốn làm mẹ, nhưng trời không cho họ sinh con. Khát vọng này chỉ có tình yêu mới đem lại được. - Thưa Raxul Gamzatốp, trên bàn làm việc của nhà thơ bừa bộn những bản thảo sáng tác. Vậy là hàng ngày ông vẫn làm việc? - Không được làm thơ là một hình phạt nặng nề nhất đối với tôi. Vì thế Thượng đế còn cho tôi giờ nào thì tôi tận dụng giờ ấy để viết ra những dòng thơ mới. Tôi vừa hoàn thành bản trường ca Thời gian và những con đường, viết về đời người. Hay có thể nói đó là những suy ngẫm về những năm tháng đã qua. - Thưa nhà thơ, trong đó niềm vui nhiều hơn hay nỗi buồn nhiều hơn? - Có lẽ bằng nhau. Bạn bè luôn gọi tôi là người thích đùa. Tôi luôn tìm cách gây vui vẻ cho người khác, ngay cả khi trong lòng đang buồn như trấu cắn. Chính vì lẽ đó mà bức chân dung biếm hoạ do hoạ sĩ Kucrưnhik vẽ tặng tôi thích nhất. - Thưa Raxul Gamzatốp, người ta nói rằng nhà thơ thường thích đùa ở cấp “thượng đẳng”. - Tôi đã có dịp kể chuyện tiếu lâm cho Khơrutsốp, Brêgiênhép, Goocbachôp và Elsin nghe. Những năm tháng ấy đôi khi chỉ bằng một câu chuyện đùa ý nhị, đúng chỗ có thể làm dịu đi hẳn những vấn đề căng thẳng, gai góc. Tôi còn nhớ một câu chuyện vui sau. Vào ngày bỏ phiếu, một nhà văn nổi tiếng nọ không có mặt tại khu vực bầu cử. Không hiểu sao tin này đến tai một vị lãnh đạo cấp cao. Vị này ra lệnh khai trừ “phần tử tự do chủ nghĩa” này ra khỏi đảng. Nhà văn nọ hốt quá tìm tôi hỏi ý kiến. Tôi nói, cậu hãy đăng ký xin gặp trực tiếp cấp trên đi. Cậu hãy trình bày rằng, ngày bầu cử, là ngày hội lớn của toàn dân nên ngay từ sáng sớm cậu đã bắt đầu đón chào… và không ngờ hơi bị quá… chén. Nhà văn nghe lời tôi khuyên và được vị lãnh đạo tiếp. Nghe xong lời tường trình của nhà văn, vị lãnh đạo đã hơi xiêu lòng. Ông nói, thôi được thế thì hạ xuống mức cảnh cáo. Nhà văn chuẩn bị cáo từ ra về thì vị lãnh đạo nghĩ thế nào lại hỏi thêm, thế uống rượu gì? – Thưa, rượu cônhắc. - Được, còn đồ nhắm? – Dạ, cá hộp ạ. Nghe đến đây vị lãnh đạo nói dằn giọng: “Vậy thì vẫn phải khai trừ ra khỏi đảng! Vì tội uống rượu với đồ hộp. Cônhắc là phải uống với chanh”. Câu chuyện thứ hai xảy ra ở Hội Nhà văn Đagextan. Hồi ấy đứng trước thực trạng các nhà văn trong Hội bị chia rẽ thành hai phe, tôi phát biểu vui thế này: “… hơn một trăm hội viên mà chia thành hai phe thì có gì đáng ngại. ở Hội Nhạc sĩ có sáu hội viên mà chia thành sáu phe cơ mà!” Tiếng vang của lời phát biểu đó bay đến tận Matxcơva. Một nhà văn đã gửi bức điện cho Chủ tịch Chủ tịch Đoàn Xôviết Tối cao Pôtgoocnưi đòi kỷ luật Raxul Gamzatốp. Khi tôi lên Matxcơva dự kỳ họp thường kỳ Chủ tịch đoàn (khi ấy tôi là uỷ viên Chủ tịch đoàn) Nhicolai Vichtorovich Pôtgoocnưi mời tôi vào phòng làm việc, đưa cho xem bức điện. Tôi bắt đầu thanh minh. Bỗng Pôtgoocnưi nhíu lông mày căng thẳng hỏi: - Này Raxul, ông có biết tại sao người ta không viết đơn, gửi điện đòi kỷ luật tôi không? Ông trả lời tôi đi! Tôi bối rối không biết nói gì. - Bởi tôi “kiêng khem” chặt chẽ lắm. Nếu không, làm sao ngồi vững sau chiếc bàn này. Thôi, nghe tôi khuyên nhé: - Khi nào còn sức khoẻ thì hãy sống cho vui vẻ, thoải mái. Thế nhé! - Thưa Raxul Gamzatốp, từ đỉnh cao của những năm tháng trải qua nay nhìn lại ông có điều gì hối tiếc? - Tôi không thể quên được sự kiện sau: năm tôi hơn hai mươi tuổi tôi đã đồng ý lên Matxcơva tham dự cuộc mít tinh lên án bọn “theo chủ nghĩa thế giới” Akhmatôva và Zosenko. Tôi bước lên diễn đàn tới tấp tung ra những lời phê phán. Về đến nhà bố tôi hỏi, thế con đã đọc những tác phẩm của họ chưa? Tôi thực thà thú nhận với bố tôi rằng chưa đọc. “Thế mà con dám phê phán là thế nào?” – Bố tôi nói như đinh đóng cột. Bố tôi là người thầy của tôi, không chỉ trong thơ ca mà cả trong đời thường. Những dòng thơ của người hướng ta tới thiện tâm, chính nghĩa. Tôi muốn đi theo con đường đó. Tôi vô cùng tự hào khi được nhận giải thưởng Stalin sau bố tôi một năm. Năm 1951 bố tôi nhận giải, còn tôi thì năm 1952. Từ đó đến nay tôi vẫn tiếp bước theo con đường đó. Nguyễn Chí ĐượcTheo báo Lao động Nga |
![]() |
| Bookmarks |
|
|