Trích:
hungmgmi viết
|
Tuy việc này đã bị Bộ GD-ĐT bác bỏ, nhưng nhân việc này nhà iem lại nghĩ đến vài thứ và có viết một bài thế này:
Thêm các ký tự F,J,W,Z vào Bảng chữ cái tiếng Việt: có trở ngại gì?
Không chỉ gần đây, phải nói là từ lâu người Việt không lạ gì các ký tự trên vốn sẵn có trong Bảng chữ cái tiếng Pháp, rồi sau là tiếng Anh… vốn có nguồn gốc từ ký tự Latinh. Bác Hồ ngày trước cũng thường sử dụng các chữ F, J và Z trong văn bản viết tay. Việc dùng chúng thay cho các nhóm ký tự PH, GI,QU và ký tự đơn D là khá phổ biến trong viết tắt của cả văn bản chính thức cũng như cộng đồng mạng Internet. Thậm chí có khi tên người còn viết “Dzũng” không hiểu nguyên nhân từ đâu đối với nhiều người bình thường. Thế nhưng tiếng Việt khi thoát khỏi các ký tự Hán-Nôm để dùng Bảng chữ cái ngày nay có phải là do không biết các ký tự trên không? Chắc chắn là không phải thế, vì người sáng tạo ra chúng nguyên là một Cha truyền đạo người Pháp kia mà!
Những lý do cho việc bổ sung các ký tự này
Theo đề xuất được đưa ra trên truyền thông đại chúng tuần trước, các lý do cho việc này được dẫn ngắn gọn là :” 1) chữ viết của VN hiện nay được sáng tạo trên việc sử dụng ký tự Latin để ghi âm tiếng Việt nhưng đã phức tạp hóa bằng các chữ kép thay thế cho nhóm ký tự F, J, W, Z khiến cho tiếng Việt khó hòa nhập quốc tế.
2) Tuy nhiên, trong cộng đồng người sử dụng máy tính thì các ký tự trên đã trở nên quen thuộc, chủ yếu phục vụ việc gõ các ký tự riêng của tiếng Việt là ă, â, ê, ơ, ư. Vì vậy, việc thừa nhận nhóm ký tự trên trong bảng chữ cái tiếng Việt là cần thiết để thống nhất sử dụng về chuẩn chính tả tiếng Việt trên môi trường máy tính và sách giáo khoa.
Dự thảo thông tư trên còn một nội dung khác là làm rõ xung quanh chữ “y” và “i” trong những trường hợp phát âm giống
Nếu thông tư hướng dẫn về tiếng Việt trên môi trường sách giáo khoa và máy tính được ban hành, bảng chữ cái tiếng Việt sẽ bao gồm 33 ký tự.”
Tiếng Việt có những đặc thù gồm các nguyên âm có dấu như ă, â, ê, ơ, ư nêu trên cũng như các dấu thanh ” huyền-sắc-nặng-hỏi-ngã “ viết trên hoặc dưới nguyên âm để ghi lại âm sắc. Các nhóm phụ âm PH,GI,CH,TR…cũng mang chức năng riêng khi ký âm lời nói và đã góp phần quan trọng vào bản sắc và sự phong phú của tiếng Việt như tại lý do 1) trên đây đã đề cập, thiết nghĩ cũng không cần nhắc lại.
Do có nhiều dấu đặc thù cho các nguyên âm nên khi gõ tiếng Việt trong môi trường không dấu đã sử dụng những ký tự “dư” này của bàn phím máy tính. Thậm chí chúng ta có nhiều phần mềm cho bộ gõ tiếng Việt sử dụng các ký tự này khi gõ dấu và dấu thanh mà tranh cãi nhiều năm đến nay vẫn chưa biết đâu là bộ gõ chuẩn. Hãng Microsoft còn đưa vào Window XP từ sp2 và sp3 trở đi đến nay là Window vista và Window 7 một bộ gõ tiếng Việt hỗ trợ riêng với các nguyên âm có dấu chỉ cần gõ 1 phím 1 lần duy nhất. Nếu gõ quen tay theo bộ gõ này của Window thì ta có thể gõ tiếng Việt trong bất kỳ môi trường dạng text nào và kết quả chữ Việt đó cũng đọc được ở bất kỳ máy tính nào trên thế giới với các phông chữ tối thiểu của tiếng Anh.
Những trở ngại đầu tiên khi sử dụng các ký tự F,J,W,Z
Việc gõ dấu và dấu thanh cho nguyên âm: các bộ gõ tiếng Việt hiện nay không gõ được dấu và dấu thanh cho nguyên âm đứng ngay sau các ký tự trên. Ví dụ chữ “phân công” khi dùng F sẽ là “fa6n công”(kiểu gõ vni). Muốn gõ được “fân” thì phải gõ “ân” trước rồi thêm f hoặc giữa f và “ân” có dấu cách sau đó xóa đi. Chữ “giãn” và “zãn”, hay “quân” và “wân” cũng vậy… Điều này cho thấy, nếu thêm các ký tự trên thì phải quy định chúng đứng trước các nguyên âm không kèm dấu để tránh bất tiện cho người dùng máy tính, nhưng lại không gặp trở ngại nào khi viết tay, vậy thì vấn đề mà việc bổ sung này có thể giải quyết là không nhiều, thậm chí làm phức tạp hóa giữa văn bản viết tay và đánh máy, mà ngày nay ít ai còn viết tay trong công việc hàng ngày, trừ khi ký tên.
Việc chuẩn hóa tiếng Việt: Do các phần mềm gõ tiếng Việt hiện nay vẫn chưa thống nhất và không phù hợp cho việc gõ nguyên âm có dấu sau các ký tự bổ sung nêu trên, nên cần có lại phần mềm mới. Việc lập phần mềm và phổ biến cho cộng đồng sử dụng quen dần đến khi thành thạo cũng cần có thời gian, chưa nói đến việc in ấn, thay đổi tên đường và địa danh nếu có…Trong trường hợp nảy sinh nhiều mâu thuẫn khi sử dụng ký tự bổ sung thì còn cần có thời gian sử dụng song song các ký tự đó, nhưng khi đó lại phát sinh tình trạng có nhiều cách viết chính thức cho một từ, là điều mà chưa ngôn ngữ nào trên thế giới này có được.
Đến đây có thể thêm một câu hỏi: với cùng các lý do mà ta đã đưa ra để bổ sung bốn ký tự trên thì người Hoa, người Thái hay những láng giềng của ta là Lào và Cămpuchia dùng ký tự tượng hình và chữ Phạn sao lại không biết mà bổ sung nhỉ?