|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
||||
|
||||
|
Hungmgmi đã đọc khá nhiều những bài viết của Thụy Anh trên mạng, trên báo Tiền Phong...Cô từng sống ở Nga, viết truyện ngắn, tản văn, dịch truyện ngắn, dịch thơ.... Tình cờ đọc được truyện ngắn Tuyết ấm của Thụy Anh trên báo Phụ Nữ Thủ Đô số Tết, hỏi qua một nhà thơ thì có được số điện thoại của cô. Gọi điện, và nhờ Thụy Anh gửi bản đánh máy qua mail để giới thiệu với các bạn bè trên NNN. Hungmgmi mở trang này, để thi thoảng giới thiệu các bài viết (nếu như tác giả có gửi cho) của một cây bút trẻ và sung sức có nhiều duyên nợ với nước Nga.
Xin mở đầu bằng truyện ngắn Tuyết ấm Tuyết ấm Truyện ngắn của Thụy Anh(từ Liên bang Nga) Hai tay xách đống quần áo rét và túi thực phẩm, Mai lảo đảo bước ra khỏi taxi. Đi ngang qua một cái cổng vòm, phía dưới có biển đề rất to: “Phòng đăng ký kết hôn”, nơi một đôi cô dâu chú rể đang co ro trong tiết Đông, tay trong tay đợi đến lượt mình, bước thêm vài bước lên một bậc thang cao gập ghềnh dẫn vào một cánh cửa sắt nhỏ sơn xanh đã rỉ, một khung cửa xấu xí và bình thường hơn tất cả các khung cửa bình thường khác trong thành phố này, cô đến được nơi cần đến: Trại tù Butyrka, Sizo* số 2! Mới có 3 giờ chiều, trời đã tối sầm. Tuyết ướt bám vào giày lạo xạo, hơi ẩm xông lên đến tận đầu. Đầu nhức buốt. Giá mà trời rét đến âm mấy chục độ thì còn dễ chịu. Đằng này, mùa Đông mà nhiệt độ cứ trên số O. Tuyết không rơi nổi, những tảng băng nhuốm màu cũ kỹ, xám bẩn, tan ra, để lại cảm giác lạnh lẽo bao phủ khắp không gian, dường như thế giới đang tan chảy ra không có gì níu giữ lại nổi. Thế giới của riêng Mai cũng vậy, đã tan ra từ lâu, từ khi Hoàng bị bắt. Nghĩ đến anh, Mai thấy mắt khô khốc. Giá như cách đây nửa năm thì người ta sẽ thấy cô khóc. Nước mắt làm mắt mờ đi, thậm chí, hai mắt kính của cô cũng có hơi nước. Đợt ấy, cô nghe tin Hoàng bị bắt, không cảm thấy ngạc nhiên, chỉ thấy nỗi sợ hãi xâm chiếm cả người, đến từng tế bào, khiến cố gắng bao nhiêu cũng không giữ nổi cho tay chân đừng run rẩy. Cô cứ ngồi và run như thế cả đêm, cố gắng nghĩ đến các mối quan hệ ít ỏi mà trong những năm tháng du học ở Nga cô đã xây dựng được, xem có ai, có nơi nào giúp được mình không? Cuối cùng thì cô nức lên, gào to thảm thiết: “Mẹ ơi!... Mẹ ơi…!”. Lạ thật, tại sao cô không gọi ai khác, mà lại gọi mẹ, người đã phản đối rất quyết liệt mối tình của cô và Hoàng. Hoàng sang Nga du lịch. Du lịch mà chẳng đi thăm thú đâu cả, thậm chí, Hồng Trường anh cũng chưa từng đặt chân tới. “Du lịch” – thuật ngữ này đối với những người ở Nga có nghĩa là dân làm ăn, buôn bán chứ không phải đi học. Thì sao chứ? Cô yêu anh, vì anh cao lớn, đẹp trai, hiền lành. Anh lại chịu khó nữa. Ngược xuôi làm đủ thứ nghề: buôn mì, giao hàng thuê, chạy taxi cho bà con đi chợ, cuối cùng, anh cũng gây dựng được một “công” bán quần bò ở Salut 3, rồi sau đó, vươn cả ra chợ Vòm. Tại sao em lại yêu anh nhỉ? Anh cứ hay hỏi, như chẳng bao giờ hết ngạc nhiên, khi cô đến ngồi bên anh, áp má vào vai anh, lúc anh đang…đếm tiền! Nhưng lúc như thế, anh thường vứt toẹt tập tiền xuống thảm, quay lại, vòng tay ôm cô, âu yếm thì thầm vào tai: “Tại sao em lại yêu anh?” Vì anh nhiều tiền! Cô cười, tay nghịch đống dây chun xanh đỏ anh vẫn dùng để buộc tiền, tung ra cho chúng rối hết cả lên rồi tỉ mẩn ngồi tết thành búi như hồi còn nhỏ thường tết những con rết bằng dây chun chiến lợi phẩm trong trò chơi bắn chun ấy. Cô không biết đếm tiền nên chẳng giúp anh được gì trong việc buôn bán cả. Hồi đầu, khi anh nhờ cô xếp tiền hàng, cô loay hoay đến khốn khổ mà không xếp nổi cho đúng đầu đúng đuôi. Chẳng hiểu sao, cứ động vào đống tiền ấy là cô có cảm giác chóng mặt. Thế nhưng họ vẫn yêu nhau. Cho dù bạn bè anh không hài lòng về sự vụng về, đoảng vị của cô. Cho dù mẹ cô đã viết rất nhiều thư sang khuyên cô nghĩ lại. Cả mẹ cô, cả bạn bè anh đều nghĩ xa xôi về sự khác biệt giữa hai thế giới của hai người. Còn hai người thì vẫn cứ yêu nhau. Họ cũng từng nghĩ đến sự khác biệt ấy, và càng nghĩ, càng thấy yêu nhau hơn. Cho đến khi anh bị bắt. Anh dính dáng đến một vụ đòi nợ lớn, một trận ẩu đả và hình như có cả chuyện ngộ sát! Cô biết trước điều đó thể nào cũng xảy ra, vì trên thực tế, anh đã bị người ta lừa. Vốn liếng anh gom định đi Tàu một chuyến đã bị mất sạch. Cô đã khuyên anh chịu đựng như chịu đựng một điều rủi ro trong làm ăn mà chung quanh gần như ai cũng trải qua một đôi lần. Nhưng anh không nghe. Anh không làm gì sai cả, anh chỉ muốn đòi lại những gì thuộc về mình. Đã chẳng đòi được thì chớ, anh lại còn làm mất tất cả những gì mà cô cho rằng thuộc về cô: đó là anh! *** Hoàng mân mê chiếc áo khoác cũ, trong lần vải lót có thêu chữ Hoàng màu đỏ. Nét thêu vụng của Mai. Anh mỉm cười, tưởng tượng ra gương mặt chăm chú của cô khi làm việc này. Cô bỏ cả kính ra, mắt dí sát vào tấm áo, chắc hẳn thế. Cô có thói quen kỳ lạ là khi muốn nhìn kỹ một cái gì, cô lại hay tháo kính!!! Cô bảo: “Đeo kính nhìn rõ hơn, nhưng bỏ kính thì tin vào… mắt mình hơn!” Đến buồn cười vì những triết lý ngộ nghĩnh ấy mà cô thường phát biểu với vẻ khoái chí ra mặt! Đôi mắt cận của cô lúc nào cũng như long lanh một thứ ánh sáng ấm áp, cặp kính thường làm ánh sáng ấy rực lên hơn, khiến mỗi lần nhìn cô, anh lại thấy nhẹ nhõm trong lòng. Anh biết ơn cô vì cô chẳng kỳ vọng gì vào anh cả. Cô không nài anh phải cùng đọc sách với cô hay cùng đi xem bảo tàng tranh với hội lớp cô. Không hẳn là anh không thích. Anh chỉ mặc cảm thôi. Anh sợ anh sẽ ngợp trong thế giới của những bức tranh khó hiểu hoặc sẽ im lặng ngớ ngẩn sau khi gấp lại cuốn sách mà cô yêu thích. Anh chỉ có thể nghĩ mà không biết diễn tả suy nghĩ của mình, không biết nói những lời đẹp. Thậm chí, 4 năm làm việc trên đất Nga, anh vẫn không nói được tiếng Nga cho ra hồn ngoài những con số và một vài câu thô tục. Trong sâu thẳm, Hoàng biết, anh không nên yêu Mai. Cô không phải là người anh cần. Anh cần một người đàn bà biết vun vén gia đình, biết chung lưng cùng anh buôn bán, chí ít, thì cũng biết đếm tiền và ghi sổ hàng “xu-khôi”*. Cũng như, cô chẳng nên yêu anh, vì cô cần phải có bên mình một người đàn ông tinh tế, hiểu cô, cùng cô bàn chuyện văn học, cùng phân tích cái đẹp của thơ ca hay những vấn đề lớn lao của lịch sử. (Mai học năm cuối khoa Sử, trường Tổng hợp Lomonosov). Một dạo, từ trong nước có đoàn lưu học sinh sang làm nghiên cứu sinh ở trường cô. Trong đó một anh chàng rất mến Mai. Và cô cũng mến anh này. Cô hay kể về “anh Nam” và cái tần số “anh Nam, anh Nam” bỗng nhiên cứ tăng dần trong các câu chuyện khiến Hoàng nổi cơn ghen. Anh chẳng nói gì, cứ lì lì im lặng. Mai cười, dụi đầu vào ngực anh, nói: “Anh ngốc lắm, em yêu anh vì anh giàu cơ mà! Chẳng ai giàu bằng anh!” Đó là cái kiểu đùa nghịch của cô, và là cách an ủi của cô đối với anh, với những mặc cảm thường có trong lòng anh. Mọi hôm thì anh cười xòa, giằng cặp kính ra khỏi gương mặt xinh xắn của cô, và gắn môi mình vào môi cô thật lâu, nồng nàn. Nhưng lần đó, anh càng cau có hơn. Chưa bao giờ anh cảm thấy tiền bạc vô nghĩa như lúc ấy! Bây giờ thì anh ngồi đây, bỏ lại cô với cả cuộc sống đang trôi chảy ngoài kia. Cô sẽ đi đến trường với vẻ ngơ ngác (cái này thì anh hình dung ra rất rõ), mắt sẽ nhìn thẳng mà không thấy ai hết cả. Cô sẽ ngồi ở Thư viện cho đến tối mịt mới về. Rồi vội vã ăn mấy lát bánh mì trứng cá – là món cô ưa thích, uống cốc trà và lên giường thao thức. Anh biết rõ cô thao thức vì đêm nào tim anh cũng nhức nhối, nhao qua nhao lại trong lồng ngực, dù đã 6 tháng trôi qua. Cô hay bảo anh, nếu khi nào anh thấy nôn nao trong người, và tim anh nhao đi một cái, là lúc đó, em đang nhớ đến anh. “Thế nếu khi ấy em đang ngồi cạnh anh thì sao? “Ngồi cạnh thì vẫn nhớ chứ, anh không biết à?” Anh ân hận vô cùng. Lang bạt xứ người, lại còn rơi vào vòng tù tội. Khổ không chỉ mình mình, làm khổ cả cô gái mến thương của anh! Căn phòng của anh giờ chỉ có hai người. Hình như, điều này cũng là do cố gắng của Mai ở bên ngoài. Anh lờ mờ cảm thấy thế, vì hồi đầu, anh bị giam chung trong một gian lớn, có tới … 60 tù nhân! Những dãy giường sắt lạnh kê song song. Những bức tường láng bóng sơn màu vàng nhạt chứ không có lớp giấy bồi, buổi tối, hắt bóng của mấy chục người lố nhố khiến người tù tưởng như đang lạc vào cõi âm ty, bóng thì nhiều mà âm thanh thì không có mấy. Những kẻ vào đây trở nên rất ít nói, kể cả những người trên gương mặt có nhiều nét cởi mở, hồn hậu. Bọn trẻ thì không nói, chỉ chửi thề, mở mồm là chửi. Anh nghe mãi rồi cũng thấy quen, thậm chí, còn đôi chút dễ chịu nữa. Thế chẳng hơn là màn im lặng quái dị, chỉ có tiếng thở phì phò, tiếng lê bước nặng nề của những tấm thân rệu rã vì tinh thần chán ngán sao? Cùng bị bắt với anh, người vì thương anh mà trở thành tòng phạm là Bình. Bình bé nhỏ nhưng dai sức và nhanh nhẹn. Trong cuộc ẩu đả, cậu ta chính ra đã giành phần thắng. Hăng quá và tỏ ra dữ tợn quá với con dao bài vớ được trong bếp, Bình đã khiến hai người gây ra vụ ngộ sát: một thằng trong hội đã lừa tiền anh nhảy qua cửa sổ vì bị Bình đuổi sát ván. Và nó chết. Lãng xẹt và vô duyên. Còn anh và Bình thì sẽ nhận án tù. Cũng vô duyên không kém. Cuộc đời phơi phới khép lại chỉ vì một cục tiền quái ác nào đó. Giá như anh nghe lời Mai, tưởng tượng rằng cục tiền ấy đã rơi ra từ túi áo anh ở một đoạn đường vắng, thế rồi có một người nghèo rớt mồng tơi nhặt được, và họ đã được đổi đời… Giá như anh có trí tưởng tượng phong phú được như cô! Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 07-01-2009 thời gian gửi bài 14:24 |
| Có 17 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
ac15101972 (09-04-2009), Cartograph (09-01-2009), Cá Măng (12-01-2009), chaika (07-01-2009), Flamingo (15-03-2010), huongnguyen22 (06-03-2011), Kiet-Anando (15-03-2010), MIG21bis (28-06-2010), Nina (08-01-2009), nttt1211 (28-08-2011), Old Tiger (11-01-2009), phuongnn (07-01-2009), sad angel (14-11-2010), Siren (15-03-2010), Thạch Thảo (07-01-2009), Thien Nga (15-11-2012), toan.phamvan (29-02-2012) | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
Anh và Bình bị tách giam riêng, nhưng thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy nhau khi đi dạo dưới sân. Mỗi khi đi dạo, Hoàng thường ngẩng lên nhìn nền trời xám trên khoảng sân bé mà cười buồn. Đây là trại Butyrka, một trại tù cổ hà khắc của Nga, nằm sâu trong lòng thành phố. Anh không tưởng tượng ra nó ở đâu, nhưng nghe cái tên quen lắm, hình như, anh đã từng đi qua, và hình như phố này nằm cách không xa với Salut 3 là bao. Hỏa Lò ở Hà Nội chắc cũng giống như thế này đây. Anh nghĩ, tự nhiên thấy thích thú một cách trẻ con rằng mình đã được đến một trại tù nổi tiếng trong lòng thủ đô nước Nga. Có thể, đây là thu hoạch đầu tiên của cuộc du lịch thăm đất Nga của anh. Mà cũng có thể, hay chắc chắn, đó là chuyến tham quan duy nhất?
Lần cuối gặp Bình, anh được biết, Bình bị lao. Anh lạnh người vì sợ hãi, lắp bắp: - Đã xin nó thuốc chưa? Nó có cho chữa bệnh không? - Rồi, nó có cho em thuốc. Mà chỗ em nhiều đứa bệnh lắm. Em bị lây. Bấy giờ anh mới thấy gương mặt bủng xanh của Bình và đôi vai đã nhọn lên trong lần áo chần bông xanh xám của trại. Anh nói một câu rất vô nghĩa: - Trời ơi, lây nhanh vậy sao? - Nhanh chứ, mẹ kiếp, bệnh nó chừa ai đâu! Anh cũng phải cẩn thận. Thôi đừng nói chuyện với em nữa, kẻo rồi khốn! Hình ảnh cuối cùng anh nhớ về Bình là cái cười hiền hậu sau một tràng ho khan rất dài. Không biết bây giờ Bình ra sao, có đỡ được chút nào chăng? Anh đã hại cậu ấy! Đối với anh, cục tiền đã mất quan trọng vậy sao? Hơn cả tuổi trẻ của Bình? Hơn cả niềm vui giản dị của Mai là lúc nào cũng muốn có anh bên cạnh? Hơn cả mạng sống của cái thằng cu tham tiền nào đó, đồng phạm với hội trấn tiền anh? Và hơn cả cuộc đời có đôi chút vất vả nhưng tự do và vô tư lự của anh? Đôi lúc, anh những muốn đập đầu vào bức tường loang loáng hình người này đến chết đi, để tự trừng phạt mình, mặc dù, cái chết có lẽ không phải là sự trừng phạt cao nhất. Hoặc ít ra thì cũng mong được nhìn thấy máu chảy từ chính da thịt mình, da thịt mà cha mẹ đã sinh ra, nâng niu chăm bẵm, che chở cho được lành lặn… anh lại mong nhìn thấy nó bị hủy hoại, bị bầm dập, lấy đó làm sợi chỉ khâu lại lương tâm rách nát và đau đớn. *** Mai bỏ kính, nhìn chòng chọc vào người đàn ông vừa bước vào nhà. Dáng vẻ cao ráo, đầu hơi hói, quần bò xanh, áo vét kẻ sọc, đeo cà-vạt lòe loẹt, đôi mắt bé nhưng ánh nhìn thì sắc và thông tuệ, trông anh ta vừa sáng sủa, vừa kệch cỡm đến buồn cười. Gương mặt có nụ cười nhã nhặn, dễ mến. - Chị ạ, tôi cũng có nhã ý giúp chị thôi. Chúng ta là người Việt, ở nơi đất khách quê người, phải giúp nhau lúc khó khăn, đúng không chị? - Vâng, vâng Như bừng tỉnh sau giấc mộng dài, Mai nhanh nhẹn hẳn lên. Cô pha trà mời khách, đặt trước mặt anh chàng đủ thứ đĩa. Mứt dâu, mật ong, mấy chiếc bánh quy mặn và một vài cái kẹo cất đã rất lâu trong tủ lạnh. Bày biện lên bàn, cô nói liến thoắng, cố gắng giấu sự hồi hộp, trong khi đó, tay bắt đầu run. Mai cảm giác người khách nhận ra được điều đó. Cặp mắt có cái nhìn sắc như mắt rắn ánh lên một tia cười cợt. Cô vội vàng bám chặt vào mép bàn, thở ra một hơi dài trấn tĩnh. Những ngón tay xanh xao vẫn run bần bật. Chúng không chịu nghe lời cô nữa. Cô thấy nước mắt tuôn ra ào ào… - Kìa em. Bình tĩnh nào! Đổi cách xưng hô, người đàn ông cầm lấy tay cô, nói những lời an ủi. Thế là cơn nức nở dâng lên không kìm nổi. Cô khóc có dễ đến gần tiếng đồng hồ. Khóc bên một người đàn ông xa lạ, nhưng đã là người thân tự lúc nào, chỉ vì… họ là đồng hương trên mảnh đất lạnh giá này: họ cùng là người Việt. Và anh ta đang muốn giúp cô cứu Hoàng của cô ra khỏi trại giam. Anh ta tên là Hải, luật sư, rất giỏi, có lẽ vậy, vì có biết bao quan hệ từ trên Sứ cho đến những mạng lưới luật sư và tòa án. Lục lọi trong tập cac-vidit để lộn xộn trong catap, anh ta lẩy ra một cái tên, hình như là trưởng ban chống Tội phạm có tổ chức của Nga. Mỉm cười: - Em yên tâm, mình cùng bàn bạc, từng bước một… Vụ này dễ mà, vì thực ra anh Hoàng không giết người. Và anh ấy có lý do chính đáng để đi đòi nợ. Mà theo điều… khoản…của Bộ luật hình sự LB Nga thì… Anh ta nói nhiều lắm. Mai nghe lung bùng trong tai, thấy cái gì cũng đúng quá. Anh ta nói có lý, lại hiểu rõ hết ngóc ngách của sự việc, chứng tỏ, anh ta nghiên cứu vụ của Hoàng lâu rồi. Một lần nữa giữ bàn tay run rẩy của Mai trong bàn tay mềm mại của mình (lạ thật, đàn ông mà sao tay mềm thế!), anh ta đã làm cô hoàn toàn yên tâm. Đêm ấy là đêm đầu tiên sau sáu tháng xa Hoàng, cô được ngủ một giấc không mộng mị. Mai không biết rằng trong khi cô ngủ, tuyết đã rơi. Những bông hoa tuyết bắt đầu nở trên cửa sổ phòng cô, đều tăm tắp sáu cánh trắng xóa và nở bung trên bề mặt mờ hơi nước của tấm kính, biến nó thành một bức bản đồ ma trận chỉ đường tới một sứ xở băng giá, xa xôi và hạnh phúc, nơi ngày bé cô thường mơ đến. *** Tuyết rơi. Hoàng ngồi trên giường, nhìn ra cửa sổ. Mấy tháng ngồi y nguyên một vị trí, anh đã trở thành một người khắc khổ, nếp nhăn hằn sâu trên má và lưng trĩu nặng xuống từ lúc nào. Tuyết đang rơi ngoài kia, làm đêm như sáng lên. Anh miên man nghĩ về Mai. Cô hay bảo, tuyết rơi, dù nhiệt độ thấp đến mấy thì vẫn ấm. Vì tuyết ấm, thậm chí nóng bỏng nữa, chứ không cóng lạnh vô hồn như băng. Thương em lắm, em bé bỏng của anh. Chắc đời em mà cứ gắn với anh thì cũng chẳng đi đến đâu! Hoàng bật dậy, ngồi hí hoáy viết một lá thư ngắn ngủi cho cô. Nghĩ thì nhiều, viết ra sao mà khó thế. Cũng như bình thường anh chẳng nói nổi một lời mềm mại với cô. Anh chỉ nghĩ thôi, nghĩ dễ hơn nhiều. Anh nghĩ, anh sẽ đề nghị chia tay, nhân dịp này. Dù sao thì trước mắt, với mấy năm nằm trong tù, hẳn rồi tâm hồn anh cũng chẳng còn lành lặn mà trở về với cô. Rồi còn cha mẹ cô, còn tương lai của cô nữa. Nghĩ vậy, nhưng anh không nhấc nổi tay cầm bút. Anh thấy mình giả dối quá. Giống hệt như những lần anh đọc truyện về một người lính bị thương nặng, đã viết thư khuyên vợ quên mình đi. Lần ấy, anh đã cười khẩy và tự nhủ, ông này hoặc là “sến”, hoặc là giả dối. Người đàn bà, khác đàn ông ở chỗ, luôn tự biết mình phải làm gì. Nếu cô ta muốn bỏ đi thì chẳng có lá thư kia cô ta cũng đi. Mà nếu đã yêu, đã quyết gắn bó cả đời với nhau, thì có hàng trăm lá thư cũng chẳng lay chuyển nổi. Lá thư ấy chỉ khiến cô ta đau lòng nhưng lại quyết tâm hơn mà thôi. Nhưng bây giờ thì anh đã hiểu lòng người lính ấy, như anh lúc này đây, rối bời! Người cùng phòng với anh là một ông đã đứng tuổi, có bàn tay to rộng với những ngón tay cong queo kỳ quặc. Ông ta hình như là một nghệ nhân thủ công, anh đoán vậy qua những lời kể ào ào như nước chảy của ông. Anh lấy làm tiếc là đã không nghe lời Mai, không chịu đi học tiếng Nga. Mà anh làm sao ngờ được có ngày anh ngồi đối diện với một người Nga, suốt cả ngày cả đêm… để nghe ông ta trần tình như thế này! Ở Salut 3 hay ở chợ Vòm, người Nga cố gắng hiểu anh, miễn là anh nói các chữ số chính xác là được, chứ thường anh chẳng mấy khi căng tai nghe người ta nói. Mà sao người Nga nào cũng hay chuyện, nói đến nhiều. Anh vốn kiệm lời. Ở cạnh ông tù Tây này, anh càng lặng lẽ hơn. Nhưng trong thâm tâm, anh thầm cảm ơn ông già, ông đã làm không gian tù tội của anh thêm chút sức sống. Và nhất là, ông không nói tục, giọng lại khá êm ái, dễ nghe. Thấy anh ngồi viết thư, ông cũng dậy châm thuốc hút. Mùi khói thuốc nặng nặng của Nga khiến đầu óc anh tỉnh táo. Và anh viết một mạch những gì đang nghĩ, một bức thư dài nhất từ trước đến nay. Ngoài cửa sổ, hoa tuyết đã đóng kín khung kính. Trên đó hiện lên những con đường tuyết ngang dọc sáng long lanh. *** Chuyện chạy án, đúng như Mai nghĩ, cần rất nhiều tiền. Cô gom số tiền Hoàng vẫn đưa cô giữ hàng tháng “để dành cho đám cưới”, gộp với số tiền ít ỏi cô đi dạy kèm và dịch thêm… đưa hết cho Hải, anh chàng luật sư nhanh nhẹn kia. Tất nhiên, mọi thứ cũng rất rành rẽ, cô không sợ bị lừa. Này nhá, 10 tờ - là để Hoàng được giam riêng ra, không xô bồ ở gian sảnh lớn nữa. Gần trăm tờ còn lại, Hải sẽ dùng để lo lót viện kiểm sát, công tố viên… và nhiều nhiều những quan hệ khác, có nói cô cũng không hiểu hết được. Cô có muốn đi thăm Hoàng không? Khi tòa chưa xử, người ta không cho thân nhân gặp mặt. Vậy muốn gặp, phải chi độ mươi tờ nữa. Mai cắn môi từ chối, đau quặn cả ruột gan. Cô mong gặp Hoàng biết bao, mong được nhìn thấy gương mặt hẳn là tiều tụy của anh, có cái cằm bạnh ra cương nghị và bướng bỉnh, mờ mờ vòng xanh rì của bộ râu quai nón. Mong nhìn thấy đôi môi ấm áp vẫn cho cô những ngọt ngào. Mong được soi mắt mình vào đôi mắt biết nói, tràn đầy yêu thương của anh. Tự tay cô bóp nghẹt tim mình đau điếng khi lắc đầu nói “Không cần” với luật sư. Số tiền đó cô sẽ dành để làm việc gì đó hợp lý hơn, để anh chắc chắn được thoát vòng tù tội, trở về với cuộc đời và với cô. Cô tự cắt các khoản chi tiêu mà trước, cô chưa bao giờ nghĩ lại có thể trở nên xa xỉ đối với cô như lúc này. Không mua sách, mua hoa, không đi xem phim, nhà hát, không bảo tàng, thậm chí, hạn chế cả rau cỏ, hành mùi – là những thứ rất đắt đỏ vào mùa Đông. Ngày 15 các tháng, cô vẫn tiếp tế cho Hoàng. Nhưng không còn mua được đồ hạng Nhất như cô vẫn mua cho anh những tháng trước nữa. Bơ, sữa, bánh... cô chọn loại bình dân, riêng thuốc lá, cô vẫn cố gắng mua loại anh hay hút là Parlament Light. Thương anh nhiều lắm, anh biết không? Thế rồi cũng sắp đến ngày Hoàng ra tòa. Luật sư Hải hớn hở ngồi vạch đường đi nước bước cho cô. Anh ta đang vui và hình như có làm vài chén ở bữa nhậu nào đó về. Mặt đỏ và mắt vằn sáng. Nhìn vẻ hơn hớn của anh ta, cô tự dưng thấy khó chịu, mặc dù những ngày trước đó, chính vẻ mặt ấy đã làm cô bình tĩnh trở lại sau những hoang mang. - Liệu có chắc… sẽ như anh nói không ạ? - Chắc chứ sao không? Em tin anh đi. Những chuyện này anh làm mãi rồi. Ngộ sát, mà cũng có phải anh Hoàng làm đâu, thằng cu Bình đi cùng anh ấy dọa người ta đấy chứ! Tội này, cùng lắm là 3 năm. Giết người còn chỉ có 7 năm thôi mà, em ạ. Vẻ mặt nôn nao của Mai chắc khiến Hải tội nghiệp lắm. Anh ta cười lớn, người ngả ra thoải mái trên ghế bành, miệng nói rổn rảng: - Năm xưa, có thằng Cộng đốt cả xe lẫn người của thằng Cộng khác, do cạnh tranh làm ăn ấy mà! Biết rõ mười mươi, mà cuối cùng, anh vẫn giúp nó thoát tội đấy. Giờ giàu nhất cái tỉnh đó. Em bảo có thánh không? Hà hà… Kể cũng tội cô vợ tay kia, khi ấy đang về phép. Khi về thì có chồng đưa, lúc sang không còn gì nữa, kể cả xác… Sau cô ta đội sớ đi khắp nơi muốn đòi công bằng cho chồng. Giá biết đường gặp anh cũng đỡ… Làm gì cũng phải có đường, có cửa, em ạ… Mai nghe có một luồng điện chạy vụt qua lưng. Cô thấy tóc trên đầu như dựng đứng lên, người ớn lạnh, và tay lại bắt đầu run. Trong khi đó, Hải tiếp: - Nói cho em hay, ngược lại có trường hợp thế này, ngay tại phiên tòa nhá, buổi sáng Tòa vừa định kết luận một thằng vô tội. Mà thực ra nó vô tội thật, nó đi trồng rau, bị thằng khác cũng trồng rau đổ vấy tội cho để xóa sổ ấy mà, nhưng chứng cớ lỏng lẻo, nên tòa nó bác là đúng rồi. Thằng kia đến cầu cứu anh. Giờ nghỉ, anh vào “làm việc”, có vài ba phút thôi, chẳng cần tranh cãi gì nhiều trước Tòa, buổi chiều, Tòa đã tuyên bố cái thằng vô tội trở thành có tội. Bị giam có một năm thôi, chẳng nhiều nhặn gì. Hết một năm, sống sót được mà ra ngoài còn mở tiệc ăn mừng ấy chứ! Nhưng trong một năm đó, thị phần rau cỏ bị giành hết rồi còn đâu. Hì hì, đời… Thật nhiều khi như trò đùa ấy, em ạ. Thằng này sống thì phải có một thằng chết thay! Anh… Hải ngừng lại, tự cảm thấy lỡ lời. Lúc ấy, mặt Mai đã tái mét đi. Cô thấy ngực đau nhói, không thở mạnh được. - Em làm sao vậy? Anh xin lỗi, anh vô ý quá.. Chỉ là để em thêm tin tưởng vào anh thôi mà, Mai à! - Không sao ạ, không sao đâu… Mai yếu ớt nói. Cô cố tập trung hình dung ra gương mặt thân yêu của Hoàng. Cố lên, Mai ơi, chỉ vài ngày nữa thôi là anh đã trở về. Mọi việc lại như xưa. Cuối năm nay mình cưới, phải không? Mai quay sang Hải, hỏi tiếp: - Vậy, … anh sẽ làm việc thế nào.. ai sẽ thay anh Hoàng em? - Việc đó là việc của “giới chuyên môn”, em bận tâm làm gì! Miễn là anh Hoàng của em sẽ trở về, thế là anh xong việc, phải không? Mà thường thì cũng không khó kiếm thằng thay thế đâu. Ở các tỉnh lẻ, thiếu gì những thằng cha căng chú kiết không biết tiếng Nga, giấy tờ không có, người thân cũng không. Công an tôm cổ về, ngơ ngơ ngác ngác… rồi cũng chẳng hiểu vì sao mà mình bị ngồi tù… Cho đến khi ra được, kêu la… thì cũng đã xong rồi. Thế đấy. Một trận cuồng phong bão tuyết nổi lên từ đâu đó, hình như rất xa, mà cũng hình như rất gần, rơi ngay xuống đầu Mai. Tiếng gió rên rỉ não nề. Cô nghe có tiếng người khóc lóc, than van, có tiếng cười khô lạnh của những ai không rõ nữa. Thấp thoáng cả những bóng cây thân trắng hình thù cổ quái, bủa một cái lưới dài vương trắng tuyết khắp các nẻo đường trước mắt Mai. Cô lại hét lên “Mẹ ơi…” thảng thốt trong tiếng gió hú dài. Trên mái nhà tầng cao, tiếng chân người chạy rầm rập. À, không phải chân người, mà là gió, hoặc là bước chân người Trời đùa giỡn với nhau, như cô vẫn thường tưởng tượng trong những đêm gió bão, cô ngồi ngoan như con mèo con trong vòng tay của Hoàng. *** Hoàng và một số tù nhân đã được chuyển trại đến một nơi rất xa, xa hẳn Matxcơva. Ở đó, anh ít nhận được tiếp tế của Mai hơn, nhưng lại được lao động và thoải mái hơn trong di chuyển. Nếu những ngày ngồi bất động trong xà lim Sizo 2 suýt nữa làm anh trở thành một dạng … cương thi như trong phim bộ Hong Kong, thì trại tù mới trả lại cho anh vẻ hoạt bát vốn có. Khoảng sân đi dạo rộng ra, tầm mắt có thể nhìn xa được đến cánh rừng bạch dương bàng bạc, xam xám và cả vệt rừng thông đen thẫm kéo dài. Ban ngày, cả hội ngồi đẽo những quân cờ. May mắn là Hoàng vẫn được gần gũi với người tù đứng tuổi cùng phòng xưa. Ông là nghệ nhân thật, đẽo gọt những quân cờ đều, đẹp và sinh động. Lấy giấy ráp đánh bóng những quân cờ ấy, ông lại triết lý điều gì đó với Hoàng. Anh cười cười, hiểu lõm bõm được ít từ, vẫn gật đầu thật mạnh. Đã một tháng nay, sau giờ làm việc, anh đều đặn vào Thư viện của trại, ôm cuốn từ điển … học tiếng Nga. Thật ngạc nhiên là quản giáo kiếm được cho anh hai cuốn từ điển Nga – Việt này, cũ kỹ lắm rồi và chằng chịt nét chữ của những người chủ cũ, nhưng đối với anh, thật là báu vật! “Anh yêu, Tuần sau là Tết rồi anh ạ. Em có gửi cho anh cái cuốn lịch tay đấy, anh chịu khó đánh dấu từng ngày, kẻo rồi quên sất cả các lễ tết, anh nhé. Anh biết không, cái thư của anh gửi em ấy, lão Hải mãi mới đưa cho em. Lão ấy điên về chuyện em rút không chạy cho anh ra hẳn. Án nhẹ đi lão ấy cũng kiếm được khá rồi, vậy mà vẫn hậm hực ghê lắm. Nghe tin Bình mất vì bệnh lao, em càng hiểu, em đã quyết định đúng. Nếu anh được thả lúc này, hẳn anh không sống bình tâm được. Đọc cái thư của anh, em biết rõ điều đó. Mà em cũng chẳng thèm đọc những loại thư kiểu ấy đâu nhé, khuyên răn người ta gì mà buồn cười, lẩm cẩm, sến, và vớ vẩn! Em nói cho anh biết này, chịu khó giữ gìn sức khỏe, sau rồi còn ra đi cày để nuôi em. Em không tự nuôi nổi em đâu, vì em ăn nhiều này, lại còn tiêu pha hoang phí nữa. Vì thế mà em mới chọn anh. Số anh là số giàu mà, em biết! Hi hi. Mà anh có biết tại sao em nhìn được anh giàu không? Vì anh làm lụng mà không quên bạn, biết chia mối làm ăn cho bạn bè. Vì anh ham tiền mà không quên tình, tháng nào cũng gửi tiền về cho bố mẹ, năm nào cũng cho tiền các em làm ăn, gửi tiền về xây nhà thờ Tổ, đóng góp cho đủ các thứ quỹ thôi! Mà anh giàu nữa vì anh có em, phải không?...” Hoàng bật cười thành tiếng, âu yếm áp lá thư của người yêu bé bỏng vào ngực mình. Tim anh đập rộn ràng, thấy rõ là Tết đang đến rất gần. Anh chuẩn bị ăn một cái Tết trong tù, một cái Tết buồn, nhưng không tuyệt vọng. Bên ngoài, trời lại đổ tuyết khiến cho cửa sổ phòng giam sáng trắng lên. Tuyết bông và rất ấm. Thụy Anh, từ LB Nga Chú thích: Sizo: Nơi tạm giam để điều tra Xu-khôi: bán hàng trả chậm |
| Có 17 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
Cartograph (09-01-2009), chaika (07-01-2009), doibo (02-09-2010), Flamingo (15-03-2010), Huonghongvang (08-01-2009), huongnguyen22 (06-03-2011), MIG21bis (28-06-2010), nttt1211 (28-08-2011), Old Tiger (11-01-2009), phuongnn (07-01-2009), sad angel (14-11-2010), Siren (15-03-2010), Thạch Thảo (07-01-2009), toan.phamvan (29-02-2012), TrungDN (12-01-2009), TuDinhHuong (07-01-2009), Vũ Anh (07-01-2009) | ||
|
#3
|
||||
|
||||
|
Một truyện ngắn tiếp theo của Thụy Anh sáng tác cách đây tròn 1 năm. Câu chuyện phản ánh một góc cuộc sống người Việt xa xứ. Nghề trồng rau bán cho người Việt, hình như có ai đó trên NNN đã từng hỏi về điều này. Một kết thúc hơi hẫng, cho cô bé trong truyện và cho chính người đọc.Cuối truyện, có nhắc đến tên bài hát Lusi của Oleg Gazmanov sáng tác cho cậu con trai Rodion Gazmanov hát vào cuối thập niên 80 cuối thế kỷ trước. Trong Video clip của Rodion có chú chó Lusi lông xồm hiếu động, hệt như chú Lusia trong câu chuyện nhảy nhót trên cánh đồng trồng rau ở ngoại ô thành phố....
Lusia Lusia là một con chó nòi Kavkaz, hai năm tuổi, toàn thân trắng muốt, to lớn như một con gấu vùng Bắc Cực. Mặt nó hiền và ngây thơ kỳ lạ, chẳng khớp với dáng vóc kỳ vĩ của nó. Tôi nhớ mãi hình dáng đẹp lồng lộng của Lusia khi lao từ xa, trên đồng cỏ vàng xanh điểm đầy hoa cúc kim trắng và oải hương tím xanh, dưới ánh nắng chiều hắt rực ửng hồng một góc trời… chạy đến với tôi. Chân trước chồm lên vai tôi, hất tôi ngã xuống cỏ. Hai chúng tôi đùa giỡn một hồi. Mắt Lusia lấp lánh, hình như vui, hình như hạnh phúc lắm. Nó rít lên [B]nho nhỏ, dúi cái mõm ướt rượt vào mặt tôi. Cô nàng Lusia của tôi. Âu yếm và ấm áp làm sao! Lusia là món quà cha dượng hờ tặng tôi hồi sinh nhật 15 tuổi. Gọi là cha dượng hờ… vì cha là chồng mới không chính thức của mẹ tôi. Cha đẻ của tôi ở Việt Nam, thấy mẹ bảo rằng cha sa vào nghiện ngập, mẹ gửi đơn ly dị về cho cha ký rồi. Tôi không biết mẹ có nói dối để “hợp thức hóa” việc mẹ ở với cha dượng hờ không. Hồi còn bé, tôi cũng chẳng nghĩ làm gì. Dù cho cha nghiện hay không nghiện thì cũng chưa bao giờ cha quan tâm đến tôi. Khi hai mẹ con rời khỏi Việt Nam sang đây, tôi mới 5 tuổi. Đến giờ, tôi chỉ còn nhớ dáng cha ngồi im lìm bên bàn nước có miếng vải giải bàn bị cháy mép do tàn điếu cày của cha sém vào. Gương mặt thì nhòa đi, tôi không hình dung rõ nổi nữa. Mẹ bảo tôi cứ nhìn gương thì nhận ra cha, vì con gái giống cha như đúc. Mắt xếch, lông mi dày, lông mày rậm, gương mặt vuông vừa tử tế, vừa khắc khổ! “Con gái giống cha giàu ba họ” – mẹ tôi nói xong câu đấy thì mỉa mai cười. Tôi ghét kiểu cười ấy của mẹ, nhưng không dám nói gì. Từ khi tôi tròn 15 tuổi, tôi thấy tim nhói đau mỗi khi mẹ cười như thế. Tôi học trường Nga. Nói tiếng Nga. Chơi với bọn bạn người Nga. Chúng nó cũng yêu quý tôi, nhưng tôi vẫn thấy lạc lõng vì tôi biết rõ mình là người của thế giới khác. Ở lớp tôi, những đứa lớn lên không có cha thì nhiều lắm, quá nửa lớp. Tôi còn khá hơn chúng nó, vì tôi có cha dượng hờ! Thi thoảng cha cũng thay mẹ đến họp phụ huynh cho tôi. Nhưng cha có hiểu cô giáo nói gì đâu! Tiếng Nga của cha “ngắn” lắm. Tôi luôn có cảm giác đau quặn bụng mỗi khi cha hứng chí tán chuyện với cô bán bánh mỳ đầu phố bằng thứ tiếng Nga có dấu của mình (nghĩa là có huyền, sắc, hỏi y như tiếng Việt ấy!) Có lần tôi phải xin cô giáo: “Có gì cô cứ nói với em. Cả cha và mẹ em đều không hiểu tiếng Nga nhiều đâu”! Cô giáo chủ nhiệm tôi cũng có một đứa con không cha. Hôm đầu tiên tới thăm nom nhà cô, đúng kiểu Việt Nam, mặc kệ cho tôi phản đối, mẹ tôi đã bập bẹ hỏi thăm chồng cô… Từ sau đó, cả mẹ và cả tôi đều rút ra một kinh nghiệm, không bao giờ, không bao giờ hỏi thăm chồng của một người đàn bà Nga. Mà kỳ lạ, tôi để ý thấy, những cô giáo trường tôi nuôi con một mình thường là giáo viên dạy Văn. Có lẽ họ dạy Văn nên họ nhân hậu, cả tin và cũng biết chấp nhận hơn chăng, khi một người đàn ông đến với họ rồi lại ra đi, bước chân nhẹ bỗng không vướng bận gì! Người Việt nói chung thì tôi không rõ. Nhưng như mẹ tôi này, làm ăn buôn bán ở Nga đã chục năm, mẹ không nghèo, đủ tiền nuôi tôi, mà năm nào cũng viết cái thư dài dằng dặc đòi tiền cha đẻ tôi bên nhà… Đòi cha thực hiện “nghĩa vụ làm cha” đối với tôi. Tôi thì nghĩ, may mà có cha thì mới có tôi. Nói về nghĩa vụ, chắc tôi mới là người nợ cha, cho dù tôi chẳng còn nhớ được nổi một ngày từng sống bên cha! Và tôi thương cha, thế mới kỳ lạ! Nhất là từ hôm phải mượn thư viện cuốn “Chó hoang Đin-gô” của Phraerman để đọc thêm ở nhà. Tôi còn nhớ, ngồi bên cửa sổ, cầm cuốn sách đọc đến đoạn Tania gặp lại cha, người cha mà Tania không còn nhớ mặt vì cha mẹ cô chia tay nhau từ lâu, tôi thấy ngực nghẹn thắt lại và mắt thì mờ đi… Cửa sổ nhà tôi nhìn ra một công viên lớn toàn cây là cây. Hôm ấy, cây đồng loạt ngả vàng. Tôi chỉ muốn khóc nức lên… Nhớ cha, người cha tôi cũng đã quên nét mặt. Thương cha. Vì tôi biết cha mẹ tôi không yêu nhau. Nếu từng yêu thì mẹ tôi đã chẳng sòng phẳng với cha như vậy. Tình yêu… tôi biết chứ. Tôi cũng yêu một lần rồi, cách đây hai năm. Thằng Kolia lớp 8, cao nhất lớp, mắt buồn như mắt mấy con bò ở nông trại mà lớp tôi có lần về thu hoạch khoai tây giúp ấy. Hồi đó tôi thích nó vì mắt nó buồn. Tôi hay nhường hết món kotlet (1) trong khẩu phần bữa trưa cho nó. Tôi nhớ mãi vẻ biết ơn và yêu mến trong ánh mắt thắm biếc lên khi tôi đẩy đĩa kotlet sang phía nó. Mặc kệ xung quanh ồn ào tiếng đĩa bát va lanh canh, tiếng nồi xoong trong bếp vọng ra xủng xoảng, tiếng bọn trẻ con buôn chuyện ầm ầm, tôi thấy lúc ấy thế giới thật yên lặng và trìu mến. Tình yêu – đó là sự yên tĩnh của thế giới giữa muôn vàn âm thanh xô bồ của cuộc sống! Thế nhưng, khi tôi lên lớp trên… mà đôi mắt của Kolia vẫn mãi buồn như thế, thì tôi bắt đầu chán. Thế giới trong tôi trở lại ồn ào: tiếng ném cặp sách bình bịch của bọn lớp bé, tiếng cười the thé của mấy chị lớp lớn kể chuyện yêu đương, thậm chí, cả tiếng chổi rễ cây loẹt quẹt ngoài sân xa tít tôi cũng nghe rõ mồn một. Thế là tôi hiểu, mình đã hết yêu! Mắt Kolia vì thế lại càng buồn hơn. Và tôi nghĩ, cha tôi chắc cũng có đôi mắt buồn như thế vì mẹ không yêu cha! Cha dương hờ cũng tốt với mẹ con tôi lắm. Nhưng tôi chịu, không biết cha dượng và mẹ tôi có yêu nhau không. Mà tôi cũng chẳng tìm hiểu, vì mẹ tôi không có vẻ gì là thiếu thốn tình cảm cả. Mắt mẹ chỉ thoáng có vẻ thất thần khi... “xanh giật” (3) và lấp lánh vẻ đắc thắc khi ngồi đếm tiền hàng. Còn cha dượng không phải ruột rà máu mủ của tôi. Tôi kính nể ông như nể một người lớn. Còn mắt ông có buồn thì tôi cũng không cảm thấy xót xa chút nào! * Ngày tôi tròn 15, cha dượng mang Lusia về nhà. Khỏi phải nói mẹ tôi đã hốt hoảng như thế nào. Căn phòng 12m2, có chiếc ri-đô ngăn đôi, bên trong là giường cha mẹ, bên ngoài là phần tôi. Giờ lại lù lù một con chó rõ to xuất hiện. Gian phòng càng trở nên bé tợn. Ba người chúng tôi đi lại đều khép nép. Cha dượng tặc lưỡi: “Cả ngày ngoài chợ, về nhà mấy đâu!” Mẹ cằn nhằn hết cả một ngày nhưng rồi không hiểu sao cũng đồng ý cho Lusia ở cùng chúng tôi. Tôi thì khoái cô nàng ngay vì nhìn nó ấm áp quá. Bộ lông trắng muốt sau khi tắm, lắc khô nước đi rồi, vẫn ánh lên màu bạc long lanh, nhìn thật thích mắt. Người nó to lắm, nặng có dễ đến bảy chục cân! Cha dương tôi đùa: “Cái Yến có thích thì nhảy lên cưỡi, phi như phi ngựa được đấy!” Mà Lusia phi như ngựa thật nếu thả nó ra một đồng cỏ rộng. Đó là về sau, khi chúng tôi được cha dượng chở xuống trang trại trồng rau của cha. Ở đó có những bãi cỏ mênh mông được viền bằng cánh rừng bạch dương hay một vài cụm nhà gỗ sơn xanh, sơn vàng, trên nóc tỏa khói mờ dìu dịu. Tôi và Lusia tha hồ chạy nhảy, tưởng như không bao giờ phải trở về với căn phòng chật hẹp ở trung tâm Moscow nữa. Một lần, chúng tôi cùng ngẩn ngơ trước một cánh đồng hoa hướng dương bất ngờ xuất hiện trong tầm mắt. Khi ấy là độ tháng 8. Nắng không còn gay gắt nữa và bắt đầu chớm có gió lạnh làm gai người. Những mặt trời nhỏ rực rỡ bừng lên trên đồng khiến cả hai chúng tôi đều mê đi vì vui sướng. Lusia phi một vòng quanh cánh đồng hoa sủa váng lên. Bọn chim chóc trong bụi hốt hoảng bay vèo ra đằng xa. Những con chim xanh đuôi dài đỏm dáng luôn là “đối tượng” của Lusia. Nó đuổi chim nhưng mặt tươi hơn hớn (hay là do tôi tưởng tượng ra nhỉ?) nên trông nó không giống chó săn, mà giống một con gấu ngờ nghệch đáng yêu như kiểu gấu Pooh ấy. Chỉ khác là “con gấu” này trắng muốt, đẹp lộng lẫy… Thế giới của Lusia phải là những cánh đồng cỏ bạt ngàn hoặc là miền vùng núi Kavkaz chứ không thể là nơi tù túng như nhà tôi được. Mỗi lần trở về nhà, tôi lại thầm thở dài thương nó. Lusia nằm ở cửa, cố thu mình nhỏ lại, đầu dúi dụi xuống sàn, mắt nhìn lơ láo, mông lung.. Dường như nó đang tưởng lại tiếng gió đồng, tiếng chim ríu ran và tiếng cỏ gai xào xạc… Chẳng bao lâu, cha dượng đã không còn bắt nó ở lại căn phòng chật hẹp này nữa. Thì ra, cha mua Lusia về để luyện cho nó trông bãi rau của cha, chứ đâu phải cho tôi! Nhưng niềm vui thấy Lusia được tung hoành nơi có không gian phóng khoáng đã làm mờ đi nỗi ấm ức vì “bị lừa gạt” của tôi. Tôi bằng lòng để nó đi cùng cha dượng, đôi khi bặt tăm hơi cả tuần mới trở về. Bộ lông ngả màu vì đất cát, nhưng mặt mũi hả hê. Thậm chí, mùi từ người nó tỏa ra cũng không nồng nồng, hôi hôi như trước mà tưởng như có lẫn mùi cỏ mùi bùn, nó dễ chịu hơn thì phải. Tôi hì hụi tắm cho nó trong bồn. Bồn tắm chật quá khiến công việc này rất vất vả. Cuối cùng, sau một hồi kiên nhẫn chịu đựng bọt xà phòng thì nó cũng trở lại một cô chó xinh đẹp to lớn của tôi, con Gấu bông khổng lồ nhất thế giới! Tôi dẫn Lusia đi dạo dưới đường, bọn trẻ bu lại hỏi: - Gấu à chị? - Ừ, gấu. Gấu Bắc cực đấy! Lũ nhóc nửa tin nửa ngờ. Có đứa thấy tôi cho Lusia ăn miếng xúc xích, kêu lên: - Bọn mày ơi, không phải Gấu đâu. Gấu chỉ mút chân mút tay, không ăn xúc xích! Chuyện này làm tôi buồn cười, vui suốt cả một buổi chiều. Cha dượng thì kể, từ khi có Lusia đi cùng, cứ “thằng cha” công an nào tuýt xe cha lại là y như rằng phải vội vã “thả” đi ngay. Lusia ngồi chồm hỗm ở băng ghế sau, mũi khịt khịt, nhổm ngay dậy nôn nóng. Tôi thì tôi biết cô nàng muốn ra, chứ còn gã công an chắc hẳn hãi lắm. Vóc dáng của Lusia khiến nó trở nên dữ tợn trong mắt người lạ. Kỳ thực, nó rất hiền. Nó hiền nhất lúc nằm dưới chân tôi, mắt tròn bé như hạt nhãn ngước lên nhìn hiền lành, thân mến. * Năm ấy công việc làm ăn thuận lợi. Mẹ tôi giao hàng ở chợ Vòm, hết “công” này đến “công” khác. Tuy có vất vả đôi chút nhưng vui. Mẹ cũng ít ngồi ngán ngẩm chép miệng, kể lể chuyện cha đẻ tôi như năm ngoái. Tôi chỉ thầm tự hỏi, không hiểu sao đã có tiền rồi mà mẹ không thuê được căn hộ tử tế, ít ra cũng có hai phòng riêng rẽ! Chiếc ri-đô giữa phòng luôn đập ánh màu lòe loẹt của nó vào mắt tôi, rung rinh trêu ngươi tôi, khiến tôi cảm thấy bực bội muốn điên lên được. Nhất là, những khi cha dượng hứng chí bật nhạc vàng, những bài có Ý Lan hát thì tôi chỉ muốn chết đi cho rảnh! Tôi lao ra ngoài trời. Lusia theo sát tôi. Trời mùa Hè ở nước Nga, gần 11 giờ đêm rồi mà vẫn sáng. Nhưng dù gì thì cũng là ban đêm, và không khí thoảng mùi tử đinh hương vẫn vương vất thêm một thứ mùi khác nữa. Đó là mùi của sự bất trắc. Song không ai dám trêu chọc tôi khi Lusia lúc nào cũng trung thành bên cạnh, kể cả mấy thằng Tây đầu trọc hếu gần ốp chúng tôi ở, mặc đồ da, chân đi giày mõm dài có đính đinh sáng loáng. Bọn ấy hay có dây xích sắt thủ trong người, đã từng vào chỗ chúng tôi, đánh chảy máu một vài thanh niên người Việt. Nhưng tôi cóc sợ, vì tôi đã có Lusia. Lusia, cô bạn hiền hậu và dữ tợn của tôi, giúp tôi tránh được bọn xấu, và giúp tôi tách xa cả người thân của mình nữa! Để tôi có được một khoảng trời riêng, khoảng trời không có bất kỳ cái riđô nào cả, mênh mông và thơ thới. Ở đó, chỉ có tôi và Lusia. Có thể có cả Kolia nữa, nếu cậu ấy muốn. Chỉ mong sao cậu ấy thôi cái kiểu nhìn buồn bã ấy đi. À, mà ở đó có cả cha tôi nữa. Nếu cha nghiện, tôi sẽ giúp cha cai nghiện Mặc dù tôi cũng chưa rõ là bằng cách nào, nhưng có tình yêu là làm được tất, tôi tin thế. Chỉ cần cha ngồi cạnh để cho tôi áp đầu vào vai cha một thoáng, giống như Tania trong “Chó hoang Đin-gô” ấy. Trong mùa Hè, có đợt tôi được cha dượng cho về thăm trại rau. Tôi thích lắm. Những dãy nhà kính, nhà bạt ni-lông trắng nằm song song, tươm tất, ánh lóa lên dưới nắng. Cha dượng chỉ tay, cười ha hả: “Đây, trong này là Việt Nam đấy. Gi gỉ gì gi cái gì cũng có nhé!” Từ 5 tuổi tôi đã ở Nga, nhưng tôi vẫn được nuôi dạy theo kiểu Việt Nam. Tôi vẫn lớn lên bằng rau muống, rau cải… vì thế, những dãy nhà rau xanh này đối với tôi thật là thân thương. Ngoài những gian trồng rau muống, cải cúc, cải xanh, cải ngọt, mồng tơi, còn có giàn mướp đắng lúc lỉu những quả xanh sần sùi, một gian nhỏ trồng rau thơm: mùi tàu, húng chó, tía tô, rau răm… Nhưng chỉ được một tháng là cha dượng cho dỡ hết cả khiến tôi tiếc đứt ruột. Rau lên xanh thì xanh mướt, tím thí tím ngát, bản lá to rộng, nhìn thật thích mắt. Nhưng cha bảo, rau thơm mà lá to mượt là vứt. Phải cằn cằn một tí mới đúng. Cha than rau răm thì cay như ớt mà tía tô thì chẳng có tí mùi vị gì. Thì ra, ở đây cha vẫn không thể có “Việt Nam” một cách hoàn toàn được! Bầu bí thì cha dượng không cho trồng trong nhà ni-lông mà thả cho chúng bò khắp đồng. Tôi và Lusia ra chỗ người ta đang thu hoạch rau bí, nhặt những bông hoa bầu, hoa bí màu vàng ươm mang về cho mẹ. Mẹ tôi thích món hoa bí xào tỏi. Mâm cơm có món này, mẹ có vẻ trầm hẳn, dường như lặng đi trong một hồi tưởng cũ xưa nào đó. Rồi xuýt xoa: “Thơm quá….” Tôi thích mẹ tôi những lúc ấy, như thể mẹ là người khác, không phải người đàn bà đảm đang quán xuyến việc hàng họ ở chợ, nói năng chao chát như suốt chục năm trời mẹ đã từng… Những người đàn bà nông dân Nga, đầu đội khăn cho đỡ nắng, đang cắm cúi dỡ dây bí, bó vào từng bó. Những gương mặt hồn hậu hồ hởi chào đón tôi. Tôi đã thân với họ từ lâu, thấy gần gũi với những con người ham làm hay nói này thế. Lần nào về, họ cũng dúi cho tôi bó hoa hồng trồng trong nông trang. Hoa hồng chúm chúm tròn xoe, đủ các màu và đặc biệt là rất thơm, có tên là… Mercedes (hừm, tôi chẳng thấy có gì liên quan giữa hoa hồng và ôtô cả!). - Mishka! (3) Họ gọi Lusia rồi phá lên cười khi thấy Lusia đứng ngẩn ngơ vì bị tia nước từ dãy vòi nước nằm ngang trên xe công nông phun bắn vào mắt. Rồi nó lao theo sau xe, sủa nhắng lên vui vẻ. Đôi lúc, nó chạy dấn lên song song với chiếc xe, khéo léo há miệng đón những tia mát lành. Trên đồng, những chiếc xe như thế đi đi lại lại ngày hai bận. Những người nông dân không phải vất vả tưới tắm cho đồng ruộng như ở Việt Nam. Cha dượng bảo tôi vậy. Cha xuất thân từ nông dân nên thạo việc trồng trọt lắm. Tôi cũng thích nhìn cha chỉ đạo những người đàn bà Nga trồng tỉa. Ngẩng cao mái đầu đã điểm bạc, cha chỉ cho họ giống nào cần gieo dày, giống nào phải trồng thưa, vẻ tự tin, phấn chấn, giọng sang sảng, tiếng Nga dường như mất hẳn dấu huyền, dấu nặng mà cha vẫn hay dùng để tán cô bánh mỳ! Cha mất hẳn cả vẻ lo lắng, khúm núm thường trực khi ở trong thành phố, nhất là những lúc chạm mặt với công an. Không bó mình trong chiếc áo vét nhàu nhĩ như khi đi ra chợ, quần xắn móng lợn thoải mái, lưng áo phông đẫm mồ hôi, ông đi đi lại lại giữa các luống rau, vẻ tươi tỉnh. Không gian phóng khoáng khiến ai cũng đẹp hơn, ít nhất là trong mắt tôi. Một điều buồn cười là tôi cứ hay tẩn mẩn để ý xem trong những người đàn bà ở đây, có ai là không có chồng, là mẹ-cô-đơn như trong thành phố. Thì thật là bất ngờ, cả tổ nông trang trồng rau nhà kính lẫn những bà làm ngoài đồng, ai ai cũng có một ông chồng đợi họ ở nhà. Họ nói đến chồng vừa âu yếm, vừa ra vẻ không hài lòng vì “các lão ấy chậm chạp lắm, kiếm không ra tiền nên vợ mới vất vả”. Có phải ở những nơi này, thiên nhiên phóng khoáng cũng lại dễ giữ chân những người đàn ông hơn không? Làng quê yên bình, những con người hồn hậu, những cánh đồng khoai tây hoa trắng dịu dàng, những buổi trưa nắng tràn trề khắp nẻo, tiếng người nô đùa trên con sông gần đó vọng về… tất cả chẳng gợi điều gì đáng lo ngại hết. Tôi không hiểu cha cần Lusia để canh giữ cái gì! Rau cỏ của người Việt thì dân Nga không biết ăn. Họ chỉ hay vặt cà chua dưa chuột của nông trang đem về nhà thôi. Mà ê hề ra đó, tôi chẳng thấy ai cấm đoán ai điều gì cả! Khi mọi thứ quá nhiều thì việc lấy của công làm của riêng tự nhiên không còn là ăn cắp nữa! Thảng hoặc lắm, tôi thấy những người từ Ucraina và Belarus đến đây làm thuê ngồi lơ vơ hóng gió ở ghế đá gần căn nhà gỗ của Trại rau, mỗi người cầm chai bia trên tay, đôi khi có thêm dăm con cá khô vobla (4) mùi tanh nồng lên. Những người này sống trong nhà khách của Nông trường. Trông họ cũng chẳng có gì là đáng để cho cha tôi đề phòng cả. Đàn ông, đàn bà đều ít nói hơn dân địa phương. Dân tha hương mà, ai cũng như ai. Về xứ mình chắc họ lại ăn to nói lớn, lại ồn ào như lễ hội. Và hình như họ chăm làm hơn dân địa phương nữa. Những ngày nghỉ, cha tôi đi thuê thêm người dọn cỏ, đều phải vào Nhà khách mới kiếm được người làm. * Cho đến một hôm, trên đường đưa rau về thành phố, tôi mới hiểu vì sao cha cần đến Lusia. |
| Có 14 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
Cartograph (09-01-2009), Flamingo (15-03-2010), FORYTCHIA (08-01-2009), Huonghongvang (08-01-2009), huongnguyen22 (06-03-2011), MIG21bis (28-06-2010), Old Tiger (11-01-2009), phuongnn (07-01-2009), sad angel (14-11-2010), Siren (15-03-2010), Thạch Thảo (09-01-2009), toan.phamvan (29-02-2012), TuDinhHuong (07-01-2009), Vũ Anh (07-01-2009) | ||
|
#4
|
||||
|
||||
|
Xe cha con tôi đi đến khúc quanh rẽ vào ốp Togi* (5) thì có một chiếc số 4*(6) đít dài và một chiếc Uaz*(7) xanh lá cây thẫm ép lại. Cha dượng lẩm bẩm: “Bắt đầu rồi đây”. Và dừng xe. Cha vừa mở cửa vừa huýt sáo gọi Lusia. Cô nàng đang lim dim ngủ, nhổm ngay dậy, như đã quen quá với mệnh lệnh có dấu hiệu đặc biệt này của chủ. Mọi khi, tôi không thấy cha huýt sáo bao giờ, cả nhà thường chỉ gọi tên Lusia thôi. Lusia thò đầu ra cửa sổ, sủa liên hồi kỳ trận. Chân dậm dậm nôn nóng, tưởng như lông của nó cũng dựng đứng lên vậy. Người đi đường bắt đầu chú ý đến chúng tôi, ngoái cả lại nhìn. Hai chiếc xe bí ẩn vừa ép chúng tôi vào lề đường vẫn im phắc, chưa có động tĩnh gì. Chừng dăm phút trôi qua trong căng thẳng. Chỉ có hàng rèm nâu chăng chung quanh các ô cửa xe Uaz hình như lay động.
Cửa xe số 4 mở ra. Một thanh niên Việt Nam nhỏ thó, đầu húi cua gần như trọc lốc, bước ra. Anh ta mặc áo da màu đen, giống loại áo mà mẹ tôi hay “đánh” từ Thổ về. Cố tỏ ra khuềnh khoàng, hắn chậm rãi bước đến gần cha tôi, lúc ấy đã xuống xe, cười khẩy: “Lại diễn vở cũ hả ông anh?” “Chú muốn gì?” – cha dượng hỏi, giọng bình tĩnh. Gã thanh niên cũng bình thản kéo dài giọng: “Muốn cái điều mà lần trước em đã nói. Mỗi người một thị trường anh ạ. Nếu anh còn ngoan cố, bọn em không để yên đâu. Em trước là hội nhà Bình thổ đây”. Người tôi lạnh toát đi. “Nhà Bình thổ” – cái tên này tôi vẫn thường nghe người lớn nhắc đến trong những câu chuyện kể như phim kinh dị về nhóm người Việt Nam chuyên đòi nợ thuê, trấn cướp cộng đồng. Tôi vẫn nghĩ mọi người thêu dệt thêm cho thêm phần huyền hoặc thôi, chứ làm gì đến nỗi thế. Nào cứa cổ, nào là mặt, xẻo tai. Tôi không bao giờ tin vào những tin đồn nhảm ấy. Thế mà không hiểu sao, lúc này, nghe gã nhắc đến cái tên nổi tiếng giang hồ nọ, tôi lại thấy bủn rủn chân tay. Bất giác, tôi ngồi sát vào Lusia hơn, nghe cái nóng ấm sôi nổi từ người con vật đang truyền qua cho mình, thấy yên tâm phần nào. Trong lúc ấy, Lusia vẫn không ngừng sủa. Khác với những lần đuổi chim trên đồng, bấy giờ, Lusia căng thẳng và phẫn nộ, mắt nó như có lửa, đỏ vằn lên. Nó không còn hiền khô như một con gấu bông nữa. Mõm nó dài và nhọn ra, như loài lai-ca. Đôi khi nó ngừng sủa để gầm gừ những tiếng dọa dẫm trong cổ họng. Không biết cha tôi nói gì với gã thanh niên vì tiếng Lusia đã át cả tiếng người, tôi không nghe rõ. Chỉ thấy vài ba gã thanh niên cao lớn từ chiếc Uaz nhảy ra, đứng quanh cha dượng tôi. Một tên túm vào cổ áo cha, hẩy dúi ông vào góc xe. Tức thì, tôi chưa kịp định thần, đã thấy cái bóng trắng khổng lồ của Lusia lao xuống, không một tiếng động. Nó thôi không sủa nữa, lẳng lặng đớp ngập răng vào khuỷu tay tên ấy. Tiếng gầm gừ của nó khiến tôi hình dung nó đang nghiến hai hàm răng nhọn hoắt vào nhau, và tay gã kia hẳn đã nát nhừ. Sau đó tôi chẳng còn nhớ gì rõ ràng nữa. Tôi thoáng thấy một tên chạy ra trước mũi xe to, rút chiếc gậy sắt gài ở đầu xe. Tiếng người rú lên, tiếng chó tru ăng ẳng, đau đớn. * Nỗi đau đớn này còn theo tôi rất lâu. Mỗi năm nó một dịu đi, nhưng vẫn như cái dằm nằm sâu đâu đó trong tim tôi vậy. Mùa Hè, khi gió nam tràn về trên cỏ, bãi cỏ gần trường Đại học của tôi cũng ngập tràn những bông hoa cúc kim bé bỏng, thì cái dằm ấy lại ngọ ngậy, khiến tôi đi, đứng, ngồi đều thấy đau. Lusia lần đó không chết. Nó chỉ bị thương nặng. Là con chó trẻ độ tuổi sung sức, nó hồi lại rất nhanh, chỉ bị tật ở chân, đi cà nhắc. Nhưng hình ảnh mớ lông trắng nhuốm đầy máu nằm thượt trên đường ăn sâu vào trí nhớ luôn làm tôi rùng mình. Từ đó, tôi đâm ra thấy yêu mến cái xã hội Nga ở trường học của tôi hơn, cố gắng hòa mình vào đó, như tìm cho mình một góc thân quen ở nhà người lạ! Tôi sợ những người đồng hương của tôi. Mùa rau năm đó, cha dượng tôi vẫn trúng lớn. Hội “Bình thổ” không dám động đến cha, nhưng chính cha lại quyết định thôi trồng rau. “Mệt người, rầy rà…” – cha bảo vậy. Cha bán nhượng lại hết những bịch hạt giống còn lại và cả cái cơ ngơi hàng chục mái nhà kính cho bọn người ác ấy. Tôi không hiểu nổi cha. Về đến thành phố, cha lại trở thành con người khúm núm khó hiểu. Điều làm tôi bất ngờ và đau đớn nhất là cha… bán Lusia. Cha làm điều đó khi vắng tôi. Và ông tránh mặt tôi, bỏ đi thành phố xa một tuần. Mẹ cố gắng giảng giải cho tôi hơn thiệt, rằng không trồng rau, không đi đường trường nữa thì không cần chó to. Mà để nó mãi ở căn phòng bé tẹo này, cũng tội cho nó lắm. Hình như cha bán nó cho một chủ trại ở vùng quê nào đó, ở đó, họ thích giống Kavkaz khổng lồ như Lusia. Mẹ bảo cha đợi tôi nguôi ngoai rồi sẽ cho tôi về đó thăm lại nó. Nhà chủ ấy họ yêu Lusia lắm và tôi có thể yên tâm, không phải băn khoăn gì về nó cả. Nhưng thời gian cứ trôi đi. Những mùa Hè sau đó của tôi không còn bóng dáng của đồng cỏ bạt ngàn và bầu trời phóng khoáng nữa. Tôi bận học. Cha mẹ bận buôn bán. Không một lần nào cha dượng nhắc nhở về Lusia với tôi. Và tôi cũng không hỏi. Tôi không tin câu chuyện về chủ trại kia, nhưng không muốn nghe một câu chuyện khác, thật hơn và buồn hơn. Năm đó, dưới đường, bên khu nhà đối diện, không hiểu sao lũ thanh niên cứ chập tối lại hay túm tụm xập xình đàn hát… Nếu tôi không nghe thấy bài “Lusi” được đệm tha thiết bằng tiếng ghi-ta gỗ thì chắc hẳn tôi sẽ chìm đắm mãi vào những giấc mơ đau buồn. “Con chó bị mất rồi Con chó sống trong sân nhà chúng tôi Lũ trẻ âu yếm gọi Lusi o o Lusi… …. Chúng tôi không bỏ bạn Chúng tôi cần Lusi Một tháng qua đi Trẻ con vẫn tìm Lusi Bỗng có điều gì Xôn xao dưới đường Mọi người nhìn qua cửa sổ Lusi đang ở đó Cùng tám chú chó con … Lusi.. Ô ô ô ô Lusi.” (8) “Lusia, Ô ô ô ô Lusia…” Tôi lẩm bẩm hát theo, mỉm cười nhìn thấy dáng to lớn lồng lộng của Lusia qua hàng nước mắt. Chú thích[/B]: (1): Món thịt rán băm viên nhồi bột hoặc khoai tây (2): Tiếng lóng – bà con người Việt ở Nga dùng để chỉ hiện tượng giá đô-la Mỹ tăng hoặc giảm mạnh đột ngột, ảnh hưởng đến giá hàng hóa (3): Tiếng Nga, nghĩa là “Gấu con”) (4): Loại cá nổi tiếng vùng Astrakhan, sấy khô làm mồi nhắm bia) (5): Một trung tâm thương mại của người Việt, nằm ở phía Nam của Moscow. (6): Loại xe Zhiguli hay dùng để chở hàng (7): Loại xe 12 chỗ ngồi, “đi mọi địa hình” của Nga, rất thông dụng trong thời chiến) (8): Lời bài hát “Lusi” của Gazmanov. Thụy Anh, từ Liên bang Nga - tháng 1-2008. |
| Có 20 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
Cartograph (09-01-2009), doibo (02-09-2010), Flamingo (15-03-2010), Hoa May (11-01-2009), hongducanh (09-01-2009), Huonghongvang (08-01-2009), huongnguyen22 (06-03-2011), Kiet-Anando (15-03-2010), MIG21bis (28-06-2010), nttt1211 (28-08-2011), Old Tiger (11-01-2009), phuongnn (07-01-2009), sad angel (14-11-2010), Siren (15-03-2010), Tanhia (08-01-2009), thanhuv (08-01-2009), Thạch Thảo (07-01-2009), TuDinhHuong (07-01-2009), USY (11-01-2009), Vũ Anh (07-01-2009) | ||
|
#5
|
||||
|
||||
|
Trích:
Phải rồi, những người làm nghề trồng rau để bán cho các Op và bao giờ những người ấy cũng phải có " bảo kê" thì mới tồn tại được không thì phải " ốp nộp" cho "phít" thì mới yên thân. Cảm ơn Hùng đã đưa loạt truyện của Thuỵ Anh về đây .
__________________
Ta về gom trọn thu đông lại Chén rượu nghiêng bình đổ cuộc chơi |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Vũ Anh cho bài viết trên: | ||
|
#6
|
||||
|
||||
|
Sáng nay Hungmgmi tình cờ vớ được tờ phụ bản báo Văn Nghệ Tết Kỷ Sửu. Tờ phụ bản Truyện ngắn hay 2008 in lại khoảng chục truyện ngắn hay đã từng đăng trên báo Văn Nghệ trong năm. Thật thú vị và bất ngờ khi gặp lại Thụy Anh trên đó với truyện ngắn Lusia (Văn Nghệ in với tựa Vĩnh biệt Lusia), bên cạnh các tên tuổi như Hồ Anh Thái, Quế Hương, Trần Huy Quang....Đọc giới thiệu mới biết tác giả sinh năm 1974, tốt nghiệp và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học sư phạm Lênin (cùng tuổi, cùng trường với bác Hổ nhé
|
| Có 10 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
Cartograph (09-01-2009), Flamingo (15-03-2010), hongducanh (09-01-2009), Huonghongvang (08-01-2009), huongnguyen22 (06-03-2011), nttt1211 (28-08-2011), sad angel (14-11-2010), Tanhia (08-01-2009), Thạch Thảo (09-01-2009), Vũ Anh (08-01-2009) | ||
|
#7
|
||||
|
||||
|
Trích:
Trích:
Xin post truyện Cây cải Tashkent do tác giả gửi cho NNN: Cây cải Tashkent Trong cả một nghìn mét đất trồng cải thì cây cải này lớn nhất. Không, nói lớn cũng không phải, mà là khổng lồ. To cao gần bằng đứa trẻ lên bảy lên tám, tay lá xòe như lá chuối, màu xanh đậm. Bẹ thì chắc lẳn, rắn đanh, két đầy đất… Những ngồng cải vươn cao kiêu hãnh, đã ra hoa vàng. - Chà, giống cải Tashkent! – Tôi thốt lên. - Có sự lạ, chứ cải Tashkent có to cũng chẳng to được đến thế. – Galia vừa thoăn thoắt nhổ cỏ, vừa thủng thẳng nói. Cô là người làm công cho tôi (còn tôi lại làm công cho ông chủ của tôi, ở trên Mat.). Galia khá chăm chỉ, có điều hay vòi thêm tiền lương mỗi tháng. Đôi mắt xanh biếc có cái nhìn của người Tiểu Nga, nhẫn nại và chân thật, nhưng suy nghĩ thì đã không còn hồn nhiên như những ngày đầu mới gặp tôi. Bây giờ, cô biết khi nào nên đòi tăng lương mà tôi không thể từ chối được, khi nào im lặng chấp nhận mức lương cố định không thêm không bớt mà tôi đã đặt ra cho cô, có tính thêm phụ cấp sắc đẹp. Nói thực ra thì, hồi mới sang, tôi thấy gái Tây cô nào cũng xinh. Đến hơn một năm thì tôi đã phân biệt được thế nào là “Tây xinh”, thế nào là bình thường. Galia thuộc vào loại bình thường. Mũi cao như… Tây. Mắt sâu, mặt trắng, răng đều, lông mi rợp. Nhưng chỉ thế thôi, chứ không phải đẹp. Cười không rạng rỡ. Nói không dịu dàng. Dáng đi tất ba tất bật. Hông to và xệ… Nhưng cũng không vì thế mà tôi nỡ cắt đi khoản phụ cấp đã trót đặt ra với cô ngay từ đầu. Tôi thầm đổi tên khoản ấy, gọi là phụ cấp nghề nghiệp, đền bù cho đôi tay xước xác vì hàng ngày phải tước lá nhổ cỏ, chăm bẵm cho những thứ rau kỳ lạ của đất nước tôi đang gắng sức vươn lên, sống được ở nơi này. Đất tốt, cây dại mọc nhanh và khỏe, lúc nào cũng chực nhấn chìm rau Việt trong thứ cỏ hoa nồng nàn mạnh mẽ của mình. Năm nay, tôi thử nghiệm một giống cải mới, có vẻ gần gũi hơn với đất Nga mà bà con ta vẫn chấp nhận. Cải Tashkent. Tashkent vẫn là vùng nóng ẩm, nhưng dù sao cũng vẫn là “Tây”, thuộc nước cộng hòa cũ của Liên Xô, ắt hẳn khỏe hơn nhiều cái anh cải xanh cải ngọt của ta. Lý luận của tôi là thế! Hạt giống cải đánh từ Việt Nam sang, cây mọc lên còi cọc, chưa lớn đã trổ hoa vội vàng. Giờ, mới trồng thử một nhà kính, mà đã được cây cải khổng lồ. Những cây khác cũng to mập, nếu để muối dưa thì tuyệt. Hay quá, vụ này, tôi sẽ xui chủ rau không bán cải mà bán dưa, đảm bảo đẩy bật khỏi thị trường hàng dưa Thái đóng túi bóng, vàng một màu vàng đáng ngờ, chua loét lại lờ lợ mùi đường hóa học. - Cô không tưới nó bằng cái quái quỷ gì đấy chứ, Galia? - Cái gì là quái qủy? – Galia cười, chắc cô ta cười cách dùng từ vụng về của tôi. Con gái con đứa gì mà cười cứ há hoác cả miệng ra, thoải mái, vô tư! Tôi hơi khó chịu, nghĩ bụng, phải cho cô này về Việt Nam học cách ăn trông nồi nói cười trông mặt người đối diện. Hết cơn cười, Galia nghĩ ngợi một lúc rồi bảo: - Anh hỏi hai thằng bom-zhờ của anh ấy, biết đâu chúng nó tưới cái gì buổi đêm thật, tôi biết sao được! Bom-zhờ, tiếng Nga là viết tắt của từ “không nơi thường trú”, chỉ mấy người lang thang vô gia cư, vô nghề ngỗng. Ở trại rau này, tôi nuôi hai “đồng chí” bom-zhờ, còn khá trẻ, mặt non nớt, đầu trọc lốc, một cao nhẳng, vai trái xăm hình con công đang xòe cánh, một tầm thước, mắt lúc nào cũng lơ mơ như đang sắp chìm vào cơn ngủ, người vạm vỡ, gân cơ nổi cuồn cuộn, Lý Đức nhà mình còn phải gọi bằng anh! Tôi tình cờ thửa được hai chú này ở phòng của chủ tịch nông trang, khi các chú đến xin việc, vò đầu bứt tai nói không nổi một câu xin xỏ cho ra hồn. Đến khi hiểu ý định của hai chú thì chủ tịch nông trang xua tay lắc đầu. Nông trang đang thu hẹp diện tích trồng trọt, đàn gia súc cũng giảm đi gần một nửa, lấy đâu ra việc cho mấy chú! Thế là tôi được thể ra tay cứu vớt, cho các chú miếng bánh mì ăn hàng ngày bằng việc trông coi trại rau của tôi gồm 8 nhà kính thuê được của nông trang với giá rẻ mạt và một cánh đồng trồng trăm thứ bà rằn. Tôi cũng chẳng buồn hỏi hộ chiếu hay xuất xứ của họ. Hai gương mặt còn rất non nhưng mang vẻ thờ ơ bình thản đến lạnh lùng. Hơi lạnh của bộ mặt làm tôi rợn, không hiểu sao dám chắc hai bom-zhờ hôi hám này sẽ dọa được bọn “phia nhí” địa phương, thế là đủ. Trộm thì tôi không sợ, có lấy rau về cũng chẳng xài được rau muống rau bí nhà mình. Chỉ sợ bọn phia thôn phia xóm mà tôi không chịu “nuôi”, nhỡ chúng nó ngứa mắt lại phá rau của mình thì gay. Mà xì tiền ra trước thì thể nào chúng cũng được thể lấn lướt, đòi hỏi. Vì thế nên tôi quyết định chơi rắn. Tôi bảo các chú cứ ngủ ngày canh đêm. Đốt một đống lửa đuổi muỗi, pha trà trong mấy chiếc ca nhôm nhỏ, thay nhau ngủ ở chòi gỗ…, hai anh chàng đã khiến lũ vòi tiền giạt ra xa. Được một tháng, tôi phấn khởi biếu các chú một thùng mì ăn liền, loại rẻ tiền thôi, chỉ có gia vị không có thịt thà rau cỏ gì kèm thêm. Thế mà hai đứa có vẻ vui lắm, cảm ơn rối rít. Bình thường cấm có hé răng câu nào. Tối đó tôi ở lại uống rượu đêm với hai chú lính gác. Chòi gỗ. Vách gỗ thưa. Sàn gỗ cũ kỹ, kêu rọt rẹt. Một cái bàn, hai ghế dài, một chiếc giường nhỏ xíu. Bình nước nhôm có vòi, nước chảy nhỏ giọt vào chiếc chậu nhỏ để trên bệ gỗ. Một chút rượu Ggelka, vài miếng bánh mì đen cũ đã bở, một ít củ cải vừa hái dưới ruộng, rửa qua thái miếng, vị hăng hăng ngòn ngọt quện với vị cay của vodka… thế là gan ruột tự dưng cứ trút ra với nhau, cho dù tiếng Nga của tôi chưa phải là “dài”. - Anh sang đây chỉ để trồng rau à? – Vlad, anh chàng xăm hình con công múa bắt chuyện với tôi. Tôi chả gật cũng không lắc. Tự dưng lại buột miệng: - Tao là bộ đội. - Bộ đội? Chúng tôi cũng thế! – Lần này đến lượt Vlad buột miệng. Cậu ta chợt nhớn nhác nhìn quanh, rồi thở dài, cầm ca rượu lên dốc cạn. Khà một tiếng, thả miếng củ cải vào miệng, nhai rau ráu… Tôi cũng vớ một củ, vừa nhai vừa nghẹn. Vị cải hăng buốt lên tận óc, khiến tôi hơi choáng váng. Chiêu một ngụm vodka, tôi gắng nuốt cục ứ ở cổ, không rõ là miếng củ cải mắc lại hay là cái gì. Đôi khi tôi ăn cơm cũng hay nghẹn, nhất là những buổi ăn tối một mình. Sương mù giăng thành một dải lụa trắng trên cánh đồng. Tôi nhớ cánh đồng làng tôi buổi sớm mờ đất, cũng một lớp sương giăng. Hơi rượu làm tôi dễ thở hơn, bắt đầu nói, tiếng Việt, tiếng Nga lẫn lộn: - Tao là bộ đội. Trước chỉ có chiến tranh, vào lính thì đi bộ đội. Nay cứ lang thang bất hợp pháp xứ người, không đoàn không hội, thì gọi là bộ đội. Như lính ấy mà, đi làm “nhiệm vụ” cao cả là cứu mình cứu nhà… Hai cậu thanh niên chắc không hiểu gì, mặt ngơ ngơ ngác ngác, nhưng vẫn gật gật với tôi, ra chiều thông cảm. Cậu chàng người vạm vỡ, tên là Andrei, mỉm cười: - Chắc anh nhớ nhà? - Nhớ. Nhớ chung chung thôi. Bố mẹ tao mất cả rồi. Chỉ còn ông anh cả. Thế bọn mày, bố mẹ ở đâu, quê đâu mà lại phiêu bạt đến đây, chẳng có nghề có ngỗng gì cả thế này? - Chúng tôi mồ côi. - Từ trại trẻ ra à? - Vâng, gần như thế. - Sao lại gần như? Thế nào là thế, chứ gần như là thế quái nào? Một thoáng ngần ngại, rồi gần như cùng lúc, Vlad và Andrei đồng thanh nói, cùng nói rất nhỏ, nhưng cộng hưởng của hai tiếng nói trẻ trung khiến thông tin mang lại vang lên rất to, như một tiếng chuông gõ trên đỉnh đầu: - Mồ côi, đi lính, đào ngũ! Hả? Chết cha! Quân cảnh ở Nga làm việc nghiêm lắm. Họ mà phát hiện ra, kỷ luật nặng, có khi người tòng phạm cũng liên lụy chứ chả chơi. Tôi bối rối hỏi: - Sao lại đào ngũ? Khổ quá à? - Không, sợ phải đánh nhau. Mấy năm trước trung đoàn chúng tôi đã đi Chechnya một đợt rồi. Lần này đi Tskhinvali, lành ít dữ nhiều. Andrei đế thêm: - Đi Chechnya về, chết đến cả một phần ba trung đoàn. - Sao lại để chết? Không được huấn luyện tập tành gì sao? - Có, nhưng ít. Lính lấy từ trại trẻ nhiều lắm, họ tiếc gì chúng tôi, có ai chờ đợi ở nhà đâu! - Sao không ai chờ? – Tôi ra một câu hỏi ngu. Mà thực ra cũng chẳng ngu. Chỉ là một câu hỏi, có thể đặt ra cho bất cứ ai trên đời, kể cả tôi. Tôi cũng vậy, có ai chờ tôi không, ở quê nhà? Tôi chợt thấy bóng Thoa, cô bạn gái từ hồi phổ thông, đang đứng hoang mang nhìn tôi, từ phía bên kia dải lụa sương trắng đục. Cô lắc đầu. Phải rồi, tôi đi xa thế, và chẳng hẹn rõ được ngày về. Làm sao người ta đợi được tôi! Giá thời chiến thì chắc cô đã một lòng hẹn ước, đợi tôi cho đến cả khi tôi đã chết đi rồi. Cô sẽ đi tìm hài cốt của tôi. Thậm chí, kể cả lúc cô đã lấy chồng, sinh con, rồi già đi, cô vẫn tìm và vẫn đợi tôi. Nhưng đây là thời bình. Những sự đợi chờ, hò hẹn của người đời đã trút đến kiệt cùng vào những cuộc chiến.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 01-03-2010 thời gian gửi bài 11:06 |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
Милая_утка (01-06-2010), Flamingo (15-03-2010), Siren (15-03-2010), sonkinh (15-03-2010), USY (02-03-2010) | ||
|
#8
|
||||
|
||||
|
Trích:
À cho hỏi thăm, cô gái Thuỵ Anh này có phải là cô nhà thơ này nữa không bác Hùng kiểm tra dùm V/A nha Trích:
__________________
Ta về gom trọn thu đông lại Chén rượu nghiêng bình đổ cuộc chơi |
|
#9
|
||||
|
||||
|
Xin cho hỏi đây có phải thành viên Hoa xuyên Tuyết không hả Hungmgmi. Mình đã đọc thơ dịch từ tiếng Nga và thơ sáng tác của thành viên này và rất thích. Đặc biệt mình thích bài này Thuỵ Anh dịch từ tiếng Anh. Ít khi có bài thơ nào mình đọc lại lần thứ 2 vậy mà bài thơ này mình đọc đến thuộc lòng, xin cảm ơn dịch giả Thuỵ Anh
- My dear, I am too busy to love you Meetings today, ceremonies tomorrows I am gone with endless circle My dear, I am too busy to love you Here greeen grass, soft sun i return to you also passionate kisses we seemed to have all is a dark cloud floating in a stormy day Now, peaceful again, I am so busy, you know? Take your inner desires away, please your love for me, please stop flaring up my worried heart - not only to keep your fire going Like life does not have only love Don't be sad, don't make me tired my dear! by endless asking you always do Yes, I know... you care about me most But could you please let me concentrate? - I hurriedly follow this life, you follow me the gap keeps bigger when you exhausted the gap you trying to fill with your waiting, standing and loving with your wish every early morning with the all-day miss you don't dare to say with the song you sing when washing blanket and pillow with your life , dazed in a stir and jumble Okay, don't say more,honey, I see ! For all your life too busy to love me! - Em yêu, anh quá bận để yêu em: Hôm nay họp hành, ngày mai tổng kết Đời cuốn anh đi trong vòng quay mải miết Em yêu, anh quá bận để yêu em! Anh trả em những cỏ biếc, nắng êm Trả những nụ hôn nồng nàn hình như từng có Tất cả như bóng mây râm thoáng qua trời giông gió Giờ bình yên rồi. Anh bận lắm, em biết không? Hãy dẹp lại một bên những khao khát trong lòng Hãy nén lại tình em thôi đừng bừng lên nữa Tim đầy ắp lo toan, đâu chỉ là nơi giữ lửa Như cuộc đời đâu chỉ có tình yêu! Đừng buồn, đừng làm anh mệt mỏi nữa em yêu Bằng những câu hỏi thăm triền miên em vẫn nhắc Ừ, anh hiểu… em quan tâm đến anh nhiều nhất Nhưng xin hãy để anh tập trung suy nghĩ được không em? - Anh vội vã chạy theo đời, em lại chạy theo anh Khoảng cách cứ dài ra vì em đuối sức Cái khoảng cách mà em gắng lấp Bằng những đợi chờ, chịu đựng, yêu thương Bằng lời chúc bình yên mỗi sớm lên đường Bằng nhớ nhung cả một ngày không dám nói Bằng bài ca em hát thầm khi giặt chăn là gối Bằng cuộc đời em ngơ ngác, rối bời Yêu dấu của em ơi, đừng nói nữa, em biết rồi: Suốt một đời này anh quá bận để yêu em!
__________________
Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con Thay đổi nội dung bởi: rung_bach_duong, 08-01-2009 thời gian gửi bài 21:45 |
| Có 10 thành viên gửi lời cảm ơn rung_bach_duong cho bài viết trên: | ||
Cartograph (09-01-2009), doibo (02-09-2010), Flamingo (15-03-2010), Hoa May (09-01-2009), huongnguyen22 (06-03-2011), nttt1211 (28-08-2011), Old Tiger (11-01-2009), sad angel (14-11-2010), Tanhia (09-01-2009), Thạch Thảo (10-01-2009) | ||
|
#10
|
||||
|
||||
|
Trích:
Trích:
Có lẽ đây là một trong những trường hợp hy hữu mà chúng ta được biết. |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
Flamingo (15-03-2010), Hoa May (09-01-2009), huongnguyen22 (06-03-2011), nttt1211 (28-08-2011), sad angel (14-11-2010) | ||
|
#11
|
||||
|
||||
|
Trích:
Trích:
Chi ay duoi suc, ngo ngac, roi boi ... Oi duc ong chong yeu quy oi, lam on nhin lai! P/s: Mong moi nguoi thong cam, may bi loi, HM khong the viet chu co dau tieng Viet duoc, hic! |
|
#12
|
||||
|
||||
|
Trích:
Trích:
Thực ra Hổ già vẫn âm thầm theo dõi những tác phẩm của Thụy Anh, cũng như những gì bác Gà Mờ và mọi người post lên 4R. Về Thụy Anh Hổ già rất vinh dự được biết nhà thơ, nhà văn và nhà dịch giả trẻ này. Khi Hổ già sang Nga học lại, cô bé đang học năm cuối của Trường SP Lê-nin. Đặc biệt hơn, cô bé còn ở đúng cái phòng mà thời sinh viên Hổ già đã ở. Trong phòng còn nhiều dấu tích của Hổ già để lại.
__________________
Cần tìm Old Tiger xin ghé vào đây. Thay đổi nội dung bởi: Old Tiger, 11-01-2009 thời gian gửi bài 08:36 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Flamingo (15-03-2010) | ||
|
#13
|
||||
|
||||
|
Trích:
Nếu đúng là Thuỵ Anh đã từng ở phòng bác thì đúng là Trái đất quá tròn rồi. |
|
#14
|
||||
|
||||
|
Trích:
Chúng ta cùng chúc cho Thụy Anh - nhà văn, nhà thơ, nhà dịch giả trẻ này mạnh khỏe và cống hiến nhiều hơn nữa cho văn thơ, viết nhiều hơn nữa về nước Nga để chúng ta cùng thưởng thức và nhớ lại những ngày tháng không thể nào quên
__________________
Cần tìm Old Tiger xin ghé vào đây. |
|
#15
|
||||
|
||||
|
Bác làm em nhớ chuyện Thánh Gióng quá, hi hi. Có bác nào biết Thuỵ Anh thì nhắc Thuỵ Anh đừng ướm chân vào nhé, không thì nguy to đấy!
|
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn weekdaysman cho bài viết trên: | ||
|
#16
|
||||
|
||||
|
Trích:
Hay là KTX chẳng cần phải sửa? KTX trường tớ thì cứ 2 năm lại bắt SV - stroi otriat sửa lại. Nhưng thực tình thì không biết dấu ấn của Hổ như thế nào nhỉ? Mùi? Màu? Hay cái gì? |
|
#17
|
|||
|
|||
|
Trích:
Đúng rồi đó bác Vũ Anh ! Một cô bé nhỏ nhắn, rất dễ thương khi tiếp xúc. Tôi rất thích đọc của cô. Tôi như thấy lại nước Nga của mình qua những trang viết của cô. Trong thế hệ 7X học Nga về phát triển trên con đường văn học, có lẽ Thụy Anh được nhiều người trong giới biết tới nhất qua những trang viết của cô. Mạo muội trả lời ké bác Hùng chút nhé! Sori bác ! Thay đổi nội dung bởi: MIG21bis, 28-06-2010 thời gian gửi bài 02:15 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Hoa Pion (02-07-2010) | ||
|
#18
|
||||
|
||||
|
Thảo nào mình thấy Hoa Xuyên Tuyết dịch sát thế
Chỉ hơi băn khoăn là sao bản tiếng Anh không thấy Hoa Xuyên Tuyết ghi tên tác giả thơ người Anh - Anh vội vã chạy theo đời, em lại chạy theo anh Khoảng cách cứ dài ra vì em đuối sức Cái khoảng cách mà em gắng lấp Bằng những đợi chờ, chịu đựng, yêu thương Bằng lời chúc bình yên mỗi sớm lên đường Bằng nhớ nhung cả một ngày không dám nói Bằng bài ca em hát thầm khi giặt chăn là gối Bằng cuộc đời em ngơ ngác, rối bời
__________________
Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn rung_bach_duong cho bài viết trên: | ||
Flamingo (15-03-2010), FORYTCHIA (09-01-2009), huongnguyen22 (06-03-2011), nttt1211 (28-08-2011), Thạch Thảo (10-01-2009) | ||
|
#19
|
||||
|
||||
|
Bài thơ này của Thuỵ Anh là lời hát đối giữa 2 vợ chồng. Đoạn gạch đầu dòng đầu tiên là lời của người chồng dành cho người vợ và từ gạch đầu dòng thứ hai là của người vợ dành cho người chồng.
Đoạn của người vợ thì rõ ràng rồi, đầy trách móc nhưng theo mình đây là lời trách móc của một người vợ hiền thục, yêu thương chồng một mực. Chị đã nén tất cả để cảm thông cho những công việc bề bộn của chồng. Tuy nhiên CS luôn có giá của nó, nếu đàn ông mải mê quá không biết tự điều chỉnh mình thì sẽ có ngày hạnh phúc cũng tuột khỏi tay, âu đó cũng là mất mát tự nhiên thôi. Đây ta tạm gọi là "rủi ro nghề nghiệp". Ở đoạn "hát" của người chồng. Theo mình đây là người đàn ông khá tinh tế đấy. Anh ta hiểu hết đấy, biết hết lỗi đấy, thực lòng mà nói anh ta cũng một mực yêu thương vợ con đấy nhưng hình như anh ta cũng đang bất lực với sự cố này, hình như bản thân anh ta đang bị áp lực công việc dồn nén. Có thể anh ta cũng mơ có những giây phút đầm ấm, thư giãn bên vợ con hằng ngày nhưng công việc, công việc nó cuốn anh ta buộc phải theo guồng không dứt được. Có thể anh ta là người chủ gia đình và áp lực kiếm miếng cơm manh áo về cho vợ con trong cơ chế thị trường này không nhỏ chút nào. "Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm" mà. Nhưng nếu bác chồng của chị phụ nữ trong thơ bận bịu theo kiểu nay bia bọt, mai bù khú với bạn bè không phải vì công việc chính đáng như "Meetings today, ceremonies tomorrows" thì chắc chắn khó có thể chị phụ nữ trong thơ Thuỵ Anh "vừa giặt chăn, là gối vừa ca hát để khoả lấp nỗi nhớ chồng"
__________________
Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con Thay đổi nội dung bởi: rung_bach_duong, 10-01-2009 thời gian gửi bài 08:08 |
|
#20
|
|||
|
|||
|
Trích:
(Thơ Thuỵ Anh). Ngôn ngữ khác nhau, nhưng dù tiếng Nga, tiếng Anh hay tiếng Việt thì đều giống nhau trong cách giải trình lý do chưa hoàn thiện một công việc gì đó. Có “nghìn lẻ một” lý do được coi là chính đáng! Hãy lắng nghe người chồng giải trình với người vợ (Hoặc cũng có thể chàng trai giải trình với người yêu): - Em yêu, anh quá bận để yêu em: Hôm nay họp hành, ngày mai tổng kết Đời cuốn anh đi trong vòng quay mải miết Em yêu, anh quá bận để yêu em! Người chồng (Hoặc chàng trai) thật đáng thương. Anh ta chẳng phải đam mê cờ bạc, hoặc rượu chè, trai gái. Chỉ mỗi chuyện “Hôm nay họp hành, ngày mai tổng kết” vậy mà không còn thời gian để yêu em nữa! Chẳng biết đúng hay sai, có lý hay vô lý, chỉ biết rằng đó là một cách giải trình dễ thương! Tuổi thanh xuân đi qua với biết bao kỷ niệm êm đẹp: bãi cỏ xanh, chiều nắng đẹp, nụ hôn nồng nàn... Nhưng điều kiện cuộc sống dường như đã đưa ta sang một giai đoạn khác: Anh trả em những cỏ biếc, nắng êm Trả những nụ hôn nồng nàn hình như từng có... Những lập luận của thời ngây thơ hầu như cũng không còn nữa, thay vào đó là những lời biện luận có vẻ như “hiện thực” hơn và táo tợn hơn: Tim đầy ắp lo toan, đâu chỉ là nơi giữ lửa Như cuộc đời đâu chỉ có tình yêu! Có ai đó từng nói một cách văn hoa rằng: Cái quan trọng trong tình yêu là hai người cùng nhìn về một hướng, cùng đi chung một con đường! Người ta đã quên đi một điều quan trọng: Khoảng cách! Ở đây, hai người vẫn chung đường, chung hướng đấy thôi, nhưng có một điều đáng chú ý: đó là khoảng cách giữa họ: - Anh vội vã chạy theo đời, em lại chạy theo anh Khoảng cách cứ dài ra vì em đuối sức. Hoá ra, chung đường, chung hướng chưa quan trọng bằng khoảng cách. Chính vì khoảng cách ấy nên người phụ nữ đã phải gắng sức: Cái khoảng cách mà em gắng lấp Bằng những đợi chờ, chịu đựng, yêu thương Bằng lời chúc bình yên mỗi sớm lên đường Bằng nhớ nhung cả một ngày không dám nói Và rồi bất ngờ: Bằng cuộc đời em ngơ ngác, rối bời Người chồng (hay chàng trai) có thể hờ hững, bỏ qua “Nghìn lẻ một” đợi chờ, chịu đựng, yêu thương... Nhưng chắc chắn sẽ giật mình khi đọc mấy chữ “ Bằng cuộc đời em ngơ ngác, rối bời” (D.Q.) Thay đổi nội dung bởi: duy quế, 02-09-2010 thời gian gửi bài 00:05 Lý do: Trình bày |
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Các trang web rao vặt quảng cáo của cộng đồng Việt tại Nga | thanh_lam | Sinh sống tại Nga | 11 | 08-10-2011 04:55 |
| Trang trại của người Việt tại Nga | cuonghn | Sinh sống tại Nga | 5 | 25-05-2009 13:30 |
| Trang web tiếng Nga... | ngoclien_salem | Học tiếng Nga | 2 | 17-02-2009 16:49 |
| Trang chủ tạm ngừng hoạt động | virus | Thông báo của BQT | 1 | 12-03-2008 13:56 |