Có lẽ không có gì ngạc nhiên rằng không phải tất cả phụ nữ dính bầu khi ở trong trại đều muốn giữ lại. Ban quản lý Gulag dường như có mâu thuẫn về việc có nên cho phép phụ nữ phá thai hay không, đôi khi cho phép, đôi khi lại phang thêm án tù nữa cho những ai tìm cách làm vậy. (Frid, tr. 184; GARF, 9414/1/2741) Hoặc ta cũng không rõ chúng có xảy ra thường xuyên hay không, bởi chúng hiếm khi được kể lại: trong hàng chục cuộc phỏng vấn và hồi ký, tác giả chỉ đọc hoặc nghe thấy có hai trường hợp. Trong một cuộc phỏng vấn, Anna Andreeva kể cho tác giả về một phụ nữ “nhét cái đinh vào cửa mình, ngồi xuống tiếp tục làm việc trên máy khâu. Cuối cùng cô bị xuất huyết rất nặng”. (Andreeva, qua phỏng vấn với tác giả) Một phụ nữ khác kể lại chuyện viên bác sĩ trại đã tìm cách phá thai cho bà ra sao:
Hãy hình dung ra cảnh này. Lúc đó ban đêm. Trời tối... Andrei Andreevich cố gắng phá thai cho tôi, chỉ dùng ngón tay bôi iod, không có dụng cụ gì khác. Nhưng anh ấy căng thẳng đến nỗi không có tác dụng gì. Tôi nghẹn thở vì đau, nhưng cố chịu đựng không kêu một tiếng để không bị ai phát hiện. “Thôi!” cuối cùng tôi hét lên vì đau không chịu nổi, và toàn bộ câu chuyện chấm dứt sau hai ngày. Kết cục, tất cả đều ra hết – toàn bộ cái thai, cùng một lượng máu khủng khiếp. Đó là lý do tôi không bao giờ còn có thể làm mẹ. (Yakovenko, tr. 196)
Nhưng cũng có những phụ nữ muốn có con, và số phận của họ thường là bi kịch. Ngược với mọi điều từng được viết về tính ích kỷ và dễ bị mua chuộc của những phụ nữ sinh con trong trại, bật lên câu chuyện của Hava Volovich. Là một tù chính trị bị bắt năm 1937, bà vô cùng cô đơn trong trại, và chủ động tìm cách sinh cho được một đứa con. Mặc dù bà không có tình cảm gì đặc biệt với cha đứa bé, Eleonora được sinh hạ năm 1942, tại một trại không có trang bị gì riêng cho các bà mẹ:
Ở đấy có tất cả ba người mẹ, và chúng tôi được phân riêng cho một căn buồng bé xíu trong lán. Rệp rơi xuống như mưa từ trần và tường nhà; suốt đêm chúng tôi phải phủi chúng khỏi người lũ trẻ. Vào ban ngày chúng tôi phải ra ngoài làm việc và để con lại cho bất cứ phụ nữ lớn tuổi nào chúng tôi thấy không phải đi làm; những người này bình thản chén sạch chỗ thức ăn mà chúng tôi để lại cho đám trẻ.
Tuy nhiên, Volovich viết
Đêm nào cũng vậy trong suốt một năm trời, tôi đứng bên chiếc giường con mình, nhặt bỏ lũ rệp và cầu nguyện. Tôi cầu Chúa hãy kéo dài sự khốn khổ của tôi thêm trăm năm nữa miễn sao tôi không phải xa rời con gái mình. Tôi cầu mong mình sẽ được thả cùng bé, thậm chí nếu tôi phải đi ăn xin hay tàn phế cũng được. Tôi cầu cho mình có thể nuôi dạy con cho tới lớn, thậm chí phải quỳ phục dưới chân mọi người van xin tôi cũng làm. Nhưng Chúa không đáp lại lời tôi. Con tôi chật vật tập đi, tôi vất vả mới được nghe những tiếng đầu của nó, thốt lên lời kỳ diệu ấm lòng “Mama” khi chúng tôi quấn trên mình toàn giẻ rách dù đang giữa mùa đông giá rét, chen chúc trong toa tàu chở hàng và di chuyển tới “trại cho các bà mẹ”. Tại đây, thiên thần bé nhỏ bụ bẫm với mớ tóc vàng xoăn tít của tôi mau chóng biến thành một bóng ma xanh xao với những quầng thâm dưới mắt và vết lở loét khắp môi.
Volovich ban đầu bị nhét vào một đội lâm nghiệp, sau đó chuyển tới làm tại trại cưa. Mỗi buổi chiều, bà mang về nhà một ôm củi để đưa cho các cô nuôi trẻ trong nhà trẻ. Để đáp lại đôi khi bà được phép đến gặp con gái mình ngoài giờ thăm con bình thường.
Tôi thấy các bảo mẫu đánh thức trẻ con dậy vào buổi sáng. Họ xô đẩy và đá đít để lùa chúng ra khỏi những chiếc giường lạnh lẽo… lấy nắm tay đẩy dúi chúng và chửi rủa thô bạo, họ lột quần áo ngủ và tắm cho chúng bằng nước lạnh buốt. Thậm chí lũ trẻ đến khóc cũng không dám. Chúng chỉ khụt khịt khe khẽ như người già và buột ra những tiếng rít trầm trầm.
Tiếng rít dễ sợ phát ra từ giường cũi ấy suốt cả ngày. Lũ trẻ đã đến tuổi ngồi thẳng lưng và bò trườn nay thường nằm ngửa, đầu gối gập đến tận bụng, đã tạo ra những tiếng động kỳ lạ ấy, giống như tiếng gù của con bồ câu bị bóp nghẹt họng.
Một bảo mẫu phải lo cho mười bảy đứa trẻ, nghĩa là cô ta khó mà có đủ thời gian để cho tất cả thay đồ và ăn uống, chưa nói đến chăm sóc đúng mức:
Cô nuôi trẻ đem ra một thau cháo bốc khói từ nhà bếp, chia nó vào từng đĩa. Cô ta tóm lấy đứa gần nhất, nắm tay nó ra sau, trói lại bằng cái khăn mặt rồi bắt đầu nhồi hết muỗng này đến muỗng khác món cháo nóng vào họng nó không để thời gian cho nó nuốt, chính xác y như nhồi thức ăn cho gà tây vậy.
Dần dần, Eleonora bắt đầu héo lả đi.
Vào một trong những chuyến đến thăm tôi trông thấy những vết bầm trên mình nó. Tôi không bao giờ quên cảnh nó ôm lấy cổ tôi bằng đôi tay gầy trơ xương mà kêu van “Mama, muốn về nhà!” Nó vẫn chưa quên cái phòng nát đầy rệp nơi lần đầu tiên nó thấy ánh sáng mặt trời, nơi nó được luôn bên mẹ suốt cả ngày…
Eleonora bé bỏng, nay mới có mười lăm tháng tuổi, mau chóng nhận ra việc đòi về “nhà” chỉ là vô vọng. Nó thôi không còn vươn tay với tôi khi tôi đến thăm; thay vào đó nó lặng lẽ quay đi. Vào ngày cuối cùng của đời mình, khi tôi nhấc nó lên (họ cho phép tôi cho con bú) nó đã mở to mắt nhìn vào khoảng trống xa xăm, sau đó đập nắm tay nhỏ bé lên mặt tôi, bấu lấy ngực tôi rồi cắn lấy. Rồi nó chỉ xuống cái giường.
Đến chiều, khi quay về với ôm củi, cái giường của nó đã bỏ trống. Tôi thấy nó trần truồng nằm trong phòng xác cùng xác của những tù người lớn. Nó trải qua một năm và bốn tháng trên cõi đời này, rồi chết ngày 3/3/1944… Đó là câu chuyện về việc, khi sinh hạ đứa con duy nhất của mình, tôi đã phạm cái tội khốn nạn nhất như vậy đó. (Hava Volovich, “My Past”, trong Vilensky, Till My Tale is Told, tr. 260-264)
|