Semyonov dừng lại 1 chút và cau mặt. “Đúng” anh nói, “tới giờ này tôi vẫn không thể quên được. Tôi không hiểu làm cách nào có thể có được sức mạnh ý chí và nghị lực như vậy. Nhiều người trong số họ, chật vật mới bước nổi vì đói, vậy mà vận lê mình tới xưởng máy mỗi ngày, đi bộ tám, mười, thậm chí mười hai cây số. Không còn xe điện. Chúng tôi vận dụng tới mọi thứ thủ đoạn ngốc nghếch để giữ cho công việc tiếp diễn. Không còn ắc quy, chúng tôi dùng pê đan xe đạp để quay máy tiện.”
“Tuy vậy, mọi người đều biết mình đang sắp chết. Tôi còn nhớ 1 trong số những công nhân lớn tuổi lảo đảo bước vào văn phòng này và nói với tôi: “Thưa thủ trưởng, tôi có một đề nghị. Tôi là một trong những công nhân lão thành ở đây, và anh luôn là bạn tốt của tôi, bởi vậy tôi biết anh sẽ không từ chối. Toi sẽ không tới làm phiền anh nữa. Tôi biết rằng hôm nay hoặc ngày mai tôi sẽ chết. Gia đình tôi đang trong tình trạng kh1o khăn – họ rất yếu. Họ sẽ không đủ sức để tổ chức đám tang. Anh có thể, như 1 người bạn, làm cho tôi cái áo quan, gửi nó tới nhà tôi để họ không phải lo lắng thêm về việc làm sao kiếm ra áo quan, được không? Anh biết rõ kiếm được một cái khó như thế nào rồi đó”. Chuyện này xảy ra giữa những ngày đen tối nhất trong khoảng tháng Chạp hoặc tháng Giêng. Và những chuyện như vậy xảy ra ngày này qua ngày khác. Biết bao công nhân đã bước vào văn phòng này đề nghị: “Thủ trưởng, nội hôm nay hoặc ngày mai thôi tôi sẽ chết”. Chúng tôi đưa họ tới trạm xá của xưởng, nhưng họ vẫn chết. Tất cả những gì ăn hoặc không ăn được, người ta đều ăn tuốt. Họ ăn thức ăn gia súc, dầu thô (mineral oils) – chúng tôi phải đun sôi chúng trước – và cả keo dán gỗ. Người ta còn cố cầm cự cả với nước sôi và men bia. Trong số 5000 người còn lại, hàng trăm đã chết. Rất nhiều trong số họ chết ngay tại đây… Nhiều lần có người lê tới xưởng máy, bước vào và ngã ra chết… Mọi nơi đều có xác chết. Nhưng một số chết ở nhà, chết cùng với những người còn lại trong gia đình và trong 1 số trường hợp, thật khó xác định chính xác.... Do không còn phương tiện vận chuyển, chúng tôi không phải lúc nào cũng có thể phái người đi tìm hiểu. Chuyện này tiếp diễn cho tới khoảng 15 tháng Hai. Sau đó, khẩu phần tăng lên và tỷ lệ tử vong giảm nhanh. Cho đến hôm nay để kể lại về điều này đối với tôi thật đau đớn…”
Một trong số những ký ức ghi nhận tại Leningrad nổi bật trong óc tôi là về 1 buổi chiều tháng 9 1943 tôi trải qua tại khu Nhà máy Kirov nổi tiếng, nơi công việc tiếp diễn thậm chí ngay cả khi phải chịu các đợt pháo kích thường xuyên từ chiến tuyến quân Đức cách đó có 2 dặm. Tại đây, thậm chí cả vào năm 1943, ta vẫn cảm nhận được rõ ràng những ngày đen tối và khắc nghiệt nhất của Leningrad; đối với các công nhân Nhà máy Kirov thì đó không chỉ là ký ức về quá khứ; họ vẫn đang tiếp tục sống tại đây trong cái địa ngục đặc biệt này. Với những người này, việc là một công nhân Kirov và đứng vững tới cùng đồng nghĩa với một danh hiệu vinh dự. Các công nhân ở đây không phải là chiến sĩ; sáu mươi chín phần trăm số họ là đàn bà con gái – hầu hết đêu còn trẻ. Họ biết rằng ở đây cũng khó khăn như tại mặt trận; ở 1 khía cạnh nào đó thậm chí còn tồi tệ hơn: người đọc khó mà hiểu được nỗi lo sợ sẽ bị trả thù trực tiếp (ý nói sẽ bị quân Đức trả thù nếu bị bắt- danngoc). Truyền thống cách mạng lâu đời của công nhân Putilov, mà giờ đây là Nhà máy Kirov, chính là yếu tố chính.
|