|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
|||
|
|||
|
Trước hết xin mở đầu bằng bộ sưu tập các từ lóng có gốc Do Thái trong hệ thống Trại cải tạo lao động Gulag
Nguồn: http://shlemazl.blogspot.com/2008/01...nguage-of.html 1. кайф (xuất phát từ kayf כיף trong tiếng Hebrew) – nghĩa trong trại là “phấn khích, vui sướng” 2. Мусор – nghĩa trong trại là “cớm”, “cá” (hàm ý khinh bỉ). Xuất phát từ Moser - מוסר trong tiếng Hebrew có nghĩa là thằng chỉ điểm, thò thụt 3. блат (xuất phát từ tiếng Yiddis “Die Blatte”) – nghĩa trong trại là “mối quan hệ” 4. фраер (xuất phát từ tiếng Yiddis “Frej”) – nghĩa trong trại là “người tự do”, không liên quan tới thế giới tội phạm 5. феня (xuất phát từ tiếng Hebrew אופן) – nghĩa trong trại là “tiếng lóng” 6. ботать (xuất phát từ tiếng Hebrew “botat'” בטא) – nghĩa trong trại là “thể hiện bản thân; thề thốt” 7. ксива (xuất phát từ tiếng Hebrew “ksiva” כתיבה nghĩa là giấy tờ) - nghĩa trong trại là “giấy tờ hợp lệ” 8. малина (xuất phát từ tiếng Hebrew “malina” מלון – nghĩa là khách sạn, chỗ trọ) - nghĩa trong trại là “nơi tụ họp của bọn trộm cướp” 9. параша (xuất phát từ tiếng Hebrew “parasha” פרשה - nghĩa là sự gièm phe, nói xấu) - nghĩa trong trại là “tin đồn” hoặc “cái bô đựng phân” 10. хана (xuất phát từ tiếng Hebrew “khana” חנה nghĩa là trạm, bến) - nghĩa trong trại là “kết thúc, chấm đứt, toi” 11. хипеш (khipesh) – nghĩa trong trại là “tấn công” 12 халява (xuất phát từ tiếng Hebrew khalyava חלב – sữa hay tiếng Yiddish: "dmey khalyav – tiền mua sữa" do người Do Thái Nga quyên góp trong thế kỷ 19 để tương trợ cho người Do Thái Palestine) - nghĩa trong trại là “quà biếu, quà tặng” 13. шалава (xuất phát từ tiếng Hebrew “shalava” שילב, לשלב – nghĩa là kết hợp nhiều người xa lạ lại với nhau) - nghĩa trong trại là “con điếm” 14. шухер (shukher) - "nguy hiểm"; Shaher-Maher - шахер-махер hay shakher-makher – âm mưu trong tiếng Yiddish Shakher-makher סחר מחר trong tiếng Hebrew nghĩa trong trại là “phi vụ đổi chác” 15. поц (tiếng Hebrew là “bình lọ”) nghĩa trong trại là “đặt vào” 16. жлоб (tiếng Hebrew là zhlob) - nghĩa trong trại là “tình cảm ủy mị”. 17. шмон (shmon - tám) nghĩa trong trại là “kiểm tra”, “điểm danh”. Điểm danh và lục xét buổi sáng tại nhà tù Odessa thường bắt đầu vào 8 giờ sáng. Thay đổi nội dung bởi: danngoc, 16-08-2010 thời gian gửi bài 13:44 |
|
#2
|
||||
|
||||
|
Nói chung thì dân nào cũng có tiếng lóng của dân đó , đặc biệt các chú ZEKI( Заключенные) có lẽ do rảnh nhiều nên nghĩ ra cũng lắm từ phết , nhiều từ dân dã dùng lâu thành quen đến như dân ngoại quốc như ta cũng biết như : кайф ( по кайфу ! ) , хана ( вот тебе хана !) hay халява ( он принес халяву ) , шалава ( oна шалава !) ...vv...
|
|
#3
|
|||
|
|||
|
Anne Applebaum
GULAG - Lịch sử trại cải tạo lao động Xô Viết NXB Penguin Books, 2004 Giải Pulitzer 2004 (trích dịch) Thay đổi nội dung bởi: danngoc, 19-08-2010 thời gian gửi bài 20:22 |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Về tác giả
Anne Applebaum học Lịch sử và văn học Nga tại ĐH Yale, học Khoa quan hệ quốc tế tại Trường Kinh tế London và College St Antony, Oxford. Bà từng là writer cho tạp chí Economist, làm biên tập (editor) mục nước ngoài cho tạp chí Spectator và làm columnist cho tờ Evening Standard và tờ Sunday Telegragh. Bà hiện là columnist và thành viên của ban biên tập của tờ Washington Post. |
|
#5
|
|||
|
|||
|
Trích:
Anne Applebaum- Do Thái Zionist học Lịch sử và văn học Nga tại ĐH Yale, học Khoa quan hệ quốc tế tại Trường Kinh tế London và College St Antony, Oxford. Bà từng là writer cho tạp chí Economist, nơi tập trung những phần tử chống Liên Xô và Nga điên cuồng, làm biên tập (editor) mục nước ngoài cho tạp chí Spectator và làm columnist cho tờ Evening Standard và tờ Sunday Telegragh. Bà hiện là columnist và thành viên của ban biên tập của tờ Washington Post, những tờ báo Do Thái xuất bản ở Mỹ. Lý do để thêm vào: nói hộ họ những điều họ không muốn nói, nói hộ những ai chưa biết điều họ cần biết. Chữ đỏ kia chẳng phải tìm đâu xa, đọc bài này là đủ: http://www.jewishworldreview.com/0210/applebaum.php3 Bác Ngọc nếu có thì giờ thì giải thích dùm bài 1, sao lại lắm tiếng lóng Do Thái đến vậy? |
|
#6
|
|||
|
|||
|
Bản quyền bản dịch tiếng Việt: danngoc
Lưu ý: Cuốn sách này chỉ có giá trị tham khảo. Người dịch không chịu trách nhiệm về những nhận xét, lập luận và quan điểm của tác giả. Thay đổi nội dung bởi: danngoc, 19-08-2010 thời gian gửi bài 15:54 |
|
#7
|
|||
|
|||
|
Lời cảm ơn
Có lẽ không một cuốn sách nào chỉ là công sức làm việc của một cá nhân, và cuốn sách này thực sự không thể viết ra nếu không có những đóng góp làm về kinh nghiệm, kiến thức, tư duy triết học và lao động của rất rất nhiều người, một số trong đó là những bạn thân nhất của tôi, và có một số tôi chưa hề được gặp mặt. Mặc dù nghe thật kỳ quặc, trong lời cảm ơn của tác giả dành cho những người viết đã qua đời từ lâu, tôi muốn được dành sự ghi nhận đặc biệt cho một nhóm nhỏ nhưng rất đặc biệt những người sống sót trải qua trại, mà hồi ký của họ tôi đã đọc đi đọc lại suốt thời gian viết cuốn sách này. Mặc dù rất nhiều người sống sót đã viết lại một cách sâu sắc và lưu loát kinh nghiệm của họ, đơn giản rằng không phải tình cờ mà cuốn sách này chứa đựng một lượng vượt trội những trích dẫn từ tác phẩm của Varlam Shalamov, Isaak Filshtinsky, Gustav Herling, Evgeniya Ginzburg, Lev Razgon, Janusz Bardach, Olga Adamova-Sliozberg, Anatoly Zhigulin, Alexander Dolgun và, tất nhiên, Alexander Solzhenitsyn. Một số trong số họ là những người sống sót nổi tiếng nhất của Gulag. Những người khác thì không – nhưng tất cả đều có chung nhau một điều. Trong số hàng trăm hồi ký mà tôi đọc, hồi ký của họ nổi bật không chỉ vì độ dài bút ký mà còn bởi vì khả năng của họ giúp khảo sát được những gì chìm dưới bề mặt của nỗi khủng khiếp hàng ngày và giúp tìm thấy sự thực phía sâu về tình cảnh của con người. Tôi cũng vô cùng cám ơn sự giúp đỡ của một số người Moskva đã hướng dẫn tôi xuyên qua các lưu trữ, giới thiệu tôi gặp những người sống sót, cung cấp cho tôi các hiểu biết của chính họ về thời kỳ đó mà họ đã trải qua. Người đầu tiên trong số họ là nhà nghiên cứu lưu trữ và sử gia Aleksandr Kokurin – người tôi hy vọng sẽ có ngày được ghi nhớ như nhà tiên phong của lịch sử Nga hiện đại (the new Russian history) – cũng như Galya Vinogradova và Alla Boryna, cả hai cùng cống hiến bản thân cho dự án này với lòng hăng hái khác thường. Vào những thời điểm khác nhau, tôi được giúp đỡ bởi cuộc trao đổi với Anna Grishina, Boris Belikin, Nikita Petrov, Susanna Pechora, Aleksandr Guryanov, Arseny Roginsky và Natasha Malykhina thuộc Moscow Memorial, Simeon Vilensky thuộc Vozvrashchenie; cũng như Oleg Khlevnyuk, Zoya Eroshok, giáo sư Natalya Lebedeva, Lyuba Vinogradova và Stanislaw Gregorowicz, cựu thành viên Sứ quán Ba Lan tại Moskva. Tôi cũng vô cùng cám ơn nhiều người đã cho tôi thực hiện các cuộc phỏng vấn kéo dài và nghiêm túc, tôi tuổi họ được liệt kê tách bạch trong phần Bibliography. Ngoài Moscow, tôi mang món nợ lớn với nhiều người đã sẵn sàng ngưng công việc và đóng góp những khoản thời gian lớn để cho một người nước ngoài chân ướt chân ráo, đôi khi như trên trời rơi xuống, để hỏi những câu hỏi ngây ngô về các chủ đề mà họ đã tìm hiểu từ nhiều năm trời. Trong số họ có Nikolai Morozov và Mikhail Rogachev ở Syktyvkar; Zhenya Khaidarova và Lyuba Petrovna ở Vorkuta; Irina Shabulina và Tatyana Fokina ở Solovki, Galina Dudina ở Arkhangelsk; Viktor Shmirov ở Perm; Leonid Trus ở Iskitim; Veniamin Ioffe và Irina Reznika thuộc St Petersburg Memorial. Tôi đặc biệt cám ơn các thủ thư của Thư viện Arkhangelsk Kraevedcheskaya, nhiều người trong số họ đã giúp tôi cả ngày để giúp tôi hiểu lịch sử vùng họ sống, đơn giản vì họ cảm thấy đ1o là một điều quan trọng đáng làm. Tại Warsaw tôi được giúp đỡ nhiều bởi thư viện và lưu trữ của Viện Karta, cũng như bởi các cuộc trao đổi với Anna Dzienkiewicz và Dorota Pazio. Tại Washington DC, David Nordlande và Harry Leich đã giúp tôi trong Thư viện Library of Congress. Tôi đặc biệt cám ơn Elena Danielson, Thomas Henrikson, Lora Soroka và đặc biệt là Robert Conquest thuộc Viện Hoover. Sử gia Ý Marta Craveri góp công lớn giúp tôi hiểu về các cuộc nổi dậy trong trại. Các cuộc trò chuyện với Vladimir Bukovsky và Aleksandr Yakovlev cũng giúp tôi hiểu thêm về thời hậu Stalin. Tôi mang món nợ đặc biệt với Quỹ tài trợ Lynde và Harry Bradley, Quỹ the John M. Olin, Việt Hoover, Quỹ Marit và Hans Rausing và John Blundell ở Viện quan hệ Kinh tế vì các hỗ trợ tài chính và tinh thần của họ. Tôi cũng cám ơn các bạn đồng nghiệp đã cho lời khuyên trong quá trình viết cuốn sách này. Trong số đó có Antony Beevor, Colin Thubron, Stefan và Danuta Waydenfeld, Yuri Chris Joyce, Alessandro Missir, Terry Martin, Alexander Gribanov, Piotr Paszkowski và Orlando Figes, cũng như Radek Sikorski. Đặc biệt cám ơn Goerges Borchardt, Kristine Puopolo, Gerry Howard và Stuart Proffitt, người đã tiên đoán về sự hoàn thành cuốn sách này. Cuối cùng, vì tình bạn, lời khuyên, sự hiếu khách và thực phẩm mà họ đã ban cho tôi, tôi muốn cám ơn Christian và Natasha Caryl, Edward Lucas, Yuri Senokossov và Lena Nemirovskaya, các vị chủ nhà Moscow tuyệt vời của tôi. |
|
#8
|
|||
|
|||
|
Trong những năm tháng kinh hoàng của thời kỳ khủng bố Yezhov, tôi đã trải qua 17 tháng xếp hàng chờ đợi bên ngoài nhà tù ở Leningrad. Một ngày nọ có ai đó trong đám đông nhận ra tôi. Đằng sau tôi có một phụ nữ, môi tái xanh vì lạnh, cô ấy tất nhiên là trước đây chưa bao giờ nghe đến tên tôi. Lúc ấy cô đột nhiên bừng tỉnh khỏi trạng thái đờ đẫn vốn có của chúng tôi và thì thào hỏi tôi (ở đây mọi người đều thì thào):
"Cô có thể tả lại tất cả những điều này?" Và tôi đáp: "Có thể" Và rồi có nét gì đó như nét cười thoáng lướt qua trên những gì vốn đã từng là khuôn mặt của cô... - Anna Akhmatova, "Thay cho lời nói đầu", Bản cầu hồn 1935-1940 Cuốn sách này dâng tặng cho những người đã tả lại những gỉ từng xảy ra |
|
#9
|
|||
|
|||
|
Lời giới thiệu
Và số phận khiến tất cả đều như nhau Ngoài giới hạn của các luật lệ Dù là con nhà kulak hay chỉ huy Đỏ Dù là con cố đạo hay chính ủy... Nơi đây mọi giai cấp đều như nhau, Ai ai cũng là anh em, là phạm tất, Đeo mác kẻ phản bội - hêt thảy mọi người... - Aleksandr Tvardovsky, "Quyền được có ký ức" Đây là lịch sử của Gulag: lịch sử của một hệ thống mênh mang những trại lao động đã có thời rải rác dọc ngang chiều dài chiều rộng của Liên bang Xô viết, từ những đảo nhỏ trên Bạch Hải dài cho đến bờ của Biển Đen, từ Cực Bắc cho đến những thảo nguyên Trung Á, từ Murmansk tới Vortuka và Kazakhstan, từ trung tâm Moscow cho tới ngoại ô Leningrad. Theo nghĩa, từ GULAG là viết tắt của Glavnoe upravlenie lagerei, hay Ban trung tâm Quản lý Trại. Qua thời gian, từ "Gulag" đã hàm ý không chỉ là ban quản lý những trại tập trung mà còn là bản thân hệ thống trại lao động Xô viết, cả tội phạm lẫn chính trị, cả trại phụ nữ, trại trẻ em, trại trung chuyển. Rộng hơn nữa, "Gulag" đã trở thành bản thân hệ thống chế áp Xô viết, là cái mà tù nhân từng gọi là "cỗ máy nghiền thịt": sự bắt bớ, thẩm vấn, việc di chuyển trong những toa chở gia súc không có sưởi, lao động cưỡng bức, gia đình bị tan nát, những năm tháng trải bị lưu đày, những cái chết sớm và không cần thiết. Thay đổi nội dung bởi: danngoc, 19-08-2010 thời gian gửi bài 20:23 |
|
#10
|
|||
|
|||
|
Gulag có nguồn gốc từ thờ nước Nga Sa hoàng, tại những đội lao động cưỡng bức làm việc ở Siberi từ tk 17 cho tới đầu tk 20. Nó mang hình thức hiện đại và quen thuộc hơn hầu như ngay sau CM Nga, và trở thành phần thiết yếu của hệ thống Xô viết. Khủng bố hàng loạt chống lại những kẻ chống đối có thực nhưng không đủ chứng cứ là một phần của CM ngay từ khi khai sinh-và vào mùa hè 1918, Lenin đã từng yêu cầu rằng "các phần tử không đáng tin cậy" phải bị nhốt trong các nơi tập trung bên ngoài các thành phố lớn. Một chuỗi những quý tộc, thương nhân và những người khác bị xem là "kẻ thù" tiềm tàng đã bị bắt giam đúng lúc. Năm 1921, đã có 84 trại ở 43 tỉnh, hầu hết là để "cải tạo" những kẻ thù đầu tiên đó của nhân dân.
Thay đổi nội dung bởi: danngoc, 19-08-2010 thời gian gửi bài 20:20 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
quangnam (29-02-2012) | ||
|
#11
|
|||
|
|||
|
Trích dịch:
14 Tù trại Con người là giống sinh vật có thể thích nghi với mọi thứ, và tôi cho rằng đó là khái niệm đúng nhất về nó. - Fyodor Dostoevsky, Ghi chép từ Ngôi nhà chết. Urki Bọn tội phạm Đối với đám tù chính trị kinh nghiệm non nớt, đối với cô gái nông dân trẻ tuổi bị bắt vì ắn cắp một ổ bánh mì, đối với tay người Ba Lan bị lưu đày hoàn toàn không có chuẩn bị, cuộc chạm trán đầu tiên với bọn urki, tầng lớp tội phạm chuyên nghiệp ở Liên Xô, chắc hẳn sẽ rất lúng túng, choáng váng và không thể hiểu nổi. Evgeniya Ginzburg gặp bọn tù tội phạm nữ lần đầu tiên khi đang lên tàu đi Kolyma: Chúng là lớp váng sữa của thế giới tội phạm: bọn giết người, lũ ác dâm, lão luyện trong mọi trò đồi bại tính dục... không bỏ phí chút thời gian nào, chúng bắt tay vào khủng bố tinh thần và bắt nạt các “quý bà”, khoái trá nhận thấy “lũ kẻ thù của nhân dân” là những sinh vật bị khinh rẻ và ruồng bỏ còn hơn cả bản thân chúng... Chúng giật lấy mẩu bánh mì của chúng tôi, cướp sạch đến mảnh giẻ rách và món đồ đạc tư trang cuối cùng, xua chúng tôi khỏi chỗ nằm mà chúng tôi phải chật vật mới tìm được... (E. Ginzburg, Chuyến đi về Miền gió xoáy, tr. 266-273) Di chuyển trên cùng tuyến đường, Aleksandr Gorbatov – tướng quân Gorbatov, một anh hùng Liên Xô, khó có thể xem là một người hèn nhát – đã bị cướp mất đôi ủng ngay trong khoang chiếc tàu hơi nước Dzhurma khi đang vượt Biển Okhotsk: Một tên trong bọn chúng đấm mạnh vào ngực tôi, sau đó vào đầu rồi vừa nói vừa nhìn thật đểu cáng: “Nhìn thằng này xem – mấy hôm trước nó bán tao đôi ủng, tiền thì bỏ túi mà ủng thì không chịu đưa!” Chúng bỏ đi với của món cướp được, cười ha hả vì hài lòng và chỉ ngưng đánh tôi nhừ tử cho đến khi, đã hoàn toàn tuyệt vọng, tôi đi theo chúng và xin được trả lại đôi ủng. (Gorbatov, tr. 125) Hàng chục hồi ký khác cũng mô tả các cảnh tương tự. Bọn tội phạm chuyên nghiệp xông vào đám tù với vẻ giận dữ điên cuồng, hất họ khỏi giường tầng trong lán hay trên tàu hỏa; ăn cắp mọi thứ quần áo còn lại của họ; hú hét, chửi bới và nguyền rủa. Đối với những người bình thường, sự xuất hiện và cung cách của chúng thật cực kỳ quái đản. Antoni Ekart, một tù người Ba Lan, đã chết khiếp bởi “sự hoàn toàn không thèm kiềm chế của bọn urka, chúng nhơn nhơn thực hiện mọi nhu cầu tự nhiên trước mặt mọi người, kể cả chuyện thủ dâm. Điều này khiến chúng giống bầy khỉ một cách đáng sợ, có vẻ còn có nhiều điểm chung với khỉ hơn là với người”. Mariya Ioffe, vợ của một người Bolshevik nổi tiếng , cũng viết rằng bọn trộm công nhiên giao cấu với nhau, trần truồng đi bộ trong lán và không có cảm xúc gì với người khác: “Chúng chỉ sống có mỗi phần xác”. (M. Ioffe, tr. 8-9.) |
|
#12
|
|||
|
|||
|
Chỉ cần vài tuần hay vài tháng trong trại thôi là những kẻ ngoại đạo ngờ nghệch sẽ hiểu ra rằng thế giới tội phạm không chỉ có bề ngoài, rằng nó có tôn ti trật tự và hệ thống thứ bậc riêng của nó; rằng, trong thực tế, có rất nhiều kiểu trộm cướp khác nhau. Lev Razgon đã giải thích: “Chúng được chia ra thành các đẳng cấp và băng nhóm, mỗi loại có thứ kỷ luật sắt riêng với nhiều quy tắc và luật lệ, và nếu vi phạm thì sự trừng phạt sẽ rất nghiêm khắc: đỡ nhất thì cá nhân đó bị loại ra khỏi nhóm, còn tệ nhất là bị giết chết”.(Razgon, tr. 184)
Karol Colonna-Czosnowski, một tù người Ba Lan nhận ra mình là tù chính trị duy nhất trong một trại đốn gỗ miền bắc gồm toàn tù tội phạm, cũng chứng kiến các khác biệt như trên: Bọn tội phạm người Nga ngày ấy rất ý thức về chuyện đẳng cấp. Trong thực tế, đẳng cấp đối với chúng là tất cả. Trong hệ thống tôn ti của chúng, đám tội phạm tiếng tăm như cướp ngân hàng hay cướp tàu hỏa thuộc đẳng cấp trên. Grisha Tchorny, thủ lãnh bọn xã hội đen trong trại, là một kẻ như vậy. Dưới đáy hệ thống là lũ trộm vặt như bọn móc túi chẳng hạn. Bọn đàn anh sử dụng chúng làm phục dịch và đưa tin, tóm lại là chúng khá bị xem thường. Tất cả những tội khác tạo thành số đông thuộc tầng lớp ở giữa, nhưng thậm chí ở trong đám này cũng phân ra nhiều loại. Theo nhiều cách, cái xã hội lạ lùng này như một phiên bản biếm họa của thế giới “đời thường”. Tại đó ta có thể tìm thấy hình ảnh tương tự của mọi khía cạnh tính cách tốt xấu đúng sai của con người. Lấy ví dụ, ta dễ dàng nhận ra trong đó một người giàu tham vọng thăng tiến, một kẻ hợm hĩnh, một gã thấy sang bắt quàng làm họ, một thằng lừa đảo, cũng như có những con người trung thực và hào sảng... (Colonna-Czosnowski, tr. 109) còn tiếp ... |
|
#13
|
|||
|
|||
|
Trên đỉnh của hệ thống trật tự ấy, có quyền áp đặt luật lệ lên trên tất cả, là bọn tội phạm chuyên nghiệp. Được gọi là urki, là blatnye, hay, nếu chúng thuộc đẳng cấp ưu tú độc đáo nhất của thế giới tội phạm, là vory v zakone – được dịch là “bọn cướp đúng luật” – lũ tội phạm chuyên nghiệp người Nga sống theo một loạt quy định luật lệ nằm trên cả quy định của Gulag, thậm chí còn lâu đời hơn. Chúng không giống chút gì với hầu hết vô số tù nhân bị lãnh án “tội phạm hình sự” bên trong Gulag. Những tù tội phạm được gọi là “thông thường” – những kẻ bị kết án trộm vặt, vi phạm quy định tại công trường, hay các tội phi chính trị khác – ghét cay ghét đắng bọn cướp đúng luật cũng ngang như chúng ghét tù chính trị vậy.
Cũng không có gì đáng ngạc nhiên: bọn cướp đúng luật có lối văn hóa rất khác biệt so với cung cách của một công dân Liên Xô bình thường. Nguồn gốc của nó bắt rễ sâu xa từ lũ tội phạm ngầm thời nước Nga Sa hoàng, từ các băng nhóm trộm cướp và xin ăn điều hành các vụ trộm vặt vào thời kỳ đó (Varese, tr. 162-164). Tuy nhiên nó đã phát triển lan rộng hơn nhiều trong những thập niên đầu tiên của chế độ Xôviết, nhờ hàng trăm ngàn trẻ mồ côi – nạn nhân trực tiếp của cách mạng, nội chiến và tập thể hóa – những kẻ phải vật lộn để sống sót, thoạt tiên là lang thang đường phố, sau đó là đi ăn trộm. Đến cuối những năm 1920, khi hệ thống trại bắt đầu lan rộng theo quy mô lớn, bọn tội phạm chuyên nghiệp biến thành một cộng đồng hoàn toàn độc lập, có bộ luật hành xử hoàn chỉnh và nghiêm khắc cấm chúng tuyệt đối không được có bất cứ liên hệ gì với chính quyền Xôviết. Một tên cướp đúng luật phải từ chối lao động, không được dùng giấy thông hành, từ chối cộng tác dưới bất cứ hình thức nào với chính quyền trừ phi nhằm mục đích lợi dụng nó: bọn “quý tộc” trong vở kịch Aristokraty năm 1934 của Nikolai Pogodin đã có thể xem là bọn cướp đúng luật, những kẻ về nguyên tắc từ chối làm bất cứ việc gì. (Abramkin và Chesnokova, tập I, tr. 7-22) |
|
#14
|
|||
|
|||
|
Phần lớn nội dung chương trình truyền bá và tái giáo dục đầu những năm 1930 trong thực tế đều nhắm vào bọn cướp đúng luật hơn là vào tù chính trị. Lũ trộm cướp, vốn được xem là “gần gũi với xã hội” (sotsialno-blizkii) – trái ngược với tù chính trị, được xem là “nguy hiểm cho xã hội” (sotsialno-opasnyi) – được cho là có thể cải tạo được. Nhưng đến cuối thập niên 1930, chính quyền cuối cùng đã từ bỏ ý định cải tạo bọn tội phạm chuyên nghiệp. Thay vào đó, họ quyết định sử dụng bọn cướp đúng luật để quản lý và dọa dẫm các tù nhân khác, đặc biệt là đám “phản cách mạng”, những người mà bọn cướp đương nhiên là rất ghét. (Abramkin và Chesnokova, tập I, tr. 7-22)
Đó không phải là một sáng tạo hoàn toàn mới. Một thế kỷ trước đấy, tù tội phạm ở Siberi đã rất ghét tù chính trị rồi. Trong cuốn Ghi chép từ Ngôi nhà chết, hồi ký có chút hư cấu về năm năm trong tù của mình, Dostoevsky đã ghi lại nhận xét của một người bạn tù như sau: “Không, chúng không ưa những tù quý phái, đặc biệt là tù chính trị; chúng không ngần ngại giết chết họ, và chẳng có gì là lạ. Trước hết vì ta là một loại người khác hẳn, không giống như chúng...” (Dostoevsky, tr. 35) |
|
#15
|
|||
|
|||
|
Tại Liên bang Xô viết, ban quản lý trại đã công khai bố trí những nhóm nhỏ tội phạm chuyên nghiệp để quản lý các tù khác từ khoảng 1937 cho tới cuối chiến tranh. Trong thời kỳ này các tên cướp đúng luật đẳng cấp cao nhất không phải làm việc, mà giữ nhiệm vụ bắt những người khác phải làm. (Abramkin và Chesnokova, tr. 10) Lev Razgon đã mô tả như sau:
Chúng không làm việc nhưng chúng được cấp cho đầy đủ khẩu phần; chúng thu một món tiền cống từ tất cả đám “nông dân”, những người phải làm việc; chúng lấy đi phân nửa gói thực phẩm do thân nhân gửi và những món đồ tù mua từ cửa hàng nhu yếu phẩm; và chúng trơ trẽn vơ vét các đoàn tàu vận chuyển, lấy đi tất cả chỗ quần áo tốt nhất của người mới đến. Nói ngắn gọn, chúng là bọn ăn cướp, lũ khốn nạn, là băng tội phạm thực sự. Tất cả những tù tội phạm thường của trại – mà họ thì chiếm phần đông – đều căm ghét chúng vô vùng. (Razgon, tr. 185) Một số tù chính trị tìm được cách chung sống hòa thuận với bọn cướp đúng luật, đặc biệt là sau chiến tranh. Một số trùm tội phạm thích giữ tù chính trị bên cạnh làm kẻ lấy hên hay làm thủ hạ. Alexander Dolgun đã chiếm được sự tôn trọng của một trùm tội phạm tại một trại trung chuyển bằng cách nện nhừ tử một tội phạm cấp thấp hơn. (Dolgun, tr. 139-160) Một phần nhờ cũng đã đánh bại một tên tội phạm bằng đấu tay đôi, Marlen Korallov – một tù chính trị trẻ tuổi, sau này là người đồng sáng lập Hội Ký ức – đã được Nikola, trùm tội phạm trong trại, chú ý và cho phép Korallov ngồi cạnh mình trong lán. Quyết định này đã thay đổi địa vị của Korallov trong trại, ông lập tức được xem là được “bảo kê” bởi Nikola và được xếp ngay một chỗ ngủ tốt hơn hẳn: “Cả trại đều hiểu: nếu tôi trở thành một trong bộ ba xung quanh Nikola, vậy thì tôi là một phần của tầng lớp sáng giá trong trại... thái độ của mọi người đối với tôi thay đổi ngay lập tức”. (Korallov, qua phỏng vấn với tác giả) |
| Được cảm ơn bởi: | ||
quangnam (29-02-2012) | ||
|
#16
|
|||
|
|||
|
Tuy nhiên, đối với phần đông, sự cai trị của bọn trộm cướp đối với tù chính trị là tuyệt đối. Địa vị chiếu trên của chúng giúp ta giải thích được tại sao chúng cảm thấy, theo như lời của một nhà tội phạm học, ở trại y như “ở nhà”: chúng sống sướng hơn các tù khác, và nắm một mức thực quyền trong trại mà chúng không thể hưởng được ở thế giới bên ngoài. (Abramkin và Chesnokova, tr. 9) Lấy ví dụ, Korallov giải thích rằng Nikolai nằm trên “chiếc giường sắt duy nhất” trong lán, đã được đẩy vào một góc. Không có ai khác dám ngủ trên đó, và một nhóm thủ hạ luôn lởn vởn xung quanh để đảm bảo nó còn trống. Chúng cũng treo các tấm chăn hai bên giường quanh tên đại ca để ngăn không cho ai nhìn vào. Khoảng trống xung quanh đại ca được kiểm soát chặt chẽ. Những tên tù như vậy thậm chí còn xem bản án dài hạn của chúng là một niềm hãnh diện rất đàn ông. Korallov đã quan sát thấy như sau
Có một số gã thanh niên, nhằm nâng thêm vị thế cho mình, đã tìm cách trốn trại, một thứ cố gắng vô vọng, và sau đó nhận án thêm hai mươi lăm năm, có thể còn chịu thêm hai mươi lăm năm nữa vì tội phá hoại. Sau đó khi đến cắm chốt tại trại mới, chúng đi kể với mọi người rằng chúng phải chịu án 100 năm, khiến chúng trở thành các nhân vật đáng nể theo tiêu chuẩn đạo đức trong trại. (Korallov, qua phỏng vấn với tác giả) Địa vị cao hơn của chúng khiến thế giới của bọn trộm cướp hấp dẫn đối với đám tù trẻ, những kẻ đôi khi được đưa vào bang hội huynh đệ theo các nghi lễ kết nạp rất phức tạp. Theo số liệu tập hợp bởi các sĩ quan công an mật và quản lý nhà tù những năm 1950, thành viên mới của các bè đảng phải tuyên thệ hứa trở thành một “tên trộm đáng giá” và phải chấp nhận các quy tắc chặt chẽ nghiêm khắc của cuộc đời trộm cướp. Đám trộm cướp xung quanh tiến cử kẻ mới nhập môn, khen ngợi hắn đã “bất chấp kỷ luật của trại” và đặt cho hắn một biệt danh. Tin tức về cuộc “phong tước” sẽ được truyền đi khắp hệ thống trại thông qua mạng lưới truyền tin của bọn trộm cướp, sao cho nếu tên cướp mới này có bị chuyển sang lagpunkt khác thì địa vị của hắn vẫn không thay đổi. (Varese, tr. 146-150) |
|
#17
|
|||
|
|||
|
Đó cũng là hệ thống mà Nikolai Medvedev (không có quan hệ gì với giới trí thức Moscow) nhận thấy vào năm 1946. Bị bắt khi còn tuổi thiếu niên vì tội ăn trộm thóc của nông trang tập thể, Medvedev được che chở dưới bóng của một trong những tay cướp đúng luật hàng đầu khi vẫn còn trên chuyến tàu vận chuyển, và dần dần len lỏi vào thế giới trộm cướp. Khi đến Magadan, Medvedev bị tống vào làm việc như các tù nhân khác – ông được phân công lau dọn nhà ăn, một nhiệm vụ khó có thể xem là nặng nhọc, nhưng đại ca của ông hét lên bắt ông không được làm: “và thế là tôi không làm việc, hệt như tất cả các tên trộm cướp khác không chịu làm việc”. Thay vào đó, những tù khác đã làm thay cho ông. (N. Medvedev, tr. 14-16)
Như Medvedev đã giải thích, ban quản lý trại không hề quan tâm đến việc đám tù đặc biệt này có làm việc hay không. “Đối với họ chỉ có một chuyện duy nhất là đáng kể: đó là khu mỏ có sản xuất ra vàng, càng nhiều vàng càng tốt, và trại có ổn định trật tự hay không”. Và, như hồi ký của ông đã chứng tỏ, bọn trộm có đảm bảo trật tự được giữ gìn. Những gì mà trại để mất khi hao hụt giờ công làm việc, sẽ được bù lại bằng kỷ luật trong trại. Ông giải thích rằng “nếu có ai đó bị kẻ khác xúc phạm, anh ta sẽ đi gặp “chính quyền” tội phạm để than phiền chứ không liên hệ chính quyền trại. Ông tuyên bố, hệ thống này giảm thiểu mức độ bạo lực và cãi vã, không có nó thì tình trạng này sẽ cao đến phát điên. (N. Medvedev, tr. 14-16) |
|
#18
|
|||
|
|||
|
Mô tả rõ ràng của Nikolai Medvedev về sự thống trị của bọn trộm cướp trên khu trại là thật tuyệt vời, một phần bởi vì nó tả lại thế giới tội phạm từ phía bên trong – rất nhiều tên urka hoàn toàn mù chữ, khó mà có ai viết lại được hồi ký – nhưng chủ yếu bởi vì nó tỏ ra thông cảm. Hầu hết những nhà chép sử “kinh điển” về Gulag – nhân chứng của những khủng bố, cướp bóc và hãm hiếp mà bọn trộm cướp đã làm đối với các cư dân khác trong trại – đều căm ghét chúng vô cùng tận. “Bọn tội phạm không phải là con người”, Shalamov đã viết thẳng thừng. “Những hành động xấu xa do bọn tội phạm gây ra trong trại thật vô số kể”. (Shalamov, Kolyma Tales, tr. 411) Solzhenitsyn viết rằng “Chính xác là toàn thể thế giới loài người này, thế giới của chúng ta, với những đạo lý, truyền thống, cùng các mối quan hệ qua lại tương hỗ, chính là thứ đáng ghét nhất đối với bọn trộm cướp, là mục tiêu chính yếu để chúng phỉ báng, đối chọi sâu sắc nhất với các kubla, hay các băng đảng phản xã hội, phản cộng đồng của chúng”. (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 445) Zhigulin đã mô tả đầy sinh động về cái ách “trật tự” giả dối của bọn tội phạm đã thực sự hoạt động như thế nào. Một hôm, trong khi đang ngồi giữa căn phòng ăn gần như chẳng có ai, ông nghe thấy hai tù giành giật nhau vì cái thìa. Đột nhiên Dezemiya, “phó” thủ lãnh của tên thủ lãnh bọn cướp đúng luật trong trại, xộc ngay vào cửa:
“Ồn ào gì vậy, sao lại cãi nhau!? Chúng mày không được phép gây rối trong phòng ăn!” “Hãy xem, nó lấy cái thìa của tôi và thay bằng cái khác. Tôi có cái còn nguyên, nó đưa lại cái bị gãy…” “Tao sẽ phạt cả hai, mày đồng ý không”, Dezemiya phá ra cười. Và bằng hai động tác chọc gậy nhanh về phía hai kẻ đang tranh cãi; nhanh như chớp hắn chọc thủng mắt cả hai. (Zhigulin, tr. 136) |
|
#19
|
|||
|
|||
|
Ảnh hưởng rõ ràng của bọn tội phạm lên đời sống trong trại là rất sâu sắc. Tiếng lóng của chúng, khác biệt so với tiếng Nga thông thường đến nỗi gần như có thể xếp nó thành một ngôn ngữ riêng, đã trở thành lối giao tiếp quan trọng nhất trong trại. Mặc dù nổi tiếng vì vốn từ chửi thề rủa xả phong phú phức tạp, một danh sách từ lóng tội phạm được sưu tập trong thập niên 1980 (nhiều từ vẫn còn giống với những từ được dùng trong thập niên 1940) còn bao gồm hàng trăm từ để chỉ các vật dụng bình thường, bao gồm quần áo, các bộ phận cơ thể và đồ dùng hàng ngày, khá khác biệt so với những từ tiếng Nga thông thường. Đối với các món được quan tâm đặc biệt – như tiền bạc, gái điếm, ăn trộm và kẻ trộm – có tới hàng chục từ đồng nghĩa. Cũng như các khái niệm chung về tội phạm (trong số đó có po muzike khodit, dịch sát nghĩa là “di chuyển theo tiếng nhạc”) có nhiều khái niệm riêng cho việc trộm cắp: trong số đó có ăn cắp tại ga tàu (derzhat sadku), ăn cắp trên xe buýt (marku derzhat), một vụ trộm không chuẩn bị trước (idti na shalnuyu), một vụ trộm ban ngày (dennik), một tên trộm nhà thờ (klyukvennik). (Berdinskikh, tr. 291-315)
|
|
#20
|
|||
|
|||
|
Học được cách nói blatnoe slovo, “tiếng của trộm” – đôi khi còn gọi là blatnaya muzyka, nghĩa là “âm nhạc của trộm” – là một nghi lễ nhập môn mà gần như tù nào cũng phải làm, mặc dù không nhất thiết phải tự nguyện. Một số người không bao giờ quen được. Một nữ tù chính trị sau này viết lại rằng
Điều khó nhất phải chịu đựng trong một trại như vậy chính là bị phỉ báng và chửi rủa thường xuyên… thứ tiếng lóng bọn tội phạm nữ sử dụng tục tĩu đến nỗi khó có thể chịu đựng nổi và dường như chúng chỉ biết nói với người khác bằng cách thấp kém và thô tục nhất như thế mà thôi. Mỗi khi chúng cất tiếng chửi thề rủa xả, chúng tôi ghét đến mức quay sang nói với nhau, “Nếu nó có sắp chết khát ngay cạnh tớ thì tớ cũng không thèm cho nó một giọt nước đâu”. (Hoover, Polish Ministry of Information Collection, Box 114, Folder 2) Những người khác thì tìm cách phân tích nó. Ngay từ năm 1925, một tù Solovetsky đã suy đoán về nguồn gốc của kho từ vựng phong phú ấy trong một bài báo ông viết cho tờ Solovetskie Ostrova, một trong các tạp chí của trại. Một số từ, ông nhấn mạnh, đơn giản là phản ánh đạo lý của bọn tội phạm: các từ ngữ về phụ nữ nửa tục tĩu, nửa ủy mị sướt mướt. Một số từ xuất phát từ ngữ cảnh: bọn trộm sử dụng từ “gõ” (stukat) thay cho từ “nói” (govorit), sẽ rõ nghĩa nếu ta biết tù hay gõ lên tường phòng để liên lạc với nhau. (A. Akarevich, “Blatnye slova”, Solovetskie Ostrova, tháng 2/1925, số 2 (SKM)) Một cựu tù khác chú ý đến thực tế rằng một số từ - ví dụ shmon tức “khám xét”; musor tức “cớm”; fraier tức “tù không phải tội phạm” (còn được dịch là “thằng non nớt”) – dường như xuất phát từ tiếng Hebrew hay Yiddish. Có lẽ đó là cuốn thánh kinh bắt nguồn từ vai trò mà thành phố cảng rộng lớn Odessa, một thời từng là thủ đô móc túi của nước Nga, giữ vị trí trong sự phát triển nền văn hóa của bọn trộm cướp. |
![]() |
| Bookmarks |
|
|