3
CON TÀU TRẮNG XA DẦN. QUA ỐNG NHÒM KHÔNG CÒN NHẬN RÕ những cột ống khói của nó nữa. Chẳng mấy chốc nó sẽ khuất khỏi tầm mắt. Bây giờ đến lúc thằng bé nghĩ đoạn kết cho chuyến đi của mình trên con tàu của bố. Từ đầu đến giờ đều thú vị cả, nhưng phần kết thì không đạt. Nó đã có thể dễ dàng tưởng tượng nó biến thành cá như thế nào, con tàu thủy trắng tiến về phía nó như thế nào, nó gặp bố ra sao. Và tất cả những gì nó kể với bố nó. Nhưng tiếp đó thì bắt đầu trục trặc. Chẳng hạn đã nhìn thấy bờ. Họ so về nhà họ. Bố cũng sẽ về nhà. Vợ và hai con nhỏ đã chờ trên bờ. Làm thế nào đây ? Có đi với bố không ? Bố có cho nó về theo không ? Nếu có thì bà vợ sẽ hỏi : « Thằng bé nào đấy, nó ở đâu ra, đem nó về làm gì ? » Không, không đi theo là hơn …
Con tàu trắng mỗi lúc một rời xa, biến thành cái chấm khó nhận thấy. Vầng dương đã ngả mình xuống mặt nước. Qua ống nhòm, thấy mặt hồ ngời lên một màu hoa cà chói rực.
Con tàu đã đi hẳn, đã khuất dạng. Thế là hết câu chuyện hoang đường về con tàu thủy trắng. Phải về nhà thôi.
Thằng bé nhặt chiếc cặp dưới đất lên, kẹp cái ống nhòm dưới nách, nó lao nhanh xuống núi, thoăn thoắt như rắn lướt trên sườn dốc. Càng về gần đến nhà, trong lòng càng lo tợn. Sẽ phải chịu trách nhiệm về chiếc áo bị con bê nhá rách. Không còn nghĩ đến chuyện gì khác nữa, ngoài sự trừng phạt sắp tới. Để khỏi mất tinh thần, thằng bé nói với chiếc cặp : « Mày đừng sợ. Chúng ta sẽ bị mắng đấy. Nào tao có cố ý đâu. Chẳng qua là tao không biết con bê đã chạy đi đấy thôi. Tao sẽ bị bợp gáy cho mà xem. Tao chịu đựng được. Còn nếu mày bị quẳng xuống sàn thì mày cũng đừng sợ. Mày không thể vỡ được, mày là cái cặp mà. Nhưng nếu chiếc ống nhòm lọt vào tay bà thì khốn cho nó. Vậy chúng ta hãy giấu chiếc ống nhòm vào nhà kho đã, rồi ta hãy về nhà… »
Nó làm đúng như thế. Nó sợ hãi bước qua ngưỡng của.
Nhưng trong nhà yên tĩnh đến đáng ngại. Ngoài sàn cũng yên ắng và vắng tanh như thể mọi người đã rời bỏ chốn này. Thì ra già Bê-kay lại bị chồng đánh. Ông già Mô-mun lại phải can ngăn chàng rể đã đâm ra quẫn trí, ông lại phải van vỉ, cầu xin, níu lấy hai nắm tay Ô-rô-zơ-kun và lại phải chứng kiến tất cả sự nhục nhã này: Con gái ông bị đánh nhừ tử, đầu tóc tơi tả, gào khóc thảm thiết. Ông lại phải nghe người ta chửi con gái ông bằng những lời lẽ thậm tệ nhất, chửi ngay trước mặt ông, bố đẻ của người đàn bà ấy. Người ta gọi con gái ông là con chó cái vô sinh, là con lừa cái nận ba lần đáng nguyền rủa và những gì gì nữa. Ông phải nghe con gái gào lên bằng giọng điên dại, nguyển rủa số phận : « Trời chẳng cho tôi thai nghén chứ tôi có tội gì ? Bao nhiêu đàn bà trên đời đẻ sòn sòn như cừu, còn tôi bị trời thù ghét. Cơn cớ vì đây ? Vì đâu đời tôi khốn khổ thế này ? thà cứ giết tôi đi còn hơn, đồ quái vật ! Này đánh đi, đánh nữa đi!»
Ông già Mô-mun đau xót ngồi trong xó nhà, hơi thở vẫn còn hổn hển, mắt nhắm nghiền, hai tay đặt trên đùi run rẩy. Mặt ông tái mét.
Ông nhìn thằng cháu, không nói gì, lại nhắm mắt, vẻ mệt mỏi. Bà không có nhà. Bà sang khuyên giải vợ chồng già Bê-kay làm lành với nhau, dọn dẹp nhà cửa cho họ, thu nhặt những mảnh bát đĩa vỡ. Bà bao giờ cũng thế: lúc Ô-rô-zơ-kun đánh vợ, bà không dính vào và kìm giữ ông. Sau trận ẩu đả, bà sang khuyên giải dỗ dành. Vì thế họ biết ơn bà.
__________________
Ласковый Май
|