|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
||||
|
||||
|
Tháng 3/2009, Trường Đại học điện ảnh quốc gia Liên xô VGIK-ВГИК(nay là Trường Đại học điện ảnh quốc gia Liên bang Nga) tròn 90 năm thành lập. Đã từ lâu, trong giới điện ảnh Việt Nam, cái tên Vờ-gíc đã trở nên khá quen thuộc. Nó như là một thương hiệu có uy tín suốt mấy chục năm qua, bởi những cựu sinh viên của Vờ gíc đã góp phần không nhỏ vào sự trưởng thành của nền điện ảnh Việt Nam...
Nhân dịp kỷ niệm này, các cựu sinh viên VGIK đã có một hoạt động rất có ý nghĩa: tổ chức Tuần phim Nga ở Hà Nội và mời các thầy cô giáo VGIK sang thăm Việt Nam. Hungmgmi mới đọc tạp chí Thế giới điện ảnh số tháng 3, trong đó có những hồi ức của các cựu sinh viên VGIK về những năm tháng học tập đáng nhớ tại cái nôi điện ảnh này. Thật may là trên mạng có bản đánh máy những bài viết này, xin copy ra đây cho các bạn cùng đọc: Từ chiếc nôi VGIK… Trong những năm chiến tranh, VGIK vẫn là cái nôi quan trọng nhất để đào tạo những người làm phim và những nhà hoạt động trong các lĩnh vực điện ảnh cho Việt Nam. Hơn nửa thế kỷ điện ảnh Việt Nam cũng là hơn nửa thế kỷ những cựu sinh viên Việt Nam từ trường VGIK góp phần của mình trong từng bước đi của điện ảnh. Cái tên VGIK từ hơn nửa thế kỷ nay đã trở nên quen thuộc với bất cứ người làm điện ảnh nào ở Việt Nam. Đơn giản là vì từ nơi đó- từ trường Đại học Điện ảnh Quốc gia Liên bang Xô Viết (nay là Liên bang Nga), gọi tắt là VGIK- bao thế hệ sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành điện ảnh đã về nước, đã đóng góp công lao, tài năng, sức lực cho nền điện ảnh Việt Nam. Và, chắc chắn rằng nếu thiếu chiếc nôi VGIK thì điện ảnh Việt Nam sẽ có một khoảng trống lớn và chưa thể có được những thành quả như ngày hôm nay! Nói là hơn nửa thế kỷ bởi ngay sau khi Hoà bình lập lại, năm 1956, nhà nước Việt Nam đã chọn lựa và cử lớp cán bộ điện ảnh đầu tiên sang học tập tại trường VGIK. Những sinh viên đầu tiên đó được chọn và “phân công” vào học tại một số khoa và ngành như sau: Biên kịch (đầu tiên là Vũ Thư Hiên, sau đó là Bành Bảo, Bành Châu, rồi Cao Thụy...), Đạo diễn (gồm có Lê Đăng Thực, Nguyễn Khắc Lợi, Nghiêm Phú Mỹ (đạo diễn tài liệu), sau đó là Bùi Đình Hạc, Nguyền Thụ, Trần Đắc...), Quay phim (gồm Nguyễn Quang Tuấn rồi Đỗ Mạnh Hùng, Vũ Phạm Chuân (sau này là Liệt sĩ hy sinh anh dũng ở chiến trường Miền Nam), Nguyễn Xuân Chân…), Hoạ sĩ thiết kế (Lê Thanh Đức), Hoạt hình (Ngô Mạnh Lân), Lý luận phê bình (Phạm Ngọc Trương, Trịnh Mai Diêm, rồi Lê Châu, Nguyễn Thị Lợi... ). Những cán bộ – lưu học sinh điện ảnh này khi về nước hầu hết đã phát huy được vai trò và tài năng của mình, nhiều người trở thành những nhà làm phim hàng đầu trong những lĩnh vực được đào tạo, được phong tặng các danh hiệu cao quý như Nghệ sĩ Nhân dân (các NSND Bùi Đình Hạc, Ngô Mạnh Lân, Nguyễn Khắc Lợi), hay Nhà giáo Nhân dân như Lê Đăng Thực và nhiều Nghệ sĩ Ưu tú. Nhiều người trở thành những nhà quản lý- lãnh đạo chủ chốt của ngành điện ảnh. Tôi còn nhớ những ngày còn bé, phim Liên Xô là “món ăn tinh thần” quý bao nhiêu thì mỗi khi nghĩ đến ‘xứ sở” VGIK, nơi cha tôi từng học 6 năm Đại học, tôi lại thấy ngưỡng mộ bấy nhiêu. Thi đỗ vào Đại học Tổng hợp Văn Hà Nội, tôi không ngờ rằng mình lại có được bước chuyển đổi như thế: được chuyển sang lưu học sinh nhờ kết quả học tập xuất sắc của năm thứ Nhất Tổng hợp Văn và được tuyển vào VGIK! Để được tuyển vào học Lý luận Phê bình (thực ra, phải dịch là Điện ảnh học mới đúng), chúng tôi phải hoàn thành 2 bài luận bằng tiếng Nga, một bài dạng phê bình phim, một bài đánh giá một vấn đề điện ảnh. Bài thứ nhất tôi chọn viết phê bình phim Bài ca người lính, bài thứ hai với chủ đề đánh giá vị trí phim tài liệu trong sự phát triển của điện ảnh VN. Tôi vẫn nhớ những cảm xúc mạnh mẽ khi xem Bài ca người lính, xem ở Việt Nam trước khi sang Nga học, xem ở VGIK trước khi làm bài (trường bố trí buổi chiếu phim riêng cho tôi xem- một sự bất ngờ và cũng là ấn tượng tốt đẹp đầu tiên khi chuẩn bị được bước chân vào VGIK). Lần nào cũng khóc, nhất là ở Nga thì khóc mãi không kìm lại được với trường đoạn cuối khi Aliôsa vội vã chia tay Mẹ ra trận để rồi không bao giờ còn được gặp lại. Khi tôi đem bài phê bình đầu tiên ấy đến nữ TS. Galina Dolmatovxkaia (nhà phê bình điện ảnh nổi tiếng có nhiều công trình nghiên cứu điện ảnh Việt Nam, trong đó có cuốn sách Những tờ lịch trăng viết về điện ảnh Việt Nam rất thú vị), bà tỏ ra phấn khởi và bộc lộ tình cảm trìu mến, chia sẻ với tôi vừa như một người thân, vừa như một đồng nghiệp nhỏ. Sau này, khi học ở trường, thỉnh thoảng tôi vẫn được gặp Galina Dolmatovxkaia mà tôi vẫn gọi thân tiết là “cô Galia”, vẫn chia sẻ với cô nhiều điều. Việc này khiến tôi cảm thấy giữa điện ảnh Nga và điện ảnh Việt Nam, giữa những người làm điện ảnh Nga và Việt Nam có một sợi dây tình cảm đặc biệt. Nói cho “học thuật” thì phim Nga rất gần gũi với phim Việt Nam, chính xác hơn là có ảnh hưởng rất lớn đến phim Việt Nam- ở phương pháp sáng tác hiện thực XHCN, ở tính nhân văn trong cách ứng xử “mình vì mọi người”. Sự ảnh hưởng ấy quá dễ hiểu bởi những người đặt nền móng cho điện ảnh Việt Nam nếu không học ở VGIK thì cũng được đào tạo bởi người thầy- chuyên gia Liên Xô Agida Ibragimov như các học viên đạo diễn- diễn viên khóa 1 của trường Điện ảnh Việt Nam, hoặc được “huấn luyện” ngay tại hiện trường Điện Biên Phủ như các “chàng trai trẻ” quay phim- chụp ảnh đã đi theo đạo diễn Roman Carmen khi ông quay phim Việt Nam trên đường thắng lợi. Trong những năm chiến tranh, VGIK vẫn là cái nôi quan trọng nhất để đào tạo những người làm phim và những nhà hoạt động trong các lĩnh vực điện ảnh cho Việt Nam. Đối tượng được cử đi học chủ yếu là sinh viên mới tốt nghiệp phổ thông và có một số rất ít những cán bộ đang công tác trong các cơ sở điện ảnh ở miền Bắc hoặc vừa ở chiến trường miền Nam ra; kinh phí đào tạo hoàn toàn của nước bạn (căn cứ vào Hiệp định hợp tác Văn hoá- Giáo dục giữa hai nước). Sau khi tốt nghiệp, sinh viên đều được bố trí làm việc trong các sơ sở điện ảnh của nhà nước. Sinh viên VGIK khi về nước, đã trở thành lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành điện ảnh nước nhà. Có thể kể đến các tên tuổi nổi tiếng của lứa “lưu học sinh thời chiến tranh”- (có người kết thúc khoá học trước năm 1975, có người sang học trong thời gian chiến tranh nhưng tốt nghiệp sau ngày đất nước giải phóng): Xuân Sơn (đạo diễn phim truyện); Trần Văn Thuỷ, Trần Duy Hinh, Tô Việt Hải (đạo diễn tài liệu); Nguyễn Sĩ Chung (biên kịch), Vũ Quang Chính, Trần Luân Kim, (lý luận phê bình), Trần Trung Nhàn, Đan Thụ, Nguyễn Mạnh Lân (quay phim), Đinh Triết, Nguyễn Văn Sử, Nguyễn Duy Chiêu, Khuất Duy Tuệ (kinh tế) vv và vv... Năm 1975, Miền Nam hoàn hoàn giải phóng, đất nước thống nhất, điện ảnh Việt Nam bước vào thời kỳ hậu chiến- một thời kỳ được đánh giá là “khởi sắc” nhất trong lịch sử mấy chục năm điện ảnh: không khí sáng tác hào hứng, đội ngũ hùng mạnh, số lượng phim xuất xưởng hàng năm vượt trội và nhiều tác phẩm được đánh giá cao ở trong nước và quốc tế. Có được sự khởi sắc ấy, bên cạnh những nghệ sĩ, các nhà hoạt động điện ảnh dày kinh nghiệm và thành tích của “thời điện ảnh chiến tranh” và những nghệ sĩ điện ảnh Sài Gòn cũ thì các sinh viên điện ảnh tốt nghiệp ở nước ngoài- mà nguồn chính vẫn là sinh viên được đào tạo ở trường Điện ảnh VGIK- là lực lượng bổ sung và đóng góp sức lực đáng kể. Sinh viên Việt Nam vẫn học ở hầu hết các khoa, các ngành học trong trường: từ đạo diễn đến quay phim, từ biên kịch đến lý luận phê bình, từ hoạ sĩ thiết kế- hoạ sĩ hoạ hình đến kinh tế điện ảnh. Bởi vậy, khi về nước, họ trở thành lực lượng hùng hậu trên khắp các lĩnh vực hoạt động của ngành, từ sáng tác đến quản lý điện ảnh. Có thể kể một số cái tên tiêu biểu của các cựu sinh viên VGIK thời kỳ này, bây giờ đó hoặc đang là những nhà sáng tác, những người hoạt động điện ảnh có thành tựu như: Việt Linh, Lê Đức Tiến, Vương Đức, Vũ Xuân Hưng, Hà Sơn, Tô Hoàng… từ khoa Đạo diễn; Lê Ngọc Minh, Nguyễn Hậu, Trần Thanh Hiệp, Đoàn Trúc Quỳnh, Nguyễn Thị Hồng Ngát… từ khoa Biên kịch; Phan Hà Thành, Lê Hồng Chương… từ khoa Quay phim; Phương Hoa, Đỗ Lệnh Hùng Tú từ khoa Hoạ sĩ; Ngô Phương Lan, Phan Bích Hà, Đặng Minh Liên… từ khoa Lý luận phê bình. Một số cựu sinh viên của khoa Kinh tế điện ảnh cũng đã phát huy nghề nghiệp của mình trong nhiều năm qua trên vị trí của các nhà quản lý như Quách Ngọc Xương, Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Thị Minh Hiền, Trần Hữu Thanh, Nguyễn Thị Gia Phong, Nguyễn Văn Chuyền... Khi Liên Xô tan rã, trường Đại học Điện ảnh VGIK- cái nôi lớn nhất cung cấp lực lượng các nhà sáng tác và hoạt động điện ảnh cho Việt Nam cũng tạm ngừng “sứ mệnh” kéo dài bền bỉ bốn thập kỷ. Cũng may là một lứa sinh viên Việt Nam đã kịp học tập và tốt nghiệp trong thời gian “cải tổ” của Liên Xô, về nước đã phát huy được sở trường của mình trong hoạt động điện ảnh với một số tên tuổi được nhiều người biết đến như Phạm Hoàng Nam, Đoàn Minh Tuấn, Phạm Thanh Hà, Bùi Trung Hải, Vũ Ngọc Thanh, Nguyễn Văn Đức, Đặng Việt Bảo, Nguyễn Hữu Mười, Nguyễn Hạnh Lê... Trong 50 năm, tính từ năm 1956 cho đến hết năm 1995, có tất cả 128 sinh viên được đào tạo từ ngôi trường VGIK. Và rất may, cho đến những năm gần đây, lại có những sinh viên Việt Nam được tạo điều kiện hoặc có cơ hội học tập tại VGIK. Tôi có một “kiểm nghiệm” khác về những ảnh hưởng của điện ảnh Nga nói chung đối với phim Việt Nam và ảnh hưởng của “phong cách VGIK” nói riêng đối với người làm điện ảnh Việt Nam. Khi cuốn sách Tính hiện đại và tính dân tộc trong điện ảnh Việt Nam của tôi được dịch sang tiếng Anh, ông Philip Cheah- một chuyên gia nổi tiếng về điện ảnh châu Á và là một trong hai người biên tập cuốn sách của tôi- bỗng bảo tôi: “Lan ạ, đọc xong cuốn sách, tôi đi tìm mua bao nhiêu đĩa phim kinh điển của Nga như Bài ca người lính, Đàn sếu bay, Số phận một con người… Xem thấy các phim ấy đẹp và hay quá. Tôi cũng hiểu hơn về phim Việt Nam”. Thật lạ, trong cuốn sách của mình, tôi phân tích- nghiên cứu một số phim hay của Việt Nam, và không hề so sánh với phim Nga, thế mà Philip Cheah vẫn tự nhận ra mối dây liên hệ, “sự ảnh hưởng”. Cũng có thể cách nhìn nhận, đánh giá tác phẩm điện ảnh của người được “đào luyện” từ VGIK như tôi có nét gì đó đặc trưng kiểu Nga? Kể cũng thú vị! Hơn nửa thế kỷ điện ảnh Việt Nam cũng là hơn nửa thế kỷ những cựu sinh viên Việt Nam từ trường VGIK góp phần của mình trong từng bước đi của điện ảnh. Rồi, các cựu sinh viên VGIK lại truyền thụ và để lại dấu ấn VGIK rõ rệt cho các thế hệ sinh viên của họ trong các Trường Đại học sân khấu Điện ảnh Hà Nội và T.p Hồ Chí Minh. Bởi vậy, những người làm điện ảnh Việt Nam coi VGIK là một trong những chiếc nôi lớn – nơi khởi đầu con đường sự nghiệp của mình. Ngô Phương Lan
__________________
hungmgmi@nuocnga.net Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 25-03-2009 thời gian gửi bài 08:49 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Nina (25-03-2009) | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
Nhớ về VGIK thân yêu Đó là tòa nhà cao 4 tầng nằm trên phố Vinhem-Pích ở phía bắc Thủ đô Matxcơva. Nhà số 3. Ngay đầu phố. Một tấm biển đồng khiêm nhường nằm trên trụ tường chính, trên đó khắc dòng chữ “Trường Đại học Điện ảnh Quốc gia Liên bang Nga mang tên X.Ghereximov”. Trường nằm bên cạnh xưởng phim Thanh thiếu nhi Nga mang tên M.Gorki. Phía đối diện trường là một căn nhà lớn, có vườn cây xanh và hàng rào nghiêm cẩn. Khi tôi còn học ở trường, nơi đó là một trong những cơ quan cua Đảng Cộng sản Liên Xô. Con phố nhỏ chạy ngang đường khá vắng, ít nhà dân. Mùa hè thì sạch bong. Mùa thu đầy lá vàng ướt đẫm. Mùa đông tuyết phủ lệt sệt. Xe con của các thầy cô giáo thường đỗ quanh trường. Nhưng tôi thấy ít thầy cô đến trường bằng xe con. Họ thường đi bằng tàu điện ngầm hay xe buýt cho tiện. Ngày đầu tiên đến trường, thật lạ, đối với tôi hầu như không có gì lạ lẫm. Bởi hình như, tâm hồn mình đã hướng đến đây từ trước đó rất lâu rồi. năm 1984, sau 5 năm phục vụ trong quân đội, tôi được chuyển ngành về Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội. Đang học thì Nhà trường quyết định chọn tôi đi học trường Ngoại giao ở Nga. Nhưng sự tình cờ của số phận đã đẩy tôi rẽ sang con đường điện ảnh. Trước đó, tôi được giải A cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội. Bác Nguyễn Thái Vận, một cán bộ của Cục Điện ảnh, đến nhà, đề nghị tôi chuyển sang ngành điện ảnh. Ông Vận hỏi tôi có ghi chép gì ở chiến trường nữa không? Tôi đưa cho ông xem những quyển sổ nhật ký chiến trường. Ông Vận mượn và chuyển cho ông Bành Bảo. Ít ngày sau, vào một buổi tối, tôi cùng ông Vận đến nhà ông Bành Bảo trến phố Trần Quốc Tỏan. Ông Bành Bảo nói: “Tôi đọc những cái anh viết, thấy anh học điện ảnh được”. Tiện thể ghé thăm ông Bành Châu sát đó. Ông Bành Châu nói: “Điện ảnh là con vật phàm ăn. Trên đường đi nó xơi tất cả hội họa, thơ ca, âm nhạc... Nhưng nó chỉ xơi vừa đủ những thứ này thôi để biến thành cái của nó”. Đó là những lời của những người thầy đầu tiên của tôi – những người hướng tôi vào điện ảnh. Chúng tôi đến VGIK để xem phim. Dạo đó chúng tôi đang học tiếng Nga ở trường Đại học Tổng hợp mang tên Lomonosov. Hàng tuần, vào chiều thứ Hai, VGIK dành một buổi chiếu phim phục vụ cho những sinh viên nước ngoài chuẩn bị thi vào trường. Sinh viên Việt Nam năm đó sang Nga học điện ảnh chỉ có hai người. Bùi Trung Hải thi vào khoa quay phim và tôi thi vào khoa Biên kịch. Sinh viên nước ngoài khá đông, xem phim chật kín cả phòng.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
|
#3
|
||||
|
||||
|
Thấm thoắt một năm. Ngày thi vào trường đã đến. Sáng tác tiểu phẩm. Phòng thi có sinh viên các nước Mông Cổ, Colombia, Bungari, Apghanixtan v.v... Tôi thấy trên bảng ghi mỗi chữ “Prinhiat resenhie” (tạm dịch là Tiếp nhận quyết định hay Quyết định được thông qua). Viết cái gì bây giờ? Trong đầu tôi có nhiều câu chuyện. Nhưng câu chuyện nào thật đặc biệt? Làm sao để người Nga chọn mình đây? Run và lo. Thôi, đành chọn một câu chuyện. Trượt thì thôi. Đi về.
Có một lần, tôi và người yêu đi xem phim ở rạp. Hôm ấy chúng tôi xem phim “Thép đã tôi thế đấy” của Nga. Bộ phim thật cuốn hút. Cuối buổi, trên đường về, hai chúng tôi trao đổi về bộ phim. Paven thật ngốc- Tôi nói. Sao anh lại nói thế? – Cô gái lườm tôi. Em nhớ đoạn, khi Paven và Galia cùng bị bắt trong tù. Bị giam cùng nhau, Galia muốn hiến thân mình cho Paven, nhưng Paven từ chối. Ở cảnh sau, em có thấy ánh mắt của Galia đau đớn, tuyệt vọng khi sáng hôm sau, cô bị bọn Bạch vệ lôi đi hãm hiếp. Cô nhìn Paven và gào lên thảm thiết gọi anh ta không? Ý anh là sao? – Cô gái hỏi. Anh sẽ yêu Galia đêm đó! – Tôi trả lời. Đồ tồi. Galia là em gái của bạn Paven. Anh cút đi. Nhưng Galia yêu Paven. Lúc đó Paven chưa có người yêu. Anh không muốn nhìn cảnh... Từ đó chúng tôi giận nhau rồi sau này, chia tay. Tôi thầm hỏi, một bộ phim có sức mạnh thế nào mà chia cắt được mối tình chúng tôi? Và giờ đây, đến nước Nga, tôi muốn học điện ảnh để làm những bộ phim hàn gắn những mối tình đau đớn. Nộp bài rồi ra về Một buổi chiều, tôi được VGIK gọi đến phỏng vấn. Bước vào căn phòng của khoa Biên kịch ở cuối tầng hai, tôi đã thấy ở đó thầy V.Chiornức (tác giả kịch bản phim Matxcơva không tin vào nước mắt (giải Oscar 1983), thầy X.Soloviop,, với cái nạng ở bên (vì thầy mất một chân trong Đại chiến II), cô giáo A.Kodynova và thầy Iu-Rogodin (trợ giảng). Các thầy cô nhìn tôi đầy đe dọa. Tôi rất lo. Riêng thầy Soloviop lại cười hóm hỉnh, đôn hậu khiến tôi thấy chút hy vọng. Tôi nghĩ các thầy cô khiển trách mình vì tội phỉ báng phim Nga đây. Ngồi xuống – Thầy Chiornưc trầm giọng – Đây là câu chuyện có thật của anh chứ? Vâng. Nhưng không phải của em. Dạo em học lớp 7, đang chơi trên hề phố, một thằng bạn ném vào tay em cuốn tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy”. “Mày đọc đi. Paven ngu lắm! Đếch dám ngủ với gái. Tiếc thật”. Nó nói rồi bỏ đi. Còn em thì sao? – Thầy Chiornức hỏi tiếp. Dạ, theo em, đó là khát vọng của tuổi trẻ.. Khi đó các cậu bao nhiêu tuổi? Dạ. Khoảng 15, 16. Còn chiến tranh không? Dạ, đang còn. À. Thì ra cậu đã tưởng tượng – Cô Kodynova nhìn tôi – Tôi nghe nói cậu thích văn học. Nếu cậu thích viết văn, tôi sẽ cho cậu chuyển sang trường viết văn Gorky. Tôi có nhiều bạn bè ở đó. Cậu thấy thế nào? Dạ, em thích học biên kịch. Còn văn học, tự em sẽ tìm hiểu. Cô gái ấy có tát chàng trai không? – Thầy Chiornức hỏi tiếp. Thực ra chàng trai đã tát cô gái.. Nhưng đó là câu chuyện sau này. Em nghĩ thêm sau khi nộp bài. Câu chuyện của cậu làm chúng tôi rất buồn và buồn cười – Thầy Xoloviop giọng khàn khàn, hơi yếu – Nhưng sau nghĩ lại, tôi thích. Hơn nữa, cậu từng là lính, như tôi. Tôi hiểu... Chúng tôi quyết định tiếp nhận cậu – Cô Kodynova nói – Chúc mừng cậu. Tôi như vỡ ra. Đứng dậy bắt tay và cảm ơn các thầy cô. Thầy trợ giảng Rogogin nháy mắt, cười chia vui.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#4
|
||||
|
||||
![]() Học ở trường VGIK thật vui. Lớp biên kịch của chúng tôi có 12 sinh viên (8 Nga, 4 nước ngoài) mà có đến 4 thầy cô cùng dạy. Thầy Chiornức còn làm giám đốc một xưởng phim có tên là Slovo của Moxphim. Thầy Xoloviop cũng là giám đốc một xưởng phim của Gorky Studio. Cô Kodynova là phó giáo sư. Thầy trợ giảng Rogodin còn rất trẻ, đôn hậu và rất nhiệt tình. Mỗi khi lên lớp, cả 4 thầy cô cùng vào. Thầy Chiornức vừa nói vừa cầm cái vòng có chuỗi tràng hạt của người Hồi giáo trên tay. Tôi hỏi thầy lầnà tràng hạt để làm gì? Thầy nói, làm như thế để tập trung vào những điều mình đang nói. Thầy Xoloviop mỗi lần đến lớp thường chống nạng, kiệm lời nhưng rất sắc sảo. Cô Kodynova nói nhiều nhất và hút thuốc lá liên tục. Cô luôn mang theo cái gạt tàn bằng bạc nhỏ như quả quýt trong túi. Thầy Rogodin hay bị sinh viên hỏi những câu trái khoáy để gây cười nhưng thầy không bao giờ tức giận. Sau 5 năm học, đến khi bảo vệ tốt nghiệp, còn mỗi 7 sinh viên. Nhiều người không theo được, bị đuổi. Môn lý luận kịch bản cũng có hai thầy cô. Đó là thầy Vaixpheld và cô Anne. Thầy Vaixpheld là Giáo sư – Tiến sĩ, từng đi giảng ở Pháp và Mỹ. Thầy rất quý sinh viên Việt Nam. Thầy nói: “Gương mặt sinh viên Việt Nam ấm áp như mặt trời”. Trước đây, thầy đã sang Việt Nam giảng dạy. Thầy được gặp Bác Hồ. Thầy kể với chúng tôi câu chuyện em gái thầy, (những năm 20 thế kỷ XX) làm ở Viện phương đông học, rất có cảm tình với người thanh niên có tên là Nguyễn Ái Quốc. Khi gặp Bác, thầy Vaixpheld cũng nhắc lại chuyện đó. Thầy hay mời chị Hồng Ngát và tôi đến nhà dọn dẹp sách hộ thầy. Tôi hỏi sao thầy không mời sinh viên Nga đến giúp? Thầy nói, trước có mời, nhưng mỗi khi họ ra về, thấy mất khá nhiều sách. Mà toàn sách quý. Lần cuối, thầy tặng chị Hồng Ngát và tôi mỗi người một cục đá nhỏ. Thầy nói đá này được thầy mang về từ núi Capcad. Nhìn viên đá xám xù xì, tôi không biết để làm gì. Sau này, đọc sách mới biết đó là một phong tục của người Nga. Thường quý ai lắm mới tặng đá. Bởi đá tượng trưng cho sự vững bền vĩnh cửu. Khi các chuyên gia Nga sang giảng dạy tại trường ta, tôi có hỏi họ một câu, rằng thời các thày đi học tại VGIK, các thầy thấy thầy giáo nào uyên bác nhất. Tất cả các thầy giá Nga đều kể tên các thầy giỏi như M.Room, A. Batalov, A.Gabrilovich v.v.... song có một điểm chung là ai cũng nhắc đến thầy A. Bakhmuxki. Thầy dạy môn Văn học nước ngoài. Khi tôi sang học, thầy đã già. Thầy có dáng người cao. Trán hói. Gương mặt quắc thước. Đôi mắt tinh anh. Tôi hay nhìn theo những bước thầy đi chậm rãi trên sàn gỗ của trường. Tay thầy lúc nào cũng xách theo cái cặp to. Giờ thầy dạy, rất nhiều sinh viên các lớp khác, các khóa khác ghé vào nghe. Tôi nhớ kỷ niệm lần bị thầy đuổi thi. Dạo đó, hết năm thứ I, chúng tôi phải trả thi phần Thần thoại Hy Lạp. Ở VGIK nói riêng và ở các trường đại học ở Nga nói chung là các môn thi vấn đáp. Bước vào phòng thi, thầy hỏi: “Anh đọc kỹ chưa?” – “Dạ, em đọc kỹ rồi.” – “Tốt. Trả lời câu hỏi nhé. Câu 1. Khi Hecto ra trận, vợ là Ăngđromác làm gì?” – “Thưa thầy, Ăngđromác đến đền thờ cầu nguyện ạ.” – “Tốt. Thế khi bước ra đền thờ, Ăngđromác nhìn thấy cái gì đầu tiên?”. Hỏi chi tiết thế này thì tôi chết. “Thôi, anh về đi. Lần sau trả thi lại”. Tôi đề nghị thầy hỏi tôi câu tiếp theo để gỡ điểm. Thầy không đồng ý. Tôi giận thầy lắm. Nhưng mãi sau này, khi đi sâu nghề viết kịch bản, tôi mới thấm thía cách hỏi của thầy. Đó là khi miêu tả hành động của nhân vật, người viết vừa phải nhập tâm vào nhân vật lại vừa phải như ống kính camera, đi cùng điểm nhìn của nhân vật. Như Andromac vào đền thờ, phải để cho khán giả thấy cái gì mà mắt cô ta nhìn được. Đó là cách miêu tả của điện ảnh. Đến lần sau trả thi, thầy lại hỏi câu khác. “Khi ông Priam, bố của Hecto, sang trại của Asin chuộc xác con, Asin đang làm gì và diễn biến cuộc gặp này như thế nào?”. Ôi, năm thứ I, tiếng Nga đã biết là bao, lại cuốn Thần thoại Hy Lạp quá dày, hơn 800 trang, ai mà đọc kỹ được. Lại bị đuổi thi. Ra ngoài hành lang, buồn quá, nói với Ôlia, cô gái Matxcơva xinh đẹp nhất lớp: “Mình giận thầy Bakhmuxki quá!” – Ôlia kêu lên: “Ôi! Tuấn, bạn nhầm rồi. Đấy là thầy tốt nhất trường ta đấy! Bạn nghĩ lại đi”. Về nhà, đọc kỹ đoạn thầy hỏi, mới hiểu tại sao thần thoại Hy Lạp kỳ vĩ nhất, oanh liệt nhất đồng thời cũng văn minh nhất trong lịch sử Châu Âu và nhân loại.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 25-03-2009 thời gian gửi bài 08:50 |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
|
#5
|
||||
|
||||
|
Tôi cũng rất nhớ thầy A.Alioskin, dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô. Có lần, mùa đông băng tuyết, thầy mời tôi đến đacha (nhà nghỉ) của thầy ở ngoại ô. Tôi đi xe lửa tuyến ngắn (elechtrichika) đến thăm thầy. Hẹn thầy 14 giờ chiều mà mãi 16 giờ tôi mới đến nơi. Thầy cứ cầm ô đứng đợi dưới gió tuyết như vậy. Mà năm đó thầy đã 70 rồi. Về nhà, vợ thầy là bác sỹ lại còn kiểm tra nhiệt độ và đo huyết áp cho tôi xem có cảm lạnh không. Rồi những ngày hè đi làm vườn cùng các cháu gái xinh đẹp của thầy, nghe tiếng máy bay lên xuống ở sân bay Vnukovo gần đó, thầy sợ tôi nhớ nhà, lại dẫn đi dạo.. Thầy chỉ cho tôi những nơi mà đạo diễn A. Tarcovxki từng đến quay phim. Những đêm nghỉ lại nhà thầy, tôi được tự do sục sạo kho sách của thầy. Đọc xem kinh Koran thế nào mà người Hồi giáo sùng tín đến vậy. Thầy chỉ cho tôi những tiểu thuyết của nhà văn Ba Lan vĩ đại Senxkievich. Những bữa ăn ở nhà thầy đạm bạc mà ngon mãi đến bây giờ. Lâu không ra thăm, thầy lại gọi điện về khoa. Tôi lại vào phòng Cô Trưởng khoa nghe. “Tuấn, con trai, có nhớ chiếc giường con ngủ ở nhà tôi không? Tôi đã xin cô Trưởng khoa cho con nghỉ học ra nhà tôi rồi. Mai đến nhé. Nhớ đi chuyến Eletrichika số 14. Không được nhầm. Tôi đợi con.” Cô trưởng khoa động viên. “Đi thăm giáo sư đi. Chuyển lời chào của tôi nhé.” Ôi, cái giường nhà thầy dành cho tôi luôn trắng tinh, thơm ấm. Chơi bài với con gái và cô cháu của thầy, tôi luôn thua vì cô bé quá xinh.
Tôi nhớ cô giáo tiếng Nga X.Xviaxchievna. Nhà trường dành riêng cho tôi một cô giáo tiếng Nga đôn hậu. Những buổi học, cô dẫn đi bảo tàng, chợ chó cảnh hay đi dạo trên phố, học tên từng loại cây, từng loại hoa. Có lần đang đi, tôi thấy một cuộn tiền rúp khá dày trên tuyết. Mừng rỡ. Tôi cúi xuống nhặt. Hí hửng khoe. Nhưng cô bảo, cứ để lại chỗ cũ. Ai đánh rơi, họ sẽ quay lại tìm. Cái gì không phải của mình thì không nên động vào. Một hôm, cô mời tôi và chị Lý Chi Phương, nghiên cứu sinh người Trung Quốc, đến nhà ăn cơm. Cả nhà cô làm bữa ăn rất thịnh soạn. Có đến gần bốn chục món ăn Nga. Nhưng sao đường đến nhà cô xa quá, đi mất hơn một giờ! Tôi nói với cô rằng mình rất xấu hổ vì mình ở gần trường mà hay đi học muộn, khiến cô phải đợi. Từ bữa ăn đó, tôi đi học đúng giờ luôn. Ngày chồng cô, một kỹ sư thổ nhưỡng đột ngột mất. Tôi được dự một đám tang của người Nga. Ba ngày sau, cũng có một cái lễ là lễ rước ảnh từ nghĩa trang về nhà. Chúng tôi đến nghĩa trang nằm ở gần metro “Phố 1905”. Tại đây có mộ của nhà thơ, nhạc sỹ lừng danh Vưisotxky. Đặc biệt, tôi còn thấy mộ của thi sỹ đẹp trai “giàu chất Nga nhất trong số các nhà thơ Nga” – X.Exenin. Mộ chồng cô nằm bên một gốc sồi. Ông là một người “rất yêu đất” như lời cô nói. Hai vợ chồng cô đã đưa chị Chi Phương và tôi đi thăm bảo tàng hoa hồng với gần 500 loại, thăm bảo tàng đồ chơi ở Xuzđan, nơi có những rừng phong vàng bạt ngàn. Tôi nhớ cô Anna dạy dựng phim. Môn học này khá thú vị và phần lớn phải tự giác. Trường học phân cho mỗi sinh viên 5 hộp phim. Năm thứ I, dựng sao cho còn 4 hộp; năm thứ II, còn 3; năm thứ II, còn 2; năm thứ IV, còn 1. Lần dựng vào năm thứ II, tôi dựng cẩu thả cho xong , để còn về phép. Nhưng cô Anna không bằng lòng. Cô cho phép tôi về thăm nhà, khi sang dựng lại. Lúc sang, nhiều bài tập quá, tôi dựng cũng tàm tạm. Cô không hài lòng, bắt làm lại. Tôi nói, thưa cô, cho em điểm trung bình cũng được. Cô nói, nghệ thuật không chấp nhận sự trung bình và khá, phải làm cho đạt từ tốt trở lên. Bài học đó thật thấm thía với tôi. Tôi nhớ thầy Novicov, lúc đó là Hiệu phó, sau này là Hiệu trưởng nhà trường. Thầy dạy chúng tôi môn Mỹ học. Thầy lên lớp không nhiều, chủ yếu hướng dẫn chúng tôi cách đọc những cuốn sách cần thiết. Sách Mỹ học của Nga in thật đẹp. Cuốn nào cũng bìa cứng, trình bày công phu với bao nhiêu tranh ảnh đẹp của phương Tây và phương Đông. Giờ tôi vẫn còn giữ những cuốn sách đẹp như tác phẩm nghệ thuật đó. Phòng của thầy có treo bộ tranh minh họa theo truyện ngắn “Mùa thu của trưởng lão” của nhà văn G. Market. Tôi ngắm mãi không biết chán những bức tranh tối giản mà sâu lắng, thoáng đãng mà ám ảnh của người họa sỹ đồng điệu tâm hồn với nhà văn Colombia. Cô hiệu phó phụ trách sinh viên ngoại quốc A.Storchac có một vẻ đẹp cực sang trọng và kiêu sa. Cô có dáng người thanh cao, quý phái. Gương mặt quyến rũ, mang vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đai, nhìn mãi không muốn rời. Đôi mắt cô sắc sảo đến độ biến mỗi sinh viên trẻ như bọn tôi thành tù binh cả nút. Đám sinh viên ngoại quốc đồn cô là người của... KGB. Riêng tôi thấy cô thật... chính trị. Vào cái ngày Liên Xô rút quân khỏi Apghanistan, trường có tổ chức buổi lễ mít tinh đón các sinh viên Nga đi làm nghĩa vụ quốc tế trở về, tôi cũng được cô mời lên phát biểu. Chắc cô biết tôi cũng từng là lính tình nguyện tại chiến trường Campuchia. Buổi lễ hôm đó thật long tọng, cả trường dự rất đông. Tôi nói, về chiến tranh trong thời hiện đại, về lợi ích các quốc gia, về nghĩa vụ của các dân tộc, về sự vô giá của những liệt sỹ, thương binh v.v... Không hiểu sao tôi lại nói một cách tự do được nhiều đến vậy. Mặt nóng ran, tai ù đi, và khi dừng lời, tôi nghe những tràng pháo tay đầy tán thưởng. Cô Storchac nhìn tôi cười đầy khích lệ và cảm ơn.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
Huonghongvang (26-03-2009), Nina (25-03-2009) | ||
|
#6
|
||||
|
||||
|
Cái không khí ở trường lúc nào cũng đầy hương vị nghệ thuật. Sảnh hành lang tầng 4, nơi các diễn viên ăn mặc gợi cảm, lúc nào cũng nhảy theo tiếng đàn piano ở bên. Nơi các họa sỹ im lặng miệt mài vẽ. Thỉnh thoảng tôi đi qua, lại gặp những người mẫu nuy đẹp như tượng Venus. Studio của trường lúc nào cũng có sinh viên làm bài tập. Cả trường có đến 7-8 phòng chiếu phim. Những lúc chán môn học vô thần hay kinh tế-chính tị, tôi lại mở các phòng đang chiếu vào xem. Thứ 4 hàng tuần, cả trường lại tập trung ở phòng chiếu chung ở tầng 3 xem những phim mới nhất do các xưởng phim sản xuất. Đúng 16 giờ bắt đầu. Đến muộn là hết chỗ. Nơi đây còn đón nhiều đoàn điện ảnh từ Italia, Pháp, Mỹ đến giao lưu với sinh viên. Rồi chiều thứ 6 hàng tuần, sinh viên của trường lại đến đomkino (nhà điện ảnh) để xem phim và gặp gỡ các nghệ sỹ điện ảnh Nga. Nhà ăn của trường món nào cũng ngon. Mở cửa suốt ngày. Sinh viên vừa ăn vừa trao đổi bài tập. Cạnh đó còn có phòng uống cà phê. Sinh viên VGIK phát kiến cách uống cà phê với kem socola. Rất tuyệt. Thư viện trường có cơ man nào là sách điện ảnh. Sách người Nga viết. Sách điện ảnh của nước ngòai dịch ra tiếng Nga. Phòng đọc lúc nào cũng có nhiều sinh viên. Ở VGIK có một môn tự học mà khoa nào cũng có. Đó là môn Konxpiekt (tạm dịch là đọc hiểu). Vào giờ học, các thầy giới thiệu những cuốn sách tham khảo cần phải đọc để phục vụ cho môn học. Các sinh viên phải tự tìm đọc những cuốn sách này. Và đọc xong cuốn nào phải ghi những điều mình thu nhận được vào một cuốn vở, gọi là vở đọc hiểu. Khi thi hết môn, thầy kiểm tra xem sinh viên có vở đọc hiểu không mới cho thi. Nhiều cuốn phải mượn thư viện đọc tại chỗ. Đọc rồi ghi. Cách học này đã thực sự giúp sinh viên nắm kiến thức một cách vững vàng. Rất tiếc ở ta cách học này ít được áp dụng.
Tầng hai của trường, gần cầu thang, có một kios nhỏ. Tại đây chỉ bán sách của các thầy cô giáo trong trường. Giá mỗi cuốn rất phải chăng. Tính theo tiền hiện nay, có cuốn chỉ 3-4000đ, có cuốn đắt nhất cũng chỉ khoảng từ 15-20000đ. Có đủ các loại sách dành cho các chuyên ngành. Có cả luận án (dạng tóm tắt) của các Phó tiến sỹ, hoặc tiến sỹ của Nga và nước ngoài được bảo vệ tại trường. Tôi thấy có cả sách của thầy Trần Thanh Hiệp được in và bày bán. Trước của kios, có một chiếc bàn nhỏ, bày bán bản tin “Đường đến màn ảnh” của trường. (Puti k Ekranu). Bản tin in khổ báo Tuổi trẻ của ta, có 8 trang đen trắng. Trong đó đăng các hoạt động của trường, các bài viết của các thầy, những sáng tác đặc sắc của sinh viên trong trường và các hoạt động điện ảnh quốc tế. Giá bán rất rẻ, chỉ khoảng 500 hay 1000đ. Mà cứ để đó, không có người bán. Sinh viên nào muốn đọc, tự giác bỏ tiền (tùy tâm) vào cái hộp giấy bên cạnh. Có lần tờ báo đã đăng tiểu phẩm của tôi “Em ở đâu, cô gái kém nhan sắc của tôi” với lời giới thiệu rất trang trọng và nhiệt tình của cô A.Kodynova. Sau đó, một đạo diễn người Gruzia đã xin dựng thành phim. Kho lưu trữ tư liệu của trường thật đáng giá. Tôi đã vào đây tìm đọc những kịch bản của những người Việt Nam đầu tiên học tại VGIK như “Đêm cuối cùng, ngày đầu tiên” của Vũ Thư Hiên, “Con voi già” của Bành Bảo v.v... Tất cả các bộ phim của SV từ hàng chục năm trước đều được lưu trữ cẩn thận. Người Nga quả là một dân tộc lớn. Họ gìn giữ từ những cái bé nhỏ nhất. Ngay cả con chó hay con mèo họ nuôi trong nhà cũng được đặt tên là Lưu trữ (Arkhip). Những kỳ thực tập, sinh viên VGIK được tỏa đi khắp các xưởng phim trong Liên bang. Kỳ thực tập năm thứ I, lớp tôi được đến xưởng phim Sông Đông, cách Matxcơva hơn 3000 km. Khát khao được ngắm dòng sông huyền thoại, được chiêm ngưỡng những người phụ nữ Kodắc nồng nàn và man dại như Solokhốp miêu tả trong “Đất vỡ hoang” và “Sông Đông êm đềm” đã khiến chúng tôi như muốn bay về nơi đó. Nhưng thực tế cuộc sống không bao giờ như trong tiểu thuyết. Rồi những năm sau đó, lớp biên kịch được vào thực tập ở Đài truyền hình Nga (sinh viên nước ngòai không được vào thực tập ở Đài) hoặc ở xưởng phim. Tôi rất thích không khí phòng dựng. Ở đó có hai người phụ nữ. (Lạ thật, người dựng phim ở các xưởng đa số đều là nữ) Ngay buổi đầu đã đón tôi thân tình như người nhà. Tôi theo dõi họ dựng phim “Con gái cớm” như thế nào. Rồi ghi nhật ký sáng tác về bộ phim. Cuối hè, nộp cho cô A.Kodynova. Ai ngờ cô lại trích đăng bài của tôi trên tờ báo của Moxfim. Mà toàn những lời chê. Đúng là tuổi trẻ ngông cuồng. Chúng tôi cũng được dự những buổi họp nghệ thuật của xưởng Slovo do thầy V.Chiornưc điều khiển. Ngồi nghe tác giả kịch bản, một người đứng tuổi đọc câu chuyện về nạn buôn bán đồ cổ ở Nga. Được gặp nhà thơ Epghenhi Eptusencô đi lấy nhuận bút kịch bản kiêm đạo diễn phim “Đám tang Stalin”. Năm đó, ông đã 60 mà mới cưới cô vợ trẻ măng 17 tuổi, người Ođexa. Giữa ông thầy V.Chiornưc và nhà thơ có một tình bạn lớn. Trong tuyển tập của E.Eptusencô có đến 3 bài thơ tặng thầy tôi. Năm đó, tôi không được về phép, rất buồn. Cô A.Kodynova, vợ thầy, gọi điện động viên và gửi tôi đi theo “đoàn phim của một người làm thơ như cậu” (Lời cô A.Kodynova). Và cô đã gửi tôi theo đòan làm phim của nhà thơ kiêm đạo diễn E.Eptusencô.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
|
#7
|
||||
|
||||
|
Có lần nhà biên kịch Cao Thụy sang Nga làm phim tài liệu, ghé thăm thầy V.Chiornưc. Hai người trước là bạn cùng lớp nên “mày, tao” thoải mái. Một hôm thầy Chiornưc đánh xe đưa nhà biên kịch Cao Thụy và tôi đi chiêu đãi. Trong câu chuyện của hai người thầy, tôi thấy thầy Chiornưc nói với thầy Cao Thụy: “Lối viết của thằng Tuấn chắc không thích hợp ở nước mày đâu. Nó toàn viết chuyện yêu đương thôi. Sau này về nước, nếu nó không xin được việc, mày nhận nó vào làm được không?”. Thầy Cao Thụy nhận lời ngay. Tôi nghe mà cảm động. Nhìn ra ngoài cửa xe, thấy mình như quả trứng nhỏ, được bà mẹ Matxcơva ấp ủ, che chở. Cũng may khi về nước, kịch bản tốt nghiệp nhan đề “Ngõ đàn bà” được đạo diễn Nguyễn Thanh Vân dàn dựng khá công phu. Rồi kịch bản “Đi tìm chỗ ngủ” tôi viết vào năm thứ IV được đạo diễn Lê Hoàng dựng thành phim “Chiếc chìa khóa vàng” với những cảnh quay tuyệt đẹp về Hà Nội thời chiến và nhiều trường đoạn dựng rất ấn tượng.
Vào các dịp nghỉ hè và nghỉ đông, nhà trường lại tổ chức cho sinh viên đi tham quan. Tôi được đến Erevan cổ kính, thủ đô của nước Armenia, được đi tàu thủy ghé qua hơn 10 thành phố bên bờ sông Vonga vĩ đại, được đi thăm quê hương Traicovxki, L.Tolxtoi... Đó thực sự là những ly rượu ngon đến tận bây giờ. Rồi các kỳ LHPQT ở Matxcơva. Cô A.Kodynova lại kiếm vé cho chúng tôi. Trong những đêm liên hoan phim đó, chúng tôi được gặp các đạo diễn lừng danh như Oliver Stones, F.Copolla, Eric Kustinisa... với những tràng pháo tay dài không dứt khi buổi chiếu mới dừng ở lúc 12 giờ đêm. Ra ngoài rạp, đón luồng gió mát từ sông Matxcơva thổi lên, thấy cuộc đời được nghệ thuật chắp cho đôi cánh đẹp bao nhiêu. Làm sao có thể nói hết về những năm tháng tuyệt vời ở VGIK? Chỉ có thể dùng hai từ Vĩ Đại làm từ đồng nghĩa với VGIK mà thôi. Đó là chưa kể đến ký túc xá của VGIK cũng hết sức tuyệt vời. Nằm trên phố Galuskina, nhà số 7, cao 16 tầng. Năm thứ I, II và III, cứ hai sinh viên được ở một phòng. Riêng sinh viên biên kịch và đạo diễn, đến năm thứ IV và V được ở một mình một phòng vì để tập trung làm bài tốt nghiệp, không ai được quấy rầy. Phòng nào cũng rộng rãi, hai đi văng, bao nhiêu tủ lớn tủ nhỏ. Phòng vệ sinh riêng. Phòng tắm nóng lạnh riêng. Phòng nào cũng có lò sưởi bằng hơi nước. Phòng nào cũng có TV và tủ lạnh. Bếp điện xài thỏa thích. Máy nghe nhạc các loại muốn nghe lúc nào thì nghe, không ảnh hưởng đến phòng khác. Sinh viên Nga và các nước sống với nhau thân ái, chan hòa. Tầng 5 hầu như tối nào cũng có khiêu vũ. Tầng 7 có căng-tin, phục vụ đến 22 giờ khuya. Có lần đạo diễn Bùi Đình Hạc, sau khi đi thăm các trường điện ảnh của Pháp và Tây Ban Nha, ghé vào VGIK. Ông nhận xét nơi ăn chốn ở dành cho sinh viên của VGIK thuộc loại tốt nhất thế giới. Tôi ở tầng 10. Đêm đêm nghe thấy tiếng tàu điện chạy chuyến cuối cùng qua ký túc xá, nhớ Hà Nội ngày xưa vô cùng. Từ căn phòng tôi nhìn ra là một khu rừng phong như một thảm vàng phía xa đẹp đến nao lòng. Chủ nhật rỗi rãi, tôi thường mở to những bản nhạc của Paul Mariat, rồi mở tung cửa sổ, cho âm nhạc, tràn qua nắng, vang đến khu rừng phong lặng im đằng kia. Ở một mình thật thỏai mái. Sách báo vứt đầy lối đi cũng chẳng sao. (Khi đến thăm vợ chồng thầy cô V. Chiornưc và A.Kodynova tôi cũng thấy sách báo của thầy cô vứt đầy nhà... như tôi). Dưới ký túc xác phía sau, là sân bóng nhỏ. Cạnh đó là một kios chữa khóa. Ông thợ chữa khóa hiền lành, nhận việc cẩn thận và luôn trả hàng với chất lượng tốt và chính xác thời gian. Cạnh đó là một nhà ăn rất sạch sẽ. Tôi nhớ cứ thứ Năm là nhà ăn đầy mùi cá vì theo phong tục của Nga, cứ thứ Năm hàng tuần được gọi là “rưpnưi den” (ngày ăn cá). Hôm đó món ăn nào cũng được chế biến từ cá, kể cả xúp. Tôi nhở Stasic, anh chàng biên kịch người Latvia, sống cùng tôi năm thứ II. Anh ta to béo mà hiền vô cùng. Có hôm, đi uống say về, anh vớ khăn lau bàn của tôi để lau mặt. Tôi kêu lên thì anh phẩy tay “Không sao!” và đi ngủ luôn. Lá thư nào của người yêu viết, anh ta cũng cho tôi xem. Tôi hiển thêm về tâm lý phụ nữ. Câu chuện giữa Stasic và cô gái Xanh-Peterburg đã cho tôi nhiều chất liệu để hoàn thành kịch bản “Ngõ đàn bà”. Tôi nhớ Xait, anh chàng Suđăng, cùng học biên kịch. Có hôm anh ta thức suốt đêm để viết. Được trang nào, anh ta lại hưng phấn tung lên, bay đầy phòng. Sáng hôm sau, thức dậy, tôi thấy trong phòng có một đống rác khổng lồ. “Cái gì đây?” – “Kịch bản.” – “Tại sao thế?” – “Đêm qua tao viết thấy hay tuyệt,. Nhưng sáng nay đọc lại thấy như...”. Nó phẩy tay trùm chăn ngủ tiếp. Có lần Xaít khoe tôi truyện ngắn của anh được đăng ở tạp chí văn học của Suđăng.. Bên những dòng chữ A rập mù mịt, là bức minh họa một cô gái ngồi gốc cây bên suối. “Tên truyện là gì?” – “Mùa xuân”. “Cô gái làm gì?” – “Ngồi đợi.” – “Thế thôi à?” – “Thế thôi” – Xait cười, lộ hàm răng trắng muốt. Anh ta tốt nghiệp trước tôi. Về nước, nghe đâu làm phóng viên truyền hình. Suđăng đang nội chiến. Qua bạn bè, tôi nghe tin Xait hy sinh. Thật có lỗi với Xait, vì mỗi lần hắt xì hơi, tôi lại hô “Kháctum!” (tên thủ đô của Suđăng) khiến Xait lại nghiêm giọng: “Tuấn, mày không được làm thế vào thủ đô của tao!”. Còn tôi thì vừa quệt vừa cười: “Tao nhớ thủ đô của mày quá!”. Có lần, buổi sáng đi học, ra phố chờ tàu điện gặp chị Lý Chi Phương, nghiên cứu sinh Trung Quốc. Chị nói giọng buồn: “Hôm qua chúng tôi lên sứ quán. Ông Đại sứ thông báo là Việt Nam đòi chiếm hai hòn đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Trung Quốc”. Tôi nhanh trí đáp ngay: “Hôm qua tôi cũng vừa đọc báo, thấy nói Trung Quốc nổ súng đòi chiếm hai hòn đảo đó của Việt Nam.” – “Thôi, đó là chuyện của hai Nhà nước. Chúng ta làm nghệ thuật, làm sao cho dân hai nước đoàn kết và chung sống hòa bình.” – “Vâng. Đúng thế”. Tàu điện tới, chúng tôi cùng lên và đến trường. Nhớ bao bạn cùng lớm. Cô bạn Ôlia, người Matxcơva, ngồi chơi piano trong căn phòng có cắm hoa dâm bụt mà cô gọi là Hồng Ấn Độ. Ôlia biết tiếng Pháp, hát tiếng Đức rất hay, làm thơ nhiều, vẽ rất điệu. Tôi theo cô gái Kamilia và chàng trai Iura về Kadaxtan, được ăn thịt ngựa và giò ngựa. Cùng Osana, cô gái Hồi giáo đoan trang, có thân hình đẹp nhất lớp về Tasken cổ kính. Cùng Andray, một giáo viên bỏ dạy đi học biên kịch, uống rượu tán phét suốt đêm. Nhưng rồi nghe tin Andray uống say bị cảm chết. Ôi, còn bao nhiêu chuyện sinh viên, oái oăm và lêu têu, chỉ may ra kể được khi chuếnh chóang mà thôi. Tạm biệt VGIK. Đã gần 20 năm rồi. Năm nay VGIK 90 tuổi. Còn tôi thì 50. Hai chúng tôi vẫn như hai đứa trẻ thơ. Đoàn Minh Tuấn Hà Nội 10-01-2009
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
|
#8
|
||||
|
||||
|
Một bài báo đăng trên báo Văn hoá về chuyến thăm Việt Nam của các thầy giáo đã và đang giảng dạy tại VGIK:
Điện ảnh Việt - Nga: Mái trường xưa và những hi vọng mới VGIK – Trường đại học Điện ảnh Quốc gia Liên bang Nga, cái tên thân quen, biết bao tự hào với nhiều thế hệ đi trước của điện ảnh Việt Nam dường như lại có dịp cháy lên trong lòng những cựu sinh viên VGIK trong buổi gặp mặt ấm áp với những người thầy đã và đang giảng dạy tại trường nhân chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam. VGIK một thời... Những câu chuyện cũ được kể lại, những lời thăm hỏi được gửi gắm đến những người thầy, người cô bằng chính thứ tiếng các thầy cô đã truyền đạt kiến thức như sự tri ân quá khứ, hồi tưởng lại một thời sinh viên đã trải qua biết bao những kỷ niệm đẹp trên đất Nga và những bài giảng sống động về điện ảnh của những người thầy. Đạo diễn, nhà quay phim Đan Thiết Thụ kể câu chuyện của mình như một duyên phận: “Khi còn là sinh viên VGIK, tôi ở trong một kí túc xá không có nước nóng mà chỉ toàn nước lạnh, trên tầng 2 phòng 202. Và sau này, có một lần trở lại đó khi Xưởng phim Thanh Thiếu Niên và Xưởng phim Gorki hợp tác làm phim, tôi đã quay lại kí túc xá đứng trước phòng 202 với chiếc chìa khóa cũ ngày xưa, tôi mở được cửa, và bước vào. Tuy trong đó chỉ là những người lạ nhưng đó là sự ngạc nhiên thật lớn đối với một người sau bao nhiêu năm trở lại nơi mình từng sống và học tập”. Nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát thì xúc động: “Thật sung sướng khi được gặp các thầy cô đây, những năm tháng học tại VGIK là những năm tháng đẹp nhất. Và khi trở về, chúng em cũng đã lao động nghệ thuật hết lòng tuy rằng có phim hay, có phim còn chưa thật tốt nhưng một điều chắc chắn, đó là phong cách Nga đã ảnh hưởng không ít tới những bộ phim của chúng em, đề cao tính nghệ thuật với nội dung sâu sắc về thân phận con người và những khát vọng...”. Không chỉ là kỷ niệm về những buổi lên lớp, những kiến thức được truyền dạy, GS Malyshev Vladimir – Hiệu trưởng Trường VGIK còn vui vẻ nhắc lại những kỷ niệm trong khu kí túc xá khi “sinh viên Việt Nam dạy sinh viên Nga cách rán cá mòi”. Và ông mong rằng trong dịp kỷ niệm 90 năm ngày thành lập trường sẽ được đón tiếp những cựu sinh viên VGIK Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đến thăm, tham dự các tiết học, ngủ lại ở kí túc xá để ôn lại những kỷ niệm của một thời là sinh viên VGIK. ... và hi vọng vào những cuộc gặp mới Trong kế hoạch kỷ niệm 90 năm ngày thành lập VGIK, Việt Nam là điểm đến đầu tiên của lãnh đạo nhà trường. Điều này cũng cho thấy mong muốn có nhiều dự án hợp tác làm phim hơn nữa giữa Nga và Việt Nam cũng như việc đào tạo cho Việt Nam những đạo diễn, nhà biên kịch, quay phim... ngày càng phát triển sau một thời gian khá dài bị ngắt quãng. Và ông Vladimir cũng lấy làm tiếc khi hiện tại chỉ có duy nhất một sinh viên Việt Nam đang theo học tại trường. Trong cuộc gặp chiều ngày 6.3 với Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL Hoàng Tuấn Anh hai bên sẽ nhất trí hợp tác làm phim chặt chẽ hơn nữa cũng như các chương trình đào tạo sinh viên cho Việt Nam. Ông Vladimir cũng cho biết, hiện nay nền điện ảnh Nga cũng như nhiều nước trên thế giới - trong đó có Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn của nền kinh tế thị trường, cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây cũng làm cho một số phim của Nga đang quay phải tạm dừng; rạp chiếu phim có nhiều người đến xem phim Mỹ hơn là phim Nga. Tuy vậy, khán giả cũng không thờ ơ với phim Nga, lượng khán giả đến rạp xem phim Nga chiếm khoảng 25%, và hiện tại Nga cũng đang có nhiều dự án làm phim với quy mô lớn. Cùng với sự thay đổi của thời cuộc, VGIK hiện nay vẫn duy trì hệ thống giảng dạy đã được nhiều đạo diễn, diễn viên... nổi tiếng đặt nền móng, đồng thời tiếp thu những phương pháp, bổ sung những trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc học tập, thực hành của sinh viên. Ngoài ra, trường còn mở thêm một số khoa mới đáp ứng nhu cầu cần thiết của ngành điện ảnh như khoa sản xuất phim hoạt hình, khoa về âm thanh và ông Vladimir cũng cho biết, trường đào tạo mọi ngành có liên quan đến sản xuất phim. Cuối buổi gặp gỡ, ông Vladimir đã khẳng định: “VGIK là ngôi nhà thân thiết luôn vui mừng chào đón các sinh viên Việt Nam sang học tập. Và tôi cũng hi vọng các bạn Việt Nam sẽ có nhiều thành công trong hoạt động nghệ thuật của mình. Dân tộc Nga luôn dành tình cảm tốt đẹp cho dân tộc Việt Nam”. Đạo diễn Lê Ngọc Minh kết thúc buổi gặp gỡ, tọa đàm về điện ảnh Việt – Nga bằng câu nói của chính người Nga (tạm dịch): “Không có tạm biệt mà chỉ có hi vọng vào những cuộc gặp mới”. http://www.dangcongsan.vn/cpv/Module...6&cn_id=330130
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
Huonghongvang (26-03-2009), Nina (25-03-2009) | ||
|
#9
|
||||
|
||||
|
Báo Nga có viết tin về chuyến thăm VN của các thầy cô giáo VGIK:
Преподаватели ВГИКа проведут творческие встречи во Вьетнаме Преподаватели Всероссийского государственного университета кинематографии имени С. А. Герасимова отправились во Вьетнам в рамках празднования 90-летия ВГИКа. Делегация университета в составе ректора Владимира Малышева, декана сценарно-киноведческого факультета Ольги Клейменовой, художника-аниматора Сергея Алимова и режиссёра Вадима Абдурашитова вылетела в Ханой 4 марта. Как рассказала корреспонденту Информационной службы фонда «Русский мир» методист отдела международных связей ВГИКа Наталья Ушканова, во Вьетнаме пройдут выставки студенческих фоторабот и работ студентов художественного факультета. Запланирован показ фильмов вьетнамских выпускников ВГИКа, а также творческих работ студентов университета разных лет – Андрея Тарковского, Андрея Кончаловского, нынешних учащихся. Будет организована встреча делегации ВГИКа с руководством Министерства культуры Вьетнама. Педагоги университета также посетят Вьетнамскую школу театра и кино, созданную при содействии ВГИКа. Визит представителей ВГИКа во Вьетнам продлится до 11 марта. По словам Натальи Ушкановой, ВГИК закончили 140 вьетнамских студентов. Сейчас в университете числится один студент из Вьетнама – учащийся 6 курса художественного факультета. «Мы активно сотрудничаем с Вьетнамом. Наши педагоги по договорённости с Ханойской академией театра и кинематографии с 2005 года дважды в год проводят занятия с вьетнамскими студентами по специальностям режиссура, операторская работа, актёрское мастерство», – отметила Ушканова.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#10
|
|||
|
|||
|
Em cũng có một bạn học ở VGIK đấy
|
|
#11
|
||||
|
||||
|
Ô thế à, ngạc nhiên chưa
Phỏng vấn một sinh viên ở Học viện điện ảnh VGIK Đạo diễn Bùi Thu Hồng ![]() Trường ĐH Điện ảnh Liên bang Nga(VGIK) luôn giúp sinh viên độc lập sáng tạo! VGIK - một cái tên thân quen và tự hào với nhiều thế hệ đi trước của điện ảnh Việt Nam như Bành Châu, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Ngô Phương Lan, Trần Thanh Hiệp, Đoàn Tuấn…Nhưng dường như đó là câu chuyện hoài niệm về những thập niên 80 khi điện ảnh Xô Viết còn hùng mạnh với những tác phẩm kinh điển Người thứ 41, Khi đàn sếu bay qua… Những mầm non của điện ảnh Việt Nam giờ đây hướng ra trời Tây với điểm đến là Mỹ, Pháp, Đức, Trung Quốc…Nước Nga đã không còn là nơi đào tạo lý tưởng? PV Tạp chí TGĐA đã có cuộc trao đổi với sinh viên Bùi Thu Hồng - hiện đang theo học đạo diễn điện ảnh và cũng là người duy nhất của Việt Nam theo học chuyên ngành này tại VGIK ở thời điểm hiện nay. Hiện nay Hồng là sinh viên Việt Nam duy nhất theo học tại VGIK? Cho đến thời điểm này thì Hồng là sinh viên Việt Nam duy nhất theo học đạo diễn điện ảnh trong một lớp có tới 15 người mang nhiều quốc tịch như Trung Quốc, Hy Lạp, Mexico, Ý, Hàn Quốc, Pháp... Trước đây có hai người nữa nhưng họ đều không theo được và bỏ dở giữa chừng. Số sinh viên Việt Nam hiện nay theo học điện ảnh tại VGIK còn ba người nữa gồm chuyên ngành Mỹ thuật hoạt hình, dàn dựng và Lý luận phê bình. Sau hơn 10 năm, Vgik mới lại có bốn sinh viên Việt Nam được đào tạo tại đây. Những lớp thế hệ trước theo học tại Nga đều do nhà nước cử đi đào tạo. Hồng đến với VGIK như thế nào? Lúc Hồng sang VGIK, Việt Nam chưa hề có quỹ For hay sự hỗ trợ của Pháp, Hàn Quốc…như bây giờ. Khi tôi đỗ vào chuyên ngành đạo diễn điện ảnh khoá 18 của trường ĐH Sân khấu & điện ảnh Hà Nội thì biết được năm thứ hai, nhà trường sẽ cử một số học sinh xuất sắc (tính theo điểm phẩy học các môn và chuyên ngành) đi đào tạo tại VGIK với học bổng toàn phần do nhà nước đài thọ. Tôi được chọn nhưng bị đình lại do có khó khăn về thủ tục giấy tờ sau hơn 10 năm ngắt quãng việc liên kết đào tạo giữa hai trường. Cuối năm thứ tư, tôi cùng với năm bạn sinh viên khác chia thành hai đợt chính thức sang VGIK. Tôi đi đợt đầu. Tuy được nhà nước đài thọ nhưng trong suy nghĩ của mình, Vgik có phải là điểm đến lý tưởng trong khi có quá nhiều nơi đào tạo hấp dẫn khác? Trước khi sang VGIK, tôi chỉ biết rằng đây là “cái nôi” của điện ảnh Việt Nam một thời, là nơi được thế giới công nhận về hệ thống giảng dạy khoa học. Các chuyên ngành của trường luôn luôn có giảng viên đến từ nhiều nước. Khi sang đây tôi thấy nhiều điều tiến bộ khác như các nước có nền điện ảnh tiên tiến Anh, Mỹ, Pháp, Đức thậm chí Mehico, Brazil…đều có sự hợp tác “trao đổi sinh viên” với VGIK. Tiếc là điều ưu tiên đó chỉ dành cho sinh viên người Nga. Nhưng quan trọng là tôi được sống trong môi trường đào tạo tốt bởi giáo viên người Nga có phương pháp sư phạm. Điểm mạnh nhất của họ là tư duy hình ảnh - cốt lõi của điện ảnh. Họ truyền đạt dễ hiểu. Điểm khác biệt của VGIK so với cách đào tạo mà bốn năm Hồng theo học tại Việt Nam? Bốn năm học ở Việt Nam được rèn luyện làm việc theo êkip thì ở VGIK sinh viên được chú trọng đào tạo làm việc một cách độc lập. Ai cũng có thể làm phim. Khoa tôi theo học, giáo viên là những người số một trong làng điện ảnh, họ dạy mà không có giáo trình. Chắc bạn thấy lạ? Bởi tại VGIK có rất nhiều sách và sinh viên bắt buộc phải đọc bởi đó là cả hệ thống sách đại cương. Ngoài ra còn nhiều sách điện ảnh khác mà nếu bạn không tham khảo, bạn sẽ tụt hậu. Họ rèn cho sinh viên cách tự học. Sinh viên khi trả bài được tự do bảo vệ quan điểm. Chuyên ngành đạo diễn tôi theo học thì người Nga chú trọng nhất công tác đạo diễn với diễn viên. Đó là bài học nhập môn từ năm thứ nhất kèm theo những môn đại cương bắt buộc kèm theo phụ trợ như mỹ thuật, võ thuật…. Nhưng cái lạ ở đây là năm đầu tiên chúng tôi đã phải dựng những đoạn kịch ngắn từ văn học, tự quay thành phim với độ dài từ 1’-5’ và yêu cầu đạo diễn phải có một vai diễn trong bài tập đó bởi diễn xuất cũng là một môn học quan trọng. Năm đầu tiên là năm vất vả nhất với nhiều môn, nhiều sách. Sinh viên phải bắt đầu việc học vào lúc 9h sáng và thường kết thúc vào 11h30 tối. Năm thứ hai thì chú trọng vào kịch bản chuyển thể, năm thứ ba chú tâm vào nhịp phim, năm thứ tư làm hoàn thiện và cuối cùng là trả bài tốt nghiệp. Với sức đọc và giao tiếp như vậy, tiếng Nga phải được đào tạo rất vững? Ngoài tiếng Nga, bạn có được học một thứ ngôn ngữ nào khác? Thực ra chỉ có ba tháng được đào tạo. Tôi sang muộn nên gần như phải học gấp rút và bắt đầu vào năm thứ nhất với vốn tiếng Nga đúng nghĩa đen của từ “điện ảnh câm”. Vừa học tiếng vừa học nghề, bài tập tiết kiệm từ tối đa, không kịp thì mượn vở về chép. Cũng may, cuối năm thứ nhất, do phải tập kịch, làm việc với diễn viên nhiều nên tiếng Nga của tôi cũng tiến bộ lên trông thấy. Tiếng Anh ư? Có lớp chứ, nhưng học thì phải đóng tiền, có ai cấm đâu! Phim tốt nghiệp của bạn là một đề tài về cuộc sống ở Nga hay đề tài Việt Nam? Đó là một câu chuyện tình mang bi kịch thời hậu chiến diễn ra tại một vùng cao Việt Nam. Phim mang tên Hoa đại trắng với độ dài 39 phút, được quay bằng máy Betacam. Khi ấp ủ kịch bản này, tôi đã nghĩ sẽ về Việt Nam làm bởi chi phí rẻ hơn rất nhiều, bối cảnh đẹp và làm những gì gần gũi sẽ tốt cho mình. Tôi làm đơn xin với trường về Việt Nam làm phim và được sự đồng ý. Qủa thực, tôi đã không lầm. Êkip gồm 25 người ở Việt Nam đã giúp tôi có được tác phẩm được đánh giá cao tại kỳ tốt nghiệp, ban giám khảo đã trầm trồ trước những thước phim do nhà quay phim Vi Linh ghi lại…Rất vui là nhà trường đã tạo điều kiện để phim của tôi lên đường tham dự một số LHF ngắn như Upsalla và FliFF. Ở Nga có LHP dành cho phim ngắn không? Và sinh viên được tạo điều kiện tốt nhất? Có chứ, trường VGIK có một LHP nằm trong hệ thống LHP sinh viên quốc tế. Đây là hoạt động thường niên của trường chủ yếu khuyến khích những ý tưởng mới lạ, trẻ trung cũng như tính cập nhật, sử dụng các kỹ thuật mới được áp dụng. LHP đề cao sự giao lưu, chia sẻ của sinh viên với các bạn bè quốc tế chứ không quá chú trọng tới giải thưởng. Sinh viên Nga vẫn là đối tượng ưu tiên số một, còn sau đó mới đến sinh viên du học như chúng tôi. Là sinh viên, tiếp cận với nhiều thông tin về điện ảnh Nga hiện tại. Bạn có cái nhìn thế nào về điện ảnh Nga? Điện ảnh Nga hiện nay đang ở vào thời kỳ tìm đường ra nước ngoài. Những gì mà điện ảnh Việt Nam đang gặp phải thì Nga cũng như vậy, nhưng ở quy mô lớn hơn. Bề dầy văn hoá của điện ảnh Xô viết trước đây quá lớn khiến điện ảnh Nga cảm thấy hoang mang và vẫn đang ì ạch. Nhưng họ vẫn có những cá nhân kiệt xuất, có văn hoá xem phim, háo hức thưởng thức một tác phẩm điện ảnh….Đó vẫn là cơ sở để một ngày nào đó, điện ảnh Nga lại bước ra thế giới. Còn điện ảnh Việt Nam, bạn vẫn theo dõi sát chứ? Tôi học điện ảnh và luôn theo dõi rất sát những gì diễn ra tại Việt Nam. Hơn nữa, trong thời gian chờ đợi lấy bằng tốt nghiệp, tôi có làm thêm nhiệm vụ phóng viên cho một tờ báo mạng về cộng đồng người Việt ở Nga nên thời gian theo dõi cũng nhiều. Tôi hay về Việt Nam khi có dịp, cũng ra rạp mua vé xem phim. Tôi thích xem Dòng máu anh hùng, thích cách làm việc của những đạo diễn mà báo chí gọi là “trẻ” như Bùi Tuấn Dũng, Đào Duy Phúc. Điểm dễ nhìn thấy nhất là điện ảnh Việt Nam chưa có sự chắc chắn để những người làm phim, hay chúng tôi dám sống chết, quyết liệt cùng nó. Nhưng cơ hội đang mở ra rất nhiều với những người làm điện ảnh. Điều dễ nhận thấy là SV theo học tại Việt Nam có điều kiện để tiếp cận với các hoạt động điện ảnh nên khi ra trường rất dễ tìm một cơ hội làm việc. Còn bạn, có bỡ ngỡ khi về nước bắt nhịp với môi trường điện ảnh trong nước? Không! Tôi vừa về Việt Nam làm tốt nghiệp và thấy rất thoải mái. Khi nào bạn sẽ về nước? Tôi đang chờ lấy bằng. Đây là thời gian chết và nóng ruột nhất. Tôi xin làm báo. Vừa đỡ lo lắng, vừa làm được nhiều thứ có ích. Phải về chứ! Điện ảnh Việt Nam rộng thênh thang thế kia không về làm, chui đầu vào cái nơi đất chật người đông, xa quê, viễn xứ để làm gì. Xin cảm ơn bạn về cuộc nói chuyện này! Hoàng Tuấn
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
|
#12
|
||||
|
||||
|
Ối, Gà ơi sao RBD thấy cô bé này quen quen. Hình như RBD đã ngồi ăn cơm với cô bé này một lần rồi. Cô bé thật dễ thương làm sao.
__________________
Con dù lớn vẫn là con của mẹ Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hungmgmi (15-05-2009) | ||
|
#13
|
|||
|
|||
|
Đáng tiếc cho tôi,đang gửi bài về những bài về VGIK thì mất điện,nay viết lại cảm xúc không được như trước . Tôi chưa ăn cơm NGA,chưa học dưới MÁI TRƯỜNG VGIK,tôi chỉ
là người yêu điện ảnh và đã tìm mọi cách xem được rất nhiều phim KINH ĐIỂN và nhiều phim khác của Nga-Xô Viết.Đến nay vẫn còn ấn tượng về "Thiêt giap hạm Pachomkin "và "Nhepsky "của Xergay Ayzanhstanh,"Đât "của Dopzenco,"Người Mẹ "của Pudopkin,"Tôi Cuba" của Roman Karmen.v.v..Về VGIK hình như trong những người VN học Đạo diễn ở VGIK,còn có Lê bá Huyến-người cùng làm phim "NỔI GIÓ "với Huy Thành ?Theo tôi,hình như những người VN hoc ở VGIK chưa tạo được ấn tượng nhiều cho điện ảnh VN . Cũng học như VGIK,nhưng các SV học tại GITIS(Học viện Sân khấu)trở về,đã tạo sự khởi sắc cho sân khấu VN suốt mấy chục năm qua bằng hàng loạt vở diễn và Thể hệ sân khấu Stanhislapsky.Theo tôi, tác động từ VGIK tới VN là các Thày,Cô - Những nghệ sỹ qua tác phẩm của họ đã cho người xem VN thêm những kiến thức,quan điểm nghệ thuật,mỹ cảm mới mẻ về điện ảnh,về cuộc sống.Người xem VN đã biêt và thầm cảm ơn các Nhà biên kịch như GBRILOVIK, EZOP,quay phim IURUSEPSKY,ROMAN KARMEN ,các thế hệ đạo diễn như AYZANHSTANH,PUĐOPKIN,DOPZENCO,KALATOZOP,IUKEVIK,R AIZMAN,KHAYPHIT,CHUKHORAI,KOZINSEP, Ivan PRIEP,GRASIMOP,BONDACHUC v. v..Từ những phim dài tập như "Con đường đau khổ", "Sông Đông êm đềm"...Phim chuyển thể từ văn học như" Hamle","Chàng Ngốc","Phục sinh","Chạy trốn",,,hàng loạt phim về đề tài chiến tranh như "Bài ca người lính","Người thứ 41""Đàn Sếu bay qua","Số phận một con người"...cho tới phim ngắn nhât-"Hai người "(đvoi)phim chỉ dài 25 phút vẫn cho ta bao mỹ cảm về tình người.cuộc sống .Cảm ơn VGIK đã có những nghệ sỹ xứng đáng. Tôi mong rằng những ai đã ăn cơm ,xin chữ ,vay kiến thức ở VGIK,đã cầm bàn là,nồi áp suât,quạt tai voi về VN có tác phẩm xứng đáng hơn nữa ,những ai đã học Biên kịch,lý luận,phê bình cần có những bài viết sâu sắc hơn nữa về tác động của VGIK,về điện ảnh Liên Xô-Nga tới điện ảnh và người xem Việt Nam./. Thay đổi nội dung bởi: Nguyễn Nguyên Hải, 30-09-2009 thời gian gửi bài 12:15 Lý do: Lỗi chính tả |
![]() |
| Bookmarks |
|
|