Thậm chí những tín đồ giáo phái đồng ý làm việc cũng không chịu sống chung với các tù khác, và đôi khi còn từ chối nói chuyện với họ. Họ tụ tập với nhau trong một lán, giữ hoàn toàn im lặng, hoặc cầu nguyện và lầm nhầm hát bài thánh ca của mình vào giờ giấc định sẵn:
Tôi ngồi sau chấn song nhà tù
Lòng thầm nhớ hình ảnh Chúa Kitô
Khiêm nhường từ tốn vác Thập giá nặng trĩu
Cùng sự ăn năn, lên núi Golgotha. (Ulyanovskaya và Ulyanovskaya, tr. 300)
Các tín đồ quyết liệt hơn có khuynh hướng truyền các cảm xúc lẫn lộn lên một bộ phận của cộng đồng tù. Arginskaya, một tù thế tục đầy kiên quyết, đã đùa mà nhớ lại rằng “tất cả chúng tôi đều không ưa họ”, đặc biệt là những người vì lý do tôn giáo đã từ chối tắm rửa. (Arginskaya, qua phỏng vấn với tác giả) Gagen-Torn nhớ rằng các tù khác đã than phiền về những người từ chối làm việc: “Chúng tôi làm còn họ thì không! Vậy mà họ cũng vẫn có bánh mì!” (Gagen-Torn, tr. 208)
Nhưng trong một khía cạnh nào đó, những đàn ông và phụ nữ tới khu trại mới mà ngay lập tức gia nhập được vào một băng nhóm hay một giáo phái đều là đã may mắn. Bởi những ai trong đó, băng nhóm tội phạm, các nhóm dân tộc chống đối, những người cộng sản chân chính hay các giáo phái tôn giáo đều được cung cấp cảm giác cộng đồng, mạng lưới hỗ trợ và tình bằng hữu. Trái lại, hầu hết các tù chính trị và phần lớn đám tội phạm “thường” – chiếm số đông trong cộng đồng cư dân Gulag – đều không hòa hợp quá dễ dàng với các nhóm như vậy. Họ cảm thấy khó nắm bắt cách sống trong trại hơn, khó quen với nguyên tắc trong trại và cơ chế quản lý trại. Không có mạng lưới quan hệ có uy thế, họ phải tự học lấy các quy tắc để tồn tại.
Hết chương 14
|