View Single Post
  #51  
Cũ 19-08-2011, 09:15
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Có nhiều dẫn chứng rõ ràng hơn để chứng tỏ rằng tinh thần “Leningrad có thể vượt qua” đã xuất hiện ngay từ lúc bắt đầu. Không một ai, ngoại trừ một số người chống c.ộng, muốn nghĩ tới việc đầu hàng quân Đức. Vào cao điểm của nạn đói, một số người – không nhất thiết phải là bọn phản bội hay điệp viên kẻ thù (như theo số liệu của Liên Xô), mà chỉ đơn giản là những người đã gần hóa điên vì đói – có viết thư đề nghị chính quyền cho tuyên bố Leningrad là một “thành phố mở”; nhưng không ai có tâm trí bình thường lại đi làm chuyện đó. Vào lúc quân Đức đang tiến sát tới thành phố, mọi người sớm nhận thức rõ ra chân tướng kẻ thù; đã có biết bao thanh niên bị giết trong các cuộc dội bom và nã đại liên trong khi đang đào chiến hào? Và ngay khi vòng phong tỏa khép kín thì các cuộc không kích liền bắt đầu, đồng thời với những đợt tung các truyền đơn mang nội dung sadistic (bệnh ác dâm – danngoc) như những gì đã được ném xuống Leningrad ngày 6 tháng 11 để “kỷ niệm” ngày Lễ Cách Mạng: “Hôm nay chúng ta sẽ ném bom, ngày mai chúng bay sẽ đi chôn xác”.

Câu hỏi về giải pháp tuyên bố Leningrad là thành phố mở sẽ không bao giờ được đặt ra, giống như những gì ở nơi khác đã làm, lấy ví dụ trường hợp Paris năm 1940; đây là một cuộc chiến tranh hủy diệt, và quân Đức không bao giờ muốn che giấu điều đó. Thứ nữa, sự tự hào về truyền thống địa phương của Leningrad có ý nghĩa của nó – nó là kết hợp của một tình yêu lớn với bản thân thành phố, với lịch sử của thành phố, với những mối liên tưởng đậm chất văn chương rất đặc biệt (đây là bản chất đặc biệt của tầng lớp trí thức intelligentsia) và cũng là một truyền thống cách mạng vô sản vĩ đại tồn tại trong giai cấp lao động của thành phố; không gì ngoài chính nguy cơ đe dọa hủy diệt thành phố có thể hòa quyện làm một hai thứ tình yêu vĩ đại như vậy giữa lòng Leningrad. Có lẽ nếu tỉnh táo hơn thì thậm chí ta còn có thể tính đến tình cảm cạnh tranh vốn có đối với Maskva: nếu Maskva suýt nữa đã bị chiếm tháng Mười năm 1941 thì dù thế nào đi nữa ít nhất Leningrad giữ được lâu hơn; và vào lúc Maskva được giải vây, thì sự tự hào của Leningrad là cũng có thể làm được như thế và thậm chí còn hơn thế. Một số người chống-Stalin quyết liệt nhất như Olga Bergholz lại cũng là những người yêu Leningrad cuồng đắm nhất. Thế nhưng tình cảm, mặc cho được đề cao đến đâu, cũng vẫn là chưa đủ. Hiển nhiên rằng kết quả trên chiến trường, tính cho đến lúc quân đội rút lui tới ngoại ô Leningrad, là rất đáng thất vọng; và chính quyền rõ ràng là đã làm việc không hiệu quả trong thời gian hai tháng rưỡi đầu của cuộc xâm lược của quân Đức. Toàn bộ vấn đề sơ tán, đặc biệt là sơ tán trẻ em, đã bị xử lý vô cùng yếu kém, và gần như đã không làm gì để chuẩn bị cho việc dự trữ thực phẩm. Nhưng ngay khi quân Đức bị chặn lại bên ngoài Leningrad, và ngay khi hạ quyết tâm chiến đấu bảo vệ từng ngôi nhà và từng con phố, sai lầm của quân đội và chính quyền mau chóng được quên đi; thay vào đó là phải phòng thủ Leningrad bằng mọi giá. Lẽ dĩ nhiên rằng kỷ luật sắt và tổ chức chặt chẽ là điều cần thiết trong thành phố bị bao vây; nhưng nó chẳng liên quan mấy tới “thói quen tuân lời chính quyền thâm căn cố đế” và còn ít liên quan hơn tới “nền khủng bố Stalin”. Hiển nhiên thực phẩm cần được phân phối chặt chẽ; nhưng cần nói rằng nhân dân Leningrad đã hợp tác và không “nổi loạn” (mà để mục đích gì?) nhằm có được sổ gạo – một thứ mà đối với nhiều người thậm chí không hề có ý nghĩa là “vấn đề sống còn” – nếu nghĩ vậy là hiểu sai hoàn toàn về tinh thần Leningrad. Không nghi ngờ gì rằng tổ chức Đảng, sau nhiều sai lầm ngớ ngẩn ban đầu, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ vững Leningrad: trước tiên là vì đã giữ cho việc phân phối khẩu phần công bằng một cách nhân đạo tối đa trong những điều kiện vô cùng khó khăn phức tạp; thứ nhì là trong việc tổ chức hệ thống dân phòng bên trong thành phố với quy mô rộng khắp; thứ ba là đã huy động được mọi người đi chặt củi và thu nhặt than bùn v.v.; thứ tư là đã tổ chức được nhiều “con đường cứu sinh”. Và cũng không thể nghi ngờ gì rằng giữa những khó khăn vất vả kinh khủng của mùa đông 1941-42, những tổ chức như Đoàn Komsomol đã cho thấy khả năng chịu đựng và hy sinh to lớn trong công tác cứu giúp mọi người.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
nqbinhdi (19-08-2011)