View Single Post
  #11  
Cũ 26-06-2011, 11:28
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Các câu chuyện thật ấn tượng kể trên và những ví dụ khác về các tù nhân giàu có vẫn sống khỏe - và sớm được chuyển đi - ấn tượng đến nỗi vào năm 1926 một nhóm tù ít được ưu đãi hơn đã viết một bức thư gửi Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản, tố cáo “sự hỗn loạn và bạo lực đang ngự trị tại trại tập trung Solovetsky”. Sử dụng các cụm từ nhằm thu hút sự chú ý của các lãnh đạo cộng sản, họ than phiền rằng “những kẻ có tiền có thể thu xếp mọi việc ổn thỏa bằng tiền, do đó trút mọi gánh nặng lên vai các công nhân và nông dân rỗng túi”. Trong khi bọn giàu có mua được cho mình công việc nhẹ nhàng, họ viết, thì “người nghèo làm việc 14-16 tiếng mỗi ngày” (Ostoriya otechestva v dokumentakh, Tập 2: 1921-1939, tr. 51-52). Hóa ra, họ không phải là những người duy nhất cảm thấy không hài lòng với phương pháp xử lý tùy tiện của các chỉ huy trại Solovetsky.

Nếu bạo lực bừa bãi và đối xử bất công khiến tù khó chịu, thì những người ở cao hơn trong chính quyền Xôviết lại bực mình vì các vấn đề có khác biệt đôi chút. Đến giữa thập kỷ 1920, mọi sự đã rõ rằng các trại của SLON, cũng như phần còn lại của hệ thống trại tù “thông thường”, đã không thể đạt được mục đích quan trọng nhất mà họ đã đề ra: có thể tự cân đối tài chính (Jakobson, tr. 70-102). Trong thực tế, không chỉ các trại tập trung Xôviết – cả “đặc biệt” và “thông thường” – đã thất bại trong việc tạo ra thu nhập, mà cả chỉ huy của chúng cũng đang thường xuyên yêu cầu cấp thêm nhiều tiền hơn.

Về mặt này thì Solovetsky cũng giống như các nhà tù Xôviết khác cùng thời kỳ. Trên đảo, những tột cùng của sự tàn nhẫn và an nhàn sung sướng có lẽ là trần trụi hơn bất cứ nơi nào khác, lý do bởi hoàn cảnh đặc biệt của tù và lính gác, nhưng cũng cùng mức độ bất hợp lý tùy tiện đặc trưng cho các trại và nhà tù khác trên khắp Liên Xô vào thời kỳ đó. Về lý thuyết, hệ thống nhà tù thông thường cũng bao gồm các “khối” lao động liên thông với những nông trại, xưởng sản xuất và nhà máy, và các hoạt động sản xuất của chúng cũng được tổ chức kém và có năng suất thấp y như vậy (Krasilnikov, “Rozhdenie Gulaga”, tr. 142-143. Đây là một bộ sưu tầm các tài liệu được tái bản về sự tổ chức của Gulag, tất cả đều lấy từ kho lưu trữ của Phủ Tổng thống Liên bang Nga, các nhà nghiên cứu thường là không được tiếp cận nguồn tài liệu này). Một báo cáo thanh tra năm 1928 về một trong những trại như vậy tại vùng quê Karelia – có 59 tù, cùng 7 con ngựa, 2 con lợn và 21 con bò sữa – than phiền rằng chỉ có nửa số tù là có chăn đắp; rằng tình trạng lũ ngựa rất tệ (một con đã bị bán lén cho dân Digan); rằng những con ngựa còn lại thường xuyên phải chạy việc vặt cho lính gác trại; rằng khi tay thợ rèn tù nhân của trại hết hạn tù, anh ta bỏ đi ngay cùng tất cả dụng cụ của mình; rằng không một căn nhà nào của trại được sưởi ấm, thậm chí không được che chắn cẩn thận, chỉ trừ nơi ở của giám đốc trại. Còn tệ hơn nữa, cũng chính tay giám đốc ấy có đến ba tới bốn ngày mỗi tuần không có mặt trong trại; thường xuyên thả tù sớm hơn hạn mà không có sự cho phép; “khăng khăng từ chối” dạy nghề nông cho tù; và công khai ý kiến của mình cho rằng việc cải tạo tù là “vô ích”. Một số vợ tù vào sống ngay trong trại; các bà vợ khác đến thăm chồng một thời gian dài và biến vào rừng cùng với chồng mình. Lính gác thì suốt ngày “cãi cọ những chuyện vớ vẩn và say xỉn bét nhè” (NARK, 689/1/(44/465)). Không có gì ngạc nhiên rằng các lãnh đạo cao hơn đã quy trách nhiệm cho chính quyền vùng Karelia năm 1929 là “không quán triệt được tầm mức quan trọng của lao động cưỡng bức như một biện pháp phòng vệ xã hội và ưu điểm của biện pháp này đối với nhà nước và xã hội” (NARK, 690/6/(2/9)).

Những trại như vậy hiển nhiên là không đem lại lợi ích kinh tế ngay từ lúc ban đầu, theo như số liệu lưu trữ cho thấy. Ngay từ tháng Bảy 1919, các lãnh đạo Cheka ở Gomel, Belorussia, đã gửi một lá thư cho Dzerzhinsky đề nghị bổ sung cho họ một khoản phụ trợ khẩn cấp 500.000 rúp: việc xây dựng các trại địa phương của họ đã phải dừng lại hoàn toàn vì thiếu kinh phí (RGASPI, 17/3/65). Hơn một thập kỷ sau, các cơ quan và bộ ngành khác nhau được giao nhiệm vụ quản lý trại tù vẫn tiếp tục cãi cọ nhau về chuyện kinh phí cũng như chia sẻ quyền lực. Các đợt ân xá tù được tuyên bố nhằm giảm áp lực cho hệ thống trại, đạt đỉnh điểm trong đợt đại ân xá mùa thu năm 1927, nhân kỷ niệm lần thứ mười Cách Mạng Tháng Mười. Có trên 50.000 người được thả khỏi hệ thống nhà tù thường, chủ yếu vì nhu cầu giảm sự quá tải và để tiết kiệm chi phí (Okhotin và Roginsky, tr. 18).
Trả lời kèm theo trích dẫn