Một kỷ niệm đáng nhớ khác là chuyến tới thăm của tôi tới ngôi trường trung học trên phố Tambov, nằm tại khu vực mới hình thành và bị pháo kích ác liệt của thành phố, chỉ cách mặt trận khoảng 3 tới 4 dặm. Trường được điều hành bởi một cụ già tên là Tikhomirov, là “Thày giáo công huân Liên Xô”, khởi nghiệp là một thày giáo tiểu học năm 1907. Ngôi trường này là một trong số ít trường học không bị đóng cửa thậm chí ngay giữa đỉnh điểm của nạn đói. Có bốn lần nó bị phá hủy trầm trọng vì đạn pháo Đức; nhưng đám nam sinh đã dọn dẹp kính vỡ, xây lại những bức tường bị đạn bắn sập và lắp gỗ dán lên che các khung cửa sổ. Trong trận bắn phá cuối cùng vào tháng Năm, một nữ giáo viên đã bị giết chết ngay giữa sân trường.
Các cậu bé ở đây là những thiếu niên Leningrad điển hình; 85 phần trăm em có cha đang chiến đấu ở phương diện quân Leningrad, hoặc đã hy sinh tại đây, trong khi nhiều người khác đã chết trong trận đói Leningrad, và hầu hết mẹ của các em – nếu họ còn sống – đang làm việc tại các nhà máy Leningrad, hoặc làm vận chuyển, hoặc đi chặt gỗ, hoặc tham gia dân quân tự vệ. Tất cả các cậu bé đều căm thù sâu sắc quân Đức, nhưng đều nhận thức rõ rằng lũ svolochi (lũ khốn kiếp) đó sẽ sớm bị đập tan ngoài cửa ngõ Leningrad. Bọn trẻ có một tình cảm lẫn lộn đối với nước Anh và nước Mỹ; chúng biết rằng London đã bị ném bom; rằng Không quân Hoàng gia Anh đang “ném bom tơi bời bọn Fritz”; rằng người Mỹ đang tiếp viện cho Hồng quân rất nhiều chuyến xe tải, và rằng chúng (lũ trẻ) đang được ăn sô cô la Mỹ; nhưng “vẫn chưa có Mặt trận thứ hai”.
Hiệu trưởng trường, đồng chí Tikhomirov, kể cho tôi về việc họ đã “bám trụ, và bám trụ rất vững. Chúng tôi không có củi sưởi, nhưng Xô viết Leningrad đã cho chúng tôi tháo dỡ một căn nhà gỗ nhỏ gần đó để chúng tôi dùng làm củi đốt. Trong những ngày đó pháo kích và oanh kích diễn ra đặc biệt dữ dội. Chúng tôi có khoảng 120 học sinh cả nam lẫn nữ, và chúng tôi phải dạy học trong những hố bom. Không ngày nào phải nghỉ học. Trời rất lạnh. Những lò sưởi nhỏ chỉ làm ấm được không khí xung quanh có vài mét, phần còn lại của hố bom nhiệt độ xuống dưới 0 độ. Không có chiếu sáng, ngoại trừ một chiếc đèn dầu hỏa. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục, còn lũ trẻ học hành nghiêm chỉnh đàng hoàng đến mức kết quả học tập của chúng tôi đạt còn tốt hơn cả năm trước. Đáng ngạc nhiên, nhưng đó là sự thật. Chúng tôi dọn bữa ăn cho chúng; quân đội giúp chúng tôi thực phẩm. Nhiều thày cô giáo hy sinh, nhưng tôi tự hào mà nói rằng tất cả bọn trẻ được chúng tôi chăm sóc đều sống sót. Chỉ có điều thật xúc động khi nhìn thấy chúng trong thời kỳ nạn đói. Tới cuối năm 1941, chúng không còn có vẻ là những đứa trẻ con nữa. Chúng im lặng thật kỳ lạ… Không đi lại nữa; chúng chỉ có ngồi. Nhưng không có đứa nào chết; chỉ có một số đứa không đến trường nữa mà ở lại nhà và chết, thường là chết cùng với cả gia đình…”
|