Cũng còn các số phận khốn khổ hơn nữa, như vẫn là Herling mô tả. Lấy ví dụ, ông kể lại chuyện một cô gái trẻ người Ba Lan, người mà một “ban giám khảo không chính thức của bọn urka” đã đánh giá rất cao. Thoạt đầu,
cô bước đi làm với mái đầu ngẩng cao kiêu hãnh, gạt phăng bất cứ gã nào đánh bạo đến gần mình bằng ánh mắt tóe lửa giận dữ. Chiều đi làm về cô trở nên khiêm tốn hơn nhiều, nhưng vẫn không thể lại gần được và vẫn tỏ ra kiêu kỳ vừa phải. Cô đi thẳng từ chòi gác của lính canh tới nhà ăn để nhận phần xúp, và không rời khỏi lán nữ lần nào trong suốt buổi tối. Do đó có vẻ như cô đã không mau chóng trở thành nạn nhân các cuộc săn đêm trong vùng zona của trại.
Nhưng các cố gắng ban đầu ấy đều trở thành vô vọng. Sau nhiều tuần bị theo dõi kỹ càng bởi tay đốc công của mình, kẻ ngăn cô không lấy trộm được một củ cà rốt nhỏ hay một mẩu khoai thối nào từ nhà kho thực phẩm mà cô đang làm việc, cuối cùng cô gái đã đầu hàng. Một chiều nọ, gã kia bước vào lán của Herling và “không nói một lời ném một cặp trang sức gẫy lên giường tôi”. Đó là lúc bắt đầu bước biến đổi của cô:
Kể từ lúc ấy cô gái trải qua một sự thay đổi hoàn toàn. Cô không bao giờ vội vàng đến lấy xúp ở nhà ăn như trước nữa, mà sau khi đi làm về cô lảng vảng quanh khu zona trại cho đến tối như một con mèo rượng đực. Gã nào muốn cô cũng chịu, bất kể là trên giường, dưới giường, trong phòng ngủ xép của chuyên gia kỹ thuật hay trong kho quần áo. Bất cứ lúc nào gặp tôi, cô đều quay mặt đi và mím chặt đôi môi đang run run. Có lần, khi bước vào kho khoai tây ở giữa trại, tôi thấy cô trên đống khoai cùng tay đội trưởng đội 56, gã người lai gù lưng tên là Levkovich; cô òa lên khóc, đôi vai run rẩy giật giật, và khi quay về trại buổi chiều vẫn thấy cô kìm những giọt nước mắt bằng hai nắm tay bé nhỏ... (Herling-Grudziński, tr. 134-135)
|